Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2018

Suy Niệm TIN MỪNG CN 34 TNB – LỄ CHÚA KITÔ VUA

  
Thật bẽ bàng, đắng đót khi quan tổng trấn Philatô hỏi Đức Giêsu đang đứng trước mặt ông trong tư thế bị cáo: “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?” (Ga 18,33).  Bị chính đồng hương, đồng bào Do Thái giải giao cho quan tổng trấn như tội phạm, sao lại có thể là vua của dân mình? Và còn chua xót, ứ nghẹn hơn khi Philatô lạnh lùng xác nhận : “Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi” (Ga18, 35). Thực vậy, Đức Giêsu đã nhận “triều thiên và vương trượng” Vua trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một tên tội phạm đang chờ lãnh án tử hình, giữa tiếng la hét điên cuồng, khát máu :  “đóng đinh nó vào thập giá !” của đám đông nhẹ dạ bị chăn giắt bởi các thượng tế ma mãnh, gian hùng, mưu lược.
      Vì quyết tâm giết chết Đức Giêsu qua tay chính quyền đế quốc Rôma, mà họ đã nộp Đức Giêsu cho quan Philatô. Ông này thấy Đức Giêsu vô tội, nên hỏi các thượng tế và đám đông đang gào thét đòi mạng : “Các ngươi tố cáo ông này về tội gì ?”.  Câu hỏi rất tự nhiên, vô tư đáng lẽ phải nhận được câu trả lời  khách quan, chính xác, nào ngờ, người ta đã lái xa trọng tâm của câu hỏi để ngụy biện một cách trơ trẽn, lố bịch, nhưng đầy độc ác : “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18,30). Thế ra cứ tố cáo ai, là hẳn người ấy phải có tội ; cứ viết thư nặc danh, lên mạng vu khống ai, là người ấy trở thành tội nhân ; cứ trục cổ được người nào ra trước toà án nhân dân, tất người ấy phải là tội phạm. Câu trả lời của các thượng tế làm cho người nghe có cảm tưởng đúng, nhưng thực sự hoàn toàn phi lý vì chỉ là “trò chơi luận lý” lắt léo để buộc tội.
     Dã tâm giết chết Đức Giêsu của các thượng tế và đám đông qúa khích  còn bị lộ tẩy ngay trong câu trả lời của họ với quan Philatô : “Chúng tôi không có quyền xử tử ai” (Ga 18,31), khi ông bảo họ : “Các ông cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người” (Ga 18,31). Bởi muốn Đức Giêsu phải chịu án tử hình, phải bị đóng đinh vào thập giá, chứ không chỉ đánh đòn hay tù giam ít tháng, mà các thượng tế đã lừa Philatô bằng tạo áp lực, xử dụng trò chơi chữ nghiã, nhất là đe dọa ông : “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xêda. Ai xưng mình là vua thì chống lại Xêda” (Ga 19,12). 
     Tuy hèn nhát không dám quyết định tha Đức Giêsu vì sợ sức mạnh của đám đông và để giữ an toàn chiếc ghế tổng trấn, Philatô vẫn tỏ lòng ngưỡng mộ Đức Giêsu và hỏi Ngài một vài câu hỏi xoay quanh câu chuyện vương quyền.
   Đáp lại câu hỏi của Philatô : Ông có phải là vua  dân Do Thái không ? Đức Giêsu đã vắn tắt cho quan tổng trấn biết về vương quyền của Ngài :

1.       Đức Giêsu xác nhận Ngài là Vua :
    Khi trả lời Philatô : “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” (Ga 18,34), Đức Giêsu đã gián tiếp xác nhận Ngài là vua, nhưng không là vua dân Do Thái, và nước của Ngài không thuộc về thế gian này (x. Ga 18,36), như nhiều người đã mơ tưởng, gán ghép cho Ngài, vì khao khát được giải phóng khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma, và tái lập nền độc lập. Cũng chính vì không đáp ứng ước vọng thuần chính trị, mà người Do Thái đã muốn giết chết Ngài, vì cho rằng Ngài đã lừa bịp họ, khi làm họ vỡ mộng.
    Họ vỡ mộng thật, khi họ mong Ngài là Đấng đến giải phóng dân tộc bằng bạo lực, thì Ngài lại rao giảng yêu thương, tha thứ, làm ơn và cầu nguyện cho kẻ thù ; vỡ mộng khi  muốn tôn Ngài làm chủ tịch phong trào phục quốc, giải phóng Israel, thì Ngài lại chủ trương nghèo khó, khiêm nhường, trong sạch,  đi tìm công lý và xây dựng hoà bình (Mt 5, 1-9) ; vỡ mộng khi muốn thần tượng Ngài là lãnh tụ đầy uy lực, thì Ngài lại khiêm tốn qùy xuống rửa chân cho môn đệ ; vỡ mộng khi muốn Ngài làm phép lạ cho quân ngoại bang Rôma tàn rụi, te tua, thì Ngài lại loan báo cuộc tử nạn của chính mình. Vì thế mà người ta phải khử Ngài, chỉ vì không còn chịu đựng nổi giáo lý và đường lối Cứu Thế  khiêm tốn, yêu thương, phục vụ, quên mình, hiến mình của Ngài, bởi hoàn toàn đi ngược điều họ mong đợi.  
  
