Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2019

ĐỨC TIN HẠT CẢI

Vì thân phận chỉ là hạt bụi, nên đức tin của con người cũng chỉ mong được lớn như hạt cải, hạt cải Đức tin mà Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ tiềm năng, và sức mạnh trong tin mừng Luca 17, 6 và Mátthêu 17,20.
Thực vậy, khi thấy nhiều người được chữa lành vì tin, đồng thời nhiều người trong nhóm được sai đi đã làm được những việc lạ lùng, các môn đệ đã nhận ra sự cần thiết của Đức Tin, nên đã nài xin Đức Giêsu : “Lạy Thầy, xin thêm Đức tin cho chúng con” (Lc 17, 5).
Lời cầu xin phát xuất từ nhu cầu tâm linh của con người, nhưng cùng lúc cũng là nhu cầu của đời sống, vì tâm linh tuy là một phần nhưng ảnh hưởng toàn phần con người. Niềm tin cũng vì thế chi phối tất cả sinh hoạt bởi có thời nào, nơi nào, người nào lại không cần niềm tin để sống trước đòi hỏi tin mình, tin Trời, tin nhau.
Hôm đó, chắc các môn đệ Đức Giêsu nghĩ Thầy mình sẽ “thêm” cho mình một Đức tin lớn lắm, ít ra cũng phải lớn như khối đá cổng đền thờ, hoặc kiên cố, kiêu hùng như hàng cột khổng lồ sừng sững của gian Cực Thánh. Nhưng thật bất ngờ, các ông đã chỉ nghe được từ miệng Thầy mình : “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em bảo cây dâu này : ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc 17, 6). Chỗ khác Ngài quảng diễn; “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia !” “Nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17,20).
Chỉ bằng hạt cải thôi chắc đã không là điều các môn đệ Đức Giêsu mong đợi, vì tự phụ nghĩ rằng Đức tin của mình hiện đã lớn hơn gấp nhiều lần hạt cải Thầy vừa nói, vì được ở gần Thầy, chia sẻ tất cả với Thầy từ gần ba năm nay. Các vị nhân danh “thâm niên tông đồ” mà nghĩ Đức tin của mình không thể nhỏ như hạt cải Thầy vừa nói.
Chỉ bằng hạt cải thôi chắc cũng không là điều đáng tin vì chính các vị cũng đã làm phép lạ. Làm phép lạ chữa được cả người bệnh nan y, đuổi quỷ ra khỏi người bị chúng ám mà Đức tin chỉ bằng hạt cải thôi, thì làm sao tin được, vì để làm được phép lạ, hẳn Đức Tin phải lớn lao, vĩ đại hơn nhiều .
Chỉ bằng hạt cải thôi với người đã đi theo Đức Giêsu ngay từ những ngày đầu truyền giáo của Ngài mà bảo Đức tin chỉ bằng hạt cải thì quả thực không gì xúc phạm “uy tín và sự nghiệp tông đồ hơn”.
Chỉ bằng hạt cải thôi với các tông đồ, những người đã bỏ gia đình, bỏ nghề nghiệp, bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu (Mt 4, 18 -22), thì khó có thể hiểu được, vì vô lý và rất bất công.
Chỉ bằng hạt cải thôi với người môn đệ Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng : “Lạy Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai, vì Thầy có lời ban sự sống đời đời” ( Ga 6, 68), rồi cũng môn đệ này còn quả cảm, liều lĩnh hơn khi tuyên bố : “Dù có phải chết với Thầy, con đây cũng không chối Thầy”, thì ai cũng phải nghĩ Đức tin của ông còn như hạt cải là chuyện tiếu lâm, khôi hài.
Ấy thế mà Đức Giêsu lại chỉ mong Đức tin của các tông đồ, các môn đệ, là những đấng bậc vị vọng, rường cột, nền tảng của Hội Thánh lớn bằng hạt cải thôi. Nghe thật buồn và hỏi ai không giật mình?
Quả thực, khi chỉ mong Đức tin của các tông đồ và môn đệ lớn như hạt cải, Đức Giêsu đã muốn nói với các vị và chúng ta :
1.    Đức tin là hành trình gặp gỡ Thiên Chúa và con người. Trên hành trình này, những bước chân của con người đến với Thiên Chúa bé nhỏ lắm so với những bước chân khổng lồ, vạn dặm, vạn năng của Thiên Chúa đi tìm con người. Vì thế, Đức tin không là công sức, công trình, công trạng, công đức của con người, vì con người chỉ là hạt bụi bất xứng, nhưng là ơn huệ “nhưng không” do Thiên Chúa ban tặng con người, vì yêu thương.
2.    Đức tin không là một vật thể, một giá trị vô sinh, vô cảm, nhưng là sự sống luôn sinh động, là đời sống với tất cả chiều kích. Chính Đức tin làm cho đời sống mang một lẽ sống, có một ý nghĩa sống, nhất là tìm được cho đời sống một hướng đi và mục đích. Như thế, Đức tin sẽ phải trở nên sức sống của Đức Giêsu đối với người có Đức tin như thánh Phaolô đã quả quyết : “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
3.    Vì Đức tin là sự sống, nên trồi sụt, thăng trầm, thay đổi như sinh hoạt đời sống, để có lúc ngọt ngào, sốt sắng, có lúc cay đắng, chán chường; có sớm mai nắng ấm, nồng nàn, phấn khởi, nhưng cũng có chiều buồn u ám, tang chế, tủi sầu. Do đó, Đức tin cần được ơn Chúa nuôi dưỡng , chăm nom , gìn giữ, nâng đỡ giữa vô số thử thách, cạm bẫy, nếu không Đức Tin của chúng ta có thể sẽ chao đảo, chênh vênh, yếu ớt, sụp đổ, tàn lụi, bởi ma quỷ sàng chúng ta như sàng gạo (x. Lc 22,31), nhất là khi chúng ta kiêu căng tưởng mình mạnh, nhưng thực ra chính là lúc chúng ta yếu, vì chỉ trong Đức Giêsu, Đấng là sức mạnh của những ai yếu đuối, Đức Tin của ta mới đứng vững được ( x. 2Cr 12,10).
4.      Nhưng quan trọng hơn cả, đó là Đức tin hạt cải thích hợp với mảnh đất tâm hồn, đặc biệt những tâm hồn bé nhỏ luôn được Thiên Chúa yêu thương và chúc phúc.
5.   Vì bé nhỏ, họ chỉ dám xin Chúa Đức tin bé như hạt cải bởi biết mình chỉ là giọt nước trong đại dương mênh mông, bao la vô tận của Thiên Chúa. Biết mình phận hèn sức mọn, họ chỉ dám trong cậy vào Lời Thiên Chúa nói với họ : “Đừng sợ !”, “Ơn Ta đủ cho con” ( 2Cr 12,9).
6.                   Vì yếu đuối, những tâm hồn bé nhỏ biết mình hay đổi thay, không bền chí, trung thành, nên chỉ dám xin Chúa Đức tin như hạt cải, mà không dám kiêu căng, tham vọng sở hữu Đức tin to đùng như Thái Sơn, hay bao la như biển rộng.
7.     Vâng, chính Đức Giêsu mong ước Đức tin của chúng ta lớn được như hạt cải, để chúng ta không kiêu hãnh nhận là do mình, tự mình khi hạt cải bé nhỏ mọc thành cây có cành lá xum xuê, và chim trời từng đàn rủ nhau đến đậu .
8.      Chính Đức Giêsu dậy chúng ta chân nhận thân phận hạt bụi của mình, cùng lúc với niềm xác tín hạt cải Đức Tin, bởi điều kiện thứ nhất và quan trọng nhất để được Chúa yêu thương và ban ơn Đức tin chính là khiêm tốn nhận mình là thụ tạo và ký thác, trông cậy ở Chúa như con thơ chỉ biết bám chặt vào tình thương của cha mình.
9.    Với Đức Tin hạt cải, thửa ruộng tâm hồn của người nhỏ bé nào cũng nẩy được mầm hạt giống Đức Tin, và nặng trĩu hoa trái tuyệt vời của Đức Tin.
10.  Và với hạt cải Đức Tin trong thân phận hạt bụi mong manh, lại đầy mâu thuẫn : “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm” (Rm 7, 19). chúng ta trở về với Chúa, tìm lại ơn gọi thuộc về Chúa của mình, và như các thánh tông đồ hằng ngày khiêm tốn nài xin : “Lạy Thầy, xin thêm Đức Tin cho chúng con”.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

