Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2018

MỞ ĐƯỜNG, ĐÓNG ĐƯỜNG


    Ánh sáng là đặc điểm của Giáng Sinh, bởi ngay khi Hài Nhi Giêsu vừa sinh ra, các vì sao đã sáng lung linh cả trời Bêlem làm phấn chấn cõi lòng và khấp khởi bước chân của anh em mục đồng. Vì sao sáng ấy cũng xuất hiện bên trời phương Đông hướng dẫn ba nhà chiêm tinh suốt đường dài nhiều nguy hiểm, nhiều đe dọa. Ánh sáng chiếu soi, sao sáng dẫn đường, và tất cả những gì giữ chất sáng trong đêm Giáng Sinh đều mang chung một sứ mệnh hướng dẫn, huớng đạo, chỉ lối, mở đường.
     Trước hết thiên thần sáng láng đã chiếu toả ánh sáng huy hoàng "chung quanh các mục đồng và làm họ kinh khiếp hãi hùng". Nhưng  ánh sáng ấy trấn an họ ngay bằng Tin Vui được loan báo và đã hướng dẫn họ đến hang Bêlem để gặp Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của họ (Lc 2,8-16).  
   Tiếp đến là ánh sáng của ngôi sao Đấng Cứu Thế bên trời Đông đã chỉ lối đến Bêlem cho các nhà chiêm tinh.
   Cả hai nhóm người, tuy khác nhau từ mầu da, ngôn ngữ, trình độ, nghề nghiệp, vị thế xã hội, điều kiện kinh tế đến chính kiến, tôn giáo, nhưng đều thấy ánh sáng từ những vì sao, và được ánh sáng tận tình dẫn đường, tận tâm chỉ lối. Ánh sáng không phân biệt, kỳ thị, nhưng đơn sơ, hào sảng, thân thiện; không bới lông tìm vết, hạch hỏi, siêu tra, nhưng xóa tan bóng tối ngờ vực, hoang mang, đe dọa.
   Cả hai nhóm người cùng nhận những vì sao làm ánh sáng dẫn lối, chỉ đường, mà không nghi ngờ ánh sáng của vì sao, càng không nghi vấn địa chỉ vì sao  sẽ dẫn đến. Họ có cùng thiện chí, lòng thành và mức độ qủang đại cộng tác. Vì thế, họ đã đến được  Bêlem và gặp Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa làm người.
  Họ đã chân thành cộng tác bằng phấn khởi theo vì sao lên đường, để ánh sáng hoàn thành tốt đẹp sứ mệnh chỉ lối, mở đường và chính họ được tọai nguyện tìm thấy đường, gặp được lối. Họ còn làm chứng cho ánh sáng bằng "kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi.  Nghe các mục đồng thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên" (Lc 2, 17-18). Các nhà chiêm tinh thì một cách vô tình, nhưng hữu hiệu, đã làm cho vua Hêrôđê "bối rối và cả thành Giêrusalem xôn xao" (Mt 2,3).
   Thực vậy, vì sao Giáng Sinh đã chỉ đường dẫn lối, để muôn dân đến gặp Hài Nhi là Đường. Là Đường để Thiên Chúa đến và  ở với con người. Là Đường để con người gặp được Thiên Chúa. Con đường Thương Xót nối Đất với Trời, giao hoà Trời với Đất; con đường Thiên Chúa thương xót con người, và con người học thương xót nhau, để nên giống Thiên Chúa là Thiên Chúa của lòng thương xót, hầu được cứu độ (x. Mt 18,23-35).
    Trước con đường, nhiều người đã không lên đường, và cũng không muốn người khác lên đường. Họ cấm vận, ngăn cản, đặt nhiều chướng ngại vật chắn đường để không mấy người có thể vượt qua mà đi. Họ dùng quyền đặt ra vô số khoản luật, vô số điều kiện khó khăn để giảm bớt bao nhiêu có thể khách đi đường. Họ còn đe dọa, ngăn đe, trấn áp những người trên đường và tìm đủ cách để người đang đi trên đường ngã lòng bỏ cuộc.
   Trên đuờng, thì một số khác nuôi tham vọng độc quyền con đường, bằng tạo ra những hàng rào thuế má, trạm kiểm soát an ninh, gây khó khăn, bất mãn, thất vọng cho người đi đường. Mục tiêu của họ là biến con đường thành sở hữu yên tĩnh, không người  đi kẻ lại ồn ào, phiền phức.
  Trên đường cũng có những người tuy lên đừơng, nhưng không đồng hành cùng mọi người đến đích. Trái lại, họ quanh quẩn trên đường để chen lấn, xô đẩy, gây sự, kiếm chuyện với người đi đường, vì tâm trạng bất an, luôn bực bội với mọi người. Họ là những người cản lối, bít đường và chỉ hài lòng khi con đường trở thành "đường đi không đến".
   Là người Kitô hữu, chúng ta đang đi trên con đuờng có Đức Kitô, con đường của Đức Kitô, đúng hơn là con đường Kitô, con đường thương xót của Thiên Chúa giầu lòng xót thương.
    Đi trên con đường Thiên Chúa, nhưng có khi  nào chúng ta nhìn lại bước chân đang đi của mình?
    Nhìn lại để biết mình có thể đang đi theo quán tính, đi một cách vô tâm, vô tình, vô thức; đi mà chẳng biết đi về đâu. Nhìn lại bước chân để xem bước chân mình có giống bước chân các mục đồng, bước chân  của ba nhà chiêm tinh hăm hở, hân hoan tìm về Bêlem để được gặp Đấng Cứu Độ, Thiên Chúa của niềm vui, Ánh sáng  bình an của toàn thể nhân lọai ?
   Nhưng điều ta cần xem lại trước tiên chính là thái độ của ta đối với con đường và với những người muốn tìm đuờng, muốn lên đường, muốn được đồng hành trên đường.
   Với ánh sáng Noel, ta soi mình để thấy mình có hao hao giống Hêrôđê khi cản lối, ngăn đường, tệ hơn nữa đã giận dữ, căm phẫn, hung hãn ra lệnh triệt phá Đường, và giết hết người đi đường. Ta cũng hãy khiêm tốn nhìn mình trong gương của thượng tế và kinh sư để xem mình có giống họ trong thái độ đóng đường, chặn lối những người thiện chí đang miệt mài  kiếm đường, tìm lối?
    Vâng, "tôi nhìn tôi trên vách", hay "soi bóng mình trong gương" cũng đều nhận ra mình đã đóng đường nhiều hơn mở đường, cấm vận nhiều hơn khai thông. Vì ích kỷ, cục bộ; vì bảo vệ quyền bính, cơ chế; vì cần làm nổi bật "cái tôi"; vì gương mù, gương xấu và tìm an thân, hưởng thụ, tôi đã không chỉ cho ai con đường, không giúp ai tìm thấy đường, nhưng đánh lạc hướng, chỉ sai đường, có khi còn đào hố, đắp mô khiến giao thông trên đường bị ngưng trệ, tắc nghẽn để trục lợi.
   Ước mong ánh sáng Giáng Sinh giúp chúng ta ý thức ơn gọi là ánh sáng của mình, ánh sáng từ cây nến Phục Sinh chúng ta đã nhận ngày chịu phép Rửa Tội. Ánh sáng của con Thiên Chúa ấy phải tỏa sáng cho mọi người lòng thương xót của Thiên Chúa là con đường Thiên Chúa đến với nhân lọai, và cũng là con đường mỗi người phải đi, phải giúp người khác đi, và cùng đi với người khác, mà không đóng đường, phá đường, cản trở giao thông trên đường, bởi Đức Giêsu chính là Đường, Đường Thương Xót, và chỉ trên Con Đường Thương Xót với mọi người, chúng ta mới được Thiên Chúa xót thương cứu độ.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

