Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH CHO MUÔN DÂN

Đức Giêsu, Thiên Chúa giáng sinh không chỉ là biến cố vui mừng cho thánh gia và những người quen biết, gần gũi như các mục đồng, nhưng còn là hạnh phúc cho cả nhân loại, cho mọi người tận chân trời góc biển xa xôi. Hôm nay, với các nhà chiêm tinh từ rất xa đến Bêlem bái lậy Hài Nhi, Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người, chúng ta nhận ra mầu nhiệm nhập thể không chỉ dành cho một nhóm người, một giai cấp, một thành phần, hay một địa phương, dân tộc nào đó, nhưng cho tất cả mọi người, không trừ ai, bởi Đức Giêsu là Mục Tử của cả nhân loại, Ánh Sáng của muôn dân.
 Cựu Ước đã loan báo Đức Giêsu bằng diễn tả cảnh huy hàng của Giêrusalem, "khi ánh sáng của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi… Khi chư dân từ khắp nơi sẽ đi về ánh sáng của ngươi, vua chúa huớng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước... Tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi" (Is 60,1-4).
 Thánh Phaolô thì xác tín kế hoạch ân sủng Thiên Chúa ủy thác cho mình: "Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa" ( Ep ,6). Đây là "mầu nhiệm đã được giữ kín từ muôn thưở" (Ep 3,9), và giờ đây mới được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Ánh sáng muôn dân.
   Ánh Sáng muôn dân đã chiếu đến các dân tộc, điển hình là ba nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhận ra và đến Belêm kính thờ.
   Trình thuật giáng sinh trong Tin Mừng Mátthêu đã làm nổi bật mầu nhiệm Chúa tỏ mình cho muôn dân, và sứ vụ loan báo Tin Mừng cho toàn thể nhân loại, bằng cách đối chiếu thái độ giữa hai cặp đôi đối nghịch: Đức Giêsu, vua dân Do Thái và vua Hêrođê, cũng như các thượng tế - kinh sư Do Thái và các nhà chiêm tinh đến từ phương Đông.
  Thánh Mátthêu đã cho thấy rất rõ Đức Giêsu, vua dân Do Thái đã sinh ra rồi, mà Hêrôđê, nhà vua đương vị vẫn không biết gì cho đến lúc ba nhà chiêm tinh đến hỏi: "Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông", Herôđê mới choàng tỉnh, kinh ngạc, bối rối.
 Vì sao của Đức Giêsu xuất hiện tận phương xa nói lên lãnh thổ vương quốc của Ngài không bị giới hạn ở phần đất Do Thái, nhưng bao trùm khắp nơi, và chiếu soi cho mọi người. Sở dĩ Hêrôđê đã không thấy đuợc vì sao Đức Giêsu, vì ông tự cho mình là Sao, nên không chấp nhận Sao nào khác, nhất là Sao ấy lại sáng hơn mình, cao hơn mình. Ông cũng không bao giờ nghĩ trên lãnh thổ của mình lại có thể xuất hiện một vị vua khác, một vị vua vừa mới sinh ra.
  Thái độ hốt hoảng sợ hãi, rồi phẫn nộ, giận dữ khi hạ lệnh giết hết các trẻ thơ dưới hai tuổi ở Bêlem và toàn vùng lân cận là phản ứng tự nhiên của một kẻ say quyền đang đầy thế lực. Thái độ ấy cũng nói lên tính hẹp hòi, ích kỷ của tâm hồn, và cái nhìn thiển cận. Vì hẹp hòi, thiển cận, ích kỷ, Hêrôđê đã không thể đón nhận vì sao của Đức Giêsu, Vua vũ trụ. 
 Cũng như vua Hêrôđê, các thượng tế và kinh sư Do Thái không nhận ra vì sao lạ, đã được ghi trong sách các ngôn sứ mà các ông thuộc nằm lòng: "Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi mà vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen, dân Ta sẽ ra đời" (Mt 2,6). Khác với các ông thựơng tế và kinh sư, ba nhà chiêm tinh đã nhận ra và dõi theo ánh sao lạ. Họ đã đến tận Bêlem và được gặp Vua các vua, Thiên Chúa làm người.
   Việc Chúa tỏ mình cho muôn dân qua sự kiện các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhận ra ánh sao của Hài Nhi vừa sinh ra ở Bêlem là dấu chỉ của mầu nhiệm Thiên Chúa đến trong thế giới để cứu độ mọi người, như thánh Phaolô đã qủa quyết: "Thiên Chúa đã hành động như thế theo quyết định Nguời đã có từ muôn thưở, và đã thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô và nhờ tin vào Người, chúng ta đuợc mạnh dạn và tin tưởng đến gần Thiên Chúa " (Ep 3,11-12).