YÊU MẾN GIÁO HỘI

      Vào những ngày này, sau những can thiệp mạnh tay của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đối với một vài vị thuộc hàng giáo phẩm từng giữ những chức vụ trọng yếu trong Giáo Hội, vì lạm dụng tình dục, truyền thông thế giới xôn xao đưa tin, bình luận.  Dư luận công giáo cũng như ngoài công giáo khắp nơi đều nhập cuộc và chia sẻ quan điểm, thái độ, chọn lựa của mình.
     Phần đông người ngoài công giáo thì ngỡ ngàng, không ý kiến vì tôn trọng, trừ một số phỉ báng, chống đối công giáo kinh niên, chuyên nghiệp thì hả hê, chớp cơ hội, và dịp may hiếm có để tăng cường mức độ khích bác, bôi nhọ. Trước làn sóng tấn công và hoàn cảnh bất lợi của Giáo Hội, người viết xin chia sẻ tâm tình của một người công giáo trước tình huống và cám dỗ có thể làm thất vọng, hoang mang, chao đảo tâm hồn những người con trong gia đình Giáo Hội.
    Qủa thực, không người công giáo nào đã không đau lòng khi những xì-căng-đan ấu dâm liên tục nổ tung kinh hoàng và ngày càng được triệt để khai thác bởi những người chống phá Giáo Hội, qua các phương tiện truyền thông mà không phải tất cả đều lương thiện, công bằng, và tôn trọng sự thật.
   Trước những yếu đuối của một số người được coi là cốt cán trong Giáo Hội, không ít người công giáo đã rơi vào tình trạng chao đảo, hụt hẫng, hoang mang. Hoang mang vì không biết Hội Thánh có còn là Hội Thánh của Đức Giêsu hay đã biến hóa thành tổ chức thuần trần thế trong tay thế lực trần gian nào rồi ; hụt hẫng vì không ngờ tội ác nặng nề như ấu dâm lại có thể xẩy ra trong lòng Giáo Hội và người vi phạm lại thuộc thành phần con cái ưu tú của Giáo Hội ; chao đảo vì những ý nghĩ tiêu cực và cám dỗ xa lánh, ngay cả từ bỏ Giáo Hội theo sóng dữ nổi lên.
  Thực vậy, không ai có thể chối cãi sức công phá của những trận cuồng phong, mà đại nạn ấu dâm là tiêu biểu, khi làm nhiều người công giáo mất tinh thần, và đặt lại vấn đề là người công giáo của mình.
  Thuộc gia đình Giáo Hội, tôi muốn đuợc cùng anh em tôi suy nghĩ để giúp nhau ra khỏi hoang mang, hụt hẫng, chao đảo để niềm tin không vì thế mà sút giảm hay mất đi, nhưng được củng cố vững chắc hơn, nhờ khiêm tốn và qủa cảm trung thành với ơn Chúa nhận được qua Giáo Hội. 
  Trước hết, một cách lương thiện, chúng tôi phải nhìn nhận rằng những phong ba bão táp bất ngờ đổ xuống trên Giáo Hội thường không là nguyên nhân trực tiếp, nhưng là lý do cơ hội được dựa vào để biện minh cho lựa chọn xa lánh và từ bỏ Giáo Hội đã được chuẩn bị từ lâu nơi một số anh em chúng tôi.
   Những anh em này có thể thuộc đám người đi đạo hai hàng, nghiã là vừa theo vừa không theo, nên sẵn sàng bỏ lề phải qua lề trái bất cứ lúc nào nếu có lợi ; có thể là người công giáo thời cuộc, cuốn theo chiều gió, nên chẳng bận tâm đến chuyện học hỏi, giữ đạo, sống đạo ; có thể là người của đám đông có đạo theo nếp nhà, và truyền thống ông bà, mà không quan tâm đến đức tin, tức chọn lựa riêng của chính mình ; có thể là nạn nhân của những lạm dụng đủ loại gây ra bởi những người có trách nhiệm trong giáo xứ, giáo phận, nên phẫn nộ và giữ mãi mối căm thù ; có thể là ngừơi mang nhiều tham vọng và ảo tưởng, nên khi không được trọng dụng trong cơ chế, tổ chức Giáo Hội đã âm ỉ từ lâu nuôi mối tị hiềm ; có thể đã hiểu lầm hoặc bị hiểu lầm trong khi phục vụ cộng đoàn.
  Nhưng  dù ở phạm trù nào, đội ngũ nào, cách thế nào vừa kể, thì mẫu số chung của tất cả  anh em chúng tôi vẫn là sự hiểu biết chưa vững chắc về căn tính và sứ mệnh của Giáo Hội.
  Vì thế, chúng tôi được mời gọi trở về với Đức Giêsu để biết Ngài đã yêu Giáo Hội như thế nào, và muốn chúng tôi phải làm gì trong Giáo Hội, cho Giáo Hội, và với Giáo Hội của Ngài.
   Trước cám dỗ nghi ngờ, tẩy chay, xa lánh, từ bỏ Giáo Hội, là cám dỗ thời thượng đang ăn khách với khẩu hiệu và chiêu bài : Tin Chúa nhưng không tin Giáo Hội, theo Chúa nhưng khước từ Giáo Hội, thánh Tông Đồ dân ngoại đã qủa quyết với chúng tôi :

a.   Giáo Hội là Thân Thể duy nhất, mà Đức Giêsu là Đầu :
    Ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (1 Cr 12,12-13).
       Với thánh Tông Đồ, chúng tôi xác tín Giáo Hội là đoàn thể gồm những con người với tất cả thiếu sót, giới hạn của con người, nhưng đoàn thể ấy đi theo Đức Giêsu, và thuộc về gia đình của Thiên Chúa, vì có Thiên Chúa là Cha và là Đấng Cứu Độ.
b.   Trong Thân Thể mầu nhiệm, mọi chi thể gắn bó hiệp nhất, và tương trợ với nhau :
   Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn… Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận đều đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. Vậy anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận (1 Cr 12, 18.25-26).
     Vì thế, chúng tôi cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, thành công, thất bại, vinh quang, ô nhục, và trong hoàn cảnh hiện tại, trước yếu đuối, vấp ngã, tội lụy của người anh em, chúng tôi đau nỗi đau chung của cả Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, và cùng đấm ngực ăn năn, nài xin ơn tha thứ.
c.    Đức Giêsu yêu mến và hiến mình cho Giáo Hội của Ngài :
  Thánh Phaolô đã trình bầy tình yêu của Đức Giêsu đối với Giáo Hội như tình yêu của vợ chồng dâng hiến cho nhau :
  Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh (Ep 5,21-25).
     Như thế, không có tách biệt, phân ly, chia cách giữa Đức Giêsu và Giáo Hội, nên không thể có Đức Giêsu mà không có Giáo Hội, yêu Đức Giêsu mà ghét Giáo Hội, đi theo, phụng sự Đức Giêsu mà từ bỏ, chống phá Giáo Hội, vì Đức Giêsu yêu Giáo Hội và nên một với Giáo Hội.
d.   Đức Giêsu yêu Giáo Hội và thánh hoá Giáo Hội :
    Giáo Hội gồm những con người bất toàn cần được cứu độ, và chính Đức Giêsu thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trứơc mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền (Ep 5,26-27).
      Vì thế, chúng tôi tin Giáo Hội được Đức Giêsu biến đổi mỗi ngày để nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Và với niềm hy vọng được cứu độ, chúng tôi nhận biết thân phận bất toàn của mình và tuyệt đối trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ và là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội mà chúng tôi là chi thể.
e.    Đức Giêsu trao quyền cho Giáo Hội :
·                 Ngài trao quyền cai quản Giáo Hội của Ngài cho các Tông Đồ :
Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô : Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ? Ông đáp : Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy. Đức Giêsu nói với ông : Hãy chăm sóc chiên con của Thầy. Người lại hỏi : Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không ?. Ông đáp : Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy. Người nói : Hãy chăn dắt chiên của Thầy… Và Người hỏi ông lần thứ ba : Anh có yêu mến Thầy không ?. Ông đáp : Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy Đức Giêsu bảo : Hãy chăm sóc chiên của Thầy (Ga 21,15-17).
      Vì thế, chúng tôi xác tín Đức Giêsu đã trao quyền cai qủan Hội Thánh của Ngài cho các Tông Đồ, đứng đầu là Phêrô, và chúng tôi vâng phục các Đấng Bậc trong Hội Thánh, vì các ngài nhận sứ vụ cai quản Giáo Hội trực tiếp từ chính Đức Giêsu. 
·                 Ngài trao quyền giáo huấn và thánh hoá muôn dân cho Giáo Hội :
   Sau khi sống lại và hiện ra với nhóm Mười Một tại Galilê, Đức Giêsu đến gần các ông và nói với các ông : Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em (Mt 28, 16-20).  
      Là người công giáo, chúng tôi tin các Tông Đồ được trao sứ mệnh gìn giữ kho tàng Đức Tin, giáo huấn của Đức Giêsu, và dậy cho muôn dân lệnh truyền của Ngài. Đồng thời bảo đảm nguồn ơn thánh qua các bí tích để thánh hoá muôn dân.
f.    Đức Giêsu sai Giáo Hội đến với muôn dân và bảo đảm sự có mặt của Ngài với Giáo Hội ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh :
    Người nói với nhóm Mười Một : Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo (Mc 16,15). Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20).
     Như thế, chúng tôi có chứng cứ để tin rằng Đức Giêsu và Giáo Hội là Một, vì chỉ có một Thân Thể mầu nhiệm mà Đức Giêsu là Đầu và mọi người trong Giáo Hội là chi thể, nên khi tách rời Đức Giêsu khỏi Giáo Hội, vì chỉ cần Đức Giêsu mà không cần Giáo Hội, chúng tôi sẽ chẳng có ai, vì Đầu đã bị chặt bỏ khỏi Thân, nên chỉ còn thây ma, sự chết.
    Chúng tôi cũng xác tín Giáo Hội được Đức Giêsu ký thác kho tàng Đức Tin tinh tuyền và trao phó sứ mệnh loan báo Tin Mừng : Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, đã chết và sống lại. Ngài là Cứu Chúa duy nhất của loài người và luôn đồng hành với Giáo Hội trên đường truyền giáo, dù đường có chông gai, nguy hiểm, nhiều cạm bẫy, và người môn đệ không ngừng bị ganh ghét, vu khống, truy lùng, bởi chính Ngài đã căn dặn các Tông Đồ trước khi lên đường chịu tử nạn : Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em (Ga 15, 18-19).
    Tuy biết thế, nhưng không phải chúng tôi không sợ, vì chúng tôi biết mình luôn yếu đuối, mỏng dòn : sợ mình có thể bỏ Thầy như các tông đồ, chối Thầy như tông đồ trưởng Phêrô, bán đứng Thầy như tông đồ Giuđa, a dua theo đám đông cùng thế quyền, thần quyền Do Thái đả đảo, đòi đóng đinh Giêsu vào thập giá. Chúng tôi cũng sợ khi giông bão ập tới, khi các thế lực tấn công, khi người đời cười chê, khi quan toà lên án sẽ đóng chặt cửa nhà như nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì các ông sợ người Do Thái (Ga 20,19), sau khi Thầy mình bị đóng đinh, chết trên thập tự.
     Nhưng với niềm tin vào Đức Giêsu phục sinh, Đấng đã chết để hủy diệt sự chết, Đấng đã xót thương để giải giới hận thù, Đấng đã hiến mình chuộc tội mọi người để chiến thắng ma qủy, hoả ngục, chúng tôi bước đi với ơn Bình An của Đấng đã hiện ra với các môn đệ sau khi sống lại và nói : Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần (Ga 20,21-22).
     Và trong Chúa Thánh Thần, chúng tôi sẽ nhận được hoa trái của Thần Khí là : bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ (Gl 5,22-23), và tiến bước nhờ Thần Khí, mà không tìm hư danh, không khiêu khích, không ganh tỵ (x. Gl 5,25-26), nhưng trước những vấp ngã, sai phạm, chúng tôi thưc hiện những điều thánh tông đồ dân ngoại căn dặn :
   Thưa anh em, nếu có ai vướng mắc tội nào, thì anh em, những người được Thần Khí thúc đẩy, hãy lấy tinh thần hiền hoà mà sửa dạy người ấy ; phải tự đề phòng kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. Anh em hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật của Đức Kitô (Gl 6,1-2).
     Xin Chúa cho chúng con biết yêu mến, trung thành và phục vụ Giáo Hội, vì Giáo Hội là Hiền Thê yếu dấu của Đức Giêsu và là Mẹ nhân lành của mỗi người chúng con.
   Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 5, Mùa Chay


Lề Luật và Lòng Tin ở ĐỨC GIÊSU
 Tất cả các Tin Mừng đều cho chúng ta thấy tương quan giữa Đức Giêsu và các thượng tế, kỳ lão và nhóm Pharisêu ngày càng xấu đi và bầu khí trở nên căng thẳng đến ngột ngạt. Tin Mừng Gioan hôm nay cho chúng ta biết đâu là điểm nóng đang đốt cháy tương quan này.
   Gioan tường thuật câu chuyện người đàn bà bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Chính các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu (Ga 8, 3), và họ nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Ga 8, 4-5).
    Có ba điều những người này muốn nói với Đức Giêsu:
1. Sự kiện phạm tội ngọai tình không thể chối cãi, bênh vực, vì có can phạm và người chứng.
2. Khung hình phạt dành cho tội này đã được Luật Môsê quy định chính xác, rõ ràng: ném đá cho đến chết.
3. Ý kiến của Đức Giêsu trong vụ này.
   Sở dĩ họ lôi người đàn bà phạm tội ngoại tình này đến trước mặt Đức Giêsu, vì họ biết chắc Đức Giêsu không thể làm khác Luật Môsê, cũng không thể che chống cho người đàn bà này vì chị ta bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Khi hỏi: “Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”, họ nắm chắc Ngài sẽ không trả lời được, và phải cúi đầu, ngậm miệng cho họ đem chị ta đi ném đá chiếu theo Luật.
    Vì thế, khi giải thoát người đàn bà có đến “chín phần chết, một phần sống”, Đức Giêsu đã làm tất cả mọi người có mặt sửng sốt, ngạc nhiên, kể cả căm phẫn, tức giận.
   Then chốt của cuộc giải thoát người đàn bà ngoại tình khỏi cái chết trông thấy, chính là lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu hiện trong Đức Giêsu, dung mạo đích thực của Chúa Cha, Đấng giầu lòng xót thương con người tội lỗi. Chính lòng thương xót đã cứu sống người đàn bà tội lỗi; chính lòng thương xót đã cải từ hoàn sinh, làm sống lại và tái tạo, đổi mới mọi người có tội.
     Điều Đức Giêsu muốn những người Pharisêu, Kinh Sư và những người có mặt hôm đó nhận ra, chính là lòng thương xót của Thiên Chúa vượt qua và vựơt xa mọi biên giới, rào cản, cơ chế, quyền lực, lề luật, dù đó là lề luật của Môsê, người của Thiên Chúa.
     Đức Giêsu không phủ nhận luật Môsê mà kinh sư và Pharisêu đưa ra, nhưng chỉ cho họ biết một chân lý căn bản, một sự thật cốt lõi của Giới Luật mới, đó là ngay trong luật Môsê, vẫn luôn có một “luật trừ”, đó là luật của lòng thương xót. Với luật trừ của lòng thương xót, không một tội nhân nào bị loại trừ, xua đuổi, từ chối khỏi lòng thương xót, bao dung của Đức Giêsu, Đấng đến để xót thương và cứu độ nhân loại.
   Thánh Phaolô đã xác tín chân lý này, khi làm nổi bật sức mạnh của lòng tin nơi Đức Giêsu trong thư gửi tín hữu Philipphê. Theo tông đồ dân ngoại, chúng ta có được Đức Giêsu, được kết hợp với Ngài, nghiã là được Ngài tha thứ, cứu độ, yêu thương không phải nhờ sự công chính của ta, “sự công chính do Luật Mosê đem lại nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin” (Pl 3, 9).       
    Sự lầm lẫn hay lạm dụng lề luật từ bao thời đã làm đau khổ, tổn thương không biết bao nhiêu con người yếu đuối cần được thương xót, trong số đó có tất cả chúng ta, vì có ai  là người vô tội, công chính, hoàn hảo, trong sạch trước mặt Thiên Chúa đâu? 
    Câu hỏi mang cung giọng thách thức của Đức Giêsu trước các ông Biệt Phái và Kinh sư hôm nào ở Giêrusalem: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7), thiết tưởng phải trở thành tiếng chuông đánh thức sự thật bất toàn, tội lụy, mỏng dòn, yếu đuối nơi chúng ta, và nhắc nhủ chúng ta hãy “biết thương xót người, để được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

NHỮNG CHUYẾN ĐI CUỘC ĐỜI


Đời mỗi người không chỉ là một chuyến đi, nhưng là những chuyến đi liên tiếp, không ngừng: đi từ bào thai trong lòng mẹ vào cuộc đời làm người; đi từ tuổi thơ hồn nhiên, vô tư đến tuổi lập thân, trưởng thành; đi từ tuổi trẻ “kinh bang tế thế” đến tuổi già thất thế, “gần đất xa trời”. Đời người ấy như những chuyến đò, chuyến xe, chuyến tầu lửa, chuyến máy bay đi từ nơi này sang nơi khác, từ Bắc vào Nam, từ Đông qua Tây, từ quê nhà ra nước ngoài, từ Á sang Âu, từ cực Bắc xuống cực Nam. Đời ấy củng đi từ yếu đuối sang mạnh mẽ, từ tối tăm qua ánh sáng, từ rối loạn đến bình an, từ ganh ghét, hận thù sang tha thứ, yêu thương hoặc ngược lại. Và trên những chuyến xe, chuyến tầu ấy, con người không thể đi một mình đơn độc, nhưng đi với người khác, đi chung với nhau; trên hành trình từ bé đến lớn, từ yếu thành mạnh, từ tội lỗi nên thánh thiện, con người không thể “cô thân độc hành”, nhưng từng bước chân đi, từng dặm đường đời luôn có người khác đồng hành. 
    Người khác đồng hành vì ta cần người khác, bởi chuyến đi nào xem ra cũng không thể tự mình thực hiện. 
     Trước nhất là chuyến đi vào đời, nếu không có mẹ cha, làm sao ta vào được cuộc đời? Tiếp đến là hành trình làm người, nếu không có tình yêu và bàn tay chăm chuốt xây dựng của rất nhiều người,  chắc gì đời ta có được hôm nay? 
   Tuy thế, đã có nhiều lúc ta bực bội trách mình sao đã dại khờ, nhẹ dạ gặp gỡ, thân quen với người này người nọ, mà vì họ, đời ta đã “xất bất xang bang”, xuống dốc không phanh, chìm sâu vực thẳm; có nhiều lần ta oán trách hàng loạt “người thân kẻ sơ” đã đến rồi để lại cho đời ta gánh nặng oan khiên. Họ là những người ta gặp trên những chuyến đi, những người đã một lần đồng hành, có thể chỉ “chung đường chung lối” dăm ba bước, vài cây số, nhưng cũng có thể dài lâu, có khi gần hết cuộc đời dài, nhưng cuối cùng thì vẫn phụ tình, phản bội,  “nghìn trùng xa cách”, “lạnh lùng như người dưng”, và để lại trong ta “tai ách đau thương”. 
      Họ là những người ta không cần, nhưng cần ta, hoặc ta đã cần họ, nhưng nay không cần nữa. Họ là những người ta chỉ cần cho một công việc nhất định, nhất thời, giai đoạn, hoặc họ chỉ  cần ta cho một thời vụ, một “phi vụ chớp nhoáng”. Và khi hết thời, xong việc, cả ta và họ đều nóng lòng tìm cách xa nhau cho khỏi phiền phức, bận rộn, cho bớt bẽ bàng, rủi ro. 
   Bên cạnh những người ta muốn quên, hoặc muốn quên ta là những người ta muốn giữ ở lại với ta suốt đời, nhưng ta không đủ sức giữ họ, hoặc họ không muốn ở lại với ta. 
   Vì thế, mỗi chuyến đi là một mạo hiểm, một hành trình mới, những cây số mới, không gian mới, thời điểm mới, bạn đường mới, với hành trang mới, ý nghĩa mới, và suy tư, tâm tình mới. 
   Tính cách mới sẽ đáng trân trọng vì thăng tiến và làm đẹp đời ta khi những chuyến đi hôm nay tích cực hơn những chuyến đi hôm qua, và những chuyến đi tương lai theo dòng đời ngày càng thêm tích cực. 
      Như thế, được gọi là chuyến đi mới khi không bạn đường nào bị ta coi là vô ích, vô dụng , “vô tích sự” trên hành trình đời ta, bởi mỗi người có mặt trong những chuyến đi đều là nhịp cầu cần thiết cho hạnh phúc đời ta. 
     Họ có thể chỉ là nhịp cầu tre chênh vênh, nhưng không có nhịp cầu tre mong manh, vắt vẻo, và cần thiết ở một thời điểm khó khăn, ta đã không vượt qua được thác đá cheo leo, nguy hiểm. Họ có thể chỉ là chiếc cầu khỉ khó đi, nhưng thiếu nhịp cầu thô sơ, chông chênh khi không còn phương tiện nào khác, chắc gì ta đã đạt đích tới chờ mong. Họ chỉ là cây cầu sần sùi, thô kệch, rêu phong, nhưng thiếu bóng dáng họ, không chắc đời ta đã ngời sáng. 
      Do đó, chỉ khi nào ta ý thức những chuyến đi đời ta là những chuyến đi hồng ân, vì gặp những con người đem lại hồng phúc và chính ta cũng là sứ giả mang ơn phúc cho họ, ta mới có thể hạnh phúc bước đi mỗi ngày trên hành trình luôn được tình yêu và ơn an bình thăng tiến, đổi mới. 
    Với người Kitô hữu, trên từng cây số cuộc đời, trong từng chuyến đi dong duổi, chúng ta có Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ hướng dẫn, có Đức Giêsu phục sinh 
là bạn đường đồng hành, có Đức Giêsu là Thiên Chúa của lòng thương xót nâng đỡ, ủi an, chia sẻ. 
   Như trên đường Emmau năm xưa, Ngài đồng hành với  hai môn đệ trên  đường trĩu nặng gánh sầu tang chế; đồng cảm khi lắng nghe tâm sự của hai người thất thế, thất bại; chia sẻ niềm hy vọng sống lại khi ở lại và đồng bàn với họ khi trời đã tối. 
   Hôm nay, cũng Đức Giêsu phục sinh cũng có mặt trong mọi biến cố, trên mọi nẻo đường, ở mọi tình huống, với hết mọi người chúng ta trong những chuyến đi cuộc đời. Ngài có mặt trong anh chị em cùng đi với ta, với lương thực ban sự sống, với ơn hình an và niềm hy vọng. 
    Có Đức Giêsu, mắt ta sẽ được mở ra như hai môn đệ trên đường Emmau để nhận ra Thiên Chúa trong anh em khi ta đồng hành, yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ, thứ tha. Có Đức Giêsu đồng hành trong những chuyến đi, Ngài sẽ mở trái tim ta để ta biết trân quý mọi người, dù họ là ai, giầu nghèo, sang hèn, yếu đuối , thánh thiện, bởi tất cả đều là sứ giả, nhịp cầu, cánh tay nối dài của Thiên Chúa giầu lòng thương xót đang xót thương đời ta, và đời mọi người. 


Jorathe Nắng Tím 

THIÊN CHÚA NÀO LÀ THIÊN CHÚA CỦA KITO GIÁO?

Triết học phân biệt căn tính, bản tính và thuộc tính. Căn tính hay bản tính là cái làm nên hữu thể, cái căn bản cho hữu thể được tồn tại. Căn tính người làm cho con người là người, căn tính chó làm cho con chó là chó, căn tính nhà làm cho cái nhà là nhà mà không phải là cái khác. Căn tính hay bản tính xác định chính xác từng loại, từng thứ để giữa các thứ loại không lẫn lộn nhau.
Khác với căn tính, bản tính, thuộc tính là các tính chất thuộc về một hữu thể, nhưng tự nó không làm nên hữu thể. Nó khác căn tính, bản tính, vì thiếu nó hữu thể vẫn tồn tại.
Thí dụ : bản tính người làm nên con người, nhưng những tính chất phụ thuộc như màu da, tiếng nói, trình độ văn hoá, tính tình, thông minh, dốt nát... không làm con người không là người khi thiếu chúng, bởi chúng không phải căn tính, bản tính người để làm nên con người, nhưng chỉ là những thuộc tính luôn mang tính phụ thuộc, vì lệ thuộc căn tính, phụ vào cho bản tính.
Vì thế, khi chọn ai, theo ai, yêu ai ta chọn, theo và yêu chính con người ấy, con người độc nhất, riêng biệt, không “chung chung”, không thể thay thế, hoán chuyển hay pha trộn lẫn lộn. Người ấy có căn tính riêng mà nhờ căn tính riêng biệt, độc đáo, đặc thù, độc nhất, ta không lầm người ấy với những người khác, không lộn người ta yêu với nhiều người chung quanh tuy có thể “hao hao giống”, nhưng “không bao giờ” là người ấy.
Cũng vậy, khi chọn một tôn giáo, chúng ta không thể không biết Đấng thiêng liêng mà tôn giáo ấy tôn thờ là ai, Đấng chúng ta đi theo, phụng sự, tin tưởng, cầu khấn và trao phó vận mạng đời này và tương lai đời sau là Đấng nào? Vẫn biết không ít người phó mặc chuyện tôn giáo cho tổ tiên và an tâm giữ đạo của cha mẹ, ông bà để lại mà không chút thắc mắc, đặt lại vấn đề. Bên cạnh là những người dứt khoát không muốn tìm hiểu, vì coi tôn giáo không cần thiết, mà còn là xì ke, thuốc phiện mê hoặc, phản khoa học, đi ngược trào lưu tiến hoá của nhân loại. 

Với chúng ta, những người lữ hành trên đường đi tìm Chân Lý, Thiên Chúa của tôn giáo chúng ta đi theo và tôn thờ phải được lý trí thao thức, khắc khoải đi tìm, bởi không biết sẽ không yêu, như hai người yêu nhau luôn muốn biết tường tận về nhau. “Vô tri bất mộ” là thế!
Quả thực, vấn nạn Thiên Chúa là ai đã được đặt ra ngay từ khi con người có mặt, bởi con người muốn biết nguồn cội của mình và nguồn cội ấy đã luôn không thỏa mãn khao khát của con người nếu chỉ dừng lại ở con người, bởi nguồn cội ấy chính là Thiên Chúa.
Khi chọn Ápraham, Thiên Chúa đã chúc phúc cho ông và chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ông (x. St 12,2-3), và hơn thế nữa, Thiên Chúa còn khẳng định : “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3). Vì thế, ông “dựng bàn thờ để kính Đức Chúa và kêu cầu danh Đức Chúa” (St 12,8), Đức Chúa rất nhân hậu.
Với Môsê, Thiên Chúa nói với ông Ngài là Đấng Hiện Hữu (Xh 3,14), Đấng đang có mặt với dân Ngài trong mọi hoàn cảnh :
“Ta là Thiên Chúa của cha ông các ngươi. ..Ta đã thật sự quan tâm đến các ngươi và cách người ta đối xử với các ngươi bên Ai Cập. Ta sẽ cho các ngươi thoát cảnh khổ cực bên Ai Cập ... lên miền đất tràn trề sữa và mật ong” (Xh 3, 16- 17).
Và suốt dòng lịch sử của Israël, dân riêng, Thiên Chúa đã cho họ biết Ngài là “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, thương xót, chậm bất bình và nhân nghĩa, thành tín” (Xh 34,6).
Căn tính Thương Xót của Thiên Chúa Israel đã tách biệt dân riêng của Ngài khỏi các dân khác đang thờ các thiên chúa khác với những căn tính hoàn toàn khác Ngài, Thiên Chúa của Ápraham, Isaác và Giacóp (Xh 3,16).
Là Thiên Chúa của lòng thương xót, căn tính của Ngài là Tình Yêu, mà không là những thuộc tính như toàn năng, công minh chính đại, khôn ngoan, thông biết mọi sự, vô thuỷ vô chung, phân minh thưởng phạt. Những thuộc tính này không thay thế căn tính Tình Yêu nhưng được bao bọc bởi căn tính Tình Yêu để hoạt động dưới sự hướng dẫn và tác động của Tình Yêu, nghĩa là toàn năng cũng chỉ là toàn năng của tình yêu, công bình cũng chỉ là công bình trong yêu thương, phân minh thưởng phạt cũng chỉ là thưởng phạt phân minh, công bằng vì thương xót. Căn tính tình yêu thực sự bao trùm tất cả, và tất cả đều phải quy hướng về.
Thực vậy, dòng dã lịch sử Israel, Thiên Chúa đã cưu mang, khai sinh, nuôi dưỡng, giáo dục dân Ngài bằng tình yêu của người mẹ như ngôn sứ Isaia đã viết : “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” ( Is 49, 15); đã kiên nhẫn chịu đựng những cứng cỏi, ương ngạnh, bất trung và phản nghịch của dân Ngài với tình yêu trung tín ( Xh 34, 7); đã quả cảm giữ đến cùng lời thề của giao ước yêu thương, dù không ngừng bị bội phản. Tắt một lời, Thiên Chúa đã chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa tình yêu khi không ngừng “thương xót từ đời nọ đến đời kia những ai kính sợ Ngài” (Lc 1, 50)
Tuy thế, không phải tất cả đã đón nhận Thiên Chúa là Tình Yêu. Trái lại có nhiều người không chỉ khước từ căn tính tình yêu của Thiên Chúa, mà còn muốn căn tính yêu thương ấy phải được thay thế bằng những thuộc tính thực dụng khác như Thiên Chúa oai hùng, dũng mạnh để tức khắc nghiền nát đối phương, lập tức “ăn tươi nuốt sống” kẻ thù; Thiên Chúa nghiêm khắc để thẳng tay trừng phạt, không thương tiếc phường tội lỗi, sa đọa mà không chần chừ, do dự, xót xa; Thiên Chúa tuyệt đối công minh, để việc gì cũng chiếu theo Luật mà xét xử, không chút nương tay, khoan hồng; Thiên Chúa “chí công vô tư” đến vô cảm, tàn nhẫn, không chạnh lòng thông cảm trước yếu đuối, lỡ lầm; Thiên Chúa chi li, không sai lệch từng phân li công tội đến băng giá lạnh lùng khi xét xử; Thiên Chúa ngăn nắp, trật tự như đòi hỏi của cơ chế hành chánh; Thiên Chúa chắc nịch, “bất di bất dịch” như từng dấu chấm, dấu phẩy nặng nề, ì ạch cuộn mình trong các khoản luật ngạo nghễ tự coi là tuyệt đối hoàn hảo và đời đời không thể sửa đổi, cải tiến đang trói buộc tự do của những người con được mang hình ảnh của cha mình là Thiên Chúa.
Những người này đã không bao giờ tìm thấy hạnh phúc trong Thiên Chúa, Đấng có tên là Tình Yêu, và nhiều cuộc nổi loạn chống Thiên Chúa và phá bỏ Giao Ước với Ngài đã từ đó phát sinh.
Đến thời Tân Ước, khi Đức Giêsu, Đấng là dung mạo đích thực của Thiên Chúa Tình Yêu có mặt trong thế giới , giữa mọi người, Ngài cũng được những người đương thời xôn xao thắc mắc hỏi nhau về căn tính của Ngài : “Ông Giêsu này là ai vậy ?”, và chính Ngài cũng có lần hỏi các môn đệ : “Các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16,15).
Trong bất cứ khẳng định nào về căn tính, Đức Giêsu đều quả quyết Ngài đến từ Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến để thực hiện ý muốn của Chúa Cha, và chính Ngài với Thiên Chúa Cha là một. Điều này xác định căn tính của Ngài là căn tính của Thiên Chúa và Tình Yêu chính là căn tính ấy như thánh tông đồ Gioan đã minh định không chút nghi ngại trong thư thứ nhất của ngài:
“Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,7-8).
Vì Thiên Chúa là Tình Yêu, nên sự thật ở Thiên Chúa là sự thật của Tình Yêu, chứ không là sự thật trắng trợn bị lột trần bởi cán bộ điều tra, quan toà; Đường của Thiên Chúa là đường Tình Yêu dẫn đến hạnh phúc, chứ không là “đường đi không
Con Thiên Chúa hằng sống”(Mt 16, 16), đến”, hay mê lộ, tử lộ, ngõ cụt, đường cùng; sự sống nơi Thiên Chúa cũng là sự sống phát xuất từ Tình Yêu, được nuôi dưỡng bằng Tình Yêu, chứ không là sự sống “không lẽ sống”, nên lời tuyên xưng của thánh Phêrô : “ Thầy là Đức Kitô, khi thay mặt anh em tông đồ trả lời câu hỏi của Thầy: “Các con bảo Thầy là ai ?” đã xác tín Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu hiện hữu, Đấng Hiện Hữu
trong Tình Yêu, Nguồn Sống đời đời phát xuất từ Tình Yêu hiện hữu.
Thánh Gioan đã sống với Đức Giêsu và cảm nghiệm sâu xa căn tính Tình Yêu của Thiên Chúa nên đã viết: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1Ga 4, 9). “Và Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1).
Chân lý ấy được minh chứng hùng hồn bằng cái chết vì người mình yêu, cho hạnh phúc của người mình yêu trên Thánh Giá của Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” , mà “ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ” (Cv 4, 12). Thánh Giá còn là dấu chỉ của Thiên Chúa là Tình Yêu đã yêu con người đến cùng, yêu đến hơi thở cuối cùng, cây số sau cùng, trong vô cùng của Tình Yêu.
Nếu thời Cựu Ước, nhiều người đã tạc bò vàng để thờ (Xh 32, 1-6), dù đã biết và đang sống dưới bóng yêu thương của Thiên Chúa là Tình Yêu, chỉ vì không chấp nhận Thiên Chúa là Tình Yêu mà muốn Thiên Chúa phải là đấng nào khác, với căn tính khác, thì dưới thời Tân Ước và cho đến tận thế, vẫn không thiếu những người chống lại Tình Yêu là Thiên Chúa, tìm lật đổ, hạ bệ Thiên Chúa là Tình Yêu, bởi Thiên Chúa Tình Yêu ấy cản trở mưu mô, thủ đoạn của trí khôn họ; làm phiền toái con tim đầy gian tham, ích kỷ của họ; gây khó khăn cho những toan tính hận thù, ganh ghét của tâm hồn họ; làm bực bội, xốn xang lòng dạ không nhân nghĩa của họ; làm rối rắm, mệt mỏi lương tâm ngày càng biến thái, tha hóa của họ; biến tâm can họ thành bãi chiến trường của những giằng co giữa thiện và ác, trung thực và gian dối, tốt lành và xấu xa, thánh thiện và quỷ quái, bởi được sinh ra từ Tình Yêu của Thiên Chúa, con người sẽ là hình phạt hỏa ngục của chính mình khi đi ngược ơn gọi yêu thương của mình.
Được sinh ra bởi Thiên Chúa tình yêu, nên hạnh phúc đích thực của con người không thể là gì khác ngoài tình yêu, cũng như nguồn duy nhất đem lại hạnh phúc cho con người là Thiên Chúa Tình Yêu. Ở ngoài Thiên Chúa, không tình yêu nào đảm bảo hạnh phúc viên mãn, tròn đầy. Vắng bóng Thiên Chúa là Tình Yêu, tai họa của ganh ghét, hận thù, bạo lực sẽ đổ ập xuống đời con người như lẽ tự nhiên, thường tình.
Quả thực, căn tính của Thiên Chúa trong Đức Giêsu là Tình Yêu, và trong tình yêu, con người gặp được Thiên Chúa, mà gặp gỡ Thiên Chúa, đi vào tương quan với Thiên Chúa chính là mục đích của tôn giáo, và niềm tin.
Kitô giáo là tôn giáo có Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu, nên “ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga 4, 16).
Và con đường có Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đồng hành với con người không thể là con đường nào khác ngoài con đường Yêu Thương, vì Thiên Chúa là Tình Yêu đã chọn đi trên con đường này để đến gặp loài người chúng ta.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2019

Trở Về


       Suy Niệm TIN MỪNG Chúa Nhật 4 Mùa Chay

    Trở về là tiếng chuông ngân nga suốt mùa chay trong các bài đọc thánh lễ, kinh nguyện phụng vụ ; cũng là tiếng lòng thổn thức của tội nhân trên đường về. 
    Nhưng trở về thế nào và trở về từ đâu ?
    Câu trả lời chính xác nhất được tìm thấy trong dụ ngôn “Người con hoang đàng” của Tin Mừng Luca qua những bước chân trở về của anh, sau thời gian dài bỏ nhà đi hoang, và tiêu tán hết tài sản được chia (Lc 15, 11-32).
   Tin Mừng cho thấy : anh đã trở về từ một nơi rất xa mái ấm mà anh đã bỏ đi ; trở về từ tình trạng tiền tiêu hết mà bụng thì đói meo, phải ở đợ, muốn lấy cám heo ăn cho đỡ đói cũng không được; trở về từ tình hình sức khỏe xuống dốc; trở về từ tình huống không còn bạn bè nghĩa thiết, em út xinh đẹp, đàn em năng nổ, răm rắp tuân phục (x. Lc 15, 14-17).
   Đó là những cọc mốc ghi dấu chân anh trở về, nhưng không là khởi điểm của đường về, vì chân có bước đi được là do lòng đã quyết, nên trái tim, tâm hồn mới chính là khởi điểm của đường về. Anh đã quyết định điểm xuất phát của hành trình trở về khi “anh hồi tâm và tự nhủ : Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói !” (Lc 15, 17).
   Nếu trở về là về lại với ai đó, thì hồi tâm là về lại với mình, để lòng gặp lòng, ta gặp ta, “cái tôi” soi gương trong “cái mình”, để không nhân vật, sự vật nào có thể làm vách ngăn, màn che, tường chắn giữa “cái tôi” nguyên hình, nguyên trạng và “cái tôi” phấn son, hoá trang, giả dạng ; không còn thế lực nào có thể làm sai lệch “cái tôi” thật bên trong luôn được che giấu, và “cái tôi” giả hiệu bên ngoài được khoe khoang, trưng bầy; không còn cơ chế, quy luật, tổ chức nào có thể làm sai kích cỡ, trọng lượng, phẩm chất giữa “cái tôi” riêng tư của tâm hồn và “cái tôi” xã hội. Và chỉ như thế, cuộc trở về với chính mình mới thành công, và ta mới thực sự gặp được ta.
   Thực vậy, ta gặp lại ta, ta tìm gặp lại chính mình là công đoạn then chốt của hành trình trở về, bởi để trở về với bất cứ ai, trở về bất cứ nơi nào, trước tiên phải trở về với chính mình, nếu không, hành trình trở về không có điểm xuất phát, điểm khởi hành, để rồi mãi mãi sẽ chẳng có bước chân lên đường, vì chủ thể mất định vị, định hướng.
   Sở dĩ người con hoang đàng trong Tin Mừng đã không trở về ngay những ngày đầu khi vừa ăn tiêu hết sạch tiền và phương xa ấy vừa chớm xẩy ra nạn đói khủng khiếp (Lc 15, 14), mà nấn ná, chần chừ mãi cho đến khi không còn gì để nhét vào bụng, vì chẳng ai cho, và gần như chết đói (Lc 15, 16-17), mới lê tấm thân tàn tạ, đói rách trở về là vì anh đã chưa tìm được điểm khởi hành, chưa định vị được chỗ anh đứng. Đến khi “hồi tâm, và tự nhủ” (Lc 15, 27), anh mới nhận ra mình là ai, đang ở đâu, và từ đó mới thiết kế chương trình trở về, mới nghiên cứu con đường về lại nhà cha.
   Ở khởi điểm hồi tâm, anh đã phải chiến đấu rất cam go với chính mình, khi bị giằng co “nửa muốn ở, nửa muốn về”, vừa muốn trở về nhà Cha để có cơm no áo ấm, vừa muốn tiếp tục ở lì trong thiếu thốn, cơ cực. Chính cái tôi ương ngạnh, kiêu căng, cái tôi vĩ đại không bao giờ chịu nhỏ bé, cái tôi hoành tráng không chịu ô nhục khi phải thu mình, “im hơi lặng tiếng”, cái tôi quyền lực phát điên khi phải hạ mình, rũ áo, cái tôi tham lam ki cóp tiền của khi phải mất mát, buông bỏ. Tất cả những cái tôi nặng nề, cồng kềnh, nhiêu khê, phức tạp đó đã ghì trói bước chân lên đường của người con hoang đàng, phung phá muốn trở về.
    Cũng ở khởi điểm hồi tâm, anh đã trải qua cuộc đấu tranh nội tâm rất gay go, với nhiều ray rứt trước viễn ảnh ngày mai không có gì bảo đảm, vì cho đến lúc này, trở về với anh cũng vẫn là một mạo hiểm, mạo hiểm vì không biết thái độ của Cha và anh hai ra sao ? Anh sẽ được tha thứ hay khước từ ? Lý do khiến anh còn phân vân, lo lắng là vì anh chưa đi vào trọng tâm của hồi tâm. Trọng tâm ấy chính là nhận ra dung mạo nhân từ, dáng dấp yêu thương, trìu mến của Cha trong đời làm con của mình, nên chỉ đến lúc nghẹn ngào thốt ra từ cửa miệng đắng chát hai tiếng “Cha tôi” khi đang tự nhủ, anh mới đứng lên và bước đi được (x Lc 15, 18. 20).
   Như thế, khi hồi tâm trở về lòng mình, trở về với con người thật, trần trụi của mình, anh tưởng đã gặp những “cái tôi” của mình, nhưng thực ra anh đã gặp Cha anh. Chính vì gặp Cha mà anh đã mạnh dạn tin tưởng trở về, bởi nếu chỉ gặp những “cái tôi” hoang đàng, phung phá, tiều tụy, đói rách, bệ rạc của mình, chắc chắn anh đã không đủ can đảm đứng dậy, trở về.
   Hồi tâm như thế là trở về với sự thật của “cái tôi” khờ dại, nông nổi, non nớt, yếu đuối, tội lụy, ngông cuồng, phản phúc để tìm gặp hình bóng yêu thương, nhân hậu, bao dung, toàn năng, cứu độ của người Cha Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện trong chính những bất toàn, bất trung, bất nghĩa của con cái Ngài đã sinh ra và cứu chuộc ; là về lại với mình để thấy mình cần tình Cha tha thứ, cần tay Cha chữa lành, cần Lời Cha hướng dẫn, cần máu thịt Cha nuôi sống, cần sự chết của Cha hồi sinh, và cần ơn Cha đổi mới.
   Hồi tâm như thế cũng là về lại nhà mình, nhưng không về để cố chấp bám víu “cái tôi” cũ nát, bám chặt cái mình đã hư hỏng, nhưng ra khỏi mình, rời bỏ “cái tôi” để mang lấy chính Tình Yêu thương xót của Cha trên trời, Đấng kiên nhẫn đợi chờ ngay đầu ngõ, vì đường tội nhân trở về gặp Ngài cũng là đường Ngài đến tìm tội nhân.
   Tóm lại, trở về không là trở về gặp mình rồi ở lại với mình, nhưng gặp con người thật của mình như điểm xuất phát để ra khỏi mình và đi gặp Chúa, từ bỏ chính mình để đi theo Chúa, như Đức Giêsu đã tuyên bố : “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình” (Mt 16,24).
   Từ bỏ mình như thế là không ở với mình như người tham lam không chịu rời xa lâu đài ích kỷ, hay như kẻ kiêu căng cố thủ pháo đài quyền lực, nhưng ra khỏi lâu đài của cải để gặp Thiên Chúa là Cha đang cư ngụ trong những người nghèo khó, bị bỏ rơi ; là cởi trói mình khỏi “cái tôi” gian ngoa, ác độc, hồ đồ vu khống, hung bạo, bất công để tìm về Thiên Chúa là Cha trong Đức Giêsu hiền lành và khiêm nhường, tự hạ làm thân nô lệ, tôi tớ phục vụ, và của lễ đền tội mọi người.
   Và trở về từ nay sẽ là bỏ mình chọn Chúa, ra khỏi cái tôi ích kỷ để đến với anh em, từ bỏ con người cũ đầy tham vọng để khiêm tốn đồng hành, gánh vác, chia sẻ với những người kém may mắn. Và quan trọng hơn tất cả là trở về với hạnh phúc của người con luôn mang trong mình hình ảnh Cha giầu lòng thương xót, và trái tim Cha bao dung, nhân hậu. Người Cha Thiên Chúa ấy đã không để con mình nói hết lời thú tội, xin lỗi, nhưng mừng vui khôn tả mời hết làng trên xóm dưới đến ăn tiệc mừng “con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, 32).
   Xin cho chúng con thấu hiểu : Chúa mới là khởi điểm và đích điểm của hành trình trở về, và dạy chúng con không đào bới tội xưa, lỗi cũ làm hành trang ngày về, nhưng suốt cuộc đời, ở bất cứ đâu, và trong mọi cảnh huống sẽ chỉ có tình Thiên Chúa xót thương là hành trang duy nhất của đời chúng con trên đường trở về.
  Jorathe Nắng Tím