Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

CON CÁI VÀ TIỀN BẠC


Con cái nghe cha mẹ nói về tiền, thấy cha mẹ cầm tiền, tiêu tiền. Còn qúa nhỏ để có thể biết tiền là gì và giá trị của tiền, nhưng em đã mang máng hiểu: mọi người cần có tiền. Và từ đó, em muốn tìm xem đâu là mãnh lực của tiền.
Em bé nhận ra nhiều sự thật về tiền ngay khi 4, 5 tuổi:
1.   Tiền có mặt khắp nơi: Tiền không còn là mầu nhiệm hay điều cấm kỵ, nhưng tiền gần gũi,  quen thuộc. Ở nhà với mẹ, em thấy mẹ móc túi lấy tiền cho ba, cho anh chị. Đi chơi với ba, em thấy ba lấy tiền trả taxi. Vào siêu thị với chị, em thấy chị trả tiền khi mua quần áo. Tiền ở khắp nơi và chỗ mua bán nào người lớn cũng phải dùng đến  tiền. Ý niệm về tiền len lỏi vào trong em qua tính “toàn năng và hiện diện khắp nơi” của nó.  
2.   Em nhận ra: bất cứ thứ gì cũng có giá và hầu như mọi thứ đều được mua bằng tiền.
Em bé biết tiền qua người lớn và chỉ có thể nhận định về tiền  đến mức này. Bằng chứng là đi chợ với mẹ, em đòi đủ thứ, muốn đủ thứ vì tưởng rằng em muốn mua gì cũng được. Nếu mẹ nói với em không có tiền, em sẽ tỉnh bơ đề nghị mẹ đút  thẻ vào máy rút tiền tự động để lấy tiền. Em làm như cứ cần tiền là đút cạc vào máy và tiền sẽ nhẩy ra vô tận.
Bình thường trước 5 tuổi, em bé không biết  tiền là gì. Em coi tiền như đồ chơi và không mấy quan tâm. Từ 6 đến 8 tuổi, em quan sát ích dụng của tiền và ý niệm về tiền bắt đầu nhen  nhúm, thành hình trong em. Trên 8 tuổi, em biết tiền cần thiết và muốn có tiền riêng. Đây là giai đoạn quan trọng cha mẹ cần giáo dục con về giá trị của tiền và thái độ phải có đối với tiền.
Để tránh hai thái cực đều mang lại hậu qủa tai hại, đó là qúa say mê tiền đến ki cóp, thu gom bần tiện và phung phí, không biết tiết kiệm,  cha mẹ phải khôn khéo cắt nghiã cho con  những câu hỏi về tiền như: Tiền từ đâu có? Tiền để làm gì? Tiền có mua được tất cả không?    
a.   Tiền từ đâu có?: Em bé thấy mẹ đút cạc vào máy và lập tức tiền chạy ra, thế là em nghĩ: muốn có tiền chỉ việc đút cạc vào máy. Em không có ý niệm về nhà băng, máy rút tiền tự động và nhất là không  biết: để có tiền, cha mẹ đã phải đổ mồ hôi làm việc cực nhọc. Em cần được giải thích: tiền từ việc làm của cha mẹ. Hiểu được như vậy, em sẽ biết trọng giá trị của đồng tiền, vì biết tiền là  lương bổng của những ngày làm việc vất vả. Từ ý thức giá trị tiền là hoa trái của lao động, em sẽ  tập thói quen không coi  thường tiền bạc và sau này khi lớn lên sẽ không bừa bãi, phung phí  tiền bạc.

b.   Có tiền để làm gì? Một cách cụ thể, hãy cắt nghiã cho em: cần có tiền thuê nhà, tiền điện nước, tiền đi chợ mua đồ ăn, tiền sắm sửa đồ đạc, tiền may  quần áo, tiền đi học, tiền đi xe, tiền cho em ăn quà,  tiền cho em nhổ răng, tiền giúp người nghèo, tiền góp  qũy bác ái, từ thiện… Nói tóm lại, cần có tiền để giải quyết những nhu cầu của  đời sống hàng ngày và bảo đảm an sinh,  hạnh phúc của gia đình, cũng như để chia sẻ với những người thiếu thốn. Tuy còn bé, nhưng  con cái rất tò mò muốn biết tiền để làm gì, và tại sao phải đi làm kiếm tiền?  Cha mẹ cần thong thả cắt nghiã cho con, và nhờ thế, con sẽ biết cảm thông hơn với cha mẹ bằng cách không đòi hỏi  tiền bạc cách vô lý.


