Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

Thánh Giá và Lòng Thương Xót


   Một hiện tượng không thể chối cãi trong Giáo Hội là khi xuất hiện một phong trào đạo đức mới, thì lập tức phát sinh một làn sóng nghi ngờ, tẩy chay, chống đối, như trường hợp các phong trào Thánh Linh, Cursillos, Học Hỏi Kinh Thánh một thời, ở những năm đầu mới hoạt động đã bị búa rìu dư luận chặt chém nặng nề : phong trào Thánh Linh và học hỏi Kinh Thánh thì bị chụp mũ theo Tin Lành, thành viên của phong trào Cursillos thì bị xếp vào hàng Pharisêu lập dị, muốn qua mặt hàng giáo sĩ...Hiện nay thì phong trào Lòng Chúa Thương Xót cũng ít nhiều, và ở một số địa phương bị liệt vào sổ đen những phần tử giữ đạo qúa khích, ngoài luồng, khước từ thánh giá, xa dần giáo lý đức tin. Nhưng sự thật có phải như vậy không?  
     Sự thật sẽ không phải như vậy, nếu những phong trào đạo đức trên không ra ngoài Tin Mừng, không đi ngược giáo lý, không chống quyền giáo huấn, không phục vụ tổ chức nào, ngoài Hội Thánh. Sự thật không phải như vậy, khi từ danh xưng, đến công việc của phong trào đều là những điều đã được khẳng định trong Tin Mừng. Sự thật không phải như vậy, nếu hoa trái của phong trào là Bình An của Đức Giêsu phục sinh trong các tâm hồn, gia đình, cộng đoàn.Sự thật không phải như vậy, khi thành viên của phong trào nhận được “hoa qủa của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền lành, tiết độ” (Gl 5,22-23). Và sẽ không bao giờ là sự thật được, nếu thành viên các phong trào bị dư luận hay bất cứ đám đông nào ném đá sống Đức Ái và bám gót Đức Giêsu trên hành trình Thánh Giá.
  Trước hết, chúng ta cần biết: Thiên Chúa chúng ta tôn thờ trong Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, Thiên Chúa mà tông đồ trưởng Phêrô đã đại diện anh em tuyên xưng : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Danh hiệu Kitô là tên của Đức Giêsu, nghiã là Đấng Cứu Thế: Thiên Chúa làm người để cứu thế giới loài người khỏi chết đời đời. Ngài  là Đấng Cứu Độ nhân loại.
   Là Thiên Chúa của lòng thương xót, Đức Giêsu Kitô đã thương xót loài người đến cùng, dù loài người có vô tình, vô ơn, bạc nghiã đến đâu, bởi bản tính của Thiên Chúa là Tình Yêu Thương Xót, nên không thể làm gì khác hơn ngoài thương xót. Đây là chân lý rất quan trọng mà người Kitô hữu không thể bỏ qua, bởi nếu bỏ qua, chúng ta sẽ không thể hiểu, càng không thể chấp nhận việc làm vô cùng xót thương và thái độ nhẫn nại chịu đựng con người của Thiên Chúa, như người con trai lớn đã bất mãn trước thái độ nhân từ của cha mình dành cho người em hoang đàng trở về sau khi đã tiêu tán gia tài được chia trong dụ ngôn đứa con hoang đàng của Tin Mừng Luca (15, 11-32).     
   
Là Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, Đức Giêsu đã không dậy điều gì ngoài lòng thương xót: với Hiến Chương Nước Trời, là hiến chương dành cho những người có lòng thương xót, Ngài dậy phải có lòng thương xót để được Thiên Chúa xót thương (Mt 5,7); trong Kinh Lậy Cha, Ngài dậy phải biết xót thương hết mọi người, kể cả kẻ thù khi tha thứ để được Thiên Chúa thứ tha (Mt 6,12); và rõ ràng hơn cả là ngày chung thẩm trước nhan thánh Thiên Chúa, mọi người đều sẽ phải trả lời về lòng thương xót của mình đã được thực hiện khi còn sống, và chỉ trên tiêu chuẩn Thương Xót này, Thiên Chúa thưởng phạt chúng ta (Mt 25,31-46).
    Là Thiên Chúa của lòng thương xót, Đức Giêsu đã không làm gì khác hơn là thể hiện lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người. Ngài đã chữa lành các bệnh tật vì lòng thương xót, đã cho người chết sống lại vì xót thương, đã giải phóng người bị qủy ám vì chạnh lòng thương, đã gần gũi, chia sẽ, đồng bàn với người tội lỗi cũng vì thương xót thân phận của họ. Và đi xa hơn, nghiã là đi đến cùng của lòng thương xót, Đức Giêsu đã chấp nhận chịu khổ hình, chịu chết treo trên thánh giá để chuộc tội cho toàn thể nhân loại.
    Như thế, chúng ta không thể coi thường lòng thương xót nơi Thiên Chúa, không thể đánh giá thấp cuộc đời ngập tràn lòng thương xót của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, không thể xem lòng thương xót chỉ là chuyện bịa đặt trong Tin Mừng, và nhìn lòng thương xót như chiếc bánh vẽ để dụ dỗ, mồi chài. Có thể đôi lúc chúng ta nghi ngại rằng chính chúng ta hay người khác đã lợi dụng lòng Chúa thương xót  để tha hồ ăn chơi xả láng, thoả thích phạm tội, vì có lòng thương xót bảo kê, chống lưng. Cũng có thể nhiều khi chúng ta thấy có người lạm dụng lòng thương xót mà cắt nghiã sai lệch các giới răn của Chúa và luật của Giáo Hội. Nhưng  dù thế nào và trong mọi trường hợp, chúng ta vẫn không thể phủ nhận Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa mà Đức Giêsu là dung mạo đích thực là Thiên Chúa của lòng thương xót. Thương xót là căn tính của Ngài, bởi nếu Thiên Chúa không thương xót vô cùng, Ngài đã không xuống thế làm người, không chịu chết, không cứu độ; nếu Thiên Chúa không thương xót đến cùng, con người không thể lấy lại được ân huệ làm con Thiên Chúa, và sự sống đời đời cho con người  là điều không thể có. Lòng thương xót đã làm tất cả, cứu chữa tất cả để không một người nào sẽ phải hư đi, không ai sẽ bị tội lỗi khống chế và ma qủy tận diệt, bởi “ở đâu tội lỗi càng nhiều thì ân sủng càng dồi dào, chứa chan gấp bội” (Rm 5,20), bởi lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người thì vô cùng, vô hạn, vô biên.vượt sức tưởng tượng của con người.
    Trước lòng thương xót, có nhiều thái độ khác nhau: người thụ động nghĩ lòng thương xót của Chúa  tự động, tự nhiên, nghiã là ta không phải làm gì, không cần cộng tác, góp phần, chẳng phải vất vả, lao nhọc cũng vẫn được hưởng miễn phí lòng thương xót của Chúa;  người lười biếng thì nghĩ  có làm gì cũng chẳng đáng kể, và vẫn là ít oi trước bao la của lòng thương xót, nên ươn ái thả trôi cuộc sống như  những cánh lục bình hững hờ trôi giạt; có người lại nghĩ chỉ cần tin ở lòng thương xót là đủ để được cứu rỗi, mà không cần tuân giữ một điều khoản nào khác; số còn lại thì phó mặc hết cho lòng thương xót như người nhận được một nén bạc đã đem chôn đi, mà không tìm cách sinh lợi.
   Sở dĩ có những thái độ trên là vì người ta đã không hiểu thấu đáo lòng thương xót của Chúa, cũng như điều kiện phải có để nhận được lòng xót  thương.

