Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2019

TÌNH YÊU KHÔNG CHỊU ĐỂ MẤT NGƯỜI YÊU

Tin Mừng Luca chương 15 trình bày rất đầy đủ và chi tiết lòng nhân hậu, thương xót, bao dung của Thiên Chúa, và mỗi khi đọc đến các dụ ngôn “con chiên bị mất, đồng bạc bị đánh mất, người cha nhân hậu”, tâm hồn chúng ta đều xúc động và trào dâng niềm hy vọng được Thiên Chúa rộng lượng xót thương.
   Tuy xúc động với niềm cảm mến, và tin tưởng, chúng ta vẫn không hiểu tại sao Thiên Chúa lại chịu khó bỏ công đi tìm một chú chiên đi lạc của một bầy chiên hằng trăm con, hay vất vả, cầu kỳ đốt đèn tìm cho được đồng xu đánh mất, mặc dù đồng xu teng đó chẳng có giá trị lớn lao gì.
   Có người cho rằng Thiên Chúa là ông chủ keo kiệt, ki bo, không chịu để gia sản, của cải của mình tiêu hao, mất mát dù một con chiên nhỏ, gầy guộc, ốm yếu, hay một đồng xu không đủ mua ổ bánh mì ; người khác cho rằng Thiên Chúa không biết tính toán, nên mới bỏ chín mươi chín con để đi tìm một con, và chịu mất thời giờ qúy như vàng để tìm cho được một đồng xu chẳng có gì qúy giá.
      Qủa thực, thái độ của Thiên Chúa ít nhiều đã làm chúng ta bỡ ngỡ, ngạc nhiên : bỡ ngỡ vì Thiên Chúa kiên định đến cùng trong ý muốn “đi tìm cho kỳ được” những gì đã mất ; ngạc nhiên vì  Thiên Chúa không chủ bại, đầu hàng, để mất dễ dàng những ai thuộc về mình. Từ bỡ ngỡ, ngạc nhiên đưa chúng ta đến tâm tình yêu mến, ngưỡng mộ và tín thác ở lòng thương xót nhiệm mầu của Thiên Chúa, người Cha vô cùng nhân hậu mà dọc suốt Tin Mừng, dung mạo tuyệt vời thánh thiện ấy đã được mặc khải, trình bày rõ ràng, tỉ mỉ :
1.   Thiên Chúa không muốn mất một con người nào :
   Đây là điều chúng ta phải xác tín, nếu không, Thiên Chúa của chúng ta sẽ chỉ còn là một thiên chúa dựng nên con người một cách đại trà, bừa bãi, rồi đến ngày tận thế thu gom lại những đứa tốt lành, số còn lại không đạt chuẩn đạo đức thì thẳng tay từ bỏ, ném vào hoả ngục. Không nắm vững Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ, và khao khát cháy bỏng của Ngài là tất cả mọi người, không trừ ai đều được cứu độ (Ga 17,12), và chung hưởng hạnh phúc với Ngài, chúng ta sẽ rơi vào một thiên chúa lạnh lùng, vô cảm chỉ theo dõi, rình rập để lên án, luận phạt con người. Thiên chúa ấy sẽ không mấy khác người bạo dâm chỉ vui thú, hứng khởi khi nhìn người khác quằn quại đau đớn.
     Đức Giêsu qua các dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa là người cha bao dung, nhân hậu đã cho chúng ta thấy : Thiên Chúa không chịu để mất một người nào trong con cái loài người mà chính Ngài đã dựng nên và yêu thương, nên khi có một người đi lạc, sa đà, mất tích, chính Ngài sẽ thân hành đi tìm, như người chăn chiên nhân lành đã “để chín mươi chín con chiên kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất” (Lc 15,4), và như “người phụ nữ có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng” đã “thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được” (Lc 15,8).