c.    Tiền có mua được tất cả không? Vì thấy mọi chuyện đều cần có tiền, mọi nhu cầu đều cần tiền để giải quyết, em bé sẽ lầm tưởng: chỉ cần có tiền sẽ mua được tất cả, như con trai một đại gia kia trong phim “Cầu vồng tình yêu” đã thẳng thừng tuyên bố: “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng “rất nhiều tiền”.” Như thế, chẳng có gì mà tiền không mua được.
Đây là nguy hiểm hơn cả nguy hiểm khi con cái ngay từ nhỏ đã bị ám ảnh bởi mãnh lực tưởng như tuyệt đối của tiền. Bị ám ảnh bởi sức mạnh vô song của tiền, con cái khi lớn lên sẽ chỉ biết tiền, ngoài ra không biết gì nữa kể cả lương tâm, đạo đức. 
Nhận định sai lầm về giá trị của tiền sẽ làm con cái trở nên nô lệ của tiền và cuộc đời sau này của chúng sẽ chỉ là cuộc chạy đua với đồng tiền và cuộc sống sẽ chỉ là những  bon chen, tranh giành với người khác để kiếm tiền, kiếm thật nhiều tiền...Và thế giới sẽ biến thành bãi chiến trường, sàn đấu giữa những con người  đã chọn tiền làm  lẽ sống. 
Nhận diện sai về  tiền cũng làm con cái dễ mù quáng trước tiền và sẵn sàng bán rẻ danh dự, phẩm cách vì tiền. Biết bao người trẻ đang lao vào cơn lốc kinh hoàng của đồng tiền và số phận của họ đã không hạnh thông, may mắn vì cái bạc của tiền.

Con cái chúng ta cần được giáo dục về giá trị “tương đối” của tiền ngay từ bé và phải được dậy cách xử dụng tiền ngay khi còn ở với cha mẹ. Cha mẹ có thể tập cho con dùng tiền bằng cách:

a.   Cho con một chút tiền bỏ túi khi con lên 9, 10 tuổi. Không cho nhiều, nhưng với chút tiền này, em sẽ tập xử dụng đồng tiền, tiết kiệm tiền với mục đích trở thành nguời chủ  khôn ngoan của đồng tiền sau này. Với chút tiền bỏ túi, em có tự do mua cho mình những gì em thích và có phương tiện giúp đỡ  người khác. Tập cho con dùng tiền một cách chính đáng là bổn phận của  cha mẹ khôn ngoan biết nhìn trước tương lai của con khi con sẽ một mình với gia đình riêng, đời sống riêng, sinh hoạt riêng; ở đó tiền đóng một vai trò quan trọng.
Khi con xin tiền bỏ túi là lúc con bắt đầu muốn có trách nhiệm trên đời mình. Vì thế, cha mẹ đừng từ chối lời xin chính đáng này để con có cơ hội tập sống có trách nhiệm trên chính đời mình.

b.   Đừng sợ phải nói “không” với con cái khi không thể thoả mản những đòi hỏi vật chất của chúng. Thí dụ: khi em bé cứ đòi mua hết đồ chơi này đến đồ chơi khác, cha mẹ nên  bình tĩnh và ôn tồn  nói với con: Ba không đủ tiền để mua tất cả những thứ này cho con; vì thế mình phải chọn lựa cái gì con thích nhất.  Từ chối không có nghiã là không còn thương yêu; cũng như chấp thuận chưa hẳn là dấu chứng của tình yêu. Cha mẹ đừng quên: những nụ hôn âu yếm, những lời khích lệ, động viên đem lại cho con niềm vui được yêu thương nhiều hơn  cho tiền, mua đồ chơi.
            