1.   Lòng thương xót luôn gắn liền với  đau khổ:
    Thương xót ai là mang lấy khổ đau, bất hạnh, cơ cùng của người ấy trong tim; là vui với họ khi họ mừng vui và khổ với họ khi họ sầu buồn. Lòng thương xót luôn mang hình ảnh con chiên gánh hết tội lỗi, yếu đuối của người mình thương, nên không có tâm hồn thương xót nào lại không khổ đau; không trái tim thương xót nào lại không biết đắng đót; không con người biết thương xót nào mà mình mẩy không bầm tím thương tích; không cuộc đời thương xót nào lại không “xất bất xang bang”, đủ mùi tân khổ; không lòng dạ thương xót nào lại không  thắt dạ nát lòng, bởi không có lòng thương xót ở ngoài qũy đạo “quên mình”, lọt vùng phủ sóng “hy sinh”, không cùng tần số, cung bậc của “Thánh Giá”.
    Chính vì lòng thương xót luôn gắn liền với khổ đau, mà người ta không thể thương xót ai mà lại hờ hững, dửng dưng trước tâm sự sầu buồn, hoàn cảnh đáng thương và số phận hẩm hiu, kém may mắn của người ấy. Kinh nghiệm còn cho thấy yêu ai là chuốc lấy gánh nặng cuộc đời của người mình yêu, là vác trên vai tất cả nhọc nhằn, vất vả, cơ cực của người ấy, nếu không  tình yêu sẽ không mang một giá trị nào.
      Tình yêu gắn liền đau khổ, vì đau khổ còn là biểu chứng hùng hồn, dấu ấn khó nhạt phai  của tình yêu. Nếu yêu nhau mà không phải hy sinh gì cho nhau, yêu nhau mà không mất mát gì vì nhau, yêu nhau mà không cần phải vượt qua thử thách để có nhau, yêu nhau mà không phải bận tâm, nặng lòng, lo lắng chăm sóc nhau, yêu nhau mà không đòi tận tâm, tận lực gìn giữ và phát triển tình yêu của nhau, thì tình yêu dành cho nhau sẽ không có giá trị, và hoàn toàn không tưởng, hão huyền, nếu không muốn nói là vu vơ, giả dối.
    Đức Gỉêsu cũng chân nhận tình yêu gắn liền đau khổ, khi Ngài khẳng định : “Không có tình yêu nào lớn lao, cao qúy, trọng đại bằng chết cho người mình yêu”. Ngài nói đến tuyệt đỉnh của tình yêu dành cho nhau là chết cho nhau, tột điểm của lòng thương xót là hiến mạng vì nhau, tuyệt vời của  đức ái là trao ban chính mạng sống cho người khác. Và đó là điểm đến của tình yêu Ngài dành cho nhân loại: chết cho con người mà Ngài thương xòt.
    Như thế, tình yêu được đánh giá theo mức độ của đau khổ: càng yêu nhiều càng hy sinh nhiều, càng thương xót nhiều, càng khổ đau nhiều và đau khổ lớn nhất, hy sinh kinh khủng, hãi hùng nhất đối với con người là chết, bởi đối với con người, sự sống là giá trị lớn nhất so với các giá trị trần thế khác.
    Tóm lại, không có tình yêu không đau khổ, không có lòng thương xót vắng bóng hy sinh, nên khi yêu ai, ta không còn ích kỷ, chỉ nghĩ cho mình, sống vì mình, nhưng bắt đầu quên mình, tập quen cho đi chính mình, sẵn sàng hiến đời sống mình cho người mình yêu để làm chứng tình yêu và nuôi sống tình yêu, bởi tình yêu chỉ được nuôi  bằng hy sinh quên mình để mưu cầu hạnh phúc cho người mình yêu. Cũng vậy, khi chạnh lòntg thương xót và nỗ lực thực hiện lòng thương xót, không ai đã tránh khỏi những khổ đau gắn liền, những hiểu lầm, thị phi kèm theo, những đối kháng vô cớ, những cú đá giò lái, cũng như những  cơn mưa đá do lòng ganh tị. Những kinh nghiệm đó cho chúng ta xác tín hơn lòng thương xót luôn gắn liền với thiệt thòi, hy sinh, đau khổ.
2.   Lòng thương xót luôn gắn chặt với Thánh Giá:
     Đức Giêsu không chỉ khẳng định: “Không có tình yêu nào trọng đại cho bằng chết cho người mình yêu” (Ga 15,13), mà còn qủa quyết: “Ai muốn theo tôi, hãy vác thánh giá” (Mc 8,34). Thánh giá không chỉ là cao điểm của lòng thương xót, ở đó, tình yêu tuyệt đỉnh là chết cho người mình yêu được thể hiện, minh chứng. Mà còn là phương cách Thiên Chúa dùng để thực hiện lòng thương xót của Ngài đối với con người, như chúng ta vẫn tuyên xưng : “Chúng con thờ lậy và ngợi khen Chúa Kitô, vì Chúa đã dùng thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ”,  khi đi chặng đàng Thánh Giá.   
     Dùng Thánh Giá để cứu chuộc, là dùng đau khổ để tỏ lòng thương xót, dùng hy sinh quên mình, hiến trao mạng sống để thực hiện tình yêu đến cùng, vô cùng. Thánh giá nói lên chân lý: lòng thương xót không thể xa rời Thánh Giá, cũng như tình yêu gắn liền khổ đau, và người có lòng thương xót là người vác Thánh Giá đi theo Đức Giêsu.
     Vác Thánh Giá đi theo Đức Giêsu là đòi hỏi dành cho người muốn đi theo Thiên Chúa của lòng thương xót, bởi nếu không có lòng thương xót, không vì lòng thương xót, thì Thánh Giá hoàn toàn vô nghiã, và việc chấp nhận vác Thánh Giá phải được coi là ngu dại, điên rồ. Nhưng ở đây, chính Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu độ giầu lòng thương xót đã chọn Thánh Giá để bầy tỏ, minh chứng, thực hiện lòng thương xót của Ngài, nên không thể có lòng thương xót của Đức Giêsu mà thiếu Thánh Giá của Đức Giêsu, không thể có tình yêu của Thiên Chúa, mà xa lạ khổ đau của Thiên Chúa, không thể gắn bó với Đức Giêsu đầy lòng thương xót mà khước từ Thánh Giá là phương cách biểu hiện lòng thương xót của Ngài. Từ đó, người môn đệ đi theo Đức Giêsu là Thiên Chúa giầu lòng thương xót cũng phải vác Thánh Giá là phương cách thể hiện lòng thương xót; là tuyệt đỉnh của lòng thương xót  mà Thiên Chúa muốn người môn đệ phải sống. Vì thế, tách  lòng thương xót ra khỏi Thánh Giá chẳng khác nào tách Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng thương xót ra khỏi Thánh Giá, là bảo chứng Tình Yêu tuyệt vời Ngài đã chọn.
