Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

THIÊN CHÚA CỦA SỰ SỐNG ĐÃ CHẾT !


Đây chính là tiền đề của mọi khích bác, chống đối, khườc từ, phạm thượng, ngạo mạn của con người, từ hơn hai ngàn năm nay dành cho Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa khi Ngài nhận mình là “sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25), đồng thời là “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), nhưng thực tế Ngài lại chết tức tưởi, trần truồng, ô nhục trên thánh giá như một tội phạm. Nghịch lý ở một Thiên Chúa tòan năng lại hoàn toàn bất lực, như lời cười nhạo của lính tráng, và dân chúng đứng nhìn Đức Giêsu tắt thở : “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn” (Lc 23,35) ; nhiều người khác còn nặng lời thách thức : “Ông Kitô, Vua Ítraen ơi, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin” (Mc 15,32).
Qủa thực, không phải những người Do Thái, đồng bào, đồng đạo của Đức Giêsu cách đây 2019 năm đã “vấp phạm” vì nghịch lý này, mà chính chúng ta hôm nay cũng nhiều lần “lấn cấn, mắc kẹt” và tự hỏi : Tại sao Thiên Chúa đã phải làm người để chìm vào bóng tối tội lỗi của nhân loại, ngụp lặn trong yếu đuối của cám dỗ ? Tại sao Thiên Chúa của sự sống lại làm người, dù biết làm người thì phải chết, làm người sẽ sợ hãi, khổ đau, làm người là mang lấy mong manh, bọt bèo ? Và rất khó để giải thích nghịch lý một Thiên Chúa toàn năng, thánh thiện, nguyên ủy của sự sống đã chết cái chết của người có tội.    
Ở đây, dưới ánh sáng của Tin Mừng, chúng ta khiêm tốn đi tìm ý nghiã và giá trị cứu độ của nghịch lý : Thiên Chúa của sự sống đã chết này.
Ngay từ những ngày đầu đời công khai, Đức Giêsu đã được thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian” (Ga 1,29), và chính Ngài đã không ngừng công bố : “Mạng sống cuả tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,18). “Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Thánh Phaolô cắt nghiã cho giáo đoàn Rôma : “Thật vậy, mọi người  đã phạm tội và bị tước vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội, nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin ở Người” (Rm 3,23-25).
Như thế, Đức Giêsu Kitô, “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8), để chúng ta thấy rằng : tội lỗi của chúng ta có một sức nặng kinh khủng, đến nỗi chúng ta mất hết sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa dành cho, và chỉ duy nhất Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa mới có thể gánh tội, chuộc tội, xóa tội chúng ta qua công trình cứu chuộc của Ngài, ở đó Ngài đã làm người như chúng ta, ở giữa chúng ta, đổ máu và hy sinh mạng sống để chúng ta được sống nhờ được trở nên công chính trong máu cứu chuộc của Ngài. Nói cách khác, Đức Giêsu Kitô đã đi vào  mầu nhiệm nghịch lý khi thiên tính mặc lấy nhân tính, Thiên Chúa của sự sống đón nhận cái chết của con người, Chiên Thiên Chúa thánh thiện, tinh tuyền, vô tội gánh hết tội lỗi trần gian, Thiên Chúa của Hạnh Phúc, Bình An vui lòng chịu “đổ mồ hôi máu, và buồn sầu đến chết được” vì căng thẳng, hãi hùng, xao xuyến trước giờ bị bắt  (x. Mc 14,33-34), Đấng Thiên Sai “đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng » lại hoang mang phút lâm chung và hốt hoảng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con ?” (Mc 15,34).  
Nhưng tại sao Đức Giêsu phải đi vào con đường nghịch lý ?
Thưa vì Thiên Chúa muốn chúng ta nhận ra mỗi người chúng ta được Thiên Chúa yêu thương vô cùng và đến cùng, nghiã là lúc nào chúng ta cũng được Thiên Chúa vô cùng yêu thương và nhân hậu tha thứ, cả những lúc chúng ta tự ý bỏ Ngài, cố tình lãng quên, xúc phạm, lên án, đóng đinh Ngài. Đi vào nghịch lý, Đức Giêsu muốn chứng minh Thiên Chúa đã yêu con người đến mức con người không thể hiểu nổi, vì đó là tình yêu của một Thiên Chúa “si mê” con người đến nỗi tự nguyện  xuống thế làm người, để ở với con người, và chết như con người, cho con người được chung hưởng sự sống và vinh quang đời đời của mình.