2.  Đức Giêsu qủa quyết Ngài là Vua của vương quốc Sự Thật :
    Trả lời Philatô, Đức Giêsu nói : “Chính Ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).
    Như thế, Nước của Đức Giêsu là nước gồm các chứng nhân, bởi Ngài đến làm Vua với duy nhất một mục đích là làm chứng cho sự thật, và người nghe tiếng Ngài, đi theo Ngài, thuộc về Ngài, là công dân của vương quốc Ngài trị vì, mang quốc tịch do Ngài cấp, tất cả đều phải đứng về sự thật. Đứng về sự thật là thao thức mong ước sự thật, khắc khoải muốn có sự thật, tận tụy tìm kiếm sự thật, một lòng yêu mến sự thật, hết mình sống sự thật, tận tình phục vụ sự thật, và can đảm làm chứng sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống.
    Thế ra vương quốc của Đức Giêsu không giống các vương quốc thế gian khác phải có cung điện, triều đình, bầy tôi, quân đội, dân chúng, lãnh thổ, ngân sách... Ngài làm Vua cũng không như các vua trần thế phải có đủ mọi vinh quang, quyền lực, lợi thú, ảnh hưởng. Vua như Đức Giêsu  qủa thực không giống ai, và vương quốc của Ngài thật kỳ lạ!

a. Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót.
  Sự thật lớn nhất mà Đức Giêsu làm chứng khi đến thế gian chính là lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người : “Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1Ga 3,1).
     Người Cha Thiên Chúa, vì yêu thương đã không nỡ đoán phạt con cái yếu đuối, “nhưng nếu ai phạm tội, thì đã có một Đấng Bảo trợ trước mặt Chúa Cha : đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1Ga 2,1) Thiên Chúa làm người. “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1Ga 2,2).     
     Cùng với  Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con. “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa là Cha nhân hậu như Tin Mừng Luca chương 15 đã mô tả :
  Người cha như người chăn chiên vui mừng vác lên vai con chiên bị lạc mất nay tìm thấy. Về đến nhà, ông mời bạn bè, hàng xóm lại ăn mừng (x. Lc 15,4-6) ; “và trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).

b. Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ :
   Ngoài Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, không ai đã cho con người biết sự thật về Thiên Chúa : Thiên Chúa là ai, Ngài muốn gì nơi con người ? Cũng vậy, ngoài Đức Giêsu, không ai có thể nói hết sự thật về con người : tại sao con người hiện hữu, con người sống để làm gì, chết rồi đi đâu ?
   Chỉ một mình Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người mới mặc khải cho chúng ta sự thật về cả Thiên Chúa và con người một cách chính xác, đích thực.
   Sự thật về con người, chính là con người được tạo dựng vì được Thiên Chúa yêu thương, để hạnh phúc ở đời này và đời sau khi ở trong Thiên Chúa, đồng thời  “sống với”, và chia sẻ với anh em đồng loại trong tình yêu.  Điều này có nghiã : chúng ta chỉ có hạnh phúc thật, khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân như chính mình (Mt 22,37-39), bởi ai yêu mến thì ở trong Thiên Chúa, và ai ở trong Thiên Chúa, người ấy có tất cả.
      Đàng khác, con người được hạnh phúc vì được Thiên Chúa chăm sóc, nâng niu, bởi vận mạng, sự sống, sự chết của con người đều được đặt trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa : “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em trên trời. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đã đếm cả rồi.Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,29-31).

c.  Đức Giêsu : Vua Sự Thật về cuộc sống đời sau của con người :
    Bí mật làm nhức nhối và làm con người lo sợ, hoang mang hơn tất cả, đó là những bí mật sau cái chết. Chết chấm dứt cuộc sống hôm nay, nhưng mơ hồ cho thấy có một cuộc sống khác, sau cuộc sống này. Chính vì mơ hồ linh cảm có một đời sau, nên con người lo lắng, sợ hãi trước ngưỡng cửa vào đời sau là cái chết, bởi điều làm người ta sợ nhất là rơi vào tình trạng chơi vơi, thấy mình cô đơn lạc lõng giữa một thế giới không thuộc về mình. Cảm giác chơi vơi làm sợ hãi: sợ vì không biết mình sẽ phải làm gì, đi về đâu, nương tựa vào ai, bám víu vào người nào?
     Đức Giêsu đã mặc khải sự thật về đời sau, về những gì sẽ xẩy đến :
-        “Chúng ta từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em”  (1Ga 3,14).
-        Thiên Chúa sẽ phán xét mỗi người về  lòng thương xót anh em :
   “Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người bên phải rằng : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dành sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. Bấy giờ, những người công chính sẽ thưa rằng : “Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù mà đến hỏi han đâu ?” Đức Vua sẽ đáp lại rằng : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất   của Ta đây,  là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-40).
    Tóm lại, Đức Giêsu đã khẳng định trước mặt quan Philatô : Đích thực Ngài là Vua, nhưng không làm Vua kiểu thế gian, nhưng Vua của Sự Thật. Hiểu theo nghiã : Ngài là Vua tất cả mọi người yêu mến và đi tìm Chân Lý về Thiên Chúa, về Con Người, về vận mệnh tương lai của con người, nên bất kỳ ai đứng về  Chân Lý thì thuộc về Ngài, là công dân của Nước Ngài ; bất cứ người nào khao khát Sự Thật của Thiên Chúa, đấu tranh cho Sự Thật của con người, làm chứng cho Sự Thật của Vương Quốc Nước Trời đều nghe tiếng Ngài, vì chính Ngài là Sự Thật (Ga 14,6).
     Là Sự Thật, Đức Giêsu không là sự thật soi mói, tìm tòi để buộc tội, tống giam của công an chấp pháp ; sự thật “bới lông tìm vết” để trừng phạt, kết tội của chánh án ; sự thật đe doạ, thanh toán của xã hội đen ; sự thật như con ách chủ, lá bài tẩy để khống chế, đánh gục kẻ thù ; sự thật ganh ghét, bạo lực cốt tiêu diệt đối phương, nhưng là Sự Thật của lòng thương xót, Sự Thật được lòng thương xót bao bọc, Sự Thật  được lòng thương xót che chở, Sự Thật được bảo kê bởi Thiên Chúa là Tình Yêu xót thương.
     Là Vua của Sự Thật về Thiên Chúa giầu lòng thương xót ; Vua của Sự Thật về con người luôn được Thiên Chúa xót thương ; Vua của Sự Thật về một Vương Quốc đời sau gồm những người biết chạnh lòng xót thương và chia sẻ cơm bánh, áo quần, thời giờ, tiền bạc, điều kiện sống, và tình yêu thương, huynh đệ với anh em mình, Đức Giêsu thực là Vua muôn vua, Chúa các chúa, bởi vương quốc Sự Thật của Ngài bao trùm toàn thể địa cầu và thiên quốc, bao trùm cả đời này, đời sau, và tất cả mọi người bất phân sắc tộc, trình độ, hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời đều được kêu gọi lắng nghe tiếng nói Sự Thật của Ngài, được mời gọi quây quần chung quanh Ngài, đứng bên Ngài là Vua với duy nhất một điều kiện, một đòi hỏi là tin và sống lòng thương xót như Ngài là Thiên Chúa giầu lòng xót thương.
    Đó cũng là lý do Đức Giêsu đã không trả lời, khi Philatô gặng hỏi : “Sự thật là gì ?” (Ga 18,38), bởi người ta không thể đón nhận sự thật của lòng thương xót khi tâm hồn đầy gian dối, bất lương, bạo lực ; bởi không cách nào sự thật thương xót có thể được lắng nghe, khi những người Do Thái kia đang cuồng điên kêu gào Philatô dùng bạo lực tàn ác để giết chết Thiên Chúa là Sự Thật ; bởi làm sao sự thật của lòng thương xót có thể  đi vào nhà, cư ngụ trong tâm hồn, khi các thượng tế, lòng đầy gian ác và giả hình, đã từ chối “đội trời chung” với Đấng là Thiên Chúa của Sự Thật xót thương.
     Như thế, không phải ai cũng nhận ra Sự Thật, cũng như không phải ai cũng nhận ra Thiên Chúa, vì chỉ có những người có tâm hồn khao khát Sự Thật của lòng thương xót, mới nghe được tiếng Thiên Chúa giầu lòng xót thương ; chỉ những trái tim biết chạnh lòng trước sự thật về con người cần được thương xót, mới nhận ra Đức Giêsu Kitô, Dung Mạo đích thực và hoàn hảo của Chúa Cha giầu lòng thương xót ; chỉ những cuộc đời dấn thân phục vụ vì lòng thương xót, mới nhận được visa vào Vương Quốc Nước Trời dành sẵn từ thuở tạo thiên lập địa cho những ai có lòng xót thương anh em mình.
    Xin Đức Giêsu Kitô là Vua giầu lòng thương xót đón nhận chúng con làm công dân Vương Quốc Thương Xót của Ngài ngay ở đời này, và được hưởng phần thưởng đời sau trong Nước yêu thương đời đời dành sẵn cho những ai biết chạnh lòng xót thương.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2018