c.    Có thể tập cho con biết: đồng tiền do mồ hôi khó nhọc bằng cách đề nghị con thỉnh thoảng, nhất là trong kỳ nghỉ hè làm những việc  không thuộc sinh hoạt thường ngày của gia đình và trả cho con chút tiền lương tượng trưng  như phụ ba mẹ dọn nhà kho, cắt cỏ ngoài vườn…

d.   Tôn trọng quyền xử dụng tiền bỏ túi của con, vì thuộc quyền sở hữu chính đáng của chúng. Nếu cha mẹ không tôn trọng, cha mẹ đã không giúp con trưởng thành trong ý thức tự trách nhiệm  trên những gì thuộc về chúng.
Tóm lại, tiền bạc là phương tiện cần thiết trong sinh hoạt đời sống con người. Là phương tiện trao đổi để đáp ứng nhu cầu vật chất nên ai cũng cần tiền để sống. Em bé cần được giáo dục về tiền để khi lớn, em sẽ không ngỡ ngàng, vụng về khi phải tự mình xử dụng tiền. Vì tính bề ngoài “toàn năng”, tiền làm sáng danh phận, tương lai nhưng cũng  có thể làm lu mờ nhiều thứ, từ mắt đến lương tâm; tiền tạo dựng cơ nghiệp, vị thế xã hội, nhưng cũng sẵn sàng làm sụp đổ nhiều sự, từ con người,  gia đình đến đất nước; tiền cho con người sống hạnh phúc, xứng hợp nhân vị, nhưng cũng làm chết nhiều cuộc đời bất kể cuộc đời của người nghèo, người giầu, người cô thế, người có  chức tước, phẩm hàm.Tiền có thể là tôi tớ trung tín, nhưng cũng có thể tiếm vị để lên ngôi “ông chủ tàn ác”. Tự bản chất, tiền không xấu, không tốt; xấu tốt là do người xử dụng tiền.
Giáo dục tuổi thơ không loại trừ giáo dục về tiền để em bé ý thức về khả năng xây dựng cũng như mãnh lực tàn phá của tiền. Ý thức đúng đắn về tiền sẽ giúp em lớn lên trong lương thiện trước tiền bạc và khôn ngoan trong cách xử dụng. Ngày nay, lương tâm nhân loại không còn trong sáng và phán đoán của  nhiều người không còn lành mạnh trước đồng tiền. Người ta không còn cảm thấy “lương tâm cắn rứt” khi chiếm đoạt tiền bạc của người khác, thâm lạm công qũy, tham ô, lừa đảo. Tiền đã ở đỉnh cao của thang giá trị cuộc đời và người ta chỉ còn mê man tìm kiếm, bốc hốt, tôn thờ. Tiền trở thành thượng đế toàn năng và trí thông minh của con người thời đại chỉ đến được mức coi đồng tiền là tất cả vì  logic thực dụng  của họ là tất cả đều mua được bằng tiền.
Khi thế giới rơi vào thảm trạng tôn thờ tiền bạc thì con người tức khắc xuống cấp làm nô lệ của đồng tiền. Và theo bạn, thế giới con người sẽ đi vể đâu và con người sẽ hạnh phúc hay bất hạnh khi tiền là tất cả và tất cả sẽ không là gì, nếu không có tiền, kể cả tình nghiã ? 
Hỏi tức là trả lời và tương lai của con chúng ta là bài toán mà chúng ta phải tìm lời giải ngay từ hôm nay, tại nơi này.

CHO DƯ ĐẦY MỘT CÁCH NHƯNG KHÔNG

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18, Thường Niên, Năm A     

Ước gì chúng ta nhận ra ơn Chúa, vì Chúa thật là Đấng nhân ái, nhân hậu: “nhân ái với mọi người, và nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 144,9), để “muôn loài ngước mắt trông lên Chúa, và chính Ngài đúng bữa cho ăn. Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thỏa thuê” (Tv 144,15-16).  

