Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (1)

                        NHÀ TRUYỀN GIÁO LÀM CHỨNG CHỨ KHÔNG ĐỐI CHỨNG 
Trên đường Truyền Giáo, nhà truyền giáo rất dễ rơi vào thái độ căng thẳng, ăn  nói cường điệu, đanh thép và lý luận cứng cỏi, nặng nề làm cho người chung quanh có cảm tưởng nhà truyền giáo không còn làm chứng, nhưng đối chứng với quyết tâm dành cho được phần thắng về mình.
Sở dĩ nhà truyền giáo rất dễ mất hướng làm chứng và trệch sang đường đối chứng  khi truyền giáo, vì không phải lúc nào người nghe cũng lắng nghe nhà truyền giáo với thiện chí, cũng đón nhận với tấm lòng, cũng học hỏi với tâm hồn lương thiện. Trái lại, có nhiều người tiên thiên đã tìm kẽ hở để hạch hỏi trước khi tìm hiểu, tra vấn kiểu tra khảo trước khi truy tìm chân lý, và “bầy binh bố trận” để đưa nhà truyền giáo vào thế bí, đường cùng. Những người này đặt nhà truyền giáo vào một tình huống rất tế nhị, dễ gây bức xúc, bực bội, và đẩy nhà truyền giáo từ phong cách làm chứng chuyển sang thái độ đối chứng, từ chất giọng hiền lành, nhỏ nhẹ biến thành cung giọng chua chát, khó chịu.
Nhà truyền giáo rơi vào tình trạng bức xúc khi giáo lý bị phản biện cách vô lý, khó chịu khi giáo huấn bị phê bình trắng trợn, và đó là nguyên nhân khiến tâm lý  của nhà truyền giáo chao đảo, xao động đưa đến tình trạng lên giọng đối chứng như giải pháp cần thiết để hộ giáo, bênh vực đức tin.
Thực vậy, vì Tin Mừng không biên giới, và sứ mệnh của nhà truyền giáo là đi khắp tứ phương thiên hạ làm chứng Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã chết và đã sống lại, đồng thời làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Đức Giêsu (x. Mt 28,19-20), nên nhà truyền giáo không có lựa chọn khi lên đường truyền giáo, nghiã là không tự mình chọn “người nghe”  Tin Mừng, không tự mình chọn địa điểm làm chứng Đức Giêsu, không tự mình chọn trình độ, thành phần, giai cấp người được loan báo Nước Trời. Trái lại, nhà truyền giáo chỉ biết mình là người được sai đi đến nơi Đức Giêsu muốn, với đám đông gồm đủ mọi sắc dân, chủng tộc, văn hoá, chính kiến, trình độ, hoàn cảnh… để làm chứng Đức Giêsu, Thiên Chúa giầu lòng thương xót, Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại.
Do đó, khó có thể tránh những đối kháng công khai hoặc kín đáo, nổi cộm hoặc ngấm ngầm từ những người nghe Tin Mừng, vì không phải tất cả đều thiện tâm, thiện chí, chân thành đi tìm Chân Lý và đón nhận Tin Mừng, nhưng điều cốt yếu họ tìm là “vạch là tìm sâu”  kiếm chuyện để phản biện, đối chứng, lý sự hơn thua với nhà truyền giáo.
Chẳng thế mà Đức Giêsu đã có lần than thở: “Tôi phải ví thế hệ này với ai? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi lũ trẻ khác, và nói: Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không đấm ngực khóc than”. Thật vậy, ông Gioan đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo: “Ông ta bị qủy ám”. Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Mt 11, 16-19). Chỗ khác Ngài còn nói: “Ai có tai thì nghe!” (Mc 4,9), khi thấy có những người  thờ ơ, hờ hững đối với Tin Mừng được loan báo, vì hạnh phúc của họ.    
Những ghi nhận trên là sự thật hằng ngày mà nhà truyền giáo phải đối diện. Và không nhà truyền giáo nào đã không trải nghiệm những căng thằng trong một tình huống “chẳng đặng đừng”  khi bị cám dỗ rời bỏ “làm chứng”  để chuyển sang “đối chứng”; biện chứng.
Kinh nghiệm của nhà truyền giáo hôm nay cũng là kinh nghiệm qúy báu của các thánh tông đồ hôm xưa, mà thánh tông đồ trưởng Phêrô đã ân tình chia sẻ: Trong khó khăn, thử thách, “Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến. Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy  luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3,14-16).