NGỠ NGÀNG ĐỜI TU



     Mừng lễ Đức Mẹ dâng mình trong đền thờ, thiết tưởng không gì ý nghiã hơn là suy nghĩ về những ngỡ ngàng của đời tu. Những ngỡ ngàng thánh thiện, hồn nhiên, khiêm hạ, nhưng không kém thách đố, hy sinh đã làm người tu mỗi ngày được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu hơn. 

     Đoạn Tin Mừng Luca 10, 1- 24 có thể được coi như tường thuật đầy đủ và chi tiết về sứ vụ truyền giáo của các môn đệ Đức Giêsu. Các vị “được Đức Giêsu sai đi cứ từng hai người một vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến” (Lc 10, 1); các vị được mời gọi phải cầu nguyện với Thiên Chúa Cha để “xin Ngài sai thợ ra gặt lúa về, vì luá chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít” (Lc 10,2); các vị được cảnh báo sẽ phải “đi giữa bầy sói và đừng mang túi tiền, bao bị, giầy dép” (Lc 10,4); các vị được báo trước sẽ được ân cần đón tiếp, nhưng cũng có thể bị ruồng rẫy xua đuổi (Lc 10,5.10); các vị được trang bị quyền năng của Thiên Chúa để chữa những người đau yếu và ơn Bình An để ban phát cho mọi người  (Lc 10,5.9); nhất là sứ điệp Tin Mừng để loan báo: “Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10,11). Và khi trở về sau những ngày đi truyền giáo, các vị đã không chỉ vui mừng vì thành qủa của sứ vụ, mà còn hân hoan vì tên mình được ghi trên trời (Lc 10,20), được biết những điều ngay cả bậc khôn ngoan thông thái cũng không được biết, được chúc phúc và nhận ra đặc ân của môn đệ Đức Giêsu (Lc 10,22-24).
   Không nói thì chúng ta cũng biết, các môn đệ đã đi từ ngỡ ngàng này đến ngỡ ngàng nọ, từ bất ngờ này đến bất ngờ kia, từ ngạc nhiên có thể hiểu được đến ngạc nhiên vượt xa tầm nghĩ.

1.         Ngỡ Ngàng trước sứ vụ:
   Các vị ngỡ ngàng, vì không hiểu gì trước sứ vụ được trao phó: Loan Báo Triều Đại Thiên Chúa sắp tới.
   Đây không phải là sứ vụ mà các vị mong đợi, cũng không là hy vọng các vị chờ đón, bởi tận thâm tâm và ngay trong sinh hoạt, các vị đợi chờ một sứ vụ hoàn toàn khác: sứ vụ thuần trần thế, vừa tầm tay, trong tầm ngắm, sứ vụ làm quan, làm lớn trong vương quốc trần gian mà các vị nghĩ sắp thành hình của Đức Giêsu.

2.      Ngỡ Ngàng trước phương án thi hành sứ vụ:
   Sứ vụ đã làm ngỡ ngàng, phương án thực hiện sứ vụ còn bất ngờ hơn, bởi không là phương án bình thường như phải có xe để đi công tác, có phương tiện vật chất đảm bảo, có bố trí, chuẩn bị gần xa; bởi không là cách thức của đời thường như phải đem theo lương thực cho mấy ngày đường, mà còn phải tiên liệu cho cả thời gian dài thi hành sứ vụ; bởi không như  suy tính của người thường trước khi đến đâu phải nghiên cứu, điều tra, xem xét kỹ lưỡng, thiết lập tương quan, xây dựng cơ sở vật chất đàng hoàng; bởi không như dự đoán thường tình là phải có lập trình, đồ án chính xác để không lâm vào tình trạng thiếu hụt làm dở dang dự án, đổ vỡ kế họach.