Ngôn sứ Isai đã mô tả Thiên Chúa ban ơn một cách dồi dào và nhưng không, khi ơn Chúa không khoanh vùng, cấm vận, phân biệt, kỳ thị, khước từ, chối bỏ một ai, nhưng được ban hào sảng, quảng đại và nhưng không, vô điều kiện cho mọi người, nhất là những người nghèo khó không có tiền để mua, không có gì để trả: “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào” (Is 55,1).

Như thế, không chỉ những của ăn cho “chắc dạ no lòng”, mà cả những thức ăn, thức uống được xếp vào mặt hàng cao qúy, sang trọng như sữa và rượu cũng được Thiên Chúa ban dư tràn. Tất cả đều được ban nhưng không và chan chứa, dư đầy để dân Ngài được no nê, vui thoả: “Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị”(Is 55,2).

Tin  Mừng Matthêu làm chứng điều này, khi “Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ” (Mt 14,14).Và đám đông ấy khao khát lắng nghe Ngài giảng dậy đã không chịu tan hàng dù trời đã về chiều, đến nỗi các “môn đệ lại gần và thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn” (Mt 14,15).

Trước lời đề nghị của các môn đệ, Đức Giêsu đã:

1.   Không trốn chạy vấn đề:

Vấn đề trước mắt là đám đông đói, và giải pháp dễ dàng, gọn đẹp nhất được các môn đệ đưa ra là giải tán để ai nấy tự lo cho mình, vì qủa thực lấy đâu ra bánh mà cho đám đông hàng nhiều ngàn người ăn giữa một “nơi hoang vắng riêng biệt”.  Và Đức Giêsu đã làm các môn đệ giật mình khi nói với các ông: “Họ không cần đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn” (Mt 14,16), mà không theo ý các ông giải tán đám đông là giải pháp nhanh chóng, dễ dàng và rảnh tay hơn cả.

2.    Muốn các môn đệ Ngài là những trợ tá của Ơn Chúa:

Không trốn chạy vấn đề, không tránh né khó khăn, không xóa bỏ trách nhiệm bác ái trước nhu cầu chính đáng của ngưới khác, Đức Giêsu đã công khai yêu cầu các môn đệ nhập cuộc, dấn thân vào việc lo cho đám đông ăn, khi nói với các ông như một lệnh truyền: “Chính anh em hãy lo cho họ ăn”. Ngài  giúp các ông nhận ra vai trò cộng tác vào ơn Chúa, vai trò trợ tá phân phát ơn Chúa của mình khi bảo các ông đem lại cho Ngài những gì các ông có. Và tất cả những gì các ông kiếm được trước nhu cầu lương thực của nhiều ngàn người chỉ “vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá” (Mt 14,17).

Thật ít oi những gì các môn đệ mang lại cho Ngài, khi được yêu cầu lo cho đám đông ăn, nhưng với những “ít oi, nhỏ bé” đó, Đức Giêsu đã  làm phép lạ “hoá bánh ra nhiều” nuôi cả đám đông “có tới năm ngàn đàn ông không kể đàn bà và trẻ con” (Mt 14,21).

Qủa thực, từ hoàn cảnh thiếu thốn, đói khát của đám đông và tâm trạng lo âu của các môn đệ, Đức Giêsu đã biến thành bầu khí vui tươi, hạnh phúc khi tất cả được no đủ, và các môn đệ được sung sướng hả hê vì không ngờ Thầy đã làm phép lạ cả thể để mọi người được ăn no và phấn khởi tin Thầy là Đấng Thiên Sai.

Với chúng ta, cuộc sống cũng có những lúc thiếu thốn, cơ cùng cả vật chất lẫn tinh thần và ngoài Chúa ra, chúng ta chẳng còn biết trông vậy vào ai khác.

Xin Chúa dậy chúng ta tin vào lòng nhân ái, nhân hậu của Chúa, Đấng ban ơn dư đầy và nhưng không cho những ai “tìm Người khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người còn ở kề bên” (Is 55,6), vì khi đã nhận ra ơn Chúa từng giây phút bao phủ cuộc đời, chúng ta sẽ như thánh Phaolô xác tín và tuyên xưng: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,39).

Jorathe Nắng Tím