HỒNG ÂN VÀ CẢM TẠ



Vẫn biết “Tất cả là hồng ân”, vì đời ta có gì là tự ta mà có, có gì một mình ta mà hoàn chỉnh ? Nhưng đôi khi cũng vì dễ dãi cho rằng “Tất cả là hồng ân “mà ta lại lơ là, chẳng quan tâm đủ đến bổn phận cảm tạ. Thực vậy, mở mắt hay nhắm mắt, thức hay ngủ, làm việc hay nghỉ ngơi, sốt sắng-thánh thiện hay khô khan-tội lỗi, khỏe mạnh hay yếu đau ta đều nhận ra hồng ân Chúa bao phủ, chở che. Chỉ riêng hồng ân được sống và không phải chết bất đắc kỳ tử trong tình trạng tội lỗi cũng đã là dấu chỉ đặc biệt của tình Chúa bao la, nhân hậu dành cho ta. Cũng có lúc thất bại, lao đao, ta liều lĩnh nghĩ Thiên Chúa không thương ta, nhưng rồi biển tình bao la, đại dương thương xót vô bờ bến lại ngọt ngào nhắc nhở: Chúa vẫn luôn thương ta và “tất cả đời ta là hồng ân”.
   Bơi lội trong hồng ân, tắm gội trong ơn phúc, ta phân vân không biết phải trả ơn , cảm tạ, đáp đền thế nào cho đẹp lòng Chúa. Và phần đông chúng ta đã chọn việc đi lễ, đọc kinh như cách cảm tạ trọn vẹn. Chọn lựa trên không sai, nhưng chưa đủ. Không sai vì Thiên Chúa rất đáng chúng ta tôn thờ, phụng sự và đọc kinh, cầu nguyện, đi lễ là việc phải làm như bổn phận của con cái hiếu thảo đối với cha mẹ, cũng là nghĩa vụ của thụ tạo đối với Đấng Chủ Tạo. Nhưng không đủ, vì ngoài bổn phận trên, chúng ta còn một lệnh truyền khác không thể bỏ qua, sao nhãng. Đó là thực thi Đức ái đối với anh em .
1. Thực thi Đức Ái là Cảm Tạ xứng đáng, vì là điều Chúa muốn: 
Làm vui lòng ai là thực hiện ý người ấy, mà Thánh Ý Thiên Chúa là : "chúng con hãy yêu thương nhau". Hơn thế nữa, Đức Giêsu đã coi đó là lệnh truyền: “Thầy truyền cho chúng con một giới răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương chúng con” ( Ga 15, 12).
2. Thực thi Đức Ái là Cảm Tạ tuyệt vời, vì Thiên Chúa đã tự đồng hóa mình với con người. 
Tin Mừng nhiều lần khẳng định: "Những gì ngươi làm cho những anh em bé nhỏ nhất là ngươi làm cho chính Ta" (Mt 25,40). Làm cho người khác mà lại là làm cho Thiên Chúa thì chỉ có ở Thiên Chúa của Đức Giêsu. Yêu mến, phục vụ tha nhân mà được nhận là yêu mến và phụng sự Thiên Chúa thì chỉ có thể thực hiện trong Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người. Đây là mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người khi Thiên Chúa đã không chỉ làm người, mà còn nhận hết những gì con người làm cho nhau là làm cho chính mình, đến cả việc cảm tạ, tri ân chính ra phải được dành riêng cho Ngài, thì Thiên Chúa cũng muốn được thực hiện qua con người.
3. Thực thi Đức Ái là Cảm Tạ đẹp lòng Thiên Chúa, vì khi yêu thương anh em, chúng ta được nên hoàn thiện như Cha chúng ta : 
Đức Giêsu đã chỉ cho ta phương cách để nên hoàn thiện, khi bảo ta phải yêu thương cả kẻ thù: “Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế đã chẳng làm như vậy sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? "Vậy anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện" ( Mt 5, 46-48). Như thế, hoàn thiện như Thiên Chúa muốn là yêu thương không chỉ anh em mình, mà còn yêu thương cả kẻ thù, đối phương. Do đó, cách cảm tạ Thiên Chúa tuyệt vời, xứng đáng và đẹp lòng Ngài hơn cả chính là yêu thương con người. Yêu thương con người gồm hết mọi con người, bất kể họ là ai, cho dù là kẻ thù, người làm ta khốn khổ. Yêu thương con người là tha thứ lỗi lầm của mọi người, dù lỗi ấy là lỗi nặng, tội ấy là tội tầy trời. Yêu thương con người là phục vụ con người, như phục vụ Thiên Chúa, nhất là những người hèn mọn, kém cỏi. Yêu thương con người là nhìn thấy Thiên Chúa trong con người khi chia sẻ, phục vụ con người.
    Tóm lại, Thiên Chúa chọn con người, đặc biệt những con người bé nhỏ là hiện thân sống động của Ngài, là địa chỉ nơi Ngài cư ngụ, là đền thờ, ở đó Ngài được cảm tạ, tôn vinh, nên chúng ta không yêu mến và phục vụ con người như Thiên Chúa muốn, thì việc cảm tạ hồng ân Thiên Chúa của chúng ta sẽ chỉ là những cảm tạ xáo rỗng, hời hợt, nếu không muốn nói là giả tạo, hão huyền, "vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" (1Ga 4, 20). Thánh Giacôbê còn nhấn mạnh : "Đức tin không có việc làm là Đức tin chết" (Gc 2, 27), vì nếu chỉ tin thôi, mà không hiện thực Đức tin bằng hành động yêu thương tha nhân, thì ma quỷ cũng làm được, vì chúng cũng tin Thiên Chúa (x. Gc 2, 19), nhưng không yêu mến Ngài. Thực vậy, vì Thiên Chúa thiêng liêng, vô hình, nên Ngài dùng con người để thể hiện tình yêu của Ngài đối với con người và qua con người, Ngài muốn con người tỏ lòng yêu mến và cảm tạ Ngài. Con người trong Đức Giêsu được cất nhắc một cách nhiệm lạ khi Thiên Chúa tự nguyện làm người và tự đồng hoá mình với con người, ngay cả trong việc tôn vinh, cảm tạ mình. Giáng Sinh về, lại một lần nữa Thiên Chúa tỏ tình yêu vô cùng của Ngài cho nhân loại. Trong vô cùng của tình yêu, Thiên Chúa đã làm người để con người được làm Thiên Chúa, như thánh Irênê đã viết, nhờ đó chúng ta được cảm tạ hồng ân Thiên Chúa qua việc làm của Đức Ái chúng ta thực hiện cho nhau. 