Qủa thực, không có Thiên Chúa của tôn giáo nào đã “xuống thế làm người và chết cho con người, vì yêu con người”, như Thiên Chúa của Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, và đợi chờ duy nhất của Thiên Chúa ấy là chúng ta “tin vào Đức Giêsu, Đấng được Thiên Chúa sai đến để hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhân loại”, để một khi nhận ra mình được cứu độ vì được yêu thương bởi Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối, Tình Yêu vô cùng, chúng ta sẽ không thể không khao khát ở lại trong Thiên Chúa, tháp nhập vào Thiên Chúa , muốn nên “đồng hình đồng dạng” với Thiên Chúa bằng sống yêu thương và chết yêu thương mỗi ngày như Đức Giêsu trên hành trình dương  thế.
Sống yêu thương mỗi ngày khi khiêm tốn, hiền lành, dễ thương, dễ gần, quảng đại, hào sảng, lạc quan để ai cũng có chỗ trong trái tim, trong nhà, và trong đời sống của ta ; chết yêu thương mỗi ngày khi bình an đón nhận những phiền phức, trái ý, hiểu lầm, hàm oan, vô ơn, phản bội, bất công của người khác, có thể là người thân như cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn hữu ; có thể là đức cha giáo phận, bề trên giám tỉnh, chị trưởng phụ trách cộng đoàn, cha xứ, cha phó, ông quản, ông trùm ; và cũng có thể là những người thuộc quyền, bề dưới, học trò, môn sinh “non người trẻ dạ”, “ngựa non háu đá”, “trứng khôn hơn rận”. Mỗi ngày tập sống yêu thương là không chấp nhất, so đo hơn thiệt, tranh giành, bon chen để đức ái lúc nào cũng ngời sáng, để Bình An của Đức Giêsu được lan toả xa rộng cho mọi người chung quanh ; mỗi ngày tập chết yêu thương là “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7), để Thiên Chúa là Tình Yêu được lớn lên và mọi người được hạnh phúc trong Tình Yêu Cứu Độ. Nhưng để sống yêu thương và chết yêu thương mỗi ngày, chúng ta cần biết mình yếu đuối, tội lỗi, không hoàn hảo, nhưng giữa những lỗi lầm, thiếu sót vẫn tin tưởng và khiêm tốn tiến lên với ơn phù trợ của Thánh Thần Tình Yêu.   
Tháng cầu cho các Linh Hồn là dịp để chúng ta xác tín hơn : Đức Giêsu Kitô là sự sống đã chết cho chúng ta được sống ; Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa đã làm người để chúng ta được tham dự vào thiên tính của Thiên Chúa ; Đức Giêsu Kitô đã tự nguyện gánh những phiền muộn, tật bệnh, tội lỗi của con người tội lụy để chúng ta được chung phần hạnh phúc, vinh quang của Thiên Chúa.
Tháng cầu cho các Linh Hồn cũng là dịp chúng ta nhận ra niềm an ủi lớn lao, mà có thể ít khi chúng ta nghĩ tới, đó là Đức Giêsu Kitô đã chết như con người, đã mang trọn cái chết vào “phận làm người” của Thiên Chúa, để mỗi người chúng ta được chết với Ngài, có Ngài trong giờ chết, có Ngài ẵm bế, ủi an, có Ngài nâng đỡ, bênh vực, có Ngài thương xót, thứ tha, có Ngài dìu dắt, đồng hành vượt qua kiếp sống trần gian đi vào cõi sau đời đời.
Có Đức Giêsu đã chết cho chúng ta được sống ; có Đức Giêsu đã chết như người có tội cho chúng ta được an lòng, vững dạ giờ lâm chung, chúng ta còn lo lắng gì nữa, có chăng chỉ là lo sống yêu thương mỗi ngày như người Samaritanô nhân lành đã chạnh lòng thương chấp nhận mất giờ, mất tiền, mất sức, kể cả mất mạng không chừng khi thấy người  đi đường bị bọn cướp “trấn lột, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết” (Lc 10,30), đã “lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc” (Lc 10,34)  và tập chết mỗi ngày khi noi gương Đức Giêsu trên thánh giá “tha thứ cho cả những kẻ làm khốn mình” (Lc 23,34), và thiết tha cầu nguyện như người trộm lành : “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến con trong Nước Ngài” (Lc 23,42).
“Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa tha tội chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hoả ngục, xin cho các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn. Amen”.
Jorathe Nắng Tím  

CẦU NGUYỆN NHƯ ĐỨC GIÊSU

Không ai là người Kitô hữu lại không biết đến cầu nguyện : cầu nguyện như bổn phận thảo hiếu đối với Cha trên Trời ; cầu nguyện là lẽ sống, vì thiếu cầu nguyện, người tín hữu không thể hiệp thông, hiệp nhất trong Chúa và với anh chị em ; cầu nguyện để xin ơn trợ giúp, ủi an, và các ơn lành hồn xác ; cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Nhưng “biết đến cầu nguyện” chưa phải là “biết cầu nguyện”. Bằng chứng là các tông đồ khi thấy Đức Giêsu thường xuyên cầu nguyện đã xin Ngài dạy các ông cầu nguyện (Lc 11,1). Và Ngài đã dạy các ông Kinh Lạy Cha (x. Mt 6,9-13), đồng thời dạy các ông :
·        “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt 6,7-8).
·      Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả : chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy… Còn anh em, khi cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng cha của anh em, Đấng hiện diện kín nơi đáo, và thấu suốt những gì kín đáo…” (Mt 6,5-6).
·      Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm điều gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,44-48).               
Qua những dặn dò, chỉ dẫn cầu nguyện của Đức Giêsu, chúng ta nhận thấy :
1.    Con đường nên thánh của mỗi người hệ tại ở việc cầu nguyện với thái độ khiêm nhường, tín thác ở Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót, Đấng biết con cái mình cần gì, thiếu gì.
Dụ ngôn người Pharisêu kiêu căng tự nhận mình là đạo đức, thánh thiện và người thu thuế khiêm nhường biết mình là kẻ tội lỗi cùng lên Đền Thờ cầu nguyện của Tin Mừng Luca đã cực tả điều Đức Giêsu muốn có ở tâm hồn cầu nguyện : Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : “Lậy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay một tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi’ (Lc 18,11-13). Và Đức Giêsu kết luận : “Tôi nói cho các ông biết : người này khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mnìh lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14).
2.   Con đường nên thánh còn hệ tại ở việc thực hiện Đức Ái ở mức độ anh hùng, khi yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5, 44).
Như thế, cầu nguyện và thực hành Đức Ái luôn phải đi đôi với nhau, như cây Thánh Giá, với thanh gỗ dọc cắm sâu vào đời sống và vươn cao tới Trời, biểu hiện tâm hồn cầu nguyện luôn gắn bó, kết hiệp với Thiên Chúa ; và thanh gỗ ngang của Thánh Giá chính là đôi tay giang rộng ôm lấy anh em đồng loại khi yêu thương, phục vụ mọi người, bất kể họ là ai.
Bên cạnh những điều được căn dặn trên, Đức Giêsu còn một bí mật của cầu nguyện, mà chỉ ở những ngày cuối đời, vào giờ phút quyết liệt, kinh khủng nhất, Ngài mới tỏ ra cho các tông đồ, là những người được đi cùng Ngài vào vườn Cây Dầu trước khi Ngài bị bắt. Đó là cầu nguyện theo ý của Thiên Chúa Cha.
Tuy trong Kinh Lạy Cha, Ngài đã dạy các tông đồ cầu nguyện : “Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,10 ), nhưng các ông không hiểu hết ý nghiã của lời cầu “theo ý Thiên Chúa” này, bởi chưa rơi vào hoàn cảnh đắng cay, nghiệt ngã, chưa ở bước đường cùng bế tắc, chưa bị kẹt vào đêm tối của con nợ bị chủ nợ thuê đầu gấu truy lùng, chưa bị cùm chân còng tay trong phòng biệt giam vì bị hàm oan, tố láo, chưa bị Bề Trên nổi giận, ra tay sửa phạt vì bị hiểu lầm, chưa bị thiên hạ “bầy binh bố trận” cho “knock - out”, lọt lưới, các tông đồ cũng như chúng ta không thể hiểu được cái khó khăn khi phải cầu xin theo Thánh Ý Chúa, không cảm nghiệm được nỗi đau rướm máu khi lời cầu xin “theo ý mình” không được khứng nhận, chưa thể hiểu mãnh lực của cơn cám dỗ “không tin ở Thiên Chúa toàn năng và yêu thương” khi nhu cầu cấp bách không được Thiên Chúa đáp ứng, và hoàn cảnh bi đát, khốn cùng không được Thiên Chúa can thiệp.  