Trả lời cũng như loan báo, đặt vấn đề, kể lại, thực hành trong đời sống, tất cả đều là làm chứng, nên trả lời những vấn nạn về Đức Giêsu, và giáo huấn của Ngài là một trong những công việc quan trọng của nhà truyền giáo.
Có rất nhiều vấn nạn, và vấn nạn nào cũng đặc thù, đặc biệt, bởi không ai giống ai, không ai suy nghĩ như ai, không ý hướng của người nào giống người nào, và nhà truyền giáo được mời gọi sẵn sàng đáp ứng tất cả các vấn nạn đôi khi rất phức tạp đó để làm chứng Đức Giêsu.
Vấn đề ở đây là cách thức trả lời những vấn nạn thiện tâm, chân thành, và những “bắt bẻ” có hậu ý, ác ý sao cho xứng hợp với sứ vụ loan báo và làm chứng Tin Mừng của nhà truyền giáo.
Thánh tông đồ Phêrô đã không ngần ngại đưa ra phương án rất chính xác, rõ ràng trong thư thứ nhất của ngài:
1.   “Luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai”:
Cái khó, cái khổ của nhà truyền giáo là phải trả lời cho bất cứ ai, kể cả những người hạch hỏi, phản biện không vì thiện tâm, “đối chứng”, lý sự không với lương tâm ngay thẳng, bởi nhà truyền giáo tin rằng: bổn phận gieo và tưới là của nhà truyền giáo, còn cho mọc lên là của Thiên Chúa, như Phaolô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Côrintô: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3,6), nên “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai” để hạt giống Tin Mừng được gieo và tưới, với niềm hy vọng Thiên Chúa sẽ cho mọc lên một ngày không xa, cho lớn lên xum xuê trên mảnh đất tâm hồn của người đối thoại, chất vấn mà bề ngoài lúc này xem ra như chưa được cầy xới, chuẩn bị. 
2.   “Chất vấn về niềm hy vọng của anh em”:
Tuy thế, Thánh tông đồ trưởng không đề nghị nhà truyền giáo trả lời tất cả mọi vấn nạn, nhưng chỉ trả lời những chất vấn về niềm hy vọng của nhà truyền giáo nơi Đức Giêsu. Điều này có nghiã nội dung chất vấn được giới hạn ở niềm hy vọng nơi Đức Giêsu để phù hợp với sứ vụ loan báo và làm chứng Tin Mừng của nhà truyền giáo.
Thực vậy, nếu nhà truyền giáo mê man trả lời tất cả mọi vấn nạn thuộc đủ mọi lãnh vực đời sống thì nhà truyền giáo đang biến mình thành “tự điển bách khoa”, điều mà Đức Giêsu không trao phó cho các vị khi kêu gọi, thánh hiến và sai đi. Nếu nhà truyền giáo nghĩ mình phải thông biết mọi sự trên đời để mọi người phải bái phục khối óc tuyệt vời, đỉnh cao trí tuệ của mình, thì nhà truyền giáo đang tự tách mình  ra khỏi sứ vụ loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh, điều duy nhất Đức Giêsu ký thác ở nhà truyền giáo khi trao “bài sai”. Nếu nhà truyền giáo cứ phải trả lời  hết mọi vấn nạn thuộc đủ thể loại từ chính trị, xã hội, văn hoá đến thương mại, kinh doanh… thì ơn gọi làm tông đồ, làm môn đệ Đức Giêsu của nhà truyền giáo không còn thuần khiết, minh bạch, nhưng bắt đầu vẩn đục, u ám, vì việc làm không còn ngay thẳng theo đường ơn gọi, nhưng loạng quạng ra khỏi qũy đạo của bài sai truyền giáo.
Do đó, chỉ niềm hy vọng vào Đức Giêsu đã chết và đã sống lại mới là nội dung các đáp án, trả lời của nhà truyền giáo, vì các vị được chọn để làm chứng Chân Lý cứu độ duy nhất này.
3.   “Nhưng phải trả lời cách  hiền hoà và với sự kính trọng”:
Không gì đẹp hơn ở nhà truyền giáo tâm hồn hiền lành, khiêm nhường, và thái độ hiền hoà, kính trọng người khác. Con người của nhà truyền giáo luôn là tấm gương mang tính thuyết phục rất cao, là lời chứng hùng hồn, thu hút hơn tất cả, là đường cao tốc và nhịp cầu ngắn cho mọi người đến với Đức Giêsu, mà hiền hoà và tôn trọng người khác là đức tính trổi vượt, quan trọng và “truyền giáo hữu hiệu” nhất.  