3.      Ngỡ ngàng trước rủi ro của sứ vụ:
  Các môn đệ không thể không thất kinh khi Đức Giêsu cảnh báo: “Anh em sẽ được sai đi như chiên con đi vào giữa bầy sói!” (Lc 10,3). Không con nào hiền hơn chiên con, và không thú nào dữ hơn chó sói, thế mà chiên con sẽ phải hiền lành, ngây thơ,  ngơ ngác đi giữa bầy sói dữ. Hình ảnh chiên và sói qúa tương phản đã đặt các môn đệ trước ngỡ ngàng đáng lo sợ, và các vị đã sợ hãi thật khi biết mình được sai đến những nơi đầy sói dữ này.
     Đó là ba ngỡ ngàng các môn đệ đã cảm nhận trước giờ lên đường truyền giáo. Những ngỡ ngàng này đã làm chao đảo các vị, bởi đây là lần đầu tiên được sai đi, và cũng là lần đầu tiên đối diện với một sứ vụ hoàn toàn không nằm trong mong ước, đợi chờ. Chắc chắn các vị đã không dấu được lo âu trên nét mặt, và trong lòng tất cả chung một ngại ngùng, xao xuyến đang chực thốt thành lời: Lậy Thầy, nếu khó và nguy hiểm  như vậy, thì làm sao chúng con dám?
    Đức Giêsu biết rõ tâm trạng của các vị, vì đó là tâm trạng bình thường của  người có  tâm lý quân bình: ngỡ ngàng trước điều mình không đợi chờ và lo sợ trước rủi ro được cảnh báo.
     Là Đấng sai đi, Đức Giêsu đã không để các môn đệ của Ngài dừng lại ở những ngỡ ngàng nhân loại này, nhưng dẫn các vị đến những ngỡ ngàng mới, những ngỡ ngàng hân hoan, phấn khởi, bình an và tràn đầy hạnh phúc của người được Thiên Chúa sai đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ: Thiên Chúa giầu lòng thương xót đã đến cứu độ dân Ngài.             
 
     Nếu ba ngỡ ngàng trên là phản ứng tự nhiên của “con người” môn đệ, thì những ngỡ ngàng sắp tới là hồng ân của Thiên Chúa trên những con người được chọn làm môn đệ:
3.1      Ngỡ ngàng với ơn Bình An:
  Đức Giêsu ban cho các môn đệ ơn Bình An của Ngài, để như món qùa qúy giá các vị sẽ ban lại cho tất cả những ai các vị sẽ gặp trên đường truyền giáo. Đây là món qùa từ Thiên Chúa, và là điều mọi người ước mong, tìm kiếm, bởi không gì qúy hơn Bình An, không gì đem lại hạnh phúc ngoài Bình An, không gì làm cho đời người có lẽ sống và ý nghiã, nếu không phải Bình An, và không gì làm hoan lạc tuổi xuân cuộc đời khác hơn Bình An.
      Được trang bị Bình An, các môn đệ phấn khởi, hạnh phúc  trong đại dương Bình An của Đức Giêsu.Vì thế, các vị đã mạnh dạn lên đường mà không còn nghi ngại, sợ hãi; ra đi mà không do dự, chùn bước, hoang mang.Với ơn Bình An, sứ vụ tuy cao cả, vượt sức người nay trở thành đích tới lý tưởng. Với ơn bình an, mọi rủi ro, đe dọa, cạm bẫy, cũng như sói dữ, rắn độc, con người nham hiểm không còn là chướng ngại cản lối người môn đệ, buộc trói bước chân người được sai đi.
3.2      Ngỡ ngàng với quyền năng của Thiên Chúa:    
    Cho đến lúc được sai đi, các môn đệ vẫn chỉ là những người đi theo Đức Giêsu vì một hoặc nhiều lý do mang tính trần thế nào đó, chứ chưa vị nào xác tín sứ vụ loan báo Tin Mừng sẽ được trao. Vì thế, khi trao sứ vụ, Đức Giêsu đã bảo đảm sứ vụ, bằng ban  cho các môn đệ Bình An và quyền năng chữa lành những người đau yếu trong thành (Lc 10,9), đạp lên rắn rết, bọ cạp mà không hề hấn, đuổi qủy trừ tà và chẳng thế lực Kẻ Thù nào có thể làm hại được  (Lc 10, 19).
     Trước quyền năng được ban, các môn đệ đã tin tưởng  lên đường và phấn khởi trở về khoe với Thầy mình: “Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma qủy cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10,17).  
3.3      Ngỡ ngàng với phần thưởng:
   Đức Giêsu không giấu diếm đặc ân và phần thưởng Thiên Chúa dành cho những người được Ngài sai đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần. Khi nghe các môn đệ kể chuyện hành trình truyền giáo, Đức Giêsu đã minh nhiên công bố phần thưởng Nước Trời cho các vị: “Anh em hãy vui mừng, vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).
     Còn phần thưởng nào lớn hơn phần thưởng Nước Trời; còn vinh dự nào cao qúy hơn vinh dự làm công dân Vương Quốc của Thiên Chúa; còn hạnh phúc nào vĩ đại hơn hạnh phúc làm con Thiên Chúa trong chính nhà Ngài!
    Nhưng phần thưởng không chỉ là phần thưởng của đời sau, đặc ân trên thiên đàng, công lênh sẽ nhận được sau khi chết, nhưng ngay bây giờ,trên dương thế này, trong cuộc sống hôm nay, môn đệ của Đức Giêsu được  biết những mầu nhiệm thuộc về Thiên Chúa mà người khác, dù khôn ngoan thông thái đến đâu cũng không biết được; được chia sẻ với Thiên Chúa những kho tàng vô cùng qúy giá mà người đời dù tiền rừng bạc bể cũng không thể chiếm hữu (x. Lc 10, 21).
     Và cuối đọan Tin Mừng, Đức Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy. Quả vậy, Thầy bảo cho anh em  biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Lc 10, 22-24).
    Vâng, đời tu là đời của những ngỡ ngàng: từ ngỡ ngàng của thân phận mọn hèn đến ngỡ ngàng của người được tuyển chọn lên hàng vinh phúc; từ ngỡ ngàng thuộc con người đến ngỡ ngàng làm bạn hữu của Thiên Chúa; từ ngỡ ngàng lạc lõng, bơ vơ đến ngỡ ngàng được gọi làm môn đệ; từ ngỡ ngàng tội lụy, bất xứng đến ngỡ ngàng được sai đi ban ơn Cứu Độ; từ ngỡ ngàng “thân con chỉ là tro buị” đến ngỡ ngàng biến thành Của Lễ đẹp lòng Chúa Cha; từ ngỡ ngàng là tội nhân đến ngỡ ngàng nhân danh Thiên Chúa giầu lòng xót thương để ban ơn thứ tha, hoà giải; từ ngỡ ngàng là người bé nhỏ, dốt nát, tôi tớ vô ích, mọn hèn đến ngỡ ngàng được ở trong hàng ngũ những người mà “Chúa Con muốn mặc khải cho” (Lc 10,22).
     Vâng, đời tu là đời của ngỡ ngàng từ khởi sự đến hoàn thành, ngỡ ngàng từ khởi điểm đến đích điểm của hành trình Ơn Gọi, bởi mỗi giây phút của đời tu là một mời gọi, mời gọi tín thác tuyệt đối nên không biết gì trước; mời gọi vâng phục tuyệt đối Thánh Ý, nên không toan tính, trù liệu bất cứ điều gì cho ngày mai; mời gọi hy sinh quên mình, nên không ngần ngại đi bất cứ đâu, lên đường bất cứ lúc nào, gặp gỡ bất cứ ai, và thi hành bất cứ sứ vụ nào được trao phó; mời gọi yêu thương đến cùng, nên sẵn sàng chết cho người mình được sai đến để yêu thương; mời gọi khiêm tốn phục vụ, nên không phân biệt, kỳ thị, loại trừ bất cứ đối tượng nào của Tin Mừng.
  Và như thế, đời tu sẽ mãi đẹp như giòng suối ngoan hiền theo tiếng gọi của Đại Dương mênh mông róc rách đến vô cùng vô tận một đời luôn ngỡ ngàng với hạnh phúc được sai đi, một tình yêu luôn ngỡ ngàng được trở nên giống người mình yêu mến, phụng thờ.
Jorathe Nắng Tím