Jorathe Nắng Tím


BÌNH AN CỦA ĐỨC GIÊSU


Giáng Sinh với đêm An Bình, mùa Bình An, và người người chúc nhau Noel Thanh Bình, như tiếng hát các thiên thần : “Bình An cho người thiện tâm dưới thế”.
     Nhưng có thực mọi người đều khao khát an bình, tìm kiếm bình an ?
   Vẫn biết bình an là đỉnh cao tuyệt vời của hạnh phúc, và là ước mơ, lý tưởng của mọi người, nhưng lý tưởng và ước mơ bình an ấy thường rất xa đời thường, và  thực tế sống.

1.   Bình an  xa đời thường vì bình an không là sản phẩm một mình riêng lẻ, dễ mua, dễ bán.
a.     Không là sản phẩm riêng lẻ, vì bình an là hoa trái của sự thật .
   Bình an không bao giờ đứng một mình, cũng không tự mọc lên, nhưng được  thai nghén, nẩy mầm, vun xới, lớn lên và sinh hoa kết trái nhờ sự thật. Thiếu sự thật, bình an tắt thở tức khắc, như con người thiếu khí thở. Người gian dối, lưu manh làm sao có được giấc ngủ bình an? Người mưu mô, xảo quyết làm sao có được một ngày an bình? Người xa lạ với sự thật của chính bản thân làm sao có được lương tâm thanh thản? Người bịp bợm, lừa đảo làm sao có được một  không gian tương quan vui vẻ, thân tình với người chung quanh? Trái lại, vắng bóng sự thật, người ta bất an, lo sợ; thiếu sự thật, tâm hồn rối loạn; từ chối sự thật, cuộc sống bất ổn, nặng nề, đe dọa.