Cũng thế, người ta rất sợ và tránh xa những nhà truyền giáo dữ tợn, hung hăng, ngông nghênh, xấc xược, coi thường mọi người, vì không gặp được ở những nhà truyền giáo này hình ảnh Đức Giêsu - Mục Tử nhân lành, người cha nhân hậu, Thiên Chúa nhân từ, Đấng Cứu Độ nhân ái.
Vì vậy, trong mọi trường hợp, dù “đau đầu, nhức óc”, dù muốn nổi sùng, gắt gỏng đến đâu trước những chất vấn “không ra làm sao” của nhiều người, nhà truyền giáo vẫn phải cố giữ bình tĩnh để hiền hoà, và tôn trọng người khác, bởi đó là đòi hỏi của sứ vụ.  
Thánh Phêrô, vì hiểu nỗi khổ của nhà truyền giáo trước những nghịch cảnh trên đường truyền giáo khi bị lôi kéo vào đối chứng thay vì làm chứng, đã nhắc nhủ với tâm tình của Tông Đồ trưởng: “Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng  anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Kitô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống, bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác” (1 Pr 16-17).
Giữ lương tâm ngay thẳng cũng là giữ mình ở trong ơn gọi tông đồ, và trong sứ vụ loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh, bởi chỉ bước đi ngay thẳng trên đường được sai đi, với sứ vụ được trao phó, nhà truyền giáo mới có thể “không sợ, không xao xuyến để sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm Hy Vọng của mình trong Đức Giêsu đã chết và sống lại”, và mới có thể giữ mãi tâm tình và thái độ hiền hoà, tôn trọng người khác khi  làm chứng Tin Mừng cho muôn dân, mà không cần phải căng thẳng lý sự, bực bội đối chứng.
Xin Đức Giêsu phục sinh ban cho các nhà truyền giáo ơn hiền lành, khiêm nhường tận đáy lòng, và trái tim bác ái, vị tha để trong mọi sự, mọi tình huống, với mọi người, các vị “luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng” của các ngài ở Đức Giêsu “một cách hiền hoà và với sự kính trọng” trên con đường truyền giáo không biên giới. 
Jorathe Nắng Tím     

NGƯỜI NGHÈO THỜI COVID-19

 Ngoài những bệnh nhân bị lây nhiễm phải cách ly, người nghèo cũng là đối tượng được nói đến trong thời dịch Covid-19. Nhiều chương trình cứu trợ như “tụ điểm mì gói tình thương”, “ATM gạo giúp người nghèo”, “siêu thị không đồng”, và rất nhiều sáng kiến tương trợ khác thuộc tôn giáo, hội đoàn, tư nhân mọc lên, hoạt động hữu hiệu với mục đích chia sẻ, hỗ trợ bà con nghèo trong những ngày cách ly không thể làm ăn kiếm sống. 
Chân dung người nghèo vì thế cũng nổi bật, và được nhiều người nhận ra.
Tưởng người nghèo là những người đói khổ, nên coi trọng miếng ăn như xã hội bấy lâu vẫn đánh giá, nhưng hoàn toàn ngược lại, không ít người nghèo rất tự trọng. Có những người nghèo vì tự trọng đã không đến những tụ điểm cứu trợ để nhận qùa, không xuất hiện như người “ăn xin” nơi có hội đoàn phân phát từ thiện. Họ biết mình nghèo, nhưng vẫn không quên mình còn danh dự và nghiã vụ tự trọng.
Tự trọng nên không tự hạ thấp phẩm giá, tư cách, dù không phụ ơn những người có lòng giúp đỡ; tự trọng nên thà đói, còn hơn mang bộ mặt, dáng dấp của người “không tự lo nổi cho mình”; tự trọng nên tế nhị ở trong bóng tối hơn ló mặt trước đám đông đang ồn ào gọi tên từng người có hoàn cảnh, kiểm tra từng chứng minh thư, đọc từng dòng lý lịch, xác minh từng chữ ký của cơ quan, ban ngành chứng thực họ là người nghèo cần được giúp đỡ.
Tưởng người nghèo là người tham lam, xô bồ vì túng thiếu, như hình ảnh không mấy đẹp từ bấy lâu, nhưng thực tế hoàn toàn ngược lai, khi rất đông người nghèo thuộc diện được cứu trợ đã nhường phần của họ cho những người nghèo khác, không phải vì chảnh, nhưng vì tinh thần tương trợ “lá rách đùm lá nát” thường gặp ở nhiều người nghèo có tấm lòng vị tha.