Để các tông đồ hiểu cái khó khăn khi phải thống thiết cầu nguyện “theo thánh ý Thiên Chúa, mà không theo ý mình” ở những hoàn cảnh cam go, nghiệt ngã, Đức Giêsu đã cùng các môn đệ đi ra núi Ô - liu. Đến nơi, Người bảo các ông : “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Rồi Người đi xa các ông một quãng chừng bằng ném một hòn đá, và qùy cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, nếu đẹp ý Cha, thì xin Cha cất chén đắng này xa con. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha” (Lc 22,40-42). Lúc bấy giờ “lòng xao xuyến bồi hồi, nên Người càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,4).
Người xao xuyến, bồi hồi vì cuộc khổ nạn và cái chết gần kề, ở đó mọi người bỏ Ngài, các tông đồ thì kẻ chối, người phản bội, số còn lại bỏ chạy “mất dép”, chỉ còn lại thân mẫu, vài người phụ nữ, và duy nhất một tông đồ Gioan ở lại với Ngài dưới chân Thánh Giá ; Ngài xao xuyến, bồi hồi vì gánh nặng vô song của tội lỗi đè trên đôi vai, và đường thánh giá dài lê thê, não nề, kinh khủng trước mặt. Chính trong giây phút cực căng thẳng và khủng hoảng này, Ngài cảm thấy chén phải uống đắng đót, khó uống qúa, và đã cầu xin Chúa Cha : “Nếu được, thì xin Cha cất chén đắng này cho con”. Và các tông đồ đã bắt đầu hiểu được cái khó của lời cầu xin theo Thánh Ý, cho đến khi chính các ông lâm trận, rơi vào thử thách khi Thầy bị bắt, bị lên án đóng đinh, các ông mới thấm thía thách đố cam go của lời cầu nguyện : xin cho Thánh Ý Cha được thể hiện, mà không phải ý con.  
Vâng, cầu nguyện như Đức Giêsu tiên vàn sẽ là cầu nguyện theo Thánh Ý Chúa Cha, nghĩa là “xin cho Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Sở dĩ Đức Giêsu đã cầu nguyện được như thế, vì Ngài hoàn toàn xác tín : Chúa Cha yêu thương Ngài vô cùng, như khi chịu phép rửa bên sông Giôđanô, “Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người”. Và có tiếng từ trời phán : “Đây là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3,17) ; Ngài còn xác tín : “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11).
Với niềm xác tín thuộc về Chúa Cha trọn vẹn và được hiệp nhất trong tình yêu với Chúa Cha, Đức Giêsu đã vượt qua cám dỗ theo ý mình, để  cầu nguyện theo thánh ý Chúa Cha, dù có lúc tâm hồn xao xuyến, bồi hồi đến đổ mồ hôi máu, khi gánh nặng cuộc đời đè bẹp sức người có hạn, tưởng không còn có thể lết đi.
Lạy Đức Giêsu, xin nâng đỡ lời cầu nguyện còn yếu đuối, dè dặt, do dự, so đo, tính toán, nghi ngại, ngờ vực của chúng con trước Thánh Ý của Chúa. Xin giúp chúng con không chỉ cầu nguyện với trái tim nồng nàn yêu thương, và với thái độ đơn sơ, khiêm nhường, kín đáo, mà còn dám cầu nguyện với lòng tín thác tuyệt đối ở Thánh Ý của Thiên Chúa, là “mẹ hiền an ủi con thơ” (Is 66,13), là gà mẹ tập hợp, chở che đàn con dưới cánh (Mt 23,37), và mãi mãi Thiên Chúa là Mẹ hiền yêu thương biết rõ con cái cần gì trước khi con cái cầu xin (x. Mt 6,8).
Jorathe Nắng Tím