b. Không là sản phẩm riêng lẻ, vì bình an là kết qủa của tình yêu quên mình:
     Thiếu sự thật, không có bình an đã đành, nhưng ngay cả có sự thật, mà thiếu tình yêu quên mình vì người khác, bình an cũng không thể tồn tại. Nhiều người sống thành thật, không ăn gian nói dối, nhưng lại ích kỷ, chỉ biết mình mà không hề nghĩ đến ai, họ cũng không có được bình an đích thực như hạnh phúc tuyệt vời, bởi bình an, ngoài điều kiện ở trong sự thật, còn đòi ở trong tình yêu quên mình.
 Sở dĩ, bình an đòi một tình yêu vị tha, là vì bình an không là một trạng thái tĩnh, một hiện trạng không thay đổi, nhưng bình an là một hướng tới tuyệt đối, một gặp gỡ vượt thời gian và không gian, một “ra khỏi” những gì hữu hình và có thể nắm bắt để đạt tới huyền nhiệm vô hình. Bình an đích thực không luôn hệ tại ở những gì đang có, đang nắm bắt, nhưng đóng chốt và được bảo kê ở những việc làm của tình yêu quên mình, và thành qủa của tình yêu hy sinh vì người khác, bởi chỉ trong những thể hiện cụ thể của tình yêu vị tha, chủ thể mới cảm nghiệm và hiểu được hết ý nghiã và giá trị của bình an. Nói cách khác, bình an là hạnh phúc đích thực chỉ dành cho những trái tim yêu thương con người, bởi chỉ qua tình yêu nơi con người, bình an mới lớn được và đơm hoa kết trái.   
 Đây chính là mầu nhiệm của Bình An, và vì  là mầu nhiệm, nên không mấy người đã có được bình an đích thực. Đó cũng là lý do Đức Giêsu đã khẳng định : “Thầy ban bình an của Thầy cho chúng con, bình an mà thế gian không ban được” (Ga 14,27).
Thế gian không ban được, vì bình an đòi những điều kiện mà thế gian không có, không thể đáp ứng:
  Bình an đòi sự thật, nhưng thế gian thích dối gian, vì dối gian dễ thành công, móc ngoặc dễ làm giầu, tham nhũng dễ  thành đại gia, dễ có biệt phủ, dễ có dinh cơ ở nước ngoài. Bình an đòi công bình, chính trực, nhưng  trong cái thế gian chúng ta đang sống: gian từ trên xuống dưới, gian từ trong ra ngoài, gian từ già đến trẻ, gian từ thôn làng đến tỉnh thành, gian từ học đường đến sòng bạc, gian từ chuyện nhỏ đến việc lớn, gian từ chuyện phòng the vợ chồng đến việc quốc gia đại sự thì hỏi làm sao người công chính “có số, có cửa” để ra vào bình an, và sống đời  hạnh phúc?  Sự thật đã vô phúc biến thành xa xỉ phẩm, hàng hiệu xách tay, động vật qúy hiếm trong cái thế gian không phải ngày càng gian, nhưng là ngày càng qúa gian này. Vì thế, bình an rất khó có thể chen chân tìm được chút đất để cắm dùi, hầu được tồn tại trong tâm hồn nhiều người.
 Bên cạnh đó, bình an đòi yêu thương tha nhân, thì thế gian nhận ra một điều trái ngược: yêu ai thì cũng chỉ là thiệt thòi, thương ai thì cũng chỉ lỗ vốn, giúp đỡ ai rồi cũng bị phản bội, vô ơn, nuôi ong tay áo, thế nên tốt nhất và an toàn hơn cả là chẳng nên liều lĩnh yêu thương ai, chỉ thương yêu mình. Thế gian không thích yêu thương người khác, vì cái thế gian ích kỷ, ganh ghét này xếp người khác thành ba loại với ba kiểu cư xử “khác tên nhưng cùng họ”: người thấp kém hơn thì khinh; người ngang cơ thì ghét; người vượt trội thì ganh. Cuối cùng, thế gian gồm toàn “hỏa ngục là người khác”, bởi người khác ta không khinh, thì cũng ghét, không ghét thì cũng ganh, nên chẳng bao giờ có bình an trong hỏa ngục, vì hỏa ngục là tình trạng hoàn toàn vắng bóng yêu thương.
 Đó là chưa kể bạo lực, hậu qủa tất yếu của ganh ghét, ích kỷ không ngừng tiêu diệt, phá hoại  bình an. Cũng như kinh nghiệm của số đông sống trong thế gian này, bạo lực cũng được nhận là phương tiện hữu hiệu để thành công, nếu hiểu thành công là có quyền lực để thống trị, nắm đầu nắm cổ, khống chế, sai phái người khác phục vụ, thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình. Trong xã hội bạo lực, người ta không chỉ quen thuộc với bạo lực, nhưng còn tìm đến để thân thiện và sống bạo lực như một cách sống thức thời của người biết sống. Hơn nữa, vì bạo lực giúp người ta giải quyết nhanh chóng, gọn nhẹ nhiều việc, nên làm gì người ta cũng nghĩ ngay đến bạo lực như giải pháp tối ưu. Cũng thế, bạo lực giúp mau thăng quan tiến chức, nên đường tiến thân rất khó tránh khỏi việc sử dụng thủ đọan bạo lực. Sau cùng, vì trong xã hội bạo lực, chỉ bạo lực mới bảo vệ hữu hiệu sự an toàn của bản thân, nên bạo lực nghiễm nhiên trở thành bùa hộ mệnh toàn năng của mọi người, và theo logic này, thì giữa xã hội bạo lực, người chất phác, hiền lành trở thành mồi ngon cần phải nuốt, nên chẳng mấy ai dám sống khiêm nhu, hiền lành, nhân hậu.

2.  Bình An là Hồng Ân của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người:
  Có được bình an đích thực tận đáy sâu tâm hồn giữa một xã hội đầy gian dối, ích kỷ, ganh ghét, bạo lực là điều không tưởng, bởi một lý do rất đơn giản:  không ai có thể đảm bảo được bình an.
   Thực vậy, ở giữa bầy sói dữ, thì dù bạn có khao khát bình an đến đâu, thống thiết nài xin cho mình được bình an đến cỡ nào, thì bầy sói đói cũng không tha mạng bạn. Cũng vậy, nếu không có Đức Giêsu, Thiên Chúa là Tình Yêu, Sự Thật thì chúng ta không thể sống, vì đời sống là hỏa ngục, mà hỏa ngục là sự chết.
  Hoả ngục là sự chết bởi nơi đó chỉ còn dối trá, ganh ghét, hận thù, tiêu diệt. Sống hoả ngục tất nhiên không thể được gọi là sống, bởi chính là sự chết, khi mục đích của đời sống con người là hạnh phúc không có.
 Chính vì con người cần được bình an như hạnh phúc để đời sống làm người có ý nghiã, mà Đức Giêsu đã nhập thể, nhập thế làm người, hầu làm chứng cho Sự Thật và Tình Yêu là điều kiện không thể thiếu của Bình An, hạnh phúc tuyệt vời của con người.
  Làm chứng Sự Thật về Thiên Chúa, và về con người, Đức Giêsu đã đến thế gian với Bình An của sự thật  trong đêm Giáng Sinh. Tiếng hát các thiên thần mang tin vui cho nhân loại:  từ nay con người có Đấng là Ơn Bình An bảo kê cho bình an của họ. Những người thiện tâm, yêu mến sự thật, tìm kiếm sự thật không còn sợ bị thế gian nghiền nát, nuốt trửng, nhưng đứng về phiá Đức Giêsu, Vua Sự Thật, đồng thời là Vua Bình An để được bình an đích thực và viên mãn, dù sự thật có làm họ phải lao đao, vất vả, khổ đau. Được đứng về phiá Thiên Chúa của Sự Thật và Bình An như Đức Giêsu đã hứa (Ga18,37), chắc chắn chúng ta không sợ ai, sợ gì, như thánh vịnh 27 qủa quyết:

  “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ tôi, tôi còn sợ người nào?
   Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa?” (Tv 27,1).
 Làm chứng cho sự thật, Đức Giêsu còn đến làm chứng Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người, và tình yêu con người phải dành cho nhau. Vì thế, Đức Giêsu  không chỉ là đảm bảo của Bình An, mà là Ơn Bình An, hoa trái đích thực của Tình Yêu Ngài dành cho nhân loại, khi  hiến mạng sống trên thánh giá làm giá cứu chuộc mọi người. Thánh Gioan, chỉ trong một đọan ngắn gồm mười câu, từ câu 19 đến 29, khi tường thuật Đức Giêsu hiện ra sau khi sống lại với các môn đệ đã nhắc đi nhắc lại đến ba lần lời chúc: “Bình An cho anh em” (Ga 20,19.21.26) của Đức Giêsu Kitô phục sinh.
 Như thế, Bình An chúng ta nhận được từ Đức Giêsu là Bình An được nẩy mầm, lớn lên, sinh hoa trái nhờ đất Sự Thật và nước Tình Yêu. Là Sự Thật và Tình Yêu, Đức Giêsu chính là Sự Sống bình an của tất cả những ai đi theo và nghe tiếng  Ngài. 
Noel về, xin Bình An cũng đến với mọi người, mọi nhà, dù Bình An ngày càng bị nhiều người “không có lòng ngay” cấm cách, phá hoại, hủy diệt; dù Bình An ngày càng qúy hiếm, khó tìm, khó gặp trong một xã hộo ngập tràn bạo lực; dù thân phận người hiền lành, yêu chuộng và xây dựng hoà bình không lúc nào bị khinh khi, tẩy chay, đe dọa bằng lúc này, khi “xã hội thế gian” không còn tin vào giá trị giải phóng của Sự Thật và sức mạnh đổi mới của Tình Yêu. Và để được Ơn Bình An của Thiên Chúa giáng sinh ở cùng, với tâm hồn đơn sơ, ngay thẳng, hiền lành, chúng ta xin được đứng hẳn về phiá Hài Nhi Giêsu là Tình Yêu và Sự Thật cứu rỗi, là Ơn An Bình viên mãn của Thiên Chúa Ba Ngôi.   
Jorathe Nắng Tím

ĐÔI MẮT ĐÊM NOEL


Hạnh phúc của tôi trong đêm Giáng Sinh là nép mình  sau hang đá để được chiêm ngắm đôi mắt của rất nhiều người  đến cầu nguyện trước Chúa Hài Đồng, và đôi mắt của ai đêm ấy cũng đẹp, cũng lung linh thánh thiện, trong vắt một niềm vui Bình An.
   Qủa thực, cách đây hơn hai ngàn năm, trong đêm Giáng Sinh ở Bêlem đã có những người đến gặp  Chúa Hài Đồng cũng với đôi mắt trong vắt, thánh thiện và bình an như thế.
    Tin Mừng kể lại : “Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần đến bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người  là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,8-12).
  Trước hết, anh em mục đồng đã thấy vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh họ. Giữa đêm khuya mà thấy được vinh quang Chúa là chuyện hiếm có, khó xẩy ra, vì  ai cũng buồn ngủ nên mắt nhắm nghiền, nếu không buồn ngủ hoặc đang phiên trực thì mắt cũng nhắm để đó, tội gì phải căng tròng thao láo cho mệt.
    Những đôi mắt đơn sơ của những tâm hồn nghèo khó, chất phác, hiền lành đêm ấy đã thất kinh sợ hãi, vì chưa bao giờ thấy ánh sáng “sáng” như thế, chưa bao giờ thấy cảnh tượng huy hoàng như vậy. Khiếp hãi, thất kinh nhưng không hoang mang, chạy trốn. Trái lại, với đơn sơ của tâm hồn, ngay thẳng của lương tâm, anh em mục đồng đã thấy trong ánh sáng huy hoàng con đường của Tin Mừng.Và ngay lập tức, họ đã cùng nhau lên đường.
  Ở hang Belem, cũng những đôi mắt đơn sơ, hiền lành ấy đã thấy một “hài nhi sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”.Nhưng điều quan trọng hơn cả là những đôi mắt ấy đã thấy Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ nơi hình hài trẻ sơ sinh, điều mà không phải mắt nào cũng thấy được.
  Sở dĩ các mục đồng đã thấy, vì họ có đời sống trong sạch của người nghèo. Người nghèo thì trong sạch, bởi đầu óc người nghèo không mưu mô, thủ đọan; miệnglưỡi người nghèo không điêu ngoa, lọc lừa; trái tim người nghèo hay chạnh lòng thương xót, vì thấu hiểu nỗi đau và tủi nhục của phận nghèo; tay người  nghèo luôn quảng đại hơn người giầu, vì chẳng có gì ki bo, chắt bóp, giữ lại cho mình; bàn chân người nghèo quen dầm sương dãi nắng, nứt nẻ,  chai sạn, nên sẵn sàng lên đường và không ngại đi bất cứ đâu. Và tất nhiên, đôi mắt trong sáng của tâm hồn trong sạch nơi các mục đồng nghèo khó ấy đã cho họ được thấy Thiên Chúa (Mt 5, 8).
    Là những người đầu tiên, sau cha mẹ  Đức Giêsu, được thấy Thiên Chúa làm người, các mục đồng là những người được Thiên Chúa tuyển chọn và yêu thương đặc biệt (Mt 11, 25).Chính  cuộc sống đơn nghèo và tấm lòng trong sạch đã cho anh em mục đồng có được đôi mắt của Thiên Chúa, để có thể thấy Thiên Chúa bị che khuất bởi hình hài “trẻ thơ bọc tã, nằm trong máng cỏ” rất cô thế, nghèo hèn, yếu đuối. Với đôi mắt thánh thiện của người thiện tâm, các mục đồng đã thấy Thiên Chúa trong con người, đã nhận ra Thiên Chúa toàn năng và vinh quang của Ngài nơi con người yếu đuối, bé nhỏ, bị bỏ rơi, quên lãng. Đôi mắt mục đồng ấy, vì mang thánh thiện của Thiên Chúa, nên thân thiện với  mọi người, nhất là những người không được ai yêu thương, và những ai bị coi là tội lỗi. Đôi mắt mục đồng có Thiên Chúa ấy biết ngưỡng mộ không những trước Thiên Chúa và kỳ công của Ngài, mà còn trân qúy, chiêm ngắm con người, là kỳ công tuyệt hảo, vì mang hình ảnh của Thiên Chúa.
     Bên cạnh anh em mục đồng với đôi mắt trong vắt bình an của tâm hồn đơn sơ, hiền lành là đôi mắt của các nhà chiêm tinh từ phương Đông. Tin Mừng kể: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem.., có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mớI sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Ngài xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lậy Ngài” (Mt 2,1-3).
   Các nhà chiêm tinh đã thấy được vì sao của Đức Giêsu  xuất hiện bên phương Đông, nơi các vị ở, vì đôi mắt của các vị tuyệt vời khiêm tốn. Các vị đã tuyệt vời khiêm tốn, khi không cho mình là Sao, nên thấy được ngôi sao của Đức Giêsu; không cao ngạo coi mình là Sao, nên mới thấy được vì sao Cứu Độ của Đấng Cứu Thế; không tự phụ là Siêu Sao, nên mới thấy được muôn muôn triệu vì sao trên trời; không kiêu hãnh  xưng mình là Sao, nên mới cất công lên đường đi tìm Ngôi Sao Thiên Chúa, Ánh Sáng muôn dân.
   Không như đôi mắt kiêu căng, nhưng mù loà của vua Hêrôđê đã không thấy gì hết, dù Đấng Cứu Thế sinh ra ngay Bêlêm, trên lãnh thổ của ông, rất gần ông. Cả đến các kinh sư, cố vấn của vua cũng không hề hay biết, dù trong sách ngôn sứ đã loan báo: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2,6).  
  Khác với đôi mắt thiện tâm, đi tìm chân lý của các nhà chiêm tinh, Hêrôđê có đôi mắt gian ác, với dã tâm đánh lừa các nhà chiêm tinh và dụ họ trở lại gặp ông, sau khi đã tìm thấy Hài Nhi, để ông biết  đích xác nơi sinh ra, rồi hạ lệnh giết chết Hài Nhi, tránh hậu họa mất ngôi (Mt 2,7-8). Nhưng ý đồ đen tối của vua đã không được thực hiện, vì trong giấc mộng, các nhà chiêm tinh đã được báo đừng trở lại Giêrusalem gặp vua Hêrôđê nữa (Mt 2, 12).
   Với đôi mắt khiêm tốn và khao khát tìm kiếm chân lý, các nhà chiêm tinh đã thấy sao của Thiên Chúa chỉ đường, và họ đã thấy Thiên Chúa làm ngươi, vừa sinh ra ở Bêlem.
   Thực vậy Tin Mừng chỉ kể có hai nhóm người đã đến Bêlem gặp Hài Nhi Giêsu vừa sinh ra: các mục đồng nghèo khó, chất phác đang canh giữ chiên cừu trong vùng, và các nhà chiêm tinh thông thái, có tiền của, chức phận từ phương xa. Cả hai nhóm tuy không cùng thành phần xã hội, nhưng cùng có lòng ngay, cùng trái tim trong sạch và đôi mắt trong vắt bình an của người thiện tâm. Vì thế cả hai đã được thấy dấu hiệu của Thiên Chúa và đã thấy chính Thiên Chúa làm người trong Đức Giêsu tại Bêlem.  
  Với tôi, Giáng Sinh về cũng là dịp  xem lại đôi mắt của mình, để thấy mắt mình còn qúa vẩn đục vì ích kỷ, ganh ghét, hận thù; qúa mờ đục vì ngạo mạn, kiêu căng; qúa ngầu đục vì đủ thứ tham vọng, nhất là tham vọng quyền bính. Vì cái tôi qúa vĩ đại, cái tôi Siêu Sao, cái tôi là tất cả chân lý, nên không ai, không sự gì có giá trị hơn “cái tôi”, kể cả Thiên Chúa. Chính vì thế, đôi mắt của tôi không còn nhìn thấy gì khác, ngoài “cái tôi” vốn mãi giới hạn, nghèo nàn, tội lỗi, nhưng lại ngạo mạn che khuất cả Thiên Chúa và anh em đồng loại.
    Không nhìn thấy ai ngoài mình, tôi sẽ chẳng có đôi mắt thân thiện để gặp gỡ, yêu thương, cảm thông, chia sẻ; chẳng có đôi mắt ngỡ ngàng, ngưỡng mộ, trân trọng việc làm, công trình, giá trị của bất cứ người nào; càng không ngay thẳng nhận ra sự thật ở mình và người khác, nhưng tệ hại hơn  là ảo tưởng mình là siêu sao thánh thiện để rồi suốt đời “không thấy được và không được thấy” vì sao của Thiên Chúa, cũng như chính Ngài, bởi chỉ có những tâm hồn trong sạch, khiêm tốn mới được nhìn thấy Thiên Chúa; chỉ đôi mắt trong vắt của người  nghèo được Chúa thương, đôi mắt khiêm nhường của người khát khao tìm Chân Lý, đôi mắt bình an của người thiện tâm mới được thấy Thiên Chúa và vinh quang của Ngài.
   Ước gì những đôi mắt đẹp, trước Hang Đá mà tôi được diễm phúc chiêm ngắm trong đêm Noel sẽ mãi trong vắt bình an như đôi mắt các mục đồng, và khiêm tốn an bình như đôi mắt các nhà chiêm tinh, vì được nhìn thấy “Thiên Chúa giáng sinh làm người”.
Jorathe Nắng Tím    

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018

NỢ ĐỜI

Cuối năm là lúc tính sổ để đòi nợ, trả nợ. Chủ nợ  thì tìm gặp con nợ, con nợ thì ngại ngùng né tránh, năn nỉ khất lần. Và ít khi nợ nần được thanh toán gọn nhẹ, sòng phẳng, vui vẻ giữa hai bên. 
Có nhiều món nợ, từ nợ tiền đến nợ tình, nợ cơm gạo đến nợ nhà đất, nợ danh dự đến nợ ơn nghĩa. Nhưng trong tất cả, nợ tình, nợ ơn nghĩa là món nợ vừa nặng nhất vừa nhẹ nhất. 
Nợ tình nhẹ với người vô ơn, vô tình; nợ ơn nghĩa nhẹ với người vô cảm, vô tâm vì họ coi nhẹ ân sâu nghĩa nặng, xem thường giá trị tình cảm, và dửng dưng với giá trị các tương quan. Người coi nhẹ nợ tình thường là người kiêu căng, bất cần đời, nên bất cần cả những người dầy công khó nhọc xây dựng cuộc đời mình. Họ cũng là người gian dối và bất công khi phủ nhận người ơn bằng xoá hẳn hình bóng họ trong đời. Vì coi nhẹ nợ tình nên họ không nặng lòng hay quan tâm đến chuyện thanh toán, trả nợ, và nợ tình với họ đương nhiên trở thành món nợ không cần phải trả, cũng chẳng cần phải nghĩ ngợi, phân vân. 
Trái lại nợ tình là món nợ rất nặng đối với  những con người tử tế, cao thượng. Họ ý thức nợ tình là món nợ nặng nhất, khó trả nhất mà đã làm người thì không ai không mang. Nợ cha mẹ tình yêu sinh thành, dưỡng dục; nợ đất nước quê hương, họ hàng gia tộc; nợ thầy cô, bạn hữu, và ân nhân đã cứu giúp mình trong đủ hoàn cảnh, tình huống. Ngoài ra, còn những mối tình ăn rễ sâu trong đời và làm thay đổi cả cuộc đời, như những mối tình duyên nợ vợ chồng, tình nhân ... 
Người nặng lòng với nợ tình không xem thường ân nghĩa đã nhận, không coi điều tốt lành người khác làm cho mình là chuyện nhỏ, không đáng để tâm và không cần đền đáp, nhưng trân quý, nâng niu, giữ gìn và mong được đền đáp, tri ân. Họ không trân tráo nghĩ rằng: không làm cho mình, ngườiấy cũng làm cho người khác. Đây là kiểu ngụy biện dễ dãi và tiện lợi mà người vô ơn thường dùng để xù món nợ tình khó trả. 
Quả thực, nợ gì thì cũng có thể trả, nhưng nợ tình thì thật khó trả. Khó trả vì là nợ tình, vì tình không hình dáng, kích thước, không mầu sắc, mùi vị, không định vị, cân đo đong đếm. Chính vì thế, không biết thế nào mà định lượng, trả giá. Một chút ân cần, quan tâm, một quãng đường nhỏ sát cánh, đồng hành cũng có thể đã là biển tình bao la; một xiết tay cảm  thông, một ánh mắt trìu mến động viên cũng trở thành món nợ thiên thu, vĩnh cửu. Người ơn nghĩa thì chôn giữ tận đáy lòng từng món nợ tình nghĩa, dù dưới mắt người đời, đó chỉ là những tình cảm mưa bay, vụn vặt. 
Thánh Phaolô đứng vào hàng ngũ những người coi trọng nợ tình khi nhắc nhở tín hữu: “Anh em chớ mắc nợ ai điều gì, ngoài nợ tình thương mến” (Rm 13, 8). Thánh nhân khuyên chúng ta đừng nợ ai tiền bạc, của cải, càng tránh mắc nợ người khác những món nợ tinh thần như uy tín, danh dự, nhưng muốn mọi người biết mình luôn mang nặng món nợ Đức ái đối với người khác. 
Nợ yêu thương anh em chính là món nợ Thiên Chúa muốn chúng ta mang suốt đời làm con Chúa ở trần gian. Với lệnh truyền : “Anh em hãy thương yêu nhau” ( Ga 13,34). Thiên Chúa đặt chúng ta thành những con nợ tình của nhau suốt đời, không chỉ một thời gian như món nợ có thời hạn, nhưng vô hạn và chỉ hết nợ nhau khi tính sổ yêu thương trước mặt Chúa giờ phán xét. 
Vì nợ tình yêu chỉ có thể trả bằng tình yêu, nên Thiên Chúa đề nghị hai cách trả nợ tình yêu bảo đảm, hữu hiệu nhất, đó là tha thứ và phục vụ. 
Tha thứ cho anh em trong tư thế con nợ của anh em, chúng ta sẽ không mặc cảm tự tôn, coi anh em là người có lỗi, có tội, có nợ chúng ta cho bằng chính chúng ta đang trả nợ anh em bằng tình yêu hoà giải, giao hoà, như Chúa dậy : “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật mà sực nhớ có người anh đang bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em đó đã, rời trở lại dâng lễ vật của mình” ( Mt 5, 23-24). 
Bên cạnh bổn phận tha thứ là nghĩa vụ phục vụ. Phục vụ như Chúa "đến không phải để người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống để làm giá cứu chuộc muôn người" ( Mt 20,28). Nếu Thiên Chúa là Đấng chẳng bao giờ mắc nợ ai, mà còn đến để phục vụ thì chúng ta lẽ nào bắt người khác phục vụ mình. Đàng khác, đạo của Chúa là đường tình yêu đến với người khác, nên phục vụ là những bước chân trên đường tình này. Nói đúng hơn, không phục vụ, đối với Chúa, chúng ta chỉ là những người đứng lì một chỗ mà không bước đi, dù ở trên đường và phải đi về đích. 
Đích tới chính là buổi họp tính nợ có Chúa hiện diện, ở đó, Chúa sẽ hỏi tình hình nợ tình yêu của ta đối với người khác, nhưng đúng ra là nợ tình của ta với Chúa được hạch toán trên phục vụ: “ Khi xưa Ta đói, ngươi đã cho ăn, khát đã cho uống, rách rưới đã cho mặc, khách lạ đã đón tiếp, tù đầy đã thăm nuôi, bệnh hoạn đã chăm sóc, dốt nát đã chỉ dậy, khổ đau đã ủi an, thất vọng đã động viên, quỵ ngã đã nâng dậy, thập tử nhất sinh đã hồi sinh cứu tử ( x. Mt 25, 31-46). 
Quả thực, Thiên Chúa đã nhận việc ta phục vụ ngươi khác là phục vụ Ngài, yêu mến người khác là yêu mến Ngài, như đã đặt ta là con nợ của người khác trong khi ta mắc nợ rất nhiều và rất nặng với Ngài.
 Để kết thúc, người viết xin mượn lời của thánh Fulgence : “Nếu bạn muốn có được gia tài của Cha trên trời, thì bạn hãy trả món nợ tình yêu của bạn không chỉ với bạn hữu mà còn với cả kẻ thù”.
Jorathe Nắng Tím

Sống Như THIÊN CHÚA MUỐN


Nhiều khi chúng ta hoang mang không biết thế nào là sống như Thiên Chúa muốn, nhất là khi trước mặt là cả một rừng lề luật mà luật nào cũng trọng, lề phép nào cũng phải giữ. Đó là chưa kể những áp lực của cơ chế, cộng đồng. Trong Tin Mừng, Đức Kitô quả quyết : “ Ai yêu mến Ta thì giữ điều Ta dậy” ( Ga 14,15), mà điều Thiên Chúa dạy chính là mến Chúa và yêu người như mình.

A. Yêu mến Thiên Chúa.

Yêu mến Thiên Chúa đòi tin Chúa là Đấng giầu lòng thương xót, bởi không  tin Chúa là Đấng đến để thương xót, chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa như Thiên Chúa muốn, vì Chúa muốn chúng ta nhận ra dung mạo của Ngài là Thiên Chúa của lòng thương xót, mầu nhiệm chỉ có trong Thiên Chúa của Đức Giêsu. Nói cách khác, Thiên Chúa được mặc khải trong Đức Giêsu là Thiên Chúa xót thương con người. Xót thương con người mới tạo dựng và cứu độ, mới đến để cứu những gì đã hư mất, mới tha thứ xoá tội và hiến mạng sống cho muôn người được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Xót thương vì thế chính là sự thánh thiện của Thiên Chúa, mà bỏ đi sự thánh thiện này, Đức Giêsu không còn là dung mạo đích thực của Thiên Chúa Cha như tiếng Chúa Cha phán khi Đức Giêsu chịu phép rửa: “ Đây là Con Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3, 17). Yêu mến Thiên Chúa đòi hiệp thông, nên một với Chúa, vì Chúa muốn chúng ta trở nên giống Chúa hơn mỗi ngày trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Đức Giêsu đã mong ước tất cả những ai yêu mến Ngài hãy ở trong Ngài như Ngài ở trong Chúa Cha. Hiệp thông trong Chúa là hiệp thông với Giáo hội trong kinh nguyện và các bí tích.


B. Yêu mến tha nhân.


Yêu tha nhân như mình đòi không nghĩ xấu cho ai, không cư xử bất công cho ai, không làm tổn thương uy tín, danh dự, quyền lợi tinh thần, vật chất của người nào. Nhưng Đức ái không dừng lại ở đó, mà đòi phải tích cực đóng góp xây dựng người khác bằng tha thứ, chia sẻ, phục vụ hết mình, hết tình mọi người, đặc biệt những người kém may mắn. Yêu tha nhân như thế chính là yêu như Chúa yêu, giúp đỡ như Chúa giúp đỡ, tha thứ như Chúa thứ tha, cho đi như Chúa hiến mình, và phục vụ như Chúa hạ mình hầu hạ, rửa chân các môn đệ của Ngài. 
Bổn phận sau cùng của yêu mến tha nhân là loan  báo và làm chứng Tin Mừng. Bởi yêu ai, ta muốn chia sẻ niềm vui, hạnh phúc với họ. Tin mừng của Thiên Chúa là sứ điệp ban niềm vui, bình an, hạnh phúc, không lẽ yêu thương nhau mà không trao cho nhau hạnh phúc, niềm vui, an bình? Vì thế khi lắng nghe, suy gẫm, sống và làm chứng Tin Mừng chính là lúc ta yêu mến người khác rất nhiều, vì Tin Mừng bằng nhiều cách và dưới nhiều dạng đang được gieo vào tâm hồn người anh em với tình yêu, và ơn bình an của Thiên Chúa qua tình yêu chia sẻ và phục vụ Tin Mừng của ta. Như thế, sống như Thiên Chúa muốn là sống giới luật yêu thương đối với Thiên Chúa và đối với anh em đồng loại một cách đơn sơ nhưng triệt để, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, nhỏ bé nhưng cao quý, nhân bản nhưng thánh thiêng, vì trong tình yêu có Thiên Chúa, trong Thiên Chúa có tình yêu con người, trong con người có tình yêu Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa là Tình Yêu. Sống như Thiên Chúa muốn cũng là để lòng thương xót bao trùm mọi sự, kể cả lề luật, bởi luôn luôn có một luật trừ sau cùng là luật trừ của tình yêu. Luật trừ của tình yêu sẽ giải quyết mọi khó khăn, kể cả những khó khăn tưởng như không tìm được đáp án. Đồng thời tất cả mọi sự, mọi việc phải quy hướng về tình yêu, bởi Đức ái đứng trên tất cả, kể cả Đức Tin và Đức Trông Cậy. 
Tóm lại, sống như Thiên Chúa muốn, chúng ta sẽ được tình yêu Thiên Chúa biến đổi khi chúng ta yêu thương nhau, bởi Thiên Chúa đã quảng đại đón nhận tình yêu ta dành cho nhau, như  tình yêu dành cho chính Ngài.
Jorathe Nắng Tím