    “Tìm cho kỳ được” diễn tả ý chí kiên định không để mất ; “tìm cho kỳ được” nói lên tình yêu tha thiết, gắn bó, keo sơn, không thể sống mà thiếu nhau ; “tìm cho kỳ được” bộc lộ nỗi xót xa, lưu luyến, nhớ thương khi phải xa lià; “tìm cho kỳ được” làm chứng lòng trung tín sắt đá của tình say đắm, nồng nàn cho nhau, bởi không tha thiết, keo sơn, không xót xa, lưu luyến, không say đắm nồng nàn, không chí tình chí nghiã, không thiết thân nên một, người ta không thể kiên định, trung tín và đủ lửa tình yêu để bỏ công đi “tìm cho kỳ được” người mình yêu, để vất vả ngược xuôi hỏi han, thăm dò, nhờ cậy, tốn kém thuê mướn rất nhiều người với nhiều phương tiện để tìm cho thấy người mình yêu, và bằng mọi giá không để phải xa nhau, lạc nhau, mất nhau.
    Khẳng định Thiên Chúa là người cha nhân hậu yêu thương và bao dung vô cùng, Đức Giêsu mặc khải sứ mệnh của Ngài, “Thiên Chúa làm người” là đi tìm những con người  đã đi lạc mất, và làm cho sống lại những con người đã chết, như Tin Mừng Luca đã ghi lại trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” : “Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,32).
     Những con người đã mất và đã chết ấy chính là những người con được sinh ra và lớn lên trong yêu thương của Thiên Chúa. Nói cách khác, tất cả mọi người trên thế gian này đều là người con được Thiên Chúa yêu thương, đi tìm, cứu sống, và không một người nào ở ngoài đại dương tình yêu, hay bị xua đuổi khỏi trái tim chỉ biết yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa. Đây là chân lý căn bản của mặc khải đức tin, bởi chính Đức Giêsu đã luôn công bố, loan truyền và làm chứng điều này, điển hình là Ngài đã yêu đến cùng và chết trên thánh giá để trở nên “của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2,2).
    Vì thế, là người tín hữu, chúng ta không được “bán tín bán nghi” tình yêu cao vời và “nhưng không” của Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người, không trừ ai, vì tất cả mọi người đã một lần có mặt trên dương thế này đều là con Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ, nên mầu nhiệm cứu độ của Đức Giêsu  phải được đón nhận trong tinh thần bác ái huynh đệ và vượt trên mọi rào cản, ranh giới. 
     Cũng chính vì yêu tha thiết, Thiên Chúa không muốn để mất một con người nào, nên quy trách Thiên Chúa tẩy chay, cô lập, khai trừ, thanh lọc, xua đuổi chúng ta ra khỏi nhà Ngài, xa khỏi trái tim Ngài là vu khống, phạm thượng và khinh bỉ chính Ngài. Trái lại, chính chúng ta, những người con của Ngài, anh em với nhau lại là kẻ tố cáo, tên sát nhân, kẻ gài bẫy, ông quan toà, chúa ngục gian ác đã nhiều lần dùng thủ đọan thâm hiểm để đàn áp, hành hạ, tiêu diệt lẫn nhau, rồi trút lỗi, đổ tội cho “Thiên Chúa, Đấng từ bi, nhân hậu, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung”.
    Bởi thế, nếu có ai đó bị khai trừ cách này hay cách khác khỏi cộng đoàn thì phải hiểu rằng Thiên Chúa không khai trừ người ấy, nhưng những con người của cơ chế, tổ chức  hoặc vì quá “vị luật” đã nhân danh lề luật, hoặc vì qúa cứng nhắc mà dựa vào nguyên tắc vô hồn, hoặc vì cuồng tín đến ngu muội mà bảo vệ bằng mọi giá các thứ vinh quang, công trình, cơ đồ của Thiên Chúa khi nhẫn tâm khai trừ, lên án người anh em là chi thể của cùng Thân Thể với mình.
     Những người dựa quyền, ỷ thế  khai trừ, loại bỏ, nghiền nát anh em  có thể đã nhân danh Thiên Chúa và Giáo Hội của Ngài, nhưng chắc chắn đã không  nhân danh Thiên Chúa Tình yêu, không cậy dựa vào Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giầu lòng xót thương, không đặt chọn lựa trên nền tảng của Giới Luật mới Yêu Thương, không đủ lương thiện và khiêm tốn để biết mình cũng yếu đuối và cần đến lòng xót thương của người khác, bởi nếu nhân danh Tình Yêu, lòng Thương Xót, họ sẽ không làm ngược lại điều Thiên Chúa muốn và dạy : “Hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34); bởi nếu lấy tình bác ái mà cư xử , họ sẽ không thể phủ nhận đòi hỏi căn bản của Đức Ái là mưu tìm hạnh phúc cho tha nhân bằng phục vụ ; bởi nếu biết mình cùng thân phận đáng thương, họ sẽ không ngang ngược loại trừ, lạnh lùng trù dập, tàn nhẫn xua đuổi người khác đang mếu máo, qùy xụp van xin lòng thương xót của họ ; nếu họ thực sự chọn Đức Giêsu là Cứu Chúa,  họ sẽ phải noi gương Ngài, mục tử nhân hậu, yêu thương, không chịu để mất, nhưng “đi tìm cho kỳ được” con chiên lạc đàn, đứa con hoang đàng, tội lỗi ; và nếu họ chân nhận Giáo Hội là tập thể đi theo Đức Giêsu để cùng sống yêu thương, là Thân Thể duy nhất và hiệp nhất có Đức Giêsu là Đầu, và mọi người là chi thể, thì lòng ích kỷ, nhỏ mọn, và tính ganh ghét, bạo lực nơi họ phải được giập tắt bởi Thánh Thần Tình Yêu, Đấng cho họ thấy Thiên Chúa là  Tình Yêu (1Ga 4,8), và sứ mệnh của “Thiên Chúa làm người” là ở với con người để yêu thương và cứu chữa, chứ không luận phạt, khai trừ, đồng thời được Thánh Thần dậy  biết xót thương anh em để được Thiên Chúa thương xót (x. Mt 5,7).
2.   Thiên Chúa vui mừng khôn tả khi cứu được một người tội lỗi.
     Vật càng qúy, mất càng đau, tìm lại được càng vui mừng, hạnh phúc. Mỗi người với Thiên Chúa là một giá trị vô cùng, một kho tàng vô giá, vì với Ngài “mỗi người là toàn thể nhân loại”, chẳng thế mà Thiên Chúa đã như người chăn chiên khi tìm được con chiên lạc đàn rồi, thì “người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói : “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó”...  (Lc 15,5-6) ; Thiên Chúa cũng như người phụ nữ tìm thấy đồng bạc bị mất đã khoe với hàng xóm và mời mọi người cùng chung vui với bà (Lc 15,9), nhưng ấn tượng hơn cả là niềm vui khôn tả của Thiên Chúa qua hình ảnh người cha nhân hậu với đứa con phung phá, hoang đàng : “Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (Lc 15,20). Không để cho con nói lời tạ tội, xin lỗi, nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép và chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng . Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy…” (Lc 15, 22-24).   
   Hình ảnh vui mừng khôn tả của người chăn chiên khi tìm được chú chiên lạc đàn, của người phụ nữ tìm được đồng xu, nhất hạnh phúc trào dâng, ngây ngất của người cha nhân hậu khi đón con trai hoang đàng trở về là bằng chứng không thể chối cãi giá trị lớn lao của con người và niềm vui vĩ đại của Thiên Chúa khi một người tội lỗi trở về với lòng thương xót của Ngài.
     Nhiều người cho là hoang đường chuyện Thiên Chúa thứ tha cách dễ dàng những ai  tín thác và đứng lên trở về với lòng thương xót của Ngài. Họ là những người đã lấy trái tim nhỏ bé, cõi lòng hẹp hòi của mình làm thước đo trái tim yêu thương vô cùng, và tấm lòng bao dung vượt qua tất cả mọi ranh giới của Thiên Chúa ; họ là những người đã lấy cái hữu hạn đáng thương của mình làm tiêu chuẩn đo lường tình yêu vô hạn, vô biên của Thiên Chúa ; họ cũng là những người lố bịch đến độ ngạo mạn, khi ngông cuồng  vẽ “đường bay” cho Thánh Thần Tình yêu, và muốn Thiên Chúa yêu người họ yêu, ghét người họ ghét, thi ân cho người họ thân quen và truy diệt kẻ họ ganh ghét, hận thù. Cách chung, họ là những người cố tình cắt nghiã ý Thiên Chúa theo ý họ, chú giải điều Thiên Chúa dậy mặc dù rất rõ ràng và không thể chối cãi theo kế hoạch, toan tính, chương trình, đường lối riêng của họ, và dùng quyền để đe dọa, áp đặt, khống chế người khác phải tuân theo những quyết đoán sặc mùi cảm tính và ích kỷ của họ.
   Nắm trong tay quyền lực, họ có thể nhân danh bất cứ giá trị nào, kể cả Thiên Chúa để cắt nghiã “chân lý” theo ý họ, mà thực chất chỉ là ngụy biện và ép uổng chân lý rập khuôn theo ý họ, hầu phục vụ tham vọng quyền bính, và mọi thứ tham vọng khác được che giấu, ngụy trang. Và tận cùng của thảm cảnh, cũng như tột đỉnh nỗi đau của bi kịch  con người chính là niềm tin bị cưỡng chế, khi vì qúa sợ quyền lực, bạo lực, áp lực của cơ chế hay cá nhân, người ta sẽ không còn dám tin điều họ tin, hoặc không còn khả thể sống niềm tin họ đang có. 
   Ở đây, chúng ta muốn nhấn mạnh đến niềm tin vào Thiên Chúa là người cha nhân hậu, Đấng đã cho con người một giá trị mà chính con người không thể tưởng tượng, hay nghĩ tới. Giá trị hệ tại ở “tình yêu vô cùng và đến cùng” Thiên Chúa dành cho ; giá trị có nền tảng trên thập giá của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã hiến mạng sống để cứu sống mọi người ; giá trị cắm lều trên ơn sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng đã chọn thân xác con người làm đền thờ ; giá trị được đóng ấn bằng sư hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa và ơn được làm con Thiên Chúa của mỗi người.
    Chính giá trị đó đã làm con người vượt xa tất cả các thụ tạo trên trần thế này, nhưng không mấy người đã nhìn thấy và đón nhận giá trị tuyệt vời ấy. Và khi nhận ra, tâm hồn người công chính sẽ không thể không thảng thốt thân thưa : “Lạy Chúa, con người là chi, chính con đây là gì mà Chúa phải quan tâm và yêu thuơng đến như vậy ?”.
     Vì không nhận ra giá trị của chính mình và của người khác, chúng ta luôn bị cám dỗ hạ thấp anh em, vùi dập đồng loại cho thoả lòng ganh ghét, ích kỷ. Chúng ta đâu ngờ : càng đạp anh em xuống sâu để tiến thân, càng dùng người khác làm bệ cho mình lên cao, ta càng hạ giá trị nhân bản và thiêng liêng của mình, vì mục đích và động cơ tự nó đã thấp kém, tầm thường, kinh tởm.   
    Và từ đó, chúng ta mất hết cảm thức về giá trị của con người, và coi thường giá trị ơn cứu độ. Bằng chứng là chúng ta ít quan tâm đến những anh em lầm đường, lạc hướng ; thiếu từ tâm, bác ái, quảng đại và tình huynh đệ đối với những người cần một bàn tay nâng dậy ; sơ cứng, lạnh lùng trước “cơn khát hoàn lương” một lời an ủi khuyến khích của người chị em yếu đuối để có can đảm ra khỏi vũng lầy ; hững hờ, dửng dưng trước “cơn thèm thuồng được về lại mái nhà xưa” một ánh mắt cảm thông của người bị chính đoàn thể, người thân, bạn hữu xa lánh, cô lập, tẩy chay, trục xuất vì trót sai phạm ; và chai đá, vô cảm trước lời van xin lòng thương xót của người anh em đang thực sự cần được  mọi người thương xót để  sống sót, tồn tại.   
    Thực vậy, chỉ khi nào chúng ta ý thức và cảm nghiệm con người là một giá trị không thể chuyển nhượng, và vô giá, như Đức Giêsu đã mặc khải : “Tôi nói cho các ông hay : trên trời, cũng thế, ai nấy cũng sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15, 7), chúng ta mới không giản luợc “con người” thành “con số”, hay vô cảm “mã số hoá » người anh em của chúng ta, để thêm hay bớt, nhiều hơn hay ít hơn, tệ hơn hay tốt hơn, mất hay còn, chúng ta vẫn ung dung, thảnh thơi với lương tâm “an bình, vì vô trách nhiệm” ; chỉ khi nào nhận ra tình yêu không đầu hàng và “đi tìm cho kỳ được” những người con bỏ nhà đi hoang của Thiên Chúa, chúng ta mới trân qúy giá trị của mọi người và mỗi người, để không làm mặt lạ, lẳng lặng “tránh qua bên kia mà đi” (Lc 10,31) như thầy tư tế và thầy Lêvi trong dụ ngôn “người Samari tốt lành” của Tin Mừng Luca (10,29-37) trước người anh em đang “nửa sống nửa chết” bên đường rất cần sự quan tâm và lòng thương xót để được cứu chữa, hồi sinh.
3.    Con người có khả năng đi lạc, và tự do chối bỏ Thiên Chúa :
   Tin Mừng không phủ nhận thực trạng có chiên lạc đàn, có đồng tiền nhẩy ra khỏi túi, có “thiếu gia” đòi chia của khi cha còn sống, rồi ôm bọc tiền bỏ nhà đi phương xa ăn chơi, đàng điếm. Thực trạng đó phát sinh từ tự do là giá trị cao qúy của con người.
     Con người cao cả vì có tự do, con người đạt được Thiên Chúa cũng vì được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa vì có tự do. Không tự do, con người chẳng có giá trị gì, vì tất cả những gì ở con người, từ con người sẽ chỉ là máy móc. Tự do làm con người trở nên thần thánh, giống Thiên Chúa ; tự do làm con người yêu được Thiên Chúa, yêu được đồng loại, yêu được chính mình, và tự do nâng con người lên hàng con cái Thiên Chúa với tất cả quyền kế thừa.
      Nhưng cũng với tự do, con người có quyền chọn ngược lại, làm khác những gì Thiên Chúa muốn, như ông bà nguyên tổ Ađam, Evà đã bất tuân, như Phêrô đã chối người thầy luôn hết lòng yêu thương và tín nhiệm ông, như Giuđa môn đệ đã phản bội và luồn lách bán đứng sư phụ, như nhiều người, trong đó có chúng ta, đã cách này hay cách khác, kín đáo hay công khai, bằng tư tưởng hay lời nói, hành động, ít hay nhiều, nghiêm trọng hay phảng phất, nhẹ nhõm chối bỏ Thiên Chúa, và khước từ tình yêu của Ngài.
    Qủa thực, yếu đuối và tội lỗi bám sát thân phận làm người, sát đến độ lắm lúc làm chúng ta ngột ngạt, khó chịu, nhưng rồi qua cơn bực bội, yếu đuối lại đổ về bủa vây, tội lỗi lại thòm thèm rình rập và tự do của chúng ta lại một phen chênh vênh, nghiêng ngả…
     Chênh vênh vì chung quanh có những thế lực tấn công, mồi chài, níu kéo ; nghiêng ngả vì rễ của tự do không luôn cắm sâu trong đất tốt là tình yêu Thiên Chúa trước những cám dỗ không chỉ của ma qủy, mà của những người anh em sống chung quanh, và của chính bản thân mình. Đó là bi kịch của tự do, ở đó con người luôn bị giằng co, căng thẳng trước những chọn lựa, như thánh Phaolô đã chia sẻ : “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,15).
     Vì thế, yếu đuối, tội lỗi không xa lạ với chúng ta, và Thiên Chúa biết tất cả chúng ta đều yếu đuối và có tội, nên chối bỏ thân phận yếu đuối hay mạnh miệng qủa quyết mình chẳng có tội gì thì qủa là “gan cóc tiá”, và “bạo phổi cùng mình”, nếu không muốn nói là “nói mà không biết mình nói gì”.
    Vấn đề với Thiên Chúa không phải chúng ta có tội, cho bằng chúng ta có để Thiên Chúa ôm vào lòng, hôn lấy hôn để, rồi xỏ nhẫn, xỏ giầy, mặc cho áo đẹp khi Ngài thân hành đi tìm và gặp chúng ta không ? (x. Lc  15,22-24). Bởi chià khóa cứu độ hệ tại ở thái độ của mỗi người khi được Thiên Chúa đến cứu giúp, bởi có những người chết đuối nhưng không chịu bám vào phao cứu hộ, khát cháy cổ nhưng không chịu uống nước, đói lả nhưng vẫn khư khư từ chối ăn, vết thương làm chảy hết máu mà vẫn một mực chống cự không cho y tá truyền máu.
      Chúng ta đừng quên : Thiên Chúa luôn hớt hải, tất tưởi đi tìm chúng ta, dù chúng ta đang ở tình trạng tồi tệ, đáng kinh tởm đến đâu, đang trầm mình trong vực thẳm tội lỗi sâu đến cỡ nào, bởi tình của Thiên Chúa không bờ bến : cao cũng không giới hạn, sâu cũng vô hạn, vô biên, và rộng cũng bao la vô tận, vô cùng. Ở Thiên Chúa, tất cả tội nhân đều “có cửa” được đón nhận, “có số má” được yêu thương, và ngập tràn cơ hội được cứu chữa.
    Vấn đề còn lại là chúng ta có tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước khi chúng ta biết Ngài (1 Ga 4,10) , và yêu chúng ta đến cùng (Ga 13,1), khi không hèn nhát, đầu hàng, hay giận dỗi bỏ chúng ta lạc mất, hư đi, chết bờ chết bụi vì yếu đuối, tội lỗi, nhưng “đi tìm cho kỳ được” (Lc 15,4), nhất là chúng ta có xác tín  tình Chúa yêu từng người, âu yếm từng người, ân cần chăm sóc từng người, thương xót, thứ tha từng người, chứ không loáng thoáng, chung chung, sơ sài, lất phất, bằng chứng là người chăn chiên là Thiên Chúa đã “bỏ chín mươi chín con chiên kia ngoài đồng hoang để đi tìm cho kỳ được con chiên bị lạc mất” (Lc 15,4).
     Điểm cuối cùng chúng ta cần nắm vững đó là không ai, cũng không cơ chế nào có quyền trên lòng thương xót của Thiên Chúa luôn tuôn đổ trên người có tội, như thánh Phaolô đã khẳng định : “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Vì thế, bất cứ cá nhân, hay tổ chức, tập thể nào có lời nói hay việc làm ngăn cản, cấm vận người tội lỗi tìm đến với Thiên Chúa của lòng thương xót đều bị coi là “phản Kitô”, nghiã là chống lại Đức Giêsu, dung mạo đích thực của Chúa Cha giàu lòng thương xót không ngại vất vả, ngày ngày cất công dong duổi “đi tìm cho kỳ được” con chiên lạc, người con tội lỗi, hoang đàng.    
      Tháng sáu, tháng của Thánh Tâm bao la lòng thương xót, tháng của “Tình Yêu đi tìm người yêu”.
      Xin Chúa cho chúng con biết dùng thời gian của tháng lòng thương xót này để tìm về Trái Tim Chúa, hầu được  cảm nghiệm tình yêu “vô cùng và đến cùng” của Thiên Chúa, Đấng đã không chịu để mất người yêu là chúng con, nhưng kiên nhẫn “đi tìm cho kỳ được” từng người tội lỗi, từng đứa con hoang đàng, và tin rằng cho dù chúng con có bỏ Chúa đi xa, nhưng từ xa Chúa vẫn luôn ân cần dõi mắt yêu thương, che chở và mong ngóng bước chân con trở về cho Trái Tim Chúa và cả thiên đàng mở hội mừng vui.        
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

Đời Này, Đời Sau



   "Sống không lo sống mà cứ lo về trời". Nhiều người trách tín hữu Thiên Chúa giáo như vậy khi cho rằng những người này sống bay bổng, không tưởng, không thực, viển vông, xa rời đời thường, chưa kể có người còn lên án tín hữu Thiên Chúa giáo là đám chán đời, khinh đời, ghét đời, thù đời, bởi cứ mở miệng là gán cho thế gian tất cả những gì tiêu cực, xấu