Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Mùa Chay - Mùa Tình Yêu Thinh Lặng


Những ngày mới yêu, người ta thường tránh đám đông và không thích xuất hiện chốn đô hội, huyên náo, vì hai người yêu nhau cần một bầu khí riêng tư, yên tĩnh, thinh lặng. Tình yêu cần thinh lặng để hai trái tim nghe được nhau, hai hơi thở chung nhau thì thầm, to nhỏ. Tình yêu cần không gian yên tĩnh để lắng nghe tiếng lòng nhau đáp trả, nghe những xôn xao bồi hồi của tâm hồn nhau và chia nhau từng giọt hạnh phúc như sương sớm đong đưa cành hồng. Chưa kể ngôn ngữ chính của tình yêu là yên lặng, vì chỉ thinh lặng mới nói được hết tình cho nhau trước cao vời, sâu thẳm của tình yêu; chỉ yên lặng mới hiểu phần nào mầu nhiệm của tình cho nhau; chỉ lặng thinh mới cảm được ngọt ngào của mối tình bao la, thánh thiện. Vì thế, tình yêu cần yên lặng, người yêu cần không gian thanh vắng. Có cuộc tình nào đã không được nuôi lớn bằng những giây phút thinh lặng bên nhau, được thăng hoa bằng những âu yếm yên lặng và trưởng thành, lớn mạnh trong thinh lặng của chịu đựng, hy sinh? Có tình yêu nào đã không mang theo mình kinh nghiệm của thinh lặng, cũng như có thinh lặng nào của tâm hồn đã không mang dấu ấn của tình yêu cho nhau, bởi người ta có thể gặp nhau qua “tình yêu tiếng nói”, nhưng chỉ hiểu nhau bằng “tình yêu thinh lặng”.

     Đức Kitô đã sống tình yêu thinh lặng này với Chúa Cha và các môn đệ bằng thói quen lui về nơi thanh vắng, rút về chỗ vắng vẻ, tìm đến chốn không người mỗi khi cầu nguyện, tâm sự, chia sẻ, trao đổi ân tình: Ngài dắt các ông lên núi, xa khỏi đám đông (Mt 17,1); Ngài rút vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện (Lc 5,16); Ngài cầu nguyện ở một nơi thanh vắng với các môn đệ (Lc 9,18). Một vài giờ trước khi vào vườn Cây Dầu cầu nguyện và bị bắt (Lc 22,39-53), Đức Kitô đã chọn một phòng nhỏ kín đáo, yên lặng để trăn trối, tâm sự với các môn đệ yêu dấu của Ngài (Lc 22,1-34).

    Quả thực, suốt cuộc đời trần gian, Đức Kitô đã sống tình yêu cứu độ bằng thinh lặng nhiều hơn lên tiếng: Đêm Noel, chúng ta đã nghe gì về Đức Kitô - Thiên Chúa nhập thể làm người? Ngoài tiếng hát thiên thần xa đưa nhẹ nhàng, chúng ta không nghe gì từ miệng Maria, mẹ Ngài hay từ Giuse, cha Ngài. Ta chỉ thấy một hài nhi bé nhỏ, quấn tã, nằm trên máng cỏ, mắt nhắm và không nói gì. Đó là một con trẻ có đôi môi khép kín, một Thiên Chúa không nói gì. Là Ngôi Lời, nhưng yên lặng, vì yên lặng là cách tuyệt vời nhất để tỏ lòng thương xót của Ngài trên con người tội lụy như sách Khôn Ngoan đã viết: “Thiên Chúa đã khép mắt, khép môi trên tội lỗi của con người để con người thống hối” (Kn 11,23). Hài nhi yên lặng đó là Đức Kitô, Thiên Chúa giàu lòng thương xót, yên lặng trước người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang đang sượng sùng, sợ hãi chết trân trước đám “đàn ông” hung dữ chờ được ném đá giết chị. Thiên Chúa ấy cũng như hài nhi ngày xưa trong máng cỏ đã yên lặng, chẳng nói lời nào, chỉ “cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất” (Ga 8,1-11). Thái độ yên lặng của Ngài đang diễn tả một tình yêu thinh lặng vô cùng bao la. Khi cúi xuống, không nhìn các ông Pharisiêu đang say sưa tố cáo người phụ nữ tội lỗi, Đức Kitô đã không thèm nghe họ nói, nhưng yên lặng để tỏ lòng kính trọng người phụ nữ đau khổ và biểu lộ lòng cảm thông của Ngài với chị; đồng thời nói lên sự bất đồng tình của Ngài với những lời tố cáo của đám đông. “Bởi họ cố riết hỏi Ngài và ép Ngài lên tiếng, thì Ngài ngẩng lên và bảo họ: “Trong các ông, ai vô tội thì hãy ném đá chị này trước đi” (Ga 8,7), Ngài lại cúi xuống, yên lặng lấy tay nguệch ngoạc trên đất. Sự yên lặng yêu thương của Ngài một lần nữa đã không làm người phụ nữ sợ, nhưng làm sợ những người đang gân cổ tố cáo, lên án chị. Ngài đang nhắm mắt, khép môi trước tội lỗi của chị và dùng thinh lặng để cứu chị khỏi bị đám đông ném đá cho đến chết theo luật Môsê. Trong hoàn cảnh này, thinh lặng là cách Ngài thương xót và giải thoát chị. Thinh lặng cũng là cách Ngài lên án những trái tim bằng đá, chai lì của các ông Biệt Phái thiếu từ tâm. Bằng tình yêu thinh lặng và trong cái nhìn đầy nhân hậu, Đức Kitô đã cứu sống đời sống một người phụ nữ yếu đuối, đau khổ, đáng thương; đồng thời đẩy đám đông tự mãn, giả hình về với sự thật của chính họ, một sự thật cũng yếu đuối, tội lỗi tầm thường như người phụ nữ đang bị họ tố cáo, giễu cợt. Chính tình yêu thinh lặng của Ngài đã thay đổi toàn bộ cục diện, xoay chuyển hẳn tình thế bằng thinh lặng bất chấp dư luận quần chúng, thinh lặng vượt khỏi mọi biên giới của lề luật, thinh lặng cảm thông, nhân hậu, tha thứ người đàn bà có tội.

Tình yêu thinh lặng của Đức Kitô còn thể hiện trên hành trình vác thánh giá và tử nạn trên núi Sọ. Suốt đoạn đường thánh giá, Đức Kitô đã không nói nhiều, chỉ thinh lặng hy sinh, yên lặng đau khổ. Trong thinh lặng thập giá, Ngài đang hiến hết tình yêu cho nhân loại và bằng yên lặng thập tự, Ngài đang yêu thương đến cùng. Bởi tình yêu sẽ không còn tiếng nói khi tình yêu đạt đến mức cao vời, tuyệt đối. Tình yêu sẽ không còn diễn tả được bằng lời, khi mầu nhiệm xâm chiếm hết tình yêu. Đức Kitô đã yêu con người bằng tình yêu cao vời, mầu nhiệm ấy, nên chỉ còn yên lặng may ra mới có thể nói lên phần nào độ sâu thẳm khôn cùng của tình Ngài điên cuồng say mê con người tội lỗi và đã vui lòng hiến thân cứu độ.

Tình yêu ấy còn thinh lặng đến độ “đáng sợ” khi Thiên Chúa chấp nhận trở thành “bánh, rượu” và tuyệt đối thinh lặng, “bất động” trong bí tích Thánh Thể. Từ Thiên Chúa thiêng liêng, vô hình xuống làm con người hữu hình, rồi xuống làm “đồ vật” tức bánh, rượu như dấu chỉ “Máu, Thịt”. Thánh Tôma Aquinô đã phải thốt lên khi suy nghĩ về mầu nhiệm Thánh Thể: “Trong Thánh Thể, ta không còn thấy thiên tính, nhân tính, nhưng duy nhất dấu chỉ bánh - rượu là những sự vật”. Ngài muốn nói lên sự khiêm hạ vô cùng thẳm sâu của Thiên Chúa vì yêu con người. Ở đây, lại một lần nữa, ta nhận ra tình yêu thinh lặng vô cùng của Thiên Chúa dưới hình bánh rượu trong bí tích tình yêu tuyệt đối.

     Như thế, Thiên Chúa đã chọn thinh lặng để nói với con người, chọn thinh lặng để xót thương con người, chọn thinh lặng để chạy chữa cho con người, chọn thinh lặng để ở lại với con người, chọn thinh lặng để yêu thương con người. Nhưng đã có nhiều lúc, thinh lặng của Thiên Chúa làm con người hốt hoảng, lo sợ, chao đảo, hoang mang.

Nhiều thánh vịnh đã nói lên sự yên lặng như lánh mặt của Thiên Chúa và lời khẩn khoản: “Lạy Chúa xin đừng lánh mặt con” thường xuyên được cất lên trong lời cầu nguyện của dân Chúa. Trong Tân Ước, câu chuyện các tông đồ hốt hoảng khi biển bỗng nổi gió bão làm thuyền bị ngập đầy nước, mà Đức Kitô “vẫn ngủ”. Tiến lại họ đánh thức Ngài: “Lạy Thầy, xin cứu chúng con, kẻo chúng con chết mất…”. Tường thuật khá chi tiết này đã cho thấy có những lúc Chúa lặng thinh ngủ say và xem như bỏ ta một mình chèo chống (Mt 8,23-24).