  


Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

SỨ ĐIỆP CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

Mừng kính các thánh Tử Đạo, tất cả chúng ta không thể không nức lòng yêu mến và hãnh diện về gương sáng Chứng Nhân của các thánh cha ông. Các ngài qủa thực rất anh dũng, kiên cường trong gian khổ, cực hình, mà chỉ nghĩ đến cảnh giam cầm, tra tấn các ngài phải chịu, không ít người trong chúng ta đã phải rùng mình khiếp sợ, và nghĩ ngay đến yếu đuối, nhát đảm của mình. Vâng, yêu mến và hãnh diện là việc làm chính đáng, nhưng còn một việc tốt đẹp, bên cạnh những việc chính đáng mà chúng ta không thể bỏ quên, đó là lắng nghe sứ điệp của các ngài muốn trao gửi từng người chúng ta.

1.         Không thể dấn thân, hy sinh  đổ máu, mất mạng vì Đức Giêsu, nếu không có niềm xác tín: tôi đến từ Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa và phải trở về với Thiên Chúa.
     Đây là nền tảng của đức tin, ánh sáng soi dẫn tất cả mọi sinh hoạt, và động lực cho mọi chọn lựa của chứng nhânTin Mừng. Không xác tín đến từ Thiên Chúa, người làm chứng không tin mình được Thiên Chúa sai đi. Không tin mình được sai đi, thì làm sao có thể an tâm, mạnh dạn lên đường thi hành sứ vụ?
     Tin mình đến từ Thiên Chúa, nên thuộc về Thiên Chúa, và không thuộc về ai khác, để chứng nhân toàn tâm, toàn ý, toàn thân làm những gì Thiên Chúa muốn, loan báo những gì nhận từ Thiên Chúa, và say sưa kể cho mọi người công trình tốt đẹp của Ngài đã thực hiện, mà không chút e ngại, hổ thẹn, như người con hiếu thảo không xấu hổ khi nói với người khác về cha mẹ mình, dù các vị nghèo nàn, vụng về, quê mùa, thất học.
    Thuộc về Thiên Chúa, vì đến từ Thiên Chúa, chứng nhân biết mình sẽ không về với ai, sau khi chết, nhưng chỉ về với Đấng đã cho mình vào đời để làm người chứng. Về với người đã sai mình đi, chứng nhân không nghi ngờ mình được sai đi với sứ vụ làm chứng trong thế giới, dòng dã những năm tháng được sống làm người, và giá trị của đời sống từ đó được xây dựng.
     Sở dĩ chúng ta không làm chứng được, hay chỉ làm chứng khi mọi chuyện tốt đẹp, khi mọi người tung hô, ủng hộ, khi không có gì ảnh hưởng xấu trên uy tín, gia thế, công ăn việc làm là vì chúng ta thiếu niềm xác tín là người của Thiên Chúa. Và vì không tin tưởng mãnh liệt thuộc về Chúa, nên chúng ta vẫn muốn lang thang đây đó, lang chạ thần thánh này, giáo thuyết kia, lang bang bên trái bên phải tùy thời, tùy cảnh, để rồi Thiên Chúa cũng chỉ là một trong những đối tượng được tùy nghi chọn lựa, mà không bao giờ là đối tượng duy nhất và tuyệt đối.
      Như thế, xác tín đến từ Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa và trở về với Thiên Chúa càng sâu thẳm, thì khả năng làm chứng Thiên Chúa càng cao, và tinh thần sẵn sàng hy sinh hiến mạng vì Tin Mừng càng dứt khoát, mãnh liệt, dữ dội. 