  Đến gần Thiên Chúa, như các nhà chiêm tinh đã bất chấp nguy hiểm của đường xa, nguy hiểm bị Hêrôđê theo dõi, đe dọa. Con đường Thiên Chúa đến với muôn dân cũng không kém phần khó khăn, và là con đường khó: khó vì thế gian cấm cách, cản trở, như Hêrôđê đã tìm cách không cho các nhà chiêm tinh mau chóng đến Bêlem; khó vì thế gian không muốn biết và không muốn cho bất cứ ai biết Thiên Chúa ở đâu như các kinh sư và thượng tế; khó vì não trạng ích kỷ, cục bộ, kỳ thị; khó vì lòng ganh ghét, không muốn ai hơn mình; khó vì tâm địa nhỏ nhen, không muốn cho  ai được gặp Chúa trứơc mình hay với mình.
  Những thái độ tiêu cực trên có thể là thái độ thường có trong đời sống của chúng ta, những người Kitô hữu: thái độ không mấy thân thiện với anh chị em ngoài Kitô giáo, thái độ kẻ cả, coi thường anh em các tôn giáo bạn, thái độ thiếu huynh đệ, hợp tác, thái độ không tương kính, tôn trọng những giá trị nơi các tôn giáo khác.
 Ghìm mình trong mầu nhiệm Đức Giêsu là ánh sáng muôn dân, Đấng chăn dắt tòan thể nhân loại, chúng ta xin Chúa một tâm hồn rộng mở để nhìn thấy ánh sáng của Chúa trên mọi nước, mọi dân tộc, ánh sáng muốn chiếu soi hết mọi người, không trừ ai; ơn cứu độ muốn đến với mọi tâm hồn, không phân biệt, kỳ thị.
  Ước gì ánh sáng Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đến đuợc với muôn dân và muôn dân được trở thành con dân trong Vương Quốc Yêu Thương, Bình An của Ngài.
 Jorathe Nắng Tím

ĐÂY LÀ CON YÊU DẤU CỦA CHA !

   Lần đầu tiên, một cách công khai, Chúa Cha đã tỏ tình yêu sâu thẳm và bao la với Đức Giêsu, Con yêu qúy của mình, khi "trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay Cha đã sinh ra con" (Lc 3,21-22), khi Đức Giêsu cùng đám đông "chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện".
    Đức Giêsu đã được Chúa Cha sủng ái, trước hết vì Ngài khiêm nhường. Vì khiêm nhường, Đức Giêsu đã cùng đám đông xin chịu phép rửa bởi tay Gioan, người anh họ của Ngài. Người này cũng rất khiêm tốn, chân thực khi trả lời với đám đông đang muốn suy tôn ông là Đấng Thiên Sai, vì từ lâu họ đã nóng lòng trông ngóng : "Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa" (Lc 3,16).
   Chịu phép rửa bằng nước từ tay Gioan, Đức Giêsu đã tỏ rõ nhân tính của Ngài cho mọi người: Ngài là con người thật, dù thiên tính vẫn đồng thời tồn tại. Nhân tính ấy cho phép Ngài trở nên "giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Pl 2,7), làm người như chúng ta, trừ tội lỗi, để không có gì ở nơi con người, mà Thiên Chúa đã không trở nên, cảm nghiệm, gánh vác, chia sẻ.
     Và một trong hạnh phúc lớn nhất của con người, hạnh phúc mà con người đã đánh mất vì tội nguyên tổ, đó là hạnh phúc và vinh dự được làm con Thiên Chúa. Chịu phép rửa bên sông Giôđan ngày ấy, Đức Giêsu đã đến với Gioan như con người, giống bao con người khác đang tuôn đến xin chịu phép rửa, để sám hối, ăn năn với niềm hy vọng rất lớn được Thiên Chúa thứ tha, trả lại hạnh phúc làm Con đã mất.
    Và sự lạ xẩy ra khi trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu, với tiếng phán từ trời: "Đây là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra con" đã là chứng cớ hùng hồn: từ nay, nhờ Đức Giêsu, với Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, tòan thể nhân loại được Chúa Cha sinh lại, để được làm con của Thiên Chúa nhờ phép rửa trong Thánh Thần và lửa.