Thái độ yên lặng của Chúa đã không ít làm ta hoang mang, bối rối, có khi nản chí, muốn buông xuôi, bỏ cuộc. Không thiếu những ngõ cụt cuộc đời, ở đó ta có cảm tưởng Chúa bỏ ta một mình và không còn thương ta nữa. Có những khúc quanh ngặt nghèo, quẫn bách ở đó Chúa như làm ngơ, lánh mặt để ta một mình lầm lũi, đơn độc. Và cũng đã nhiều lần, Chúa như bỏ mặc ta sống chết, chẳng đoái hoài, che chở. Cũng thế, trước vô số đau khổ, bất công trong cuộc đời, Thiên Chúa như vắng mặt, vô cảm và sự thinh lặng của Ngài ít nhiều đã làm ta hoảng sợ, lo âu.

      Nhưng có thực Thiên Chúa lánh mặt, bỏ rơi ta, vô cảm trước đau khổ của con người hay chỉ là cảm tưởng ta có khi Ngài ở bên ta mà không nói gì, ẵm ta trên vai thay vì để ta đi trên cát nóng, âu yếm yên lặng nhìn từng bước ta đi chập chững trong đời? Tình yêu thinh lặng của Thiên Chúa phong phú, dồi dào và hữu hiệu hơn ta tưởng, như Ngài đã yêu thương, giải cứu người đàn bà ngoại tình bằng thinh lặng, không nói gì. Chỉ trong thinh lặng của tình yêu trao dâng về Ngài, ta mới hiểu được mầu nhiệm và giá trị của tình yêu thinh lặng Ngài dành cho ta, một tình yêu cao độ giữa hai người yêu nhau tha thiết mà giữa họ ngôn từ không còn khả năng diễn đạt. Chỉ còn lại thinh lặng như khả năng sau cùng của tình yêu mới nói được hết điều mà tình yêu muốn nói. Nếu Đức Kitô đã yên lặng trước những người đau khổ Ngài gặp trên đường, yên lặng trước đám tang con bà goá thành Naim, thinh lặng nghe chị em bà Maria khóc lóc, than thở vì em trai các bà là Lazarô mới chết, hay thái độ thinh lặng của Đức Maria dưới chân Thánh Giá là vì Đức Kitô cũng như Đức Mẹ đã hoàn toàn đứng về phía những người đau khổ để cảm thông, tôn trọng và chia sẻ niềm đau, nỗi khổ với họ, đồng thời lên án tác giả gây ra bất công, đau khổ bằng chính thái độ yên lặng phản kháng của mình. Trước dã man của những người đang hành hình con mình là Đức Kitô, Mẹ Maria đã không thể làm gì để ngăn cản những hành động tàn ác của họ, ngoài đứng lặng dưới chân Thánh Giá treo xác con như đồng công cứu chuộc với con và xác định thái độ cương quyết chống lại tội ác của con người gây ra cho con Mẹ. Chính thái độ yên lặng của Mẹ đã làm những người dính máu con mẹ phải hồi tâm, suy nghĩ. Đàng khác, vì đau khổ là hậu quả của tội lỗi, nên đau khổ không thể được nhận diện và cắt nghĩa hoàn toàn trên bình diện tự nhiên, nhưng nó mang dáng dấp siêu nhiên, mầu nhiệm mà chỉ Đức Tin mới là chỗ dựa cho những hiểu biết này.

Đau khổ đã vào thế gian theo tội lỗi, nên bao lâu tội lỗi còn, bấy lâu khổ đau còn hành hạ cuộc sống. Có những khổ đau do thiên nhiên bất toàn, có những khổ đau do chính mình, có nhiều khổ đau do người khác, có cả những đau khổ chẳng do ai, nhưng để vinh danh Thiên Chúa (Ga 11,4). Nhưng đã có khổ là có đau, có đau là có khổ… và không ai tránh được hết khổ đau, đau khổ trong đời. Vấn đề là cái nhìn và thái độ đón nhận đau khổ của mỗi người.

      Phần đông nhìn đau khổ như một tai hoạ và thái độ là bất mãn, nổi loạn trước Thiên Chúa, căm phẫn, thù hận người chung quanh và kiêu căng, mất an bình với chính mình. Một số khác nhìn đau khổ như một phần tất yếu thuộc định mệnh và thái độ là dửng dưng, phó mặc, tiêu cực. Số còn lại nhìn đau khổ như hậu quả của tội lỗi nhưng ở đó sẽ nảy sinh mầm hy vọng và đón nhận đau khổ với thái độ tích cực vì tin rằng đau khổ mang giá trị cứu rỗi. Sở dĩ những người này dám nhìn đau khổ dưới cặp kiếng hy vọng và đón nhận bằng đôi tay phó thác là vì họ chiêm ngắm Đức Kitô, Đấng thánh thiện, trong sạch vô cùng, không tì ố, không lỗi lầm, nhưng đã gánh chịu rất nhiều đau khổ con người dành cho và đã chết nhục nhã, thảm thương với bản án đóng đinh như bao nhiêu thân phận đau khổ, cùng khốn, thương tâm khác. Người có tội chịu đau khổ đã đành, vì tội là hậu quả của tội lỗi, nhưng cả người công chính, thánh thiện như Đức Kitô cũng phải chịu khổ đau thì nhất định đau khổ phải mang một ý nghĩa và có một giá trị. Đức Kitô - Con Thiên Chúa đã trả lời vấn nạn đó khi chọn đau khổ làm phương tiện để cứu độ con người. Vì thế, mầu nhiệm đau khổ của con người sẽ được cắt nghĩa và được hiểu trong mầu nhiệm Thánh Giá của Đức Kitô, Đấng đã tự nguyện chịu đau khổ vì yêu thương và để cứu độ nhân loại. Nói cách khác, trong đau khổ của Đức Kitô - Thiên Chúa, tất cả mọi niềm đau, nỗi khổ của con người được thánh hoá để trở nên giá trị cứu rỗi chính mình và cứu rỗi người khác. Đức Kitô đã biến đổi đau khổ, vốn là tai hoạ, sự dữ thành của lễ hy sinh đem lại ơn cứu độ. Từ nay đau khổ không “vô ích”, nhưng sinh hoa kết trái cho hạnh phúc đời đời của con người, nếu đau khổ ấy chấp nhận đi vào nhiệm cuộc cứu độ của Đức Kitô, Đấng đã đến để chia sẻ tận cùng thân phận người với mọi đau khổ, cơ cực, bẽ bàng của nó; Đấng đã chết đau, sống khổ như những người đau khổ để không một ai đau khổ mà không được Ngài cảm thông, chia sẻ, nâng đỡ (Dt 4,15), để không một ai cơ nhỡ, lỡ làng, yếu đuối mà Ngài không chạnh lòng thương (Dt 5,2); Đấng đã dùng thập giá là hình phạt nặng nề nhất của nhân loại làm phương án cứu độ; Đấng đã mời gọi những người đi theo Ngài “hãy bỏ mình, vác thập giá” (Mc 8,34). Đau khổ với Ngài, nhờ Ngài, trong Ngài bỗng trở thành giá trị siêu nhiên cần thiết cho ơn cứu độ. Thập tự vì Ngài đã vác và bị treo lên bỗng trở thành Thánh Giá, dấu hiệu của người đi theo Ngài.

Tóm lại, đau khổ tự bản chất là sự dữ và mãi mãi là sự dữ. Ta không được phép ao ước sự dữ cho mình cũng như cho bất cứ ai; trái lại, ta phải làm tất cả những gì có thể để xoa dịu, chữa lành, giảm đi đau khổ và làm mọi cách để sự dữ này biến đi. Là môn đệ của Thiên Chúa hạnh phúc, ta được kêu gọi: “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu, đem tin yêu vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng”. Ta còn được xức dầu và sai đi: “loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho người tù đầy, cho người đui mù được thấy, kẻ bị áp bức được giải oan và loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa” (Lc 4,18), vì đau khổ của con người hoặc đến từ bệnh tật, thù oán, phỉ báng, khinh khi, chiến tranh, nghi ngờ, thất vọng, thiếu hiểu biết…; hoặc đến từ trái tim vắng bóng yêu thương, tâm hồn khai tử hình ảnh Thiên Chúa, xã hội loại trừ Đấng là Tình Yêu, an bình thật. Những người đi theo Đức Kitô không bỏ phiếu cho đau khổ, không tìm kiếm đau khổ, bằng cớ là chính Đức Kitô đã khóc khi thấy Mácta, Maria đau khổ trước cái chết của em trai, đã chạnh lòng trước đám đông đói khát, những người đau bệnh lê lết bên đường, đã cảm thương người đàn bà goá bụa mất con, đã thương xót những người đàn bà thành Giêrusalem gặp Ngài trên đường thánh giá. Theo gương Ngài, ta không bỏ phiếu ủng hộ đau khổ, không tìm kiếm đau khổ, nhưng làm tất cả để chia sẻ, chữa lành những vết thương đau khổ của mình và người khác, đồng thời biến đau khổ thành giá trị cứu rỗi bằng đặt vào đó tình yêu của ta dành cho chính Thiên Chúa. Đây là một mầu nhiệm, một bí mật của lễ hy sinh Thánh Giá nơi Thiên Chúa làm người, mà chỉ những người hiệp thông đau khổ của mình trong mầu nhiệm Thánh Giá của Ngài mới hiểu được giá trị cứu rỗi vô cùng quý giá của đau khổ cho hạnh phúc đời đời của mình và của nhiều người khác. Thánh hoá đau khổ của con người bằng hiến mình chịu đau khổ, ban cho đau khổ của con người giá trị ơn cứu rỗi, tình yêu thinh lặng của Thiên Chúa đau khổ chịu treo trên thập tự đã không dửng dưng, vô cảm hay bỏ rơi con người khổ đau, nhưng tình thinh lặng đó đã nói lên tất cả trái tim Thiên Chúa dành cho con người.

Thinh lặng trên Thánh Giá đã là tình yêu thinh lặng tuyệt vời nhất: tình yêu thấy hết, nghe hết, cảm hết, cho hết. Nhờ tình yêu thinh lặng này mà cả những người hành hạ, làm khổ Thiên Chúa chịu đóng đinh cũng sẽ được tha thứ, nếu trái tim họ biết thinh lặng lắng nghe tiếng Ngài nguyện cầu cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

Mùa Chay, Mùa tình yêu thỏ thẻ trong thanh vắng, mùa Đức Kitô muốn tâm sự, to nhỏ với trái tim mỗi người, mùa của bình an trong thinh lặng yêu thương. Ước gì thinh lặng của Mùa Chay giúp đổi mới tình yêu trong trái tim và xây dựng tình liên đới với mọi người.

Mùa Chay - Mùa Tình Yêu Quan Tâm

https://www.youtube.com/watch?v=GedTs9l1i-Y
Người ta không thể nói yêu nhau mà không quan tâm đến nhau. Yêu mà không quan tâm là yêu qua đường, yêu qua đêm, yêu kiểu chụp giựt chợ trời; đúng hơn là không yêu ai hết, chỉ yêu riêng mình.

Quan tâm đến nhau là biểu hiệu của một tình yêu chân thực. Càng yêu, càng quan tâm. Quan tâm là để ý đến nhau, chú ý đến nhu cầu của nhau, chú tâm đến đời sống của nhau, để hồn trong hạnh phúc của nhau, đem trái tim vào cuộc sống của nhau. Quan tâm là dán mắt vào đời nhau, chăm chú lắng nghe nhau, thao thức đợi chờ nhau, băn khoăn trước những biến cố, sự kiện, công việc liên quan đến nhau và hăng say làm tất cả những gì có thể làm được vì hạnh phúc của nhau. Quan tâm chính là tình yêu quan phòng, tình yêu che chở, tình yêu chăm sóc, tình yêu dự liệu. Và Mùa Chay chính là mùa của tình yêu quan tâm này.

Đừng hiểu Mùa Chay là mùa thụ động, khép kín; nhưng chính là mùa hoạt động, mùa cởi mở cõi lòng, mùa đến với nhau, mùa lắng nghe, gặp gỡ, chăm sóc, quan


tâm. Trong mùa này, Thiên Chúa đi bước trước trên hành trình tình yêu khi âu yếm quan tâm đến con người.

Các thánh vịnh trong Mùa Chay đều nói lên tình yêu quan tâm của Thiên Chúa đối với con người: khi dân Do Thái bị đày đọa bên Ai Cập, Thiên Chúa Giavê đã quan tâm: “Ta thấy rõ nỗi khổ của dân Ta và tiếng khóc của dân ta đã thấu đến Ta. Ta biết chúng rất khổ đau” (Xh 3,7). Khi dân vất vả 40 năm trong sa mạc, Thiên Chúa đã quan tâm cho ăn uống, bênh đỡ, trợ phù (Xh 16; 17).

Trong Tân Ước, Đức Kitô mạc khải rõ hơn tình yêu quan tâm của Thiên Chúa đối với mỗi người: như người cha ngày đêm trông ngóng đứa con hoang đàng (Lc 15,11-24). Ông ra đầu ngõ mỗi buổi chiều đợi chờ con, dù bặt tin con từ ngày cậu đòi chia của rồi bỏ nhà đi hoang. Tình yêu quan tâm của cha dành cho con không bao giờ mỏi mệt, sút giảm, nhưng ngàn đời bất diệt. Người cha ngóng con, vì quan tâm đến đời con, lo lắng cho sự sống của con, bồn chồn, xao xuyến vì tương lai bấp bênh của con. Ông quan tâm vì ông yêu con tha thiết. Ông quan tâm vì con là tất cả, là hạnh phúc duy nhất của đời ông. Ông không thể làm gì khác hơn ngoài yêu con, vì tình cha của ông lớn hơn tất cả, lớn hơn tội bất hiếu, vô ơn, phản bội nặng nề của con. Tình yêu quan tâm của ông được nuôi trong hy vọng và niềm hy vọng ngày về của con đã thành sự thật chính vì tình yêu ông đã quan tâm.

Quả thực, trước khi lên đường trở về sau tháng năm dài bê tha, sa đọa, người con hoang đàng chắc chắn đã dò dẫm, nghe ngóng tình hình và biết rõ hằng ngày cha đều ra đầu ngõ ngóng trông cậu. Nếu biết ông cụ không còn quan tâm, trông ngóng, chắc cậu đã không dám lên đường trở về. Tình yêu quan tâm của cha đã nâng đỡ chọn lựa đứng dậy, trở về của cậu. Tình cha quan tâm đã cho cậu niềm tin để không sợ bị xua đuổi, từ chối. Tình yêu quan tâm của cha đã giúp cậu vượt qua rào cản của vô số mặc cảm, nhất là mặc cảm tội lỗi đang đè nặng, nghiền nát tâm hồn cậu. Thiếu bóng cha già hằng ngày ra đầu ngõ vì quan tâm đến con, chàng trai phung phá sẽ khó có thể khiêm tốn để chuẩn bị sẵn lời tạ tội khi trở về: “Thưa cha, con đã trót phạm tội với Trời và với cha...”. Tất cả tiến trình trở về của người thanh niên hoang đàng từ hồi tâm nhận ra tình trạng đói khổ, khốn nạn của mình, đến quyết tâm đứng dậy về với cha và những bước chân sau đó trên đường về đều được thai nghén, vun xới và nâng đỡ từ tình yêu quan tâm của cha cậu: vì biết tình cha bao la mà cậu dám trở về; vì biết tình cha bao dung mà cậu không sợ mất mặt; vì biết tình cha vững bền mà cậu can đảm tạ tội và xin cha cho ở lại trong nhà. Tình yêu đã cứu cậu khi cậu biết cha mình vẫn hằng quan tâm, dù cậu “không còn đáng được gọi là con của cha nữa” (Lc 15,19).



Như thế, tình yêu quan tâm không chỉ quan phòng, lo liệu, chăm nom, nhưng còn cứu thoát, chữa lành. Người cha đã quan tâm đến con, nên con của ông đã được cứu thoát khỏi cảnh đói khát “không có cám heo mà ăn”. Tình yêu quan tâm của ông đã cứu cậu khỏi cảnh ô nhục “vô gia cư, vô địa táng” và chữa lành cậu khỏi mọi thứ bệnh do nỗi bất hạnh của bất hiếu, hoang đàng, tan gia bại sản.

Thánh vịnh 139 đã khẳng định tình yêu quan tâm của Thiên Chúa với mỗi người. Thiên Chúa quan tâm từng chút một từ tinh thần đến thể xác con người, từ sinh hoạt bên ngoài đến sinh hoạt nội tâm:



“Thiên Chúa, Ngài quan tâm và Ngài biết lúc tôi ngồi, khi tôi đứng. Từ xa Ngài đã am tường ý nghĩ của tôi. Tôi đi đường, tôi nằm giường. Ngài thấu suốt cả. Ngài quen thuộc mọi lối ngõ tôi đi. Lời tôi chưa thập thò đầu lưỡi, Ngài đã biết. Ngài chặn cho tôi nguy hiểm phía trước, Ngài ngừa cho tôi phía sau và đặt tay Ngài trên vai tôi… Nào tôi có đi đâu xa được Thần Khí của Ngài… Tôi có lên trời thì ở đó đã có Ngài. Tôi có bay đi với đôi cánh rạng đông, tôi có ở biệt nơi chân trời góc biển, thì lại chính tay Ngài dẫn tôi đến…” (Tv 139,1-10).

Chăm nom, lo liệu, quan phòng cho con cái, Thiên Chúa như người chăn chiên âu yếm từng con chiên và hạnh phúc cho chiên nào có Chúa là mục tử: “Thiên Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng còn thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh, Ngài cho tôi nghỉ ngơi. Ngài dắt tôi trên đường nẻo ngay chính… Dẫu phải đi qua thung lũng tối tăm, hiểm nguy, tôi cũng chẳng lo sợ gì vì tôi có Chúa ở cùng” (Tv 23,1-4). Có Chúa ở cùng, ta có tình yêu Chúa quan tâm, có tình yêu Chúa chăm nom, săn sóc, có tình yêu Chúa giữ gìn, phù trợ để “đầu tôi Ngài xức dầu thơm, chén tôi Ngài rót đầy ắp rượu nồng. Và suốt đời tôi đều là hoan lạc, vì ơn phúc sẽ dõi theo tôi mỗi ngày...” (Tv 23,5-6). Và trong nhiều thánh vịnh khác như các Thánh vịnh 10, 32, 33, 36, 45, 77, 120, 144, 146 được hát lên trong Mùa Chay, hình ảnh Thiên Chúa quan tâm đến con người đã được đặc biệt tô đậm như muốn nhắc nhở: Mùa Chay chính là mùa của mầu nhiệm Tình yêu Thiên Chúa, đấng luôn quan tâm đến mọi người.



Tin Mừng Mátthêu cũng ghi lại giáo huấn của Đức Kitô về Thiên Chúa yêu thương quan phòng. Ngài quan tâm đến con người như người cha săn sóc con mình và trách ta đã không đặt trọn niềm tin vào tình thương quan phòng của Cha trên trời: “Chớ quá lo phải ăn gì, mặc gì… Hãy nhìn chim trời. Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho lẫm, vậy mà Cha trên trời vẫn nuôi nấng chúng. Chúng con không quý hơn đám chim sẻ đó sao?... Hãy nhìn cánh huệ ngoài đồng. Chúng không nhọc nhằn canh cửi, vậy mà vua Salomon trong tất cả vinh hoa đời ông, chắc gì đã ăn vận đẹp bằng đóa huệ đó? Nếu cỏ đồng nội, nay còn mai mất, mà Thiên Chúa còn mặc cho như thế, huống chi chúng con, hỡi những người yếu lòng tin. Vậy chớ quá lo sẽ ăn gì, uống gì, mặc gì, vì Cha ở trên Trời biết rõ chúng còn cần các điều ấy...” (Mt 6,25-34).

Tình yêu quan tâm nơi Thiên Chúa cũng là tình yêu Thiên Chúa muốn chúng ta dành cho nhau. Quan tâm đến người thân yêu gần gũi, quan tâm đến người hàng xóm, đồng hương, quan tâm đến người đau khổ, bất hạnh, quan tâm đến người khách lạ, không quen ngoài ngõ. Quan tâm đến người khác là gửi trao một ánh mắt thông cảm, một nụ cười thân thiện, một lời chào bình an, một xiết tay nồng ấm. Quan tâm đến nhau là tìm dịp làm cho nhau vui như trao tặng một bất ngờ tình nghĩa, tránh cho nhau một nguy hiểm, tiên liệu và chuẩn bị cho nhau một giải pháp tốt đẹp.

Và sau cùng, quan tâm đến người khác là mời họ gặp gỡ một trái tim không biết hờn oán, hận thù, một tấm lòng bao dung, đại lượng, một tâm hồn quả cảm hy


sinh, một cuộc đời như bến đỗ của mọi mảnh đời đen bạc, lỡ làng, một bờ vai cho mọi người khổ đau nương tựa, một tình yêu nhân hậu cho tội nhân được trắng án, một “Thiên Chúa - làm người” vì quá quan tâm đến con người. Trái tim, cuộc đời, bờ vai, tình yêu đó chính là Đức Kitô, Đấng là Tình Yêu nhân hậu luôn quan tâm đến mọi người và từng người.

Ước gì Mùa Chay là mùa vui mừng, hạnh phúc với mỗi người, vì đây là mùa mọi người được Chúa quan tâm và mỗi người được học biết quan tâm đến mọi người.

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Mùa Chay - Mùa Tình Yêu (Mt 1,1-6.16-18)



Thứ Tư lễ tro khởi đầu Mùa Chay, linh mục chủ tế với phẩm phục màu tím gọi về trong ta nhiều nỗi nhớ, trong đó có nỗi nhớ về thân phận con người: “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro”. Nỗi nhớ ấy còn nhắc nhở một tương lai không mấy vui: “Một mai người sẽ trở về bụi tro”. Thân tro bụi thì phải trở về bụi tro là tất nhiên rồi, nhưng sao vẫn thấy buồn buồn cho phận người mong manh, bé nhỏ như nắm tro, hạt bụi…

Áo tím, nắng tím, mây tím, chân trời tím làm bầu khí Mùa Chay trở nên tím ngắt: tím như tâm hồn người con thống hối trên đường về, tím như trái tim người đàn bà ngoại tình đang thổn thức vì được thứ tha, tím như nước mắt ăn năn của Phêrô khi bắt gặp cái nhìn xót thương của Thầy, tím như buổi chiều Núi Sọ có tình yêu đắng đót đồng công cứu chuộc của Maria, mẹ Đức Kitô và những đớn đau bầm tím trên thân xác của một Thiên Chúa khiêm hạ chết cho con người mình yêu.


Tin Mừng thánh Mátthêu được Giáo Hội đặt vào ngày lễ tro ghi lại chính xác ba điều Đức Kitô đề nghị chúng ta trong Mùa Chay. Đó là ăn chay, cầu nguyện và chia sẻ vật chất với người khác.

Khi đề nghị chúng ta ăn chay, Đức Kitô không lấy chuyện bớt ăn, bớt uống làm mục tiêu, nhưng đó chỉ là phương thức hữu hiệu giúp ta trở về gặp mình, tìm lại mình, nhận diện “cái tôi chân thực, không phấn son; một “cái tôi trăm phần trăm thật, không pha chế”; bởi từ lâu những buổi tối lê la quán bia ôm, bê tha nơi quán nhậu, quay cuồng chốn ăn chơi đã không cho ta nghĩ đến mình. Ta quên mất mình đang có mặt, ta đánh mất hiện hữu của chính mình dù xác thân vẫn “xả láng sáng về sớm”, nhưng ý thức về mình thì đã mất từ khuya: mất khi không còn biết mình là ai, tại sao mình sống, sống để làm gì, sống rồi đi đâu, về đâu... Những bận rộn của cuộc phiêu lưu tình ái cũng không cho ta có giờ để nhìn lại chân dung thật và tình trạng sống của mình. Cuộc sống vật chất hưởng thụ đã lôi ta vào những cơn lốc xoáy ảo ảnh, ảo giác, ảo tưởng, ảo mộng. Ta sống trong thế giới ảo mà không biết. Ta sống bằng danh dự, giá trị, đạo đức ảo mà không hay. Ta thu góp, nhặt nhụm những công đức ảo, sự nghiệp ảo, gia tài ảo mà cứ tưởng tất cả là thực và bền vững. Ta chuẩn bị một tương lai ảo, xây ngày mai trên nền tảng ảo mà cứ nghĩ đời ta mãi mãi được bảo đảm. Có rất nhiều bộ mặt ảo, cung cách ảo, suy nghĩ ảo, ước mơ ảo và hành động ảo trong ta… mà chỉ trở về với chính lòng mình, trở về tận thâm cung của trái tim, trở về trong đáy sâu tâm hồn, trở về mảnh vườn riêng tư, bí mật, thầm kín của chính mình để “riêng một mình ta vớ ta” thì ta mới nhận diện chính xác “tôi là ai”. Vì thế từ “ăn chay” không chỉ là chuyện ăn uống, ăn nhậu, mà còn liên quan đến những chuyện khác nữa như ăn ở, ăn nói, ăn mặc, ăn diện, ăn chơi, ăn nằm, ăn chặn, ăn thua đủ với người này người nọ. “Ăn chay” cũng không nhắm đến chuyện ăn hay nhịn, ăn nhiều hay ăn ít, nhưng muốn nói lên thái độ từ bỏ những quá độ vật chất đã làm vong thân, những hưởng thụ không giới hạn đã đánh mất chính bản thân, những bon chen bất công đã làm lương tâm mù loà, những đam mê xác thịt đã làm mờ ý thức về mình. Mục đích của “ăn chay” là trở về với mình để nhận ra giá trị của mình: được mang trong mình hình ảnh Thiên Chúa; để nhận ra con đường mình phải chọn, trách nhiệm mình phải chu toàn, tương lai mình phải chuẩn bị. Mùa Chay là mùa trở về, nhưng chuyến trở về thứ nhất và quan trọng nhất chính là trở về lòng mình. Không trở về với mình, ta sẽ không thể trở về với ai, vì mình là điểm khởi hành cho mọi chuyến trở về, ra đi khác. Ta không thể đến nhà người bạn, nếu không biết mình đang đứng ở đâu. Trở về với nhau hay trở về với Chúa, vì thế, đều bắt đầu từ bước chân “trở về với chính mình”. Trở về với mình để thấy mình còn nhiều khiếm khuyết, yếu đuối, lỗi lầm cần được thứ tha. Trở về lòng mình để nghe tiếng lòng thở than, tâm sự. Trở lại tâm hồn để điều chỉnh cuộc sống, sắp xếp lại căn nhà tâm hồn còn ngổn ngang, bừa bãi. Nhưng điều cần phải làm khi trở về với mình là trân quý mình. Tại sao phải trân quý mình? Vì mình là một giá trị không thể thay thế, hoán nhượng; vì mình là con Thiên Chúa được mang hình ảnh yêu thương của Ngài; vì mình là đối tượng của ơn cứu chuộc, là người Đức Kitô yêu và đã hiến mình cứu độ. Mình không còn là bụi tro vô tích sự, nhưng là giá máu của Đức Kitô. Mất mình là một thiệt thòi, tổn hại lớn trong công cuộc cứu độ của Thiên Chúa. Mất mình là điều không thể quan niệm trong nhiệm cuộc nhập thể và cứu độ của Đức Kitô. Trở về với mình là yêu mình như yêu một giá trị đời đời vô cùng quý giá, không thể bỏ qua, quên lãng, coi thường vì mình từ nay đã trở thành “con Thiên Chúa”. Đàng khác, nếu Đức Kitô đã xuống trần gian để cứu cái “tôi” thì tại sao tôi lại bỏ tôi? Yêu mình như giá trị đời đời là tôn trọng mình như đền thờ của Thiên Chúa, như nhà Thiên Chúa ở: “Ai yêu mến Thầy, Thầy và Cha Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy”. Yêu mình đòi phải biết nhẫn nại và tha thứ cho chính mình. Có những yếu đuối, lỗi lầm mà Thiên Chúa và người khác đã tha, nhưng chính mình lại không đủ quảng đại, nhân từ để tự tha cho mình. Không đủ tình yêu để tha cho mình là thảm họa tâm hồn của thế giới hôm nay, khi người ta không còn nhận ra mình là một giá trị, nên thường căm phẫn, giận dữ trước những yếu đuối, sơ sót, lỗi lầm của chính mình. Nhiều người tự tử vì đã không thể tha thứ cho chính mình, nên yêu mình còn là động lực cần thiết cho sự có mặt của mình trong cuộc sống. Tóm lại, ăn chay là dừng chân đứng lại nhìn mình, là nghỉ ngơi thong thả gặp gỡ mình, là một mình xa khỏi huyên náo để nghe lòng mình nhỏ to tâm sự, là sống tròn đầy hạnh phúc vốn từ lâu chôn kín tận đáy lòng, là chiêm ngắm hình ảnh Thiên Chúa trong mình, là khám phá nét đẹp của đứa con được Cha thương và sứ mạng thánh thiện được Cha trên Trời trao phó. Trở về với mình sẽ không còn là cay đắng, rên rỉ, xót xa, nhưng là hân hoan, vui mừng vì được yêu thương tha thứ; sẽ không còn là giận mình, tức mình, trách mình, rủa mình, nhưng là hiểu mình, thương mình, tha thứ cho mình và đợi chờ mình một cố gắng, hy vọng nơi mình một tương lai; sẽ không còn là trốn chạy, che đậy, lừa dối mình, nhưng là chân thành với chính mình; cũng sẽ không là “sầu riêng một nỗi” chôn sâu đáy hồn, nhưng là niềm vui tâm hồn muốn được chia sẻ. Và trở về với mình chính là trở về với tình yêu, như thanh gỗ dọc của cây thánh giá đã được cắm sâu trong đất Tâm Hồn.

Trở về với mình theo tinh thần Mùa Chay không phải để ở lì trong mình, tự hưởng, tự sướng với “cái tôi” nhưng trở về để đi đến, đi gặp: đến với Thiên Chúa, gặp gỡ mọi người. Tin Mừng đề nghị cầu nguyện để đến với Chúa, đúng hơn là mở đường tâm hồn để Chúa đến gặp. Cầu nguyện là nâng lòng lên để ơn Chúa đổ xuống, là hướng trái tim về Đấng là tình yêu, là để cuộc đời trong bàn tay Cha quan phòng, là lên đường về nhà Cha ở đó “có cơm dư gạo thừa”. Cầu nguyện bằng tình yêu thơ bé, đơn sơ, thành thật; cầu nguyện với thái độ khiêm tốn, đằm thắm, hy vọng; cầu nguyện trong tâm tình yêu mến, biết ơn, không chỉ yêu mến, biết ơn Chúa mà còn yêu mến, biết ơn mọi người; cầu nguyện với mọi người, cho mọi người; cầu nguyện cùng Giáo Hội, các thánh, các linh hồn; cầu nguyện mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh.

Nói tóm lại, cầu nguyện phải trở nên như hơi thở, như nhịp đập của trái tim vì người cầu nguyện là người có Chúa, mang Chúa, ở trong Chúa nên sự sống của họ chính là sự sống của Thiên Chúa như thánh Phaolô đã nhiều lần quả quyết: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Sống trong Chúa là gặp gỡ Ngài như cùng đích của hạnh phúc, vì Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc thật, ơn an bình vĩnh cửu, không hư hao, mai một. Cuộc gặp gỡ này hoàn toàn mang tính cá nhân, riêng tư và mỗi người sẽ cảm nghiệm sự dịu ngọt khi được ở với Chúa tùy theo mức độ thân tình của người ấy với Chúa. Cầu nguyện là đường dẫn ta gặp Chúa cũng là điều kiện để Chúa đến ở với ta và ta có được Chúa. Có Chúa trong cuộc đời, có Chúa trong tâm hồn, có Chúa làm gia nghiệp, có Chúa là hạnh phúc, có Chúa là Đường, Sự Thật và Sự Sống, thử hỏi ta sẽ còn thiếu chi?


Với cầu nguyện, cây thánh giá được cắm sâu trong đất của tâm hồn, bây giờ đã hướng thẳng lên Chúa. Thanh gỗ dọc của thánh giá được cắm sâu trong tâm hồn khi ta trở về gặp mình để rồi hướng lên gặp Chúa khi ta nâng hồn lên với Ngài. Trở về với mình và cầu nguyện với Thiên Chúa là hai công việc gắn liền nhau, không tách rời vì cùng trên một thanh gỗ dọc của thánh giá. Tuy thế, thánh giá vẫn chỉ là một cây cọc thẳng đứng chênh vênh, nếu thiếu đường đến tha nhân như thanh gỗ ngang cần thiết. Phải thêm vào cây cọc thẳng đứng này một thanh gỗ ngang như đôi tay giang rộng ôm lấy mọi người thì thánh giá mới thành hình. Đến với tha nhân là đòi hỏi thứ ba trong Mùa Chay, cũng là điều kiện của đời người Kitô hữu: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con thương yêu nhau”. Yêu thương người khác không còn là “chuyện nhỏ như con thỏ” làm cho vui, chuyện mắm muối phụ thuộc cho mặn nồng bữa tiệc, nhưng là cốt lõi của đời sống người theo Đức Kitô. Nói yêu Chúa mà không thương anh em là nói dối, nói xạo, nói dóc. Đức Kitô đã khẳng định hai mặt của giới luật yêu thương duy nhất này: mến Chúa, yêu người: “Việc gì các con làm cho những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, chính là làm cho Ta” (Mt 25,40). Nhưng tình yêu đối với người khác phải được cụ thể, sống động hoá bằng việc làm; nếu không sẽ chỉ là thứ tình sân khấu, bôi bác, môi miệng: “Yêu thương là hiến trao tất cả, kể cả chính mạng sống mình vì người mình yêu”. Đó là tình yêu của Đức Kitô yêu mỗi người và cũng là tình yêu Đức Kitô đợi chờ mọi người dành cho nhau. Vì thế, yêu thương đòi hy sinh rất nhiều, đòi quên mình đến tê tái, đìu hiu và liên lỉ xoá mình như ngọn nến bên cung thánh lung linh ngày đêm tiêu hao, tan biến. Yêu thương không chỉ là cho những gì mình có, mà đến một lúc phải cho ngay cả những gì mình là: cho chính sự sống. Nhắc nhở chia sẻ cơm ăn, áo mặc với anh chị em thiếu thốn bất hạnh, Đức Kitô muốn tình yêu tha nhân nơi mỗi người được biểu hiện sống động, nghĩa là một đức ái có việc làm, một tình yêu không bằng lời nói suông nhưng bằng hành động thực sự: “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ trần truồng áo mặc; bằng những bước chân ủi an người đau yếu, thăm nuôi kẻ tù đày, đón tiếp khách lạ lỡ đường; bằng những sẻ chia khả năng, sức lực, tâm tình, thời giờ với người bị bỏ rơi, hắt hủi, với người thất học, tứ cố vô thân” (Mt 25,35-36). Đức Ái là việc làm của Đức Tin, nên một Đức Tin không có việc làm bác ái sẽ là một đức tin chết, đức tin giả hiệu như thánh Giacôbê đã viết. Với thanh gỗ ngang “yêu thương, phục vụ”, cây thánh giá thành hình và là biểu tượng sống động, cũng như vinh dự cứu độ của người môn đệ Đức Kitô.

Như thế, Mùa Chay là mùa tình yêu, mùa con người trở về lòng mình để khám phá “cái mình” được Thiên Chúa yêu và rất đáng yêu; là mùa con người hướng tâm hồn lên với Chúa để được tràn đầy tình yêu từ Ngài, đồng thời là mùa tìm đến để trao tặng, chia sẻ tình yêu với anh chị em chung quanh. Trên “đường về, đường đến” tình yêu, Mùa Chay sẽ không còn là mùa của màu tím buồn, tuyệt vọng, nhưng là mùa của màu tím nhớ nhung, hy vọng. Mùa Chay sẽ không mang dáng vẻ quay quắt, bi thương, nhưng dịu dàng, thông cảm. Với tình yêu mình, tình yêu người, tình yêu Chúa, con người của Mùa Chay sẽ khám phá ra hạnh phúc của đời mình: hạnh phúc của một người đang yêu và được yêu.

ĐƯỜNG VỀ (MÙA CHAY VÀ MÙA PHỤC SINH)

Mùa Chay - Mùa Tình Yêu (Mt 1,1-6.16-18).https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/MUA-CHAY-MUA-TINH-YEU




Mùa Chay - Mùa Bác Ái................................ https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Dap-Tra

Mùa Chay - Mùa Tìm Lại Bóng Hình............ https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Tim-Lai-Bong-Hinh

Mùa Chay - Mùa Nhắc Nhớ Kỷ Niệm........... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Nhac-Nho-Ky-Niem 

Mùa Chay - Mùa Học Nghề Giáo Dục............ https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Hoc-Nghe-Giao-Duc

Mùa Chay - Mùa Thương Xót....................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Thuong-Xot

Mùa Chay - Mùa Đáp Trả............................. https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Dap-Tra 

Mùa Chay - Mùa Nhìn Lên Chúa..................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Nhin-Len-Chua 

Mùa Chay - Mùa Mở Cửa Tâm Hồn.............. https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Mo-Cua-Tam-Hon

Mùa Chay - Mùa Sống Đạo........................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Song-Dao

Mùa Chay - Mùa Xây Nhà Thờ................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Xay-Nha-Tho 

Mùa Chay - Mùa Hoà Giải........................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Hoa-Giai

Mùa Chay - Mùa Bình An Cho Người Thiện Tâm https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Binh-An-Cho-Nguoi-Thien-Tam       

Mùa Chay - Mùa Cầu Bầu........................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Cau-Bau

Mùa Chay - Mùa Tìm Đến Xem................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Tim-Den-Xem

Mùa Chay - Mùa Cứu Độ............................ https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Cuu-Do

Mùa Chay - Mùa Tang Chế.......................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Tang-Che


Mùa Chay - Mùa Tự Do............................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Tu-Do
Mùa Chay - Mùa Hy Vọng........................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Mua-Chay-Mua-Hy-Vong

Bình An    ....................................................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Binh-An 

Thứ Tha - Hoà Giải......................................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Thu-Tha-Hoa-Giai 

Bàn Tay Đức Kitô........................................ https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Ban-Tay-DUC-KITO

Tuần Thánh ................................................. https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Tuan-Thanh

Đức Kitô, Vua Nhân Hậu............................. https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/DUC-KITO-Vua-Nhan-Hau

Tiền Và Nghèo............................................. https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Tien-Va-Ngheo

Người Tôi Tớ Bị Phụ Tình............................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/NGUOI-TOI-TO-Bi-Phu-Tinh 

Bóng Tối   ....................................................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Bong-Toi 

Thử Thách .................................................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Thu-Thach

Rửa Chân  ....................................................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Rua-Chan 

Đức Maria - Lời Vâng Khiêm Hạ (Lc 1,26-38) https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/DUC-MARIA-Loi-Vang-Khiem-Ha

Này Là Người - “Ecce Homo”....................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Nay-La-Nguoi-Ecce-Homo

Thánh Thể - Mầu Nhiệm Tình Yêu.............. https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Thanh-The-Mau-Nhiem-Tinh-Yeu

Cái Chết Của Đức Kitô.................................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Cai-Chet-Cua-DUC-KITO 

Lòng Chúa Thương Xót................................ https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/LONG-CHUA-THUONG-XOT

Viếng Mộ  .................................................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Vieng-Mo

Những Người Ở Xa Phía Sau........................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Nhung-Nguoi-O-Xa-Phia-Sau 

Nhân Danh ..................................................https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Nhan-Danh 

Những Người Phụ Nữ Trên Đường Thánh Giá https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Nhung-Nguoi-Phu-Nu-Tren-Duong-Thanh-Gia 

Nến Cháy  .................................................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Nen-Chay

Sợ Ma       .................................................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/So-Ma

Đôi Mắt    .................................................... https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Doi-Mat




Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

HẠNH PHÚC



Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 6 Thường Niên, Năm C)
   Hôm nay Thiên Chúa quy tụ chúng ta và nói với chúng ta hai điều quan trọng, đó là Thiên Chúa muốn chúng ta hạnh phúc, và để được hạnh phúc, chúng ta chỉ cần tín thác vào Ngài. Ngôn sứ Giêrêmi, tác giả của thánh vịnh thứ nhất cũng như Đức Giêsu đã nói về hạnh phúc như nhau : Giêrêmi thì quả quyết : hạnh phúc không thể có, nếu ta “đặt niềm tin ở người đời, lấy sức phàm nhân mà nương tựa” (Gr 17,5), nhưng hạnh phúc chỉ có khi “đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương tựa”. Người hạnh phúc ấy “như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái” (Gr 17,7-9).
   Đức Giêsu thì loan báo hạnh phúc là một thực thể, một sự thật đang xẩy ra, vì Nước Thiên Chúa đang ở giữa mọi người, nhờ Ngài đã mang Tin Mừng đến (Lc 4, 18).
   Hiến chương Nước Trời Ngài ban cũng chính là Hiến Chương Hạnh Phúc vì một lý do duy nhất : Nước Trời là vương quốc hạnh phúc của Thiên Chúa. Hiến chương này phù hợp với chương trình cứu thế của Đức Giêsu đã được chính Ngài công bố trong hội đường ở Nadarét : “Thần Khí Chúa ngự xuống trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn. Người sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18-19), bởi cả hai cùng nhắm chung một đối tượng là những người nghèo đói, thiếu thốn, bị thiệt thòi, bị hàm oan, phải khóc lóc, nói chung là những người đau khổ.
   Như thế, với Hiến Chương Hạnh Phúc, Đức Giêsu đã minh nhiên cho mọi người thấy sứ mệnh của Ngài là đem hạnh phúc cho hết mọi người, mà trong cuộc sống không ai là người không khổ đau cách này cách khác. Và như Giêrêmia, hạnh phúc ấy bắt nguồn từ Thiên Chúa, hệ tại ở lòng tín thác nơi Thiên Chúa. 
   Như thế, hạnh phúc đích thực của người nghèo khó sẽ không là của cải vật chất, nhưng là Nước Thiên Chúa ; hạnh phúc của người đói khát sẽ là lương thực của Thiên Chúa làm cho no thỏa ; hạnh phúc của người đang phải khóc lóc sẽ được vui cười trong Thiên Chúa là niềm vui ; và hạnh phúc của những ai bị sỉ vả, oán ghét, bách hại vì Nước Trời sẽ là Nước Trời hạnh phúc (x. Lc 6, 20-23).
   Tóm lại, Thiên Chúa không dựng nên con người để con người phải đau khổ, nhưng như người cha xót thương con cái mình phải khổ đau vì hậu quả của tội lỗi, Thiên Chúa mong đem lại hạnh phúc là chính Chúa cho con người đau khổ, bằng mở ra cho con người con đường hạnh phúc thật, và mời gọi mỗi người hãy lên đường đến với Ngài. 
  Như chữ đầu tiên của sách thánh vịnh đã được bắt đầu bằng “Hạnh Phúc thay” (Tv 1,1), và kết thúc bằng : “Hỡi toàn thể chúng sinh, ca tụng Chúa đi nào ! Ha-lê -lui- a !” (Tv 150, 6), chúng ta hãy biến cuộc đời này thành hành trình đi tìm Hạnh Phúc mà đích tới chính là được ca tụng Thiên Chúa, nguồn Hạnh Phúc vô cùng của ta.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 5 Thường Niên, Năm C


Sứ Vụ và Hồng Ân (Lc 5, 1-11)
    Tuy không phải là khánh nhật Ơn Gọi, nhưng các bài đọc và Tin Mừng trong Chúa Nhật thứ năm thường niên đều quy chiếu về Ơn gọi, đặc biệt là thái độ đón nhận ơn gọi của người được gọi.


   1/ Thái độ khiêm tốn vì thấy mình bất xứng:
   Bài đọc một, ngôn sứ Isai đã nói về tình trạng bất xứng của mình khi Thiên Chúa tuyển chọn ông : “Khốn thân tôi, tôi chết mất ! Vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6, 4).
   Tông đồ dân ngoại Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côrintô đã không ngại nói về mình: “Tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa” ( 1 Cr 15, 9).
   Tin Mừng Luca thì kể lại một đêm dài vất vả mà không bắt được con cá nào của Simôn Phêrô và mấy anh em ngư phủ chuyên nghiệp. Đức Giêsu đến gặp họ và bảo: “Hãy chèo ra chỗ sâu mà thả lưới bắt cá” ( Lc 5, 4), và khi “bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới”, “Phêrô đã sấp mình dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ có tội” ( Lc 4, 6. 8).
   Cả ba con người được gọi đều cùng một tâm tình khiêm tốn khi thấy mình hoàn toàn bất xứng. Cả ba đều tự khám phá giới hạn của mình: tội lỗi, thiếu khả năng. Và qua các vị, chúng ta có thể khẳng định: điều kiện thứ nhất và quan trọng ở người được Thiên Chúa gọi, đó là ý thức tình trạng bất xứng của mình để có được tâm tình khiêm tốn trước hồng ân Ơn Gọi.


   2/ Tin tưởng ở sứ vụ và hồng ân:
   Người được Thiên Chúa kêu gọi biết mình bất xứng, nhưng không dựa trên tình trạng bất xứng mà thoái thác, trốn chạy lời mời gọi  của Thiên Chúa, nhưng đáp trả bằng tín thác tuyệt đối vào Đấng chọn mình và tin tưởng sứ vụ sẽ được ơn Ngài phù trợ.
    Isai đã thưa với Thiên Chúa: “Này con đây, xin hãy sai con đi” ( Is 6, 8), sau khi Thiên Chúa lấy than hồng mà chạm vào miệng ông, để ông “được tha tội và xá tội” ( Is 6, 6). Phaolô cũng đã hân hoan đón nhận sứ vụ tông đồ dân ngoại, vì “nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu” ( 1 Cr 15, 10). Riêng Phêrô thì tin vào lời Đức Giêsu: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Và chỉ vì lời ấy của Đức Giêsu, Phêrô “đã bỏ mọi sự mà theo Người” ( Lc 5, 10 -11).
   Và cũng ba người biết mình tội lỗi, không có khả năng nhưng được gọi này đã tín thác theo tiếng gọi của Thiên Chúa, và lên đường đi theo Ngài, thi hành sứ vụ được trao. Ở bất cứ thời nào, ở đâu, những người được Thiên Chúa gọi đều là những con người bất toàn, có giới hạn, yếu đuối. Và một khi đã dấn thân đi theo phục vụ Thiên Chúa, họ đều nhận ra ơn Chúa thực sự bao phủ họ, và không ơn Chúa, họ sẽ gục ngã và không thể chu toàn sứ vụ được trao.
   Như thế, sẽ không có sứ vụ nếu vắng bóng hồng ân, và không có hồng ân, nếu không có Đấng kêu gọi và sai đi. Người được gọi vì thế sẽ chẳng có lý do để tự hào, tự mãn; càng không có cơ sở để kiêu căng cho mình là hoàn hảo, xứng đáng, “chuẩn không cần chỉnh” trước sứ vụ, bởi “không có Thầy, chúng con chẳng làm được gì” ( Ga 15, 5), và nếu không có ơn phù trợ ở nơi danh Chúa sẽ không có người được sai đi. 


   3/ Sứ vụ được trao là phục vụ:
   Thiên Chúa không gọi người Ngài muốn để họ được người khác hay cộng đoàn phục vụ, hầu hạ, phục dịch, ngược lại, để họ phục vụ người khác, phục vụ cộng đoàn, như chính Đức Giêsu đã “đến để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mt 20, 28) .
   Vì thế, không có ơn gọi nào khác ngoài ơn gọi phục vụ, và không có sứ vụ nào khác ngoài sứ vụ làm tôi tớ, như ý muốn của Đức Giêsu khi Ngài rửa chân các môn đệ của Ngài: “Anh em gọi Thầy”  là “Thày”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” ( Ga 13,13-15). Rửa chân người khác là việc làm của tôi tớ, kẻ hầu người hạ, đời nào chủ lại đi rửa chân cho ai bao giờ ? 
   Xin Chúa ban cho mọi người Kitô hữu ý thức tính mỏng dòn, và tình trạng bất xứng của mình trước hồng ân được Chúa gọi và sai đi phục vụ, để dù ở trong chức vụ, phẩm trật nào, sẽ không quên sứ vụ duy nhất được trao phó là phục vụ. Chỉ với phục vụ, ơn gọi và sứ vụ của người Kitô hữu mới có giá trị và mang ý nghĩa cứu độ, vì thực thi đúng điều Chúa muốn khi được kêu gọi và sai đi.
Jorathe Nắng Tím


BÀI THƠ THAY LỜI CHÚC XUÂN (Tác giả NHƯ NHIÊN)


Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

NĂM MỚI – VƯỢT QUA


   Giây phút đón giao thừa, không ai bảo ai, nhưng muôn người như một hồi hộp, nôn nao, nóng lòng đếm ngược từng giây, đợi chờ phút giao niên, giây phút từ năm cũ vượt qua năm mới, giây phút vượt qua của thời gian, cũng là giây phút vượt qua của lòng người, và đời người.

   1/ Giao thừa : Giây phút vượt qua của thời gian :
   Thời gian cần cho lịch sử, bởi không có thời gian làm sao có lịch sử, và con người cần lịch sử, bởi lịch sử như giòng sông , trên đó, con người xuất hiện, hiện diện, và tan biến. Nhờ giòng sông lịch sử, con người nhận ra dấu vết hiện hữu của mình; nhờ giòng lịch sử, con người định được thâm niên, tuổi tác, ngày chào đời, giờ tạ thế. Và giòng thời gian tưởng cứ mãi vô tình trôi về vô tận, mà không đoái hoài đến cột mốc, bờ ranh, nhưng thực ra, thời gian cũng phải theo định luật của vượt qua, khi vượt từ thời gian của năm cũ qua thời gian của năm mới, nhờ ngưỡng cửa Giao Thừa.

    2/ Giao Thừa : Giây phút vượt qua của lòng người:
    Không lúc nào, người ta biểu lộ ước mơ vượt qua bằng giây phút giao thừa. Người ta muốn vượt qua từ năm cũ sang năm mới, vượt qua từ thiếu sót sang hoàn hảo, vượt qua từ xấu sang tốt, vượt qua từ dang dở sang trọn vẹn, vượt qua từ thất bại sang thành công, vượt qua từ xui xẻo sang may mắn, vượt qua từ bệnh tật sang khỏe mạnh, vượt qua từ yếu đuối sang kiêu hùng, vượt qua từ nghèo đói sang dư dả, vượt qua từ không tiền sang có tiền, vượt qua từ thân nợ nần sang vị thế chủ nhân, vượt qua từ thất vọng sang hy vọng, vượt qua từ khánh kiệt sang phát tài, vượt qua từ thấp hèn sang cao cả, vượt qua từ chết sang sống, vượt qua từ khó khăn sang hạnh thông quan lộ.
    Vì là chuyến vượt qua chất đầy hy vọng, mang nhiều kỳ vọng, ôm ấp trọn ước mơ, nên giao thừa được coi như biến cố có sức đổi đời, sự kiện mang tính quyết định số phận tương lai. Chinh vì thế, đón giao thừa không còn là việc nhỏ, nhưng là việc trọng đại, ảnh hưởng không chỉ trên đời sống của một người, mà tương lai của cả gia đình, gia tộc, đất nước.
    Cũng vì ước mơ “vượt qua” thôi thúc mãnh liệt, mà người ta đón giao thừa như đón một nhân vật thiêng liêng, một thần linh hơn là đón một mấu chốt của thời gian, một giao điểm giữa năm cũ và năm mới. Với tất cả tâm hồn, người ta đón giao thừa bằng việc sửa sang, dọn dẹp tươm tất, và trang trí rực rỡ, sang trọng nhà cửa bên trong bên ngoài. Quần áo, trang sức thì khỏi bàn: ai cũng tươi tắn, mặn mà, đẹp trai, xinh gái. Người ta cũng vượt qua rất nhiều để không cau có, bẳn gắt, khó chịu, nhưng vui vẻ, tươi cười, ngay cả với người không ưa, hay đối thủ ở phút giây giao thừa, hầu tránh tai ương, xui xẻo cho năm mới.
    Cả đến những hành vi hung dữ, ngang ngược như thói quen ngày thường, ở phút giây giao thừa cũng phải được dằn lòng vượt qua và thay bằng tử tế, hiền lành.
    Như thế, giao thừa đã trở thành cơ hội mọi người tập vượt qua bằng vượt qua rất nhiều điều cần phải vượt qua như không nóng giận, chửi thề, nguyền rủa, đánh đấm. Sở dĩ vượt qua được những tật xấu mà ngày thường khó vượt qua vì người ta sợ giây phút vượt qua linh thiêng của giao thừa sẽ kéo theo những điều xấu của năm cũ qua năm mới, những điều xấu mà đa số đều nghĩ chỉ có phút giao thừa kỳ bí mới có sức tháo gỡ, thay đổi.

    3/ Giao thừa : giây phút vượt qua của đời người:
    Vượt qua đời người, vì giao thừa vượt từ trẻ qua già, vượt từ xa đến gần, vượt từ triền núi đi lên bên này qua triền núi đi xuống bên kia, nghĩa là sau giây phút vượt qua của giao thừa, tuổi đời sẽ già hơn, tuổi sống sẽ ngắn hơn, đường đời sẽ rút vắn lại, vì quỹ thời gian sống sẽ hao hụt theo bước chân của thời gian. Như thế, nếu vượt qua của lòng người ăm ắp ước mơ, thì vượt qua của đời người mở ra một thực tế không đẹp như mơ. Không đẹp vì thêm tuổi thêm già, tuổi già lại yếu đau, đưa con người gần hơn đến mộ phần.
Nhưng có thực lòng người đi nghịch hướng của thời gian và đời người ?
    Nếu thời gian chuyển vận theo quy trình một vòng tròn vô tận, thì đúng, nhưng thời gian không vô tận, mà có khởi điểm và đích tới, nghĩa là có đầu và cuối, khởi thuỷ và chung cục, nên tiến trình của thời gian đi theo một đường thẳng và Thiên Chúa là Đấng làm chủ toàn thể thời gian. Ngài ban thời gian cho con người và cùng thời gian, con người được mời gọi đi về Chân - Thiện - Mỹ tuyệt đối là chính Ngài.
    Như thế, thời gian của Thiên Chúa thì vô tận, và là hiện tại vô cùng trước mặt Ngài, nhưng với con người thì thời gian hữu hạn, bằng chứng là con người bị giới hạn bởi thời gian được cắt ra nhiều khoảng khắc làm thành quá khứ, hiện tại, tương lai, đồng thời đời sống mỗi người đều được định đoạt ngắn dài khác nhau bởi một thời điểm sinh ra và một thời điểm lìa đời.
     Cùng một quy trình với thời gian, con người cũng phải vượt qua những mấu chốt như thời gian phải vượt qua từ năm cũ qua năm mới, từ quá khứ qua hiện tại, rồi từ hiện tại qua tương lai, hướng về điểm hẹn cuối cùng là Thiên Chúa của Chân -Thiện - Mỹ tuyệt đối. Nói cách khác, dù muốn hay không, con người không ra khỏi thời gian, nhưng lệ thuộc thời gian, nên phải theo thời gian mà vượt qua không chỉ mỗi năm lúc giao thừa, mà vượt qua từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, không ngơi nghỉ, bởi giòng thời gian thì không ngừng trôi, và đời người không thể dậm chân tại chỗ.

   Một khi đã chấp nhận vượt qua là đòi hỏi của kiếp người, chúng ta cần xác định lý do của đòi hỏi này :
  a. Điểm tới sau cùng của thời gian đối với mỗi người là sự chết:

   Thời gian không vô tận, nhưng có điểm tới, chỗ ngừng. Một khi biết quỹ thời gian của đời ta không vô tận, nhưng sẽ ngừng ở một điểm, chúng ta sẽ không buông xuôi , thả trôi đời mình cách vô trách nhiệm trên giòng sông thời gian, nhưng sẽ cùng thời gian vượt qua giòng đời.

    b. Vượt qua sự chết, chúng ta phải đối diện vời Đấng là Chân - Thiện -Mỹ tuyệt đối.
    Chính vì Đấng này, mà chúng ta liên lỷ theo thời gian vượt qua : vượt qua gian dối đến với sự thật, vượt qua cái ác đến với cái tốt, vượt qua cái xấu đến với cái đẹp. Và hành trang “mang theo được và được mang theo” của chúng ta qua bên kia ranh giới của thời gian chính là sự thật chúng ta là, những điều tốt đẹp chúng ta sống, và những việc phúc đức chúng ta làm. Và để thực hiện những điều này, chúng ta phải vượt qua rất nhiều, và cái phải vượt qua thứ nhất cũng là cái khó vượt qua nhất chính là “cái tôi” kiêu căng, lười biếng, ích kỷ , hưởng thụ, tham lam.
    Đón giao thừa, mừng năm mới, chúng ta xin Chúa nghị lực và tình yêu để có thể vượt qua những gì của con người cũ, để mặc lấy con người mới trong Đức Giêsu Thiên Chúa, với ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần.

  Jorathe Nắng Tím


Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 4 Thường Niên, Năm C (Đồng Hương)


    Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật cảnh Đức Giêsu về quê Nadarét, như chúng ta đang khấp khởi chuẩn bị về quê ăn tết. Bởi ai cũng có một quê hương, Đức Giêsu cũng có như chúng ta một quê cha đất tổ, ở đó Ngài đã lớn lên, trưởng thành. Hôm nay về thăm lại quê làng, tâm trạng Ngài chắc không khỏi háo hức, bồn chồn như chúng ta về quê ngày Tết.

    Tin Mừng Luca kể chi tiết chuyến về thăm quê lần này của Đức Giêsu: Ngài đã vào hội đường và trước mặt đồng hương đã công bố chương trình mục vụ của mình, mà toàn phần được trích từ sách của ngôn sứ Isai: “Thần Khí Chúa trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Ngài sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18-19).
    Phản ứng tức thời, và tự nhiên của mọi người là “tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” ( Lc 4, 22). Nhưng ngay sau đó, họ không còn quan tâm đến nội dung bài giảng của Ngài nữa, mà quay nhìn nhau thắc mắc : “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?” ( Lc 4, 22). Và đoạn cuối của chuyến về thăm quê lần này là “mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực” ( Lc 4, 28-29).
     Tại sao lại có chuyện thay đổi đột ngột và đau lòng như vậy ?
    Trước hết, đồng hương của Đức Giêsu đã không thể nghĩ Đấng Thiên Sai mà toàn dân trông ngóng lại có thể là anh Giêsu, con trai ông Giuse nghèo, không hề “có máu mặt hay nổi đình đám” trong làng; còn bà Maria, mẹ của anh thì càng “vô danh tiểu tốt”, lặng lẽ, âm thầm. Chính vì nghèo và không có gì nổi bật mà đồng hương, dù ngưỡng mộ “lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” cũng trân tráo đổi mặt chống đối.
Thế mới biết con người thường đánh giá nhau qua những gì thấy được bên ngoài, như gia thế, của cải, chức tước, dáng bộ quyền quý, sang trọng, mà quên hẳn giá trị bên trong, thầm kín, nội tâm.
     Đồng hương còn một lý do sâu sa khác dẫn đến thái độ phẫn nộ, xua đuổi Đức Giêsu, người con của quê hương Nadarét là vì Đức Giêsu đã gián tiếp từ chối làm phép lạ như đã làm ở Caphanaum, khi Ngài lật tẩy ý nghĩ của họ : “Hẳn các ông muốn nói với tôi: Thày lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm ở Caphanaum, ông cũng hãy làm tại đây, quê hương ông xem nào !” ( Lc 4, 23). Đây chính là que diêm châm ngòi cơn phẫn nộ của hầu hết đồng hương của Đức Giếu hôm ấy.
     Quả thực, họ muốn Đức Giêsu, vì cùng quê, nên phải thuộc về họ, làm theo ý họ, đi theo đường lối họ đề ra, nhất là phải thi thố tài năng chữa bệnh, đuổi quỷ, cho người chết sống lại ngay tại quê hương, trước mặt họ, để làm “nở này nở mặt” đồng hương, làng nước, theo kiểu “một người làm quan, cả họ được nhờ”.
     Nhưng then chốt của vấn đề chính là thiếu Đức Ái nơi đồng hương Nadaret. Vì thiếu Đức Ái, họ đã không biểu lộ tình đồng hương thân thương, không ân tình đón tiếp người anh em Giêsu của mình, vì thế họ đã không nhận ra ân huệ của Thiên Chúa mà họ đang có nơi Đức Giêsu. Cũng vì thiếu Đức Ái, họ đã kiêu căng, tự đắc, ghen tương, nóng giận, hung dữ khi phỉ báng, xua đuổi, tìm cách hãm hại Đức Giê su, người con tuyệt vời của quê hương Nadaret. 
    Trong thư gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đã trình bầy bản chất của Đức Ái và theo Ngài : “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13, 13).
     Ước mong mỗi lần về thăm quê, chúng ta nhận được tình cảm ấm áp của những người con cùng quê cha đất mẹ, và yêu thương gửi lại quê làng tình người con xa xứ. 
     Trong Đức Giêsu, chúng ta cùng cầu xin cho quê hương, làng xóm được bình an, và đồng hương, thân thuộc biết yêu thương, tương trợ là giây liên kết mọi người trong tình Chúa, tình người, tình đồng hương ngàn đời trân quý.
Jorathe Nắng Tím


Thứ Năm, 24 tháng 1, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG Chúa Nhật 3 TN, năm C (Lc 1,1-4;4,14-21.)


SỨ MẠNG CỦA ĐỨC GIÊSU

    Điều Tin Mừng làm chúng ta bất ngờ hôm nay chính là Đức Giêsu đã công bố sứ mạng cứu thế của Ngài trong hội đường ở Nadaret, quê hương Ngài, để cũng từ quê hương không “là chùm khế ngọt” này, Ngài bị đồng hương “lôi ra khỏi thành...kéo lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực thẳm” (Lc 4, 29).


Tin Mừng làm nổi bật ba điểm trong sứ mạng của Đức Giêsu:

  1/ Ngài được quyền năng Thần Khí thúc đẩy (Lc 4, 14):
     Đức Giêsu đã đến trong thế gian để thực hiện thánh ý Chúa Cha. Ngài không tự mình mà đến, nhưng được sai đến bởi Thiên Chúa là Tình Yêu để yêu thương nhân loại đến cùng. Vì thế, sứ mạng cứu thế của Ngài cũng đã được hướng dẫn, thúc đẩy bởi Thánh Thần Là Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nói cách khác, sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu là công trình chung của cả Ba Ngôi Thiên Chúa với sự cộng tác tích cực của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

  2/ Đối tượng của sứ mạng là con người toàn diện:
    Khi khẳng định: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21), sau khi đã công bố lời ngôn sứ Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18-19), Đức Giê su đã cho cử tọa thấy rõ sứ mạng của Ngài là con người toàn diện, nghĩa là không chỉ con người siêu nhiên, nhưng còn là con người tự nhiên; không chỉ phần hồn của con người, mà còn phần xác của con người nữa.
    Ngài giải phóng những người nghèo thiếu ăn thiếu mặc, bị người đời khinh khi; giải phóng người mù loà vì đôi mắt thân xác không còn; giải phóng tù nhân mà xác thân bị tra tấn, hành hạ, gông cùm; và những ai bị áp bức mà dấu tủi nhục còn hằn sâu trên thân thể được Ngài trả lại tự do.
     Sứ mạng ấy nhắm con người toàn diện, vì con người gồm xác và hồn, nên không thể tách hồn khỏi xác. Thánh Giacôbê đã quảng diễn: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có Đức Tin mà không hành động theo Đức Tin, thì có ích lợi gì? Đức Tin có thể cứu người ấy được chăng ? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ : Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gc 2, 14-16). Sứ mạng loan báo Tin Mừng vì thế cũng không thể bỏ quên nhu cầu của thân xác con người.
    Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai đã nói về thân xác. Thánh nhân là người nói về thân xác nhiều nhất, 91 lần. Trong thư gửi giáo đoàn Côrintô, ngài nhấn mạnh phẩm giá của thân xác con người, vì “thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác” (1 Cr 6, 14), và “thân xác chúng ta chính là phần thân thể của Đức Kitô” (1 Cr 6, 15). Ngài còn quả quyết : “ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy ... và chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1Cr 12, 12-13).

  3/ Sứ mạng của Đức Giêsu đã được các ngôn sứ loan báo:
     Khi trích lời ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu đã nói lên vai trò của Cựu ước và sự gắn bó với truyền thống Itraen của Ngài, đồng thời cũng cho những người đang nghe Ngài biết : Chính Ngài là Đấng được xức dầu tấn phong và được Thiên Chúa sai đến để giải phóng nhân loại. Lời ngôn sứ lúc này là bảo chứng đáng tin cậy đối với cộng đoàn đang lắng nghe Ngài về sứ mạng cứu thế của Ngài.
    Công bố sứ mạng cứu thế, Đức Giêsu mời gọi chúng ta đi theo Ngài và cùng Ngài thực hiện sứ vụ yêu thương, phục vụ anh em mình.

Jorathe Nắng Tím