    Như thế, chúng ta có thể nói:  người môn đệ Đức Giêsu là người đi theo Đức Giêsu để sống lòng thương xót như Ngài là Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, đồng thời vác Thánh Giá với Ngài, vì Thánh Giá là cách Ngài đã chọn để thực hiện lòng thương xót, và suốt cuộc đời, người môn đệ sẽ phải bước đi trên đường Thánh Giá với Đức Giêsu để được trở nên giống Ngài trong lòng thương xót, vì ngoài lòng thương xót và Thánh Giá, không còn con đường nào đến với Thiên Chúa, cũng như không còn cách nào để con người “được thấy” Thiên Chúa.
    Tin Mừng mô tả mẫu người được Đức Giêsu mời gọi. Họ là những người nghèo khó vì xót thương người khác, hiền lành để có thể xót thương anh em, sầu khổ vì mang nặng gánh buồn đau của người mình thương xót, Họ là những người khao khát và tranh đấu công lý, vì yêu thương tha nhân; bị thiệt hại đủ điều vì tìm kiếm và xây dựng hoà bình cho xã hội, và họ thực sự là những người được Thiên Chúa ban phần thưởng của lòng thương xót, vì họ đã hết lòng xót thương anh em mình (x. Mt 5,1-12).
     Đọc Hiến Chương Nước Trời trong Tin Mừng Mátthêu, ai có thể tưởng tượng rằng tất cả những người được coi là công dân của Nước Trời đều phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt, kể cả “bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5,11), Nhưng tại sao họ phải chấp nhận sầu khổ, tủi nhục, bị xử tệ, hàm oan? Thưa vì họ sống lòng thương xót, như Thiên Chúa của lòng thương xót, khi chạnh lòng thương xót và nỗ lực thực hiện lòng thương xót đối với anh em mình. Cũng vì thực hiện lòng thương xót, mà họ gặp bao nhiêu phiền phức, phải liên tục quên mình, liên lỷ xóa mình, và suốt đời triền miên trên vai cây Thánh Giá.       
    Cuộc sống vác Thánh Giá để thể hiện lòng thương xót của người môn đệ Đức Giêsu còn được trỉnh bầy chi tiết trong quang cảnh ngày chung thẩm, khi Thiên Chúa chỉ hỏi con người về những việc làm của lòng thương xót (x. Mt 25, 31-46). Tất nhiên, để được đứng về bên phải của Thiên Chúa, và được Thiên Chúa chúc phúc : “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dành sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25,34-36). Nhưng tất cả những việc làm thương xót người khác, mà Thiên Chúa vừa kể đều không là những việc dễ, bởi tất cả đều đòi cố gắng, vất vả, hy sinh: phải cố gắng mới có thể vượt qua ích kỷ, ky bo để chia sẻ cơm bánh, áo quần; phải vất vả đấu tranh với chính mình và quên mình mới có thể bỏ thời gian, bỏ công việc làm ăn sinh lợi, có khi bỏ cả gia đình để âm thầm cất công đi thăm nuôi tù nhân, người bệnh, người già neo đơn, chị em cơ nhỡ, cô nhi thất học; phải phấn đấu đến đổ mồ hôi mới vươn đến được quyết định hy sinh tiết kiệm từng bữa ăn, từng chiếc áo mới và dầy mặt đi xin bạn bè, người thân từng thùng mì, từng tấm chăn, từng manh chiếu, từng vuông vải để đem lên buôn thượng, bản làng vùng cao nguyên cho anh em dân tộc nghèo đói. Những hy sinh, vất vả, cố gắng ấy không phải Thánh Giá sao? Và những người có lòng thương xót đang làm những công tác từ thiện, từ tâm ấy không lẽ bị xếp vào những người khước từ Thánh Giá?  
    Muà Vọng đến chuẩn bị ngày Thiên Chúa của Lòng Thương Xót xuống thế làm người. Thiên Chúa xuống thế làm người với lòng thương xót và để yêu vô cùng, và thương xót đến cùng, Thiên Chúa đã chọn Thánh Giá. Chỉ có Thánh Giá mới nói hết lòng thương xót vô bờ bến và tình yêu tuyệt đỉnh của Thiên Chúa  đối với con người có tội.
   Mùa Vọng vì thế mời gọi chúng ta suy nghĩ về sứ mệnh của người môn đệ Đức Giêsu, là sống lòng thương xót bằng con đường Thánh Giá  như  sứ vụ thứ nhất và quan trọng nhất phải được ưu tiên thực hiện. Thiếu lòng thương xót, chúng ta không thể là môn đệ của Đức Giêsu, vì Đức Giêsu là Dung Mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót. Đàng khác, đi theo Đức Giêsu là chọn sống lòng thương xót của Thiên Chúa thánh thiện, vì Ngài là Thiên Chúa của lòng xót thương; bởi lẽ, có những tôn giáo trọng lề luật như Do Thái giáo; cặn kẽ, chi ly, bắt bẻ từng chữ của kinh Coran như Hồi giáo; luân hồi nhân qủa như Phật giáo nhưng chúng ta chọn Kitô giáo là tôn giáo duy nhất có Thiên Chúa làm người, gần gũi với con người, vì xót thương con người. Chúng ta có “một Thiên Chúa giầu lòng xót thương, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung”, mà các tôn giáo khác  không có. Thiên Chúa ấy không xót thương con người “từ xa”, không yêu thương  theo “kiểu remote”, nhưng xuống thế, ở cùng, ở với, chọn Thánh Giá ô nhục, khổ đau để thể hiện, minh chứng lòng thương xót tuyệt đỉnh, vô cùng, để không ai có thể yêu con người nhiều hơn Thiên Chúa, để không tình nào có thể so sánh với tình của Thiên Chúa, bởi không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu hiến mạng sống cho người mình yêu, không có tình xót thương nào vĩ đại hơn tình xót thương của Thánh Giá Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người. 
    Muà Vọng cũng là mùa lên đường của môn đệ Đức Giêsu để loan báo Tin Mừng Giáng Sinh, Tin Mừng của Lòng Thương Xót, cũng là Tin Mừng của Thánh Giá cứu độ, Thánh Giá mà Thiên Chúa đã chọn để tò lòng xót thương.
   Xin Đức Giêsu tràn đầy tâm hồn chúng ta lòng thương xót của Ngài, và nâng đỡ chúng ta trên đường Thánh Giá như Ngài đã hứa : “Hỡi những ai vất vả, khó nhọc, hãy đến với Ta, Ta sẽ bổ sức cho, vì ách Ta êm ái, gánh Ta nhẹ nhàng”. Với Thánh Giá, chúng ta bình an bước đi trên hành trình Lòng Thương Xót với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, để  loan báo Thiên Chúa là “Đấng Cứu Độ giầu lòng xót thương đã dung Thánh Giá mà cứu chuộc nhân loại”.
     Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2018

Suy Niệm TIN MỪNG CN 34 TNB – LỄ CHÚA KITÔ VUA

  
Thật bẽ bàng, đắng đót khi quan tổng trấn Philatô hỏi Đức Giêsu đang đứng trước mặt ông trong tư thế bị cáo: “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?” (Ga 18,33).  Bị chính đồng hương, đồng bào Do Thái giải giao cho quan tổng trấn như tội phạm, sao lại có thể là vua của dân mình? Và còn chua xót, ứ nghẹn hơn khi Philatô lạnh lùng xác nhận : “Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi” (Ga18, 35). Thực vậy, Đức Giêsu đã nhận “triều thiên và vương trượng” Vua trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một tên tội phạm đang chờ lãnh án tử hình, giữa tiếng la hét điên cuồng, khát máu :  “đóng đinh nó vào thập giá !” của đám đông nhẹ dạ bị chăn giắt bởi các thượng tế ma mãnh, gian hùng, mưu lược.
      Vì quyết tâm giết chết Đức Giêsu qua tay chính quyền đế quốc Rôma, mà họ đã nộp Đức Giêsu cho quan Philatô. Ông này thấy Đức Giêsu vô tội, nên hỏi các thượng tế và đám đông đang gào thét đòi mạng : “Các ngươi tố cáo ông này về tội gì ?”.  Câu hỏi rất tự nhiên, vô tư đáng lẽ phải nhận được câu trả lời  khách quan, chính xác, nào ngờ, người ta đã lái xa trọng tâm của câu hỏi để ngụy biện một cách trơ trẽn, lố bịch, nhưng đầy độc ác : “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18,30). Thế ra cứ tố cáo ai, là hẳn người ấy phải có tội ; cứ viết thư nặc danh, lên mạng vu khống ai, là người ấy trở thành tội nhân ; cứ trục cổ được người nào ra trước toà án nhân dân, tất người ấy phải là tội phạm. Câu trả lời của các thượng tế làm cho người nghe có cảm tưởng đúng, nhưng thực sự hoàn toàn phi lý vì chỉ là “trò chơi luận lý” lắt léo để buộc tội.
     Dã tâm giết chết Đức Giêsu của các thượng tế và đám đông qúa khích  còn bị lộ tẩy ngay trong câu trả lời của họ với quan Philatô : “Chúng tôi không có quyền xử tử ai” (Ga 18,31), khi ông bảo họ : “Các ông cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người” (Ga 18,31). Bởi muốn Đức Giêsu phải chịu án tử hình, phải bị đóng đinh vào thập giá, chứ không chỉ đánh đòn hay tù giam ít tháng, mà các thượng tế đã lừa Philatô bằng tạo áp lực, xử dụng trò chơi chữ nghiã, nhất là đe dọa ông : “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xêda. Ai xưng mình là vua thì chống lại Xêda” (Ga 19,12). 
     Tuy hèn nhát không dám quyết định tha Đức Giêsu vì sợ sức mạnh của đám đông và để giữ an toàn chiếc ghế tổng trấn, Philatô vẫn tỏ lòng ngưỡng mộ Đức Giêsu và hỏi Ngài một vài câu hỏi xoay quanh câu chuyện vương quyền.
   Đáp lại câu hỏi của Philatô : Ông có phải là vua  dân Do Thái không ? Đức Giêsu đã vắn tắt cho quan tổng trấn biết về vương quyền của Ngài :

1.       Đức Giêsu xác nhận Ngài là Vua :
    Khi trả lời Philatô : “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” (Ga 18,34), Đức Giêsu đã gián tiếp xác nhận Ngài là vua, nhưng không là vua dân Do Thái, và nước của Ngài không thuộc về thế gian này (x. Ga 18,36), như nhiều người đã mơ tưởng, gán ghép cho Ngài, vì khao khát được giải phóng khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma, và tái lập nền độc lập. Cũng chính vì không đáp ứng ước vọng thuần chính trị, mà người Do Thái đã muốn giết chết Ngài, vì cho rằng Ngài đã lừa bịp họ, khi làm họ vỡ mộng.
    Họ vỡ mộng thật, khi họ mong Ngài là Đấng đến giải phóng dân tộc bằng bạo lực, thì Ngài lại rao giảng yêu thương, tha thứ, làm ơn và cầu nguyện cho kẻ thù ; vỡ mộng khi  muốn tôn Ngài làm chủ tịch phong trào phục quốc, giải phóng Israel, thì Ngài lại chủ trương nghèo khó, khiêm nhường, trong sạch,  đi tìm công lý và xây dựng hoà bình (Mt 5, 1-9) ; vỡ mộng khi muốn thần tượng Ngài là lãnh tụ đầy uy lực, thì Ngài lại khiêm tốn qùy xuống rửa chân cho môn đệ ; vỡ mộng khi muốn Ngài làm phép lạ cho quân ngoại bang Rôma tàn rụi, te tua, thì Ngài lại loan báo cuộc tử nạn của chính mình. Vì thế mà người ta phải khử Ngài, chỉ vì không còn chịu đựng nổi giáo lý và đường lối Cứu Thế  khiêm tốn, yêu thương, phục vụ, quên mình, hiến mình của Ngài, bởi hoàn toàn đi ngược điều họ mong đợi.  
  
2.  Đức Giêsu qủa quyết Ngài là Vua của vương quốc Sự Thật :
    Trả lời Philatô, Đức Giêsu nói : “Chính Ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).
    Như thế, Nước của Đức Giêsu là nước gồm các chứng nhân, bởi Ngài đến làm Vua với duy nhất một mục đích là làm chứng cho sự thật, và người nghe tiếng Ngài, đi theo Ngài, thuộc về Ngài, là công dân của vương quốc Ngài trị vì, mang quốc tịch do Ngài cấp, tất cả đều phải đứng về sự thật. Đứng về sự thật là thao thức mong ước sự thật, khắc khoải muốn có sự thật, tận tụy tìm kiếm sự thật, một lòng yêu mến sự thật, hết mình sống sự thật, tận tình phục vụ sự thật, và can đảm làm chứng sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống.
    Thế ra vương quốc của Đức Giêsu không giống các vương quốc thế gian khác phải có cung điện, triều đình, bầy tôi, quân đội, dân chúng, lãnh thổ, ngân sách... Ngài làm Vua cũng không như các vua trần thế phải có đủ mọi vinh quang, quyền lực, lợi thú, ảnh hưởng. Vua như Đức Giêsu  qủa thực không giống ai, và vương quốc của Ngài thật kỳ lạ!

a. Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót.
  Sự thật lớn nhất mà Đức Giêsu làm chứng khi đến thế gian chính là lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người : “Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1Ga 3,1).
     Người Cha Thiên Chúa, vì yêu thương đã không nỡ đoán phạt con cái yếu đuối, “nhưng nếu ai phạm tội, thì đã có một Đấng Bảo trợ trước mặt Chúa Cha : đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1Ga 2,1) Thiên Chúa làm người. “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1Ga 2,2).     
     Cùng với  Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con. “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa là Cha nhân hậu như Tin Mừng Luca chương 15 đã mô tả :
  Người cha như người chăn chiên vui mừng vác lên vai con chiên bị lạc mất nay tìm thấy. Về đến nhà, ông mời bạn bè, hàng xóm lại ăn mừng (x. Lc 15,4-6) ; “và trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).

b. Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ :
   Ngoài Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, không ai đã cho con người biết sự thật về Thiên Chúa : Thiên Chúa là ai, Ngài muốn gì nơi con người ? Cũng vậy, ngoài Đức Giêsu, không ai có thể nói hết sự thật về con người : tại sao con người hiện hữu, con người sống để làm gì, chết rồi đi đâu ?
   Chỉ một mình Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người mới mặc khải cho chúng ta sự thật về cả Thiên Chúa và con người một cách chính xác, đích thực.
   Sự thật về con người, chính là con người được tạo dựng vì được Thiên Chúa yêu thương, để hạnh phúc ở đời này và đời sau khi ở trong Thiên Chúa, đồng thời  “sống với”, và chia sẻ với anh em đồng loại trong tình yêu.  Điều này có nghiã : chúng ta chỉ có hạnh phúc thật, khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân như chính mình (Mt 22,37-39), bởi ai yêu mến thì ở trong Thiên Chúa, và ai ở trong Thiên Chúa, người ấy có tất cả.
      Đàng khác, con người được hạnh phúc vì được Thiên Chúa chăm sóc, nâng niu, bởi vận mạng, sự sống, sự chết của con người đều được đặt trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa : “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em trên trời. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đã đếm cả rồi.Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,29-31).

c.  Đức Giêsu : Vua Sự Thật về cuộc sống đời sau của con người :
    Bí mật làm nhức nhối và làm con người lo sợ, hoang mang hơn tất cả, đó là những bí mật sau cái chết. Chết chấm dứt cuộc sống hôm nay, nhưng mơ hồ cho thấy có một cuộc sống khác, sau cuộc sống này. Chính vì mơ hồ linh cảm có một đời sau, nên con người lo lắng, sợ hãi trước ngưỡng cửa vào đời sau là cái chết, bởi điều làm người ta sợ nhất là rơi vào tình trạng chơi vơi, thấy mình cô đơn lạc lõng giữa một thế giới không thuộc về mình. Cảm giác chơi vơi làm sợ hãi: sợ vì không biết mình sẽ phải làm gì, đi về đâu, nương tựa vào ai, bám víu vào người nào?
     Đức Giêsu đã mặc khải sự thật về đời sau, về những gì sẽ xẩy đến :
-        “Chúng ta từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em”  (1Ga 3,14).
-        Thiên Chúa sẽ phán xét mỗi người về  lòng thương xót anh em :
   “Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người bên phải rằng : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dành sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. Bấy giờ, những người công chính sẽ thưa rằng : “Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù mà đến hỏi han đâu ?” Đức Vua sẽ đáp lại rằng : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất   của Ta đây,  là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-40).
    Tóm lại, Đức Giêsu đã khẳng định trước mặt quan Philatô : Đích thực Ngài là Vua, nhưng không làm Vua kiểu thế gian, nhưng Vua của Sự Thật. Hiểu theo nghiã : Ngài là Vua tất cả mọi người yêu mến và đi tìm Chân Lý về Thiên Chúa, về Con Người, về vận mệnh tương lai của con người, nên bất kỳ ai đứng về  Chân Lý thì thuộc về Ngài, là công dân của Nước Ngài ; bất cứ người nào khao khát Sự Thật của Thiên Chúa, đấu tranh cho Sự Thật của con người, làm chứng cho Sự Thật của Vương Quốc Nước Trời đều nghe tiếng Ngài, vì chính Ngài là Sự Thật (Ga 14,6).
     Là Sự Thật, Đức Giêsu không là sự thật soi mói, tìm tòi để buộc tội, tống giam của công an chấp pháp ; sự thật “bới lông tìm vết” để trừng phạt, kết tội của chánh án ; sự thật đe doạ, thanh toán của xã hội đen ; sự thật như con ách chủ, lá bài tẩy để khống chế, đánh gục kẻ thù ; sự thật ganh ghét, bạo lực cốt tiêu diệt đối phương, nhưng là Sự Thật của lòng thương xót, Sự Thật được lòng thương xót bao bọc, Sự Thật  được lòng thương xót che chở, Sự Thật được bảo kê bởi Thiên Chúa là Tình Yêu xót thương.
     Là Vua của Sự Thật về Thiên Chúa giầu lòng thương xót ; Vua của Sự Thật về con người luôn được Thiên Chúa xót thương ; Vua của Sự Thật về một Vương Quốc đời sau gồm những người biết chạnh lòng xót thương và chia sẻ cơm bánh, áo quần, thời giờ, tiền bạc, điều kiện sống, và tình yêu thương, huynh đệ với anh em mình, Đức Giêsu thực là Vua muôn vua, Chúa các chúa, bởi vương quốc Sự Thật của Ngài bao trùm toàn thể địa cầu và thiên quốc, bao trùm cả đời này, đời sau, và tất cả mọi người bất phân sắc tộc, trình độ, hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời đều được kêu gọi lắng nghe tiếng nói Sự Thật của Ngài, được mời gọi quây quần chung quanh Ngài, đứng bên Ngài là Vua với duy nhất một điều kiện, một đòi hỏi là tin và sống lòng thương xót như Ngài là Thiên Chúa giầu lòng xót thương.
    Đó cũng là lý do Đức Giêsu đã không trả lời, khi Philatô gặng hỏi : “Sự thật là gì ?” (Ga 18,38), bởi người ta không thể đón nhận sự thật của lòng thương xót khi tâm hồn đầy gian dối, bất lương, bạo lực ; bởi không cách nào sự thật thương xót có thể được lắng nghe, khi những người Do Thái kia đang cuồng điên kêu gào Philatô dùng bạo lực tàn ác để giết chết Thiên Chúa là Sự Thật ; bởi làm sao sự thật của lòng thương xót có thể  đi vào nhà, cư ngụ trong tâm hồn, khi các thượng tế, lòng đầy gian ác và giả hình, đã từ chối “đội trời chung” với Đấng là Thiên Chúa của Sự Thật xót thương.
     Như thế, không phải ai cũng nhận ra Sự Thật, cũng như không phải ai cũng nhận ra Thiên Chúa, vì chỉ có những người có tâm hồn khao khát Sự Thật của lòng thương xót, mới nghe được tiếng Thiên Chúa giầu lòng xót thương ; chỉ những trái tim biết chạnh lòng trước sự thật về con người cần được thương xót, mới nhận ra Đức Giêsu Kitô, Dung Mạo đích thực và hoàn hảo của Chúa Cha giầu lòng thương xót ; chỉ những cuộc đời dấn thân phục vụ vì lòng thương xót, mới nhận được visa vào Vương Quốc Nước Trời dành sẵn từ thuở tạo thiên lập địa cho những ai có lòng xót thương anh em mình.
    Xin Đức Giêsu Kitô là Vua giầu lòng thương xót đón nhận chúng con làm công dân Vương Quốc Thương Xót của Ngài ngay ở đời này, và được hưởng phần thưởng đời sau trong Nước yêu thương đời đời dành sẵn cho những ai biết chạnh lòng xót thương.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2018

NGỠ NGÀNG ĐỜI TU



     Mừng lễ Đức Mẹ dâng mình trong đền thờ, thiết tưởng không gì ý nghiã hơn là suy nghĩ về những ngỡ ngàng của đời tu. Những ngỡ ngàng thánh thiện, hồn nhiên, khiêm hạ, nhưng không kém thách đố, hy sinh đã làm người tu mỗi ngày được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu hơn. 

     Đoạn Tin Mừng Luca 10, 1- 24 có thể được coi như tường thuật đầy đủ và chi tiết về sứ vụ truyền giáo của các môn đệ Đức Giêsu. Các vị “được Đức Giêsu sai đi cứ từng hai người một vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến” (Lc 10, 1); các vị được mời gọi phải cầu nguyện với Thiên Chúa Cha để “xin Ngài sai thợ ra gặt lúa về, vì luá chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít” (Lc 10,2); các vị được cảnh báo sẽ phải “đi giữa bầy sói và đừng mang túi tiền, bao bị, giầy dép” (Lc 10,4); các vị được báo trước sẽ được ân cần đón tiếp, nhưng cũng có thể bị ruồng rẫy xua đuổi (Lc 10,5.10); các vị được trang bị quyền năng của Thiên Chúa để chữa những người đau yếu và ơn Bình An để ban phát cho mọi người  (Lc 10,5.9); nhất là sứ điệp Tin Mừng để loan báo: “Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10,11). Và khi trở về sau những ngày đi truyền giáo, các vị đã không chỉ vui mừng vì thành qủa của sứ vụ, mà còn hân hoan vì tên mình được ghi trên trời (Lc 10,20), được biết những điều ngay cả bậc khôn ngoan thông thái cũng không được biết, được chúc phúc và nhận ra đặc ân của môn đệ Đức Giêsu (Lc 10,22-24).
   Không nói thì chúng ta cũng biết, các môn đệ đã đi từ ngỡ ngàng này đến ngỡ ngàng nọ, từ bất ngờ này đến bất ngờ kia, từ ngạc nhiên có thể hiểu được đến ngạc nhiên vượt xa tầm nghĩ.

1.         Ngỡ Ngàng trước sứ vụ:
   Các vị ngỡ ngàng, vì không hiểu gì trước sứ vụ được trao phó: Loan Báo Triều Đại Thiên Chúa sắp tới.
   Đây không phải là sứ vụ mà các vị mong đợi, cũng không là hy vọng các vị chờ đón, bởi tận thâm tâm và ngay trong sinh hoạt, các vị đợi chờ một sứ vụ hoàn toàn khác: sứ vụ thuần trần thế, vừa tầm tay, trong tầm ngắm, sứ vụ làm quan, làm lớn trong vương quốc trần gian mà các vị nghĩ sắp thành hình của Đức Giêsu.

2.      Ngỡ Ngàng trước phương án thi hành sứ vụ:
   Sứ vụ đã làm ngỡ ngàng, phương án thực hiện sứ vụ còn bất ngờ hơn, bởi không là phương án bình thường như phải có xe để đi công tác, có phương tiện vật chất đảm bảo, có bố trí, chuẩn bị gần xa; bởi không là cách thức của đời thường như phải đem theo lương thực cho mấy ngày đường, mà còn phải tiên liệu cho cả thời gian dài thi hành sứ vụ; bởi không như  suy tính của người thường trước khi đến đâu phải nghiên cứu, điều tra, xem xét kỹ lưỡng, thiết lập tương quan, xây dựng cơ sở vật chất đàng hoàng; bởi không như dự đoán thường tình là phải có lập trình, đồ án chính xác để không lâm vào tình trạng thiếu hụt làm dở dang dự án, đổ vỡ kế họach.

3.      Ngỡ ngàng trước rủi ro của sứ vụ:
  Các môn đệ không thể không thất kinh khi Đức Giêsu cảnh báo: “Anh em sẽ được sai đi như chiên con đi vào giữa bầy sói!” (Lc 10,3). Không con nào hiền hơn chiên con, và không thú nào dữ hơn chó sói, thế mà chiên con sẽ phải hiền lành, ngây thơ,  ngơ ngác đi giữa bầy sói dữ. Hình ảnh chiên và sói qúa tương phản đã đặt các môn đệ trước ngỡ ngàng đáng lo sợ, và các vị đã sợ hãi thật khi biết mình được sai đến những nơi đầy sói dữ này.
     Đó là ba ngỡ ngàng các môn đệ đã cảm nhận trước giờ lên đường truyền giáo. Những ngỡ ngàng này đã làm chao đảo các vị, bởi đây là lần đầu tiên được sai đi, và cũng là lần đầu tiên đối diện với một sứ vụ hoàn toàn không nằm trong mong ước, đợi chờ. Chắc chắn các vị đã không dấu được lo âu trên nét mặt, và trong lòng tất cả chung một ngại ngùng, xao xuyến đang chực thốt thành lời: Lậy Thầy, nếu khó và nguy hiểm  như vậy, thì làm sao chúng con dám?
    Đức Giêsu biết rõ tâm trạng của các vị, vì đó là tâm trạng bình thường của  người có  tâm lý quân bình: ngỡ ngàng trước điều mình không đợi chờ và lo sợ trước rủi ro được cảnh báo.
     Là Đấng sai đi, Đức Giêsu đã không để các môn đệ của Ngài dừng lại ở những ngỡ ngàng nhân loại này, nhưng dẫn các vị đến những ngỡ ngàng mới, những ngỡ ngàng hân hoan, phấn khởi, bình an và tràn đầy hạnh phúc của người được Thiên Chúa sai đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ: Thiên Chúa giầu lòng thương xót đã đến cứu độ dân Ngài.             
 
     Nếu ba ngỡ ngàng trên là phản ứng tự nhiên của “con người” môn đệ, thì những ngỡ ngàng sắp tới là hồng ân của Thiên Chúa trên những con người được chọn làm môn đệ:
3.1      Ngỡ ngàng với ơn Bình An:
  Đức Giêsu ban cho các môn đệ ơn Bình An của Ngài, để như món qùa qúy giá các vị sẽ ban lại cho tất cả những ai các vị sẽ gặp trên đường truyền giáo. Đây là món qùa từ Thiên Chúa, và là điều mọi người ước mong, tìm kiếm, bởi không gì qúy hơn Bình An, không gì đem lại hạnh phúc ngoài Bình An, không gì làm cho đời người có lẽ sống và ý nghiã, nếu không phải Bình An, và không gì làm hoan lạc tuổi xuân cuộc đời khác hơn Bình An.
      Được trang bị Bình An, các môn đệ phấn khởi, hạnh phúc  trong đại dương Bình An của Đức Giêsu.Vì thế, các vị đã mạnh dạn lên đường mà không còn nghi ngại, sợ hãi; ra đi mà không do dự, chùn bước, hoang mang.Với ơn Bình An, sứ vụ tuy cao cả, vượt sức người nay trở thành đích tới lý tưởng. Với ơn bình an, mọi rủi ro, đe dọa, cạm bẫy, cũng như sói dữ, rắn độc, con người nham hiểm không còn là chướng ngại cản lối người môn đệ, buộc trói bước chân người được sai đi.
3.2      Ngỡ ngàng với quyền năng của Thiên Chúa:    
    Cho đến lúc được sai đi, các môn đệ vẫn chỉ là những người đi theo Đức Giêsu vì một hoặc nhiều lý do mang tính trần thế nào đó, chứ chưa vị nào xác tín sứ vụ loan báo Tin Mừng sẽ được trao. Vì thế, khi trao sứ vụ, Đức Giêsu đã bảo đảm sứ vụ, bằng ban  cho các môn đệ Bình An và quyền năng chữa lành những người đau yếu trong thành (Lc 10,9), đạp lên rắn rết, bọ cạp mà không hề hấn, đuổi qủy trừ tà và chẳng thế lực Kẻ Thù nào có thể làm hại được  (Lc 10, 19).
     Trước quyền năng được ban, các môn đệ đã tin tưởng  lên đường và phấn khởi trở về khoe với Thầy mình: “Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma qủy cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10,17).  
3.3      Ngỡ ngàng với phần thưởng:
   Đức Giêsu không giấu diếm đặc ân và phần thưởng Thiên Chúa dành cho những người được Ngài sai đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần. Khi nghe các môn đệ kể chuyện hành trình truyền giáo, Đức Giêsu đã minh nhiên công bố phần thưởng Nước Trời cho các vị: “Anh em hãy vui mừng, vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).
     Còn phần thưởng nào lớn hơn phần thưởng Nước Trời; còn vinh dự nào cao qúy hơn vinh dự làm công dân Vương Quốc của Thiên Chúa; còn hạnh phúc nào vĩ đại hơn hạnh phúc làm con Thiên Chúa trong chính nhà Ngài!
    Nhưng phần thưởng không chỉ là phần thưởng của đời sau, đặc ân trên thiên đàng, công lênh sẽ nhận được sau khi chết, nhưng ngay bây giờ,trên dương thế này, trong cuộc sống hôm nay, môn đệ của Đức Giêsu được  biết những mầu nhiệm thuộc về Thiên Chúa mà người khác, dù khôn ngoan thông thái đến đâu cũng không biết được; được chia sẻ với Thiên Chúa những kho tàng vô cùng qúy giá mà người đời dù tiền rừng bạc bể cũng không thể chiếm hữu (x. Lc 10, 21).
     Và cuối đọan Tin Mừng, Đức Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy. Quả vậy, Thầy bảo cho anh em  biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Lc 10, 22-24).
    Vâng, đời tu là đời của những ngỡ ngàng: từ ngỡ ngàng của thân phận mọn hèn đến ngỡ ngàng của người được tuyển chọn lên hàng vinh phúc; từ ngỡ ngàng thuộc con người đến ngỡ ngàng làm bạn hữu của Thiên Chúa; từ ngỡ ngàng lạc lõng, bơ vơ đến ngỡ ngàng được gọi làm môn đệ; từ ngỡ ngàng tội lụy, bất xứng đến ngỡ ngàng được sai đi ban ơn Cứu Độ; từ ngỡ ngàng “thân con chỉ là tro buị” đến ngỡ ngàng biến thành Của Lễ đẹp lòng Chúa Cha; từ ngỡ ngàng là tội nhân đến ngỡ ngàng nhân danh Thiên Chúa giầu lòng xót thương để ban ơn thứ tha, hoà giải; từ ngỡ ngàng là người bé nhỏ, dốt nát, tôi tớ vô ích, mọn hèn đến ngỡ ngàng được ở trong hàng ngũ những người mà “Chúa Con muốn mặc khải cho” (Lc 10,22).
     Vâng, đời tu là đời của ngỡ ngàng từ khởi sự đến hoàn thành, ngỡ ngàng từ khởi điểm đến đích điểm của hành trình Ơn Gọi, bởi mỗi giây phút của đời tu là một mời gọi, mời gọi tín thác tuyệt đối nên không biết gì trước; mời gọi vâng phục tuyệt đối Thánh Ý, nên không toan tính, trù liệu bất cứ điều gì cho ngày mai; mời gọi hy sinh quên mình, nên không ngần ngại đi bất cứ đâu, lên đường bất cứ lúc nào, gặp gỡ bất cứ ai, và thi hành bất cứ sứ vụ nào được trao phó; mời gọi yêu thương đến cùng, nên sẵn sàng chết cho người mình được sai đến để yêu thương; mời gọi khiêm tốn phục vụ, nên không phân biệt, kỳ thị, loại trừ bất cứ đối tượng nào của Tin Mừng.
  Và như thế, đời tu sẽ mãi đẹp như giòng suối ngoan hiền theo tiếng gọi của Đại Dương mênh mông róc rách đến vô cùng vô tận một đời luôn ngỡ ngàng với hạnh phúc được sai đi, một tình yêu luôn ngỡ ngàng được trở nên giống người mình yêu mến, phụng thờ.
Jorathe Nắng Tím


  


Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

SỨ ĐIỆP CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

Mừng kính các thánh Tử Đạo, tất cả chúng ta không thể không nức lòng yêu mến và hãnh diện về gương sáng Chứng Nhân của các thánh cha ông. Các ngài qủa thực rất anh dũng, kiên cường trong gian khổ, cực hình, mà chỉ nghĩ đến cảnh giam cầm, tra tấn các ngài phải chịu, không ít người trong chúng ta đã phải rùng mình khiếp sợ, và nghĩ ngay đến yếu đuối, nhát đảm của mình. Vâng, yêu mến và hãnh diện là việc làm chính đáng, nhưng còn một việc tốt đẹp, bên cạnh những việc chính đáng mà chúng ta không thể bỏ quên, đó là lắng nghe sứ điệp của các ngài muốn trao gửi từng người chúng ta.

1.         Không thể dấn thân, hy sinh  đổ máu, mất mạng vì Đức Giêsu, nếu không có niềm xác tín: tôi đến từ Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa và phải trở về với Thiên Chúa.
     Đây là nền tảng của đức tin, ánh sáng soi dẫn tất cả mọi sinh hoạt, và động lực cho mọi chọn lựa của chứng nhânTin Mừng. Không xác tín đến từ Thiên Chúa, người làm chứng không tin mình được Thiên Chúa sai đi. Không tin mình được sai đi, thì làm sao có thể an tâm, mạnh dạn lên đường thi hành sứ vụ?
     Tin mình đến từ Thiên Chúa, nên thuộc về Thiên Chúa, và không thuộc về ai khác, để chứng nhân toàn tâm, toàn ý, toàn thân làm những gì Thiên Chúa muốn, loan báo những gì nhận từ Thiên Chúa, và say sưa kể cho mọi người công trình tốt đẹp của Ngài đã thực hiện, mà không chút e ngại, hổ thẹn, như người con hiếu thảo không xấu hổ khi nói với người khác về cha mẹ mình, dù các vị nghèo nàn, vụng về, quê mùa, thất học.
    Thuộc về Thiên Chúa, vì đến từ Thiên Chúa, chứng nhân biết mình sẽ không về với ai, sau khi chết, nhưng chỉ về với Đấng đã cho mình vào đời để làm người chứng. Về với người đã sai mình đi, chứng nhân không nghi ngờ mình được sai đi với sứ vụ làm chứng trong thế giới, dòng dã những năm tháng được sống làm người, và giá trị của đời sống từ đó được xây dựng.
     Sở dĩ chúng ta không làm chứng được, hay chỉ làm chứng khi mọi chuyện tốt đẹp, khi mọi người tung hô, ủng hộ, khi không có gì ảnh hưởng xấu trên uy tín, gia thế, công ăn việc làm là vì chúng ta thiếu niềm xác tín là người của Thiên Chúa. Và vì không tin tưởng mãnh liệt thuộc về Chúa, nên chúng ta vẫn muốn lang thang đây đó, lang chạ thần thánh này, giáo thuyết kia, lang bang bên trái bên phải tùy thời, tùy cảnh, để rồi Thiên Chúa cũng chỉ là một trong những đối tượng được tùy nghi chọn lựa, mà không bao giờ là đối tượng duy nhất và tuyệt đối.
      Như thế, xác tín đến từ Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa và trở về với Thiên Chúa càng sâu thẳm, thì khả năng làm chứng Thiên Chúa càng cao, và tinh thần sẵn sàng hy sinh hiến mạng vì Tin Mừng càng dứt khoát, mãnh liệt, dữ dội. 

2.         Chỉ có thể ở trên “đường ray” của Thiên Chúa, nếu tuyệt đối phó thác và vâng phục:
   Cuộc sống là những trồi sụt, lên xuống, gập ghềnh, xô đẩy của vô số biến cố vui buồn, thành bại, nên không phải lúc nào cũng  sốt sắng, nhiệt thành, hăng say; không phải lúc nào cũng dễ dàng vâng nghe, phục tùng quyền bính; không phải lúc nào cũng đẹp lòng, đẹp mặt; trái lại, ngày buồn nhiều hơn ngày vui, khổ đau nhiều hơn sung sướng, thất bại lấn chiếm thành công, nên nếu không giữ được “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” thì con người sẽ chỉ là nạn nhân đáng thương của cuộc sống, là “con tin” bất hạnh của thân phận làm người. Cái Tâm bất biến của chứng nhân, chính là lòng phó thác tuyệt đối vào sức mạnh toàn năng và ơn quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Người chứng luôn tín thác ở Đấng đã sai họ đi, và Ngài đã sai họ đi trong những hoàn cảnh “không có thể”, đến những địa chỉ “không có thể”, làm những công việc “không có thể”, bởi sứ vụ được trao phó tự thân là không có thể thực hiện với sức của con người. Chính vì luôn ở trong tình trạng bất lực trước những “không có thể”, mà người làm chứng Tin Mừng không còn khả thể nào để có thể tồn tại và làm việc, ngoại trừ lòng tín thác tuyệt đối vào Đấng mà không có gì là “không có thể” đối với Ngài. Tin Thiên Chúa là Đấng làm được mọi sự, và chỉ với tình yêu đã tạo thành tất cả từ hư vô, người chứng hồn nhiên phó thác tất cả trong tay Đấng họ phải làm chứng, Đấng sai họ đi làm chứng, Đấng dậy họ phải làm chứng thế nào.
     Một khi đã phó thác, người chứng không còn lo âu, sợ hãi bất cứ ai, hay điều gì, bởi họ đã chọn Chúa, thay vì chọn công việc, công trình, ngay cả đó là công trình, công việc của Chúa. Chúa không là công trình của Ngài, nên chọn Chúa, người chứng sẽ không bao giờ mất hướng đi, ngã lòng trông cậy, vì công trình của Chúa, công việc của Chúa có thể không được thực hiện, hay bị phá đổ, họ vẫn không chao đảo, chơi vơi, bởi chính Chúa mới là Đấng họ tín thác, trông cậy, và là nơi họ tìm đến nương náu, ẩn mình.
     Nhờ phó thác, và chỉ với tinh thần phó thác, người chứng mới có thể sống vâng phục, bởi vâng phục ai trước hết phải tin người đó thương mình, muốn xây dựng mình. Nhưng có chắc tất cả những người ta phải vâng phục đều thương ta và muốn xây dựng ta? Không ai dám bảo đảm điều này. Vì thế, nếu không có Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi cõi lòng bảo đảm; không có Thiên Chúa là Đấng toàn năng làm được mọi sư để long vâng phục không trở nên vô ích, nguy hiểm; không có Thiên Chúa là Đấng nắm giữ vận mệnh của từng người và giải quyết ruốt ráo mọi sự trong công bình, chính trực, chúng ta không thể vâng phục ai với tất cả tấm lòng.
    Các thánh cha ông đã tuyệt đối phó thác ở Thiên Chúa, nên đã vâng phục Bề Trên một cách trưởng thành và hiếu thảo. Đó là tinh thần vâng phục mà Đức Giêsu đã vâng phục Chúa Cha khi lên đường về Giêrusalem để chịu khổ hình và tử nạn.

3.         Khi đau khổ, thất bại là lúc Thiên Chúa hiện diện sống động và gần gũi nhất:
     Niềm an ủi lớn nhất của các thánh Tử Đạo là có Đức Giêsu ở với và đồng hành. Ngài là “người tôi tớ đau khổ của Giavê”, Thiên Chúa làm người bị loài người đả đảo, truy lùng, lên án, tra tấn, vác thánh giá, và chịu đóng đinh, chết tủi nhục. Quả thực, Thiên Chúa đau khổ đã ở với con người khổ đau; Thiên Chúa bị kết án oan uổng đã ở với con người bị lên án vô cớ; Thiên Chúa bị nguyền rủa vì lòng ghen ghét đã đồng hành với con người bị vùi dập vì lòng ghét ghen; Thiên Chúa bị ruồng rẫy, khai trừ đã chung số phận với người bị liệt vào hàng những kẻ đáng phải chết.
       Vì thế, các thánh Tử Đạo là những người giống Đức Giêsu chịu đóng đinh hơn ai hết, “đồng hình đồng dạng” hầu như hoàn hảo với Đức Giêsu vác thánh giá trên đường lên Núi Sọ, bởi không ai giống Đức Giêsu hơn những người đau khổ; không dung mạo con người nào giống dung mạo Đức Giêsu hơn con người bị vu khống, bách hại; không tâm hồn nào gắn bó kết hiệp với trái tim Đức Giêsu hơn tâm hồn người bị cắn xé, nghiền nát bởi chính anh em, người nhà mình. Các thánh Tử Đạo biết mình được nên giống Đức Giêsu trong đau khổ, ô nhục; biết mình được trui luyện trong thử thách, bách hại, đồng thời biết mình được “ở với và đồng hành” với Đức Giêsu, Thiên Chúa Cứu Độ trên từng bước của hành trình Thánh Giá, nên hân hoan đón nhận tất cả những gì thế gian dành cho người chứng của Thiên Chúa, như tù đầy, roi vọt, gươm đao, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp, và cái chết tang thương, bi thảm.
     Cuộc sống người Kitô hữu hôm nay cũng không thiếu khổ đau, thử thách. Có những khổ đau do những người, hay phe nhóm công khai chống phá Giáo Hội gây ra, nhưng cũng có những đau khổ do chính anh em trong cùng cộng đoàn, giáo xứ, giáo phận mang đến, và đau hơn cả là những bất công do chính cấp trên báng bổ trên mình. Vì thế, cuộc sống Kitô hữu là một cuộc tử đạo liên lỷ, không ngừng, với những thánh giá đủ thước cỡ, nhưng luôn cồng kềnh, nặng nề, khó vác.
      Với sứ điệp của các thánh tử đạo cha ông, xin cho chúng con niềm xác tín “hoàn toàn và mãi mãi thuộc về Chúa”, với ý thức “khi đau khổ là lúc Chúa hiện diện gần gũi, sống động nhất”, để trên mọi bước thăng trầm, giữa sóng gió thử thách, trong hoang mang, bấn loạn của cuộc đời Kitô hữu, chúng con vẫn một lòng phó thác và vâng phục Thánh Ý.
Jorathe Nắng Tím