     Từ sự lạ này, Thiên Chúa muốn nói với chúng ta:
      1. Đức Giêsu đã đến làm người, như con người để con người được giao hoà với Chúa Cha, và được trả quyền làm Con Thiên Chúa
    Không phải chờ đến giờ chết trên Thánh Giá, Đức Giêsu mới giao hoà nhân loại với Cha Ngài, nhưng ngay từ giây phút đầu nhập thể, nhập thế, Đức Giêsu đã khởi sự công trình giao hoà ấy. Với phép rửa ở sông Giôđan, Chúa Cha đã tỏ ra cho mọi người biết: Đức Giêsu là Con Người - Thiên Chúa, Đấng đến để giao hoà con người với Thiên Chúa, và chỉ một mình Ngài làm đẹp lòng Chúa Cha, và nhờ có Ngài, nhân loại mới được Chúa Cha trả lại ơn làm con Thiên Chúa, như thánh Phaolô đã qủa quyết với Titô, môn đệ của mình : "Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, và ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với mọi người" khi Đức Giêsu, "Thiên Chúa vĩ đại và Đấng Cứu Độ xuất hiện trong vinh quang" ( x. Tt 2,11-13).
     Qủa thực, đám đông hốm ấy cùng Đức Giêsu chịu phép rửa bên bờ sông Giôđan đã được nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu, khi trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống trên Ngài, và tiếng Chúa Cha ấu yếm : "Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người" (Mt 3,17). Thánh Gioan Tông Đồ đã ghi lại cặn kẽ trong Tin Mừng lời chứng của Gioan Tẩy Giả: "Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ítraen, tôi đến làm phép rửa trong nước... Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn" (Ga 1,31-34).
   Thực vậy, Thiên Chúa đã tỏ vinh quang ấy cho đám đông để họ nhận ra Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu độ nhân loại, và một kỷ nguyên mới được mở ra nhờ Ngài: Con người được Thiên Chúa cứu độ và được tái sinh làm con Thiên Chúa. Và tiếng phán của Chúa Cha từ trời về Đức Giêsu: "Đây là Con yêu dấu của Ta" cũng là lời Chúa Cha nói với mỗi người chúng ta, nếu chúng ta đi theo và vâng phục Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.
2. Đức Giêsu tái sinh chúng ta trong phép rửa của Thánh Thần để chúng ta thi hành sứ vụ của Con Cái Thiên Chúa:
    Đây là điều Gioan Tẩy Giả đã khẳng định: "Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa" ( Lc 3, 16).
    Phép rửa trong Thánh Thần và lửa là phép rửa của Thiên Chúa, do chính Thiên Chúa tác động và hành động, với lòng yêu mến, khao khát đuợc trở nên con cái Thiên Chúa của con người. Phép rửa ấy ban cho chúng ta ơn làm Con, nghiã là cho chúng ta chung quyền làm Con Thiên Chúa của Đức Giêsu, chung phần gia nghiệp của người con được thừa kế là Đức Giêsu.
Và ở trong Đức Giêsu, với Đức Giêsu, nhờ phép rửa, chúng ta được mời gọi thực hiện ba sứ vụ, tùy theo mức độ đòi hỏi của các chức vụ khác nhau như  Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo Dân:
a.  Sứ vụ Tư Tế :
    Do đòi hỏi hiệp thông với Thiên Chúa, vì tất cả là chi thể của cùng một Thân Thể là Đức Giêsu, người tín hữu được thuộc về Đức Giêsu cách trọn vẹn, đồng thời có nhiệm vụ mời gọi mọi người tham dự vào sự hiệp thông ấy.
     Chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa trước hết qua Hy Lễ Tạ Ơn được cử hành bởi Đức Giêsu để dâng lên Chúa Cha toàn thể cuộc sống nhân loại, với "bánh, rượu và lao công của con người", để tất cả trở nên "của lễ ca tụng , tôn vinh danh Chúa, và mưu ích cho chúng ta và toàn thể Hội Thánh". Bên cạnh là đời sống cầu nguyện, đời sống bí tích, cùng với tất cả vui buồn của cuộc sống, để ở đâu và lúc nào, chúng ta cũng gắn bó, kết hiệp với Đức Giêsu, bằng biến đời ta thành của lễ nối dài, liên tục với Hiến Lễ của toàn thể Hội Thánh.
b. Sứ vụ làm vua:
   Đức Giêsu là Vua vũ trụ vì Ngài là Thiên Chúa. Làm người, Ngài cũng sinh ra trong dòng tộc vua Đavít. Với phép rửa, người Kitô hữu được tháp nhập với Đức Giêsu, nên chia sẻ vinh dự cũng như sứ vụ làm vua của Ngài. Nhưng sứ vụ làm vua ấy không giống như quan niệm bình thường của con người.
      Trước hết, sứ vụ làm vua, hay sứ vụ vương giả đòi hỏi chúng ta luôn nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, nhìn vào người chung quanh chúng ta đang sống với,  để có được tinh thần phục vụ của Đức Giêsu, khi tin vào con người, tin vào cuộc đời, và hết lòng yêu mến, hiến thân phục vụ, như Đức Giêsu, Đấng là Vua muôn vua, nhưng đến như người tôi tớ phục vụ mọi người.