2.         Chỉ có thể ở trên “đường ray” của Thiên Chúa, nếu tuyệt đối phó thác và vâng phục:
   Cuộc sống là những trồi sụt, lên xuống, gập ghềnh, xô đẩy của vô số biến cố vui buồn, thành bại, nên không phải lúc nào cũng  sốt sắng, nhiệt thành, hăng say; không phải lúc nào cũng dễ dàng vâng nghe, phục tùng quyền bính; không phải lúc nào cũng đẹp lòng, đẹp mặt; trái lại, ngày buồn nhiều hơn ngày vui, khổ đau nhiều hơn sung sướng, thất bại lấn chiếm thành công, nên nếu không giữ được “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” thì con người sẽ chỉ là nạn nhân đáng thương của cuộc sống, là “con tin” bất hạnh của thân phận làm người. Cái Tâm bất biến của chứng nhân, chính là lòng phó thác tuyệt đối vào sức mạnh toàn năng và ơn quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Người chứng luôn tín thác ở Đấng đã sai họ đi, và Ngài đã sai họ đi trong những hoàn cảnh “không có thể”, đến những địa chỉ “không có thể”, làm những công việc “không có thể”, bởi sứ vụ được trao phó tự thân là không có thể thực hiện với sức của con người. Chính vì luôn ở trong tình trạng bất lực trước những “không có thể”, mà người làm chứng Tin Mừng không còn khả thể nào để có thể tồn tại và làm việc, ngoại trừ lòng tín thác tuyệt đối vào Đấng mà không có gì là “không có thể” đối với Ngài. Tin Thiên Chúa là Đấng làm được mọi sự, và chỉ với tình yêu đã tạo thành tất cả từ hư vô, người chứng hồn nhiên phó thác tất cả trong tay Đấng họ phải làm chứng, Đấng sai họ đi làm chứng, Đấng dậy họ phải làm chứng thế nào.
     Một khi đã phó thác, người chứng không còn lo âu, sợ hãi bất cứ ai, hay điều gì, bởi họ đã chọn Chúa, thay vì chọn công việc, công trình, ngay cả đó là công trình, công việc của Chúa. Chúa không là công trình của Ngài, nên chọn Chúa, người chứng sẽ không bao giờ mất hướng đi, ngã lòng trông cậy, vì công trình của Chúa, công việc của Chúa có thể không được thực hiện, hay bị phá đổ, họ vẫn không chao đảo, chơi vơi, bởi chính Chúa mới là Đấng họ tín thác, trông cậy, và là nơi họ tìm đến nương náu, ẩn mình.
     Nhờ phó thác, và chỉ với tinh thần phó thác, người chứng mới có thể sống vâng phục, bởi vâng phục ai trước hết phải tin người đó thương mình, muốn xây dựng mình. Nhưng có chắc tất cả những người ta phải vâng phục đều thương ta và muốn xây dựng ta? Không ai dám bảo đảm điều này. Vì thế, nếu không có Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi cõi lòng bảo đảm; không có Thiên Chúa là Đấng toàn năng làm được mọi sư để long vâng phục không trở nên vô ích, nguy hiểm; không có Thiên Chúa là Đấng nắm giữ vận mệnh của từng người và giải quyết ruốt ráo mọi sự trong công bình, chính trực, chúng ta không thể vâng phục ai với tất cả tấm lòng.
    Các thánh cha ông đã tuyệt đối phó thác ở Thiên Chúa, nên đã vâng phục Bề Trên một cách trưởng thành và hiếu thảo. Đó là tinh thần vâng phục mà Đức Giêsu đã vâng phục Chúa Cha khi lên đường về Giêrusalem để chịu khổ hình và tử nạn.

3.         Khi đau khổ, thất bại là lúc Thiên Chúa hiện diện sống động và gần gũi nhất:
     Niềm an ủi lớn nhất của các thánh Tử Đạo là có Đức Giêsu ở với và đồng hành. Ngài là “người tôi tớ đau khổ của Giavê”, Thiên Chúa làm người bị loài người đả đảo, truy lùng, lên án, tra tấn, vác thánh giá, và chịu đóng đinh, chết tủi nhục. Quả thực, Thiên Chúa đau khổ đã ở với con người khổ đau; Thiên Chúa bị kết án oan uổng đã ở với con người bị lên án vô cớ; Thiên Chúa bị nguyền rủa vì lòng ghen ghét đã đồng hành với con người bị vùi dập vì lòng ghét ghen; Thiên Chúa bị ruồng rẫy, khai trừ đã chung số phận với người bị liệt vào hàng những kẻ đáng phải chết.
       Vì thế, các thánh Tử Đạo là những người giống Đức Giêsu chịu đóng đinh hơn ai hết, “đồng hình đồng dạng” hầu như hoàn hảo với Đức Giêsu vác thánh giá trên đường lên Núi Sọ, bởi không ai giống Đức Giêsu hơn những người đau khổ; không dung mạo con người nào giống dung mạo Đức Giêsu hơn con người bị vu khống, bách hại; không tâm hồn nào gắn bó kết hiệp với trái tim Đức Giêsu hơn tâm hồn người bị cắn xé, nghiền nát bởi chính anh em, người nhà mình. Các thánh Tử Đạo biết mình được nên giống Đức Giêsu trong đau khổ, ô nhục; biết mình được trui luyện trong thử thách, bách hại, đồng thời biết mình được “ở với và đồng hành” với Đức Giêsu, Thiên Chúa Cứu Độ trên từng bước của hành trình Thánh Giá, nên hân hoan đón nhận tất cả những gì thế gian dành cho người chứng của Thiên Chúa, như tù đầy, roi vọt, gươm đao, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp, và cái chết tang thương, bi thảm.
     Cuộc sống người Kitô hữu hôm nay cũng không thiếu khổ đau, thử thách. Có những khổ đau do những người, hay phe nhóm công khai chống phá Giáo Hội gây ra, nhưng cũng có những đau khổ do chính anh em trong cùng cộng đoàn, giáo xứ, giáo phận mang đến, và đau hơn cả là những bất công do chính cấp trên báng bổ trên mình. Vì thế, cuộc sống Kitô hữu là một cuộc tử đạo liên lỷ, không ngừng, với những thánh giá đủ thước cỡ, nhưng luôn cồng kềnh, nặng nề, khó vác.
      Với sứ điệp của các thánh tử đạo cha ông, xin cho chúng con niềm xác tín “hoàn toàn và mãi mãi thuộc về Chúa”, với ý thức “khi đau khổ là lúc Chúa hiện diện gần gũi, sống động nhất”, để trên mọi bước thăng trầm, giữa sóng gió thử thách, trong hoang mang, bấn loạn của cuộc đời Kitô hữu, chúng con vẫn một lòng phó thác và vâng phục Thánh Ý.
Jorathe Nắng Tím     
   

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

CHỨNG NHÂN


        Suy Niệm TIN MỪNG LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM!
CHÚA NHẬT 33, (Đ) Hôm nay tùy theo nhu cầu mục vụ có thể Kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (HĐGMVN, 4-1991).
   
Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Tử Đạo  có nghiã là Người Làm Chứng. Làm chứng một điều gì, làm chứng về một người nào là thuyết phục người nghe tin điều mình nói về sự việc ấy, về con người ấy là thật, là đúng. Và để thuyết phục người nghe, người làm chứng có khi phải lấy chính mạng sống mình để minh chứng, và bảo đảm điều mình nói. Các thánh Tử Đạo là những người làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, vì yêu con người đã xuống thế làm người thật, đã chết để cứu độ nhân loại, và đã sống lại để mọi người được sống. Các ngài còn làm chứng  Giáo Hội Đức Giêsu lập ra là Đạo thật, Đạo yêu thương, con đường đưa toàn thể nhân loại về yêu thương.  
    Cũng chính vì làm chứng Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài, mà các chứng nhân của Thiên Chúa gặp nhiều chống đối giữa anh em mình, bởi thế gian không đón nhận "Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và soi chiếu mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Ga 1,9-11).
    Thế gian không nhận Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa, chỉ vì thế gian "không nhận biết và chẳng chịu đón nhận".  Lý do thật đơn giản và vô tình !
   Vì thế gian không nhận biết, mà chứng nhân phải làm chứng để thế gian nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ duy nhất; vì thế gian chẳng chịu đón nhận, mà chứng nhân phải thuyết phục bằng chứng cớ đời sống, với chứng từ có giá trị để thế gian đón nhân Đức Giêsu là Đấng đã chuộc lại quyền làm con Thiên Chúa và  ban sự sống đời đời cho mọi người bằng sự chết và phục sinh của Ngài.
   Được sai đến với các dân tộc, ở mọi thời để làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, Thiên Chúa làm người, đã chết như con người và sống lại với quyền năng Thiên Chúa, các chứng nhân nhận một sứ vụ thánh thiêng, nhưng không thiếu cam go, thử thách, đe dọa giữa lòng thế giới muôn hình vạn trạng. Đức Giêsu đã không giấu diếm các môn đệ sự thật nguy hiểm về thế gian, nơi các vị sẽ phải đến làm chứng về Ngài :
  "Thầy sai anh em vào thế gian, như chiên đi giữa bầy sói" (Mt 10,16). “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19).
     Không những chứng nhân bị thế gian ghét, vì thuộc về Thiên Chúa, nhưng còn bị thế gian bách hại:
   "Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy" (Lc 21,12-13).
    Tệ hơn thế nữa, các vị còn bị chính người nhà, bạn hữu, thân thuộc của mình truy lùng, ghét bỏ, ruồng rẫy : "Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con, và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét" (Lc 21,16-17).
    Qủa thật, con đường trước mặt của chứng nhận là con đường đầy chông gai, cạm bẫy và hứa hẹn tù đầy, đổ máu, mất mạng. Con đường chứng nhân phải đi làm chứng không đẹp như mơ, không huy hoàng, hoành tráng, không thênh thang như đường về làng ngày "vinh quy bái tổ".
     Những đe dọa, hiểm nguy do lòng "ganh ghét vô cớ" của thế gian thì vô số kể (Ga 15,25). Vô cớ nghiã là chẳng có lý do gì, chẳng có nguyên nhân nào hợp lý . Vô cớ đến độ :  "Thế gian ghét Thầy, thì cũng ghét Cha Thầy" (Ga 15, 23), và tất nhiên "ghét cả anh em" (Ga 15,18), mặc dù thế gian đã thấy những việc tốt lành Thầy đã làm cho họ (x. Ga 15,24).
    Trước bao nhiêu gian truân, thử thách giăng mắc, đe dọa, làm sao các chứng nhân đã có thể mạnh dạn lên đường và kiên cường làm chứng ?
   Thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã thay mặt các chứng nhân trả lời: "Vì Tình Yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi" (2Cr 5,14), và sở dĩ chúng tôi đứng vững là  "do quyền năng phi thường của Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi", nên "chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng ; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt", bởi "chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi" (2Cr 4,7-10).    
    Thực vậy, các chứng nhân của Đức Giêsu từ giáo đoàn đầu tiên Giêrusalem đến tận cùng thời gian được tình yêu Đức Kitô thúc bách đã lên đường làm chứng Tin Mừng với những căn dặn của Đức Giêsu như hành trang không thể thiếu giữa thế gian luôn thù ghét.

       1.   Thầy để lại Bình An cho anh em, Thầy ban cho anh em Bình An của Thầy, Bình An mà thế gian không ban được. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27).

      a.   Bình An là dấu chỉ Thiên Chúa ở với người được sai đi :
   "Anh em biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em" (Ga 14,20).
Chính Đức Giêsu đã bộc lộ ý muốn ở với người được sai đi trong lời cầu xin với Chúa Cha : "Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con" (Ga 17,24).

      b.    Bình An là sức mạnh của Chúa Thánh Thần liên lỉ hoạt động nơi người làm chứng :
"Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và trong anh em" (Ga 14,16-17).
    Có Chúa Thánh Thần, chứng nhân sẽ không  sợ hãi, hay lo nghĩ phải bào chữa, biện bạch thế nào trước mặt quan quân và những kẻ chống đối, nhưng Thánh Thần sẽ chỉ bảo phải nói gì, « khiến tất cả địch thù không tài nào chống chọi hay cãi lại được » (Mc 21,15).

       c. Bình An là bảo chứng quyền năng Thiên Chúa nơi người được sai đi làm chứng : 
         "Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó cón làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con (Ga 14,12-13).
        Như thế, người làm chứng Đức Giêsu tiên vàn phải nhận từ Đức Giêsu, Đấng sai họ, Bình An của Ngài. Không có Bình An của Đức Giêsu, không chứng nhân nào có thể làm chứng chính xác, đầy đủ về Đức Giêsu ; không mang Bình An của Đấng đã chết và Sống Lại, người làm chứng sẽ không thể làm chứng bằng « loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại », là sứ điệp Tin Mừng mà người được sai đi phải làm chứng.
    Bình An của Đức Giêsu, vì thế, sẽ không thể thiếu trong tâm hồn chứng nhân, bởi chỉ với Bình An của Đức Giêsu sống lại, chứng nhân mới có thể kiên cường đi đến cùng hành trình làm chứng của mình giữa phong ba bão táp của thế gian.

       2.  Thầy truyền cho anh em điều răn của Thầy: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15,12) :
     Nếu Bình An của Đức Giêsu là bửu bối không thể thiếu trên đường làm chứng, thì giới răn "Anh em hãy yêu thương nhau" là chià khóa để lời chứng của chứng nhân có giá trị và thuyết phục.
     Đức Giêsu hơn ai hết biết rõ nguy cơ và sức công phá kinh khủng của hận thù, ghen ghét, bạo lực. Cũng chính vì muốn tiêu diệt hận thù, bẻ tan ghen ghét, đẩy lui bạo lực trong thế giới, mà Ngài đã đến để ban Bình An, Yêu Thương, nên sẽ không có lý do những người thuộc về Ngài lại không yêu thương nhau ; không có thể những chứng nhân làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ hiến mạng sống vì yêu nhân loại đến cùng lại xa lạ với tình huynh đệ ; và sẽ hoàn toàn vô ích, nếu không nói là nguy hiểm, nếu người làm chứng Tin Mừng là Lòng Thương Xót lại bôi nhọ, vu khống, hiềm khích, đấu đá, ăn thua đủ với nhau.
     Không chỉ Đức Giêsu hay những người thuộc về Giáo Hội, mà tất cả mọi người, bất kể họ là ai, đều "dị ứng", kinh ngạc, sợ hãi trước cảnh môn đệ cùng sư phụ ẩu đả, lên án, cắn xé nhau. Thực vậy, sẽ không còn chứng nhân, nếu không có đức ái ; không còn lời chứng, nếu ganh ghét, hận thù thống trị ; không còn người được sai đi, nếu đường đi không còn là đường lên núi Bát Phúc, nhưng sẽ chỉ còn lại những "người chứng nói dối", "lời chứng mâu thuẫn, phi lý, không thuyết phục", và danh xưng "người làm chứng qủa cảm, hào hùng" bắt buộc phải đổi lại thành "người phản chứng lố bịch, dị hợm".
     "Yêu thương nhau" không còn là đồ phụ tùng,  chuyện nhỏ, phụ thuộc, nhưng là chính yếu, dấu chỉ duy nhất của môn đệ Đức Giêsu, của người được sai đi làm chứng, nên không yêu thương nhau, căn cước tính của người làm chứng tự động biến mất trước mặt Thiên Chúa, và dưới mắt con người, bởi cả Thiên Chúa và con người đều không thể chấp nhận người chứng của Tình Yêu lại không biết yêu thương.
    Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông, chúng con không chỉ cảm phục các Đấng đã can đảm chấp nhận chịu đánh đòn, bá đao, voi dầy, chém đầu, thiêu sống, chết rũ tù, nhưng trên hết, chúng con ngưỡng mộ lòng yêu mến nơi các Đấng. Các Đấng đã yêu mến Thiên Chúa và được Tình Yêu Đức Kitô thúc bách, khi Bình An lên đường làm chứng, Bình An đổ máu làm chứng, Bình An dâng hiến mạng sống làm chứng. Với Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các Đấng đã không than thở, trách móc, hận thù vua quan, dân tộc, đồng bào đã làm khổ, bách hại, giết chết mình, nhưng luôn Bình An tha thứ, Bình An hoà giải, Bình An  cầu xin ơn phúc cho quê hương, dân tộc, vì các Đấng luôn ở trong Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối và nguồn Bình An viên mãn. Bên cạnh đó là đời sống bác ái, huynh đệ, phục vụ của các Đấng  đã đánh động, cảm hóa anh em đồng bào, để Danh Đức Giêsu ngày càng được vinh hiển trên quê hương, và trong lòng người dân Việt.
    Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông cũng là dịp chúng con ý thức ơn gọi và sứ vụ làm chứng  của mình, để luôn biết rằng hành trình làm chứng "Đức Giêsu chịu đóng đinh" luôn là đường Thánh Giá, và bất kể ở thời nào, người làm chứng vẫn được mời gọi vác Thánh Giá và chết với Đức Giêsu cho anh em mình.
   
Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con các Thánh Tử Đạo là cha ông anh dũng  trong huyết thống và Đức Tin. Cúi xin các Thánh ban cho chúng con biết đón nhận Bình An của Đức Giêsu và sống điều răn "Yêu Thương nhau" trên hành trình Làm Chứng, như các thánh Cha Ông Tử Đạo đã làm chứng bằng chính đời sống và mạng sống mình.
Jorathe Nắng Tím