Họ là những người nghèo, tuy nghèo, nhưng luôn nghĩ đến người khác, thương người cùng hoàn cảnh. Họ là những người luôn mơ ước có khả năng và phương tiện giúp người khác, nhưng “lực bất tòng tâm”, lo cho mình còn chưa xong, nói chi đến lo cho người, nên tự nguyện dành phần được giúp đỡ  cho người khác, để thoả lòng yêu thuơng những người đồng cảnh ngộ.   
Tưởng người nghèo là những người vô liêm sỉ, được một lấy mười, tranh giành để tích trữ phòng thân, như thiên hạ thường hồ đồ kháo láo, nhưng sự thực không như thế, khi có nhiều người nghèo liêm sỉ đến độ chỉ nhận những gì thực sự cần thiết, rất cần thiết cho sự “sống còn”, mà không vồ vập, ôm hết cho mình, vơ hết về mình, kiểu “đầu cơ tích trữ” tặng phẩm từ thiện.
Họ là những người chừng mực, vì có liêm sỉ, không vì vật chất mà bán rẻ lương tâm, không vì nghèo túng mà  để mất “cái dũng” của hiền nhân, quân tử.  
Tưởng người nghèo là người ích kỷ, ki bo vì quá thiếu thốn, nên không có ý niệm cho đi, nhưng những gì phần đông người nghèo đang làm đã xoá tan thành kiến “nghèo và keo” này, khi đa số nguời nghèo, tuy nghèo, vẫn cố moi móc những gì mình còn có thể cho, tìm kiếm những gì còn có thể chia sẻ để đóng góp với xã hội trong công cuộc từ thiện, giúp đỡ người nghèo, vé người ta gặp được trong đời thường những cụ già nghèo chia sẻ với người nghèo neo đơn khác chén cơm, bát gạo, vài con cá rô mới câu, dăm ba con tôm mới lưới.
Họ là những người nghèo quảng đại, có lòng và sẵn sàng cho đi những gì mình có, dù chẳng có gì, ngay cả những gì cần thiết cho nhu cầu cuộc sống.
Qủa thực, không ít dung mạo nghèo xuất hiện trong thời Covid-19 đã làm sáng bầu trời quê hương; không ít người nghèo đã là tấm gương của tình người, lòng tự trọng, tính liêm sỉ, tinh thần bác ái, tương trợ; không ít khuôn mặt nghèo đã làm giầu lương tâm Việt Nam; không ít dáng dấp nghèo đã là trụ cột, hải đăng cho tuổi trẻ mất hướng đi, không lý tưởng; không ít mảnh đời nghèo đã đánh thức lối sống bốc hốt, bóc lột của đám tham quan gian ác; không ít tâm hồn nghèo nhưng cao thượng đã là tiếng nói nhắc nhở những bàn tay bất nhân chuyên chiếm đoạt, biển thủ “cơm chim của người khốn cùng”; và không ít cuộc sống nghèo nhưng trái tim rực lửa yêu thương đồng loại đã là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với những kẻ núp bóng bạo quyền dùng bạo lực để gây bất công cho người túng bấn, nghèo khổ, cơ cùng.
Sau cùng, chúng ta cũng đừng quên một thực tế phũ phàng, một sự thực đáng xấu hổ, đó là có nhiều người không nghèo tiền bạc, không thiếu thốn vật chất, không có nhu cầu được cứu trợ, không cần sự giúp đỡ của người khác đã đẩy người nghèo xa khỏi tụ điểm mì gói, ATM gạo, cơ sở từ thiện dành cho riêng họ, để cướp trắng những phần ăn ít ỏi của người nghèo, chụp giật những ổ bánh mì cứu đói dành cho người nghèo, đánh cắp những bao gạo dành nuôi những gia đình nghèo, tranh giành những hộp sữa của trẻ em nghèo, và tệ hơn cả là tổ chức quy mô, có khoa học cách chiếm đọat quyền lợi của người nghèo, bất cứ trong hoàn cảnh nào, và khi nào có thể
Họ là ai? Chắc chắn là đồng bào của chúng ta. Và cũng như những người nghèo khốn khổ trên quê hương, họ là người Việt Nam.      
Không biết tôi với bạn, chúng ta nên khóc hay nên cười trước tình trạng “dở khóc dở cười” này?
Jorathe Nắng Tím