    Phục vụ con người, phục vụ cuộc đời là mục đích của sứ vụ làm vua của Đức Giêsu. Do đó, sứ vụ làm vua do phép rửa mang lại không là lý chứng cắt nghiã, chống lưng cho thái độ hống hách, quan quyền, trịch thượng, thao túng quyền bính, lạm dụng chức vụ để đàn áp, bóc lột, phủ nhận quyền làm người, khước từ quyền làm con Chúa của người khác; càng không là lý do dựa vào chức quyền được trao để xây dựng địa vị, danh phận của mình, và sử dụng những người thấp cổ bé miệng,"không tiếng nói" như phương tiện, hay những con cờ trên bàn cờ ích kỷ, mưu tìm ích lợi riêng tư.
   Làm vua trong ý nghiã và đòi hỏi của phép rửa là mang lấy trách nhiệm, và tìm mọi cách cùng với mọi nguời làm cho nhân loại được hạnh phúc hơn, thế giới được tốt đẹp hơn, bằng khiêm tốn phục vụ quên mình, trong tinh thần của Đức Giêsu: "Anh em biết: vua chúa các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20,25-28).
   Làm vua như thế, chính là phục vụ vương quốc của Lòng Thương Xót; là tìm kiếm sự công chính, bình an cho mọi người, với tinh thần dấn thân, quên mình vì người khác.
c. Sứ vụ ngôn sứ:
   Ngôn sứ là người nói điều Thiên Chúa muốn nói, người loan báo sứ điệp của Thiên Chúa, người làm chứng chân lý thuộc về Thiên Chúa. Ngôn sứ bằng lời nói, việc làm, và đời sống của mình loan báo Tin Mừng và làm chứng Tin Mừng. Vì thế, công việc của ngôn sứ không dễ dàng, nhưng là một thách đố: thách đố của thế gian không muốn nghe Lời Thiên Chúa; thách đố của lòng người ngày càng chai đá, vô cảm; thách đố của cuộc sống không ngừng lôi kéo con người xa khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa; thách đố của chính lòng mình, vì nhu cầu vật chất, ngăn cản ta lên đường loan báo và làm chứng một Thiên Chúa thiêng liêng, vô hình, ở xa tít thăm thẳm.
    Sứ vụ ngôn sứ còn đòi phải nhậy bén với các dấu chỉ của thời đại, nhậy bén với "hơi thở của Chúa Thánh Thần", để không vô tình giập tắt ơn của Ngài, làm chết sức sống của Ngài trong các tâm hồn. Trái lại, với ơn của ngôn sứ, người chịu phép rửa sẽ mau mắn đáp lại tiếng nói tuy mãnh liệt nhưng thường âm thầm, kín đáo, khó nhận ra của Thánh Thần, để Tin Mừng được loan báo và đến với mọi người.
   Tóm lại, với phép rửa, chúng ta nhận từ Đức Giêsu ba sứ vụ quan trọng, do được tháp nhập vào Thân Thể mầu nhiệm. Ba sứ vụ Tư tế, Vương Giả, Ngôn Sứ tương xứng với ba đòi hỏi: Hiệp Thông, Phục Vụ và Làm Chứng. Hiệp Thông đòi tế lễ, Phục Vụ là bổn phận của vua, và Ngôn Sứ là người phải loan báo và làm chứng.
3. Kết quả cuả phép rửa là chúng ta được mặc lấy Đức Giêsu, nghiã là được đổi mới trong Thánh Thần:
    Thánh Phaolô dùng sự chết để nói về tình trạng trước khi được mặc lấy Đức Giêsu: "Anh em đã chết vì những sa ngã và tội lỗi của anh em. Xưa kia, anh em đã sống trong đó, theo trào lưu của thế gian, theo tên thủ lãnh nắm giữ quyền lực trên không trung, tên ác tần hiện đang hoạt động trên những kẻ không vâng phục. Tất cả chúng tôi xưa kia cũng thuộc hạng người đó, khi chúng tôi buông theo các đam mê của tính xác thịt, thi hành những ước muốn của tính xác thịt và của trí khôn" (Ep 2,1-3), nhưng nay "chúng ta được sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ !" (Ep 2,5). "Vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện" (Tt 2,14).
    Ước gì tất cả mọi  Kitô hữu, nhờ phép rửa được ơn Chúa Thánh Thần đổi mới từng ngày, hầu chu toàn sứ vụ của người có Đức Kitô trong cuộc đời, người mang Đức Kitô cho thế giới, người làm chứng Đức Kitô cho muôn dân. Và như thế, suốt đời làm người Kitô hữu, chúng ta luôn được Chúa Cha thương yêu và không ngừng nhắn gửi: "Con là con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về con !".
Jorathe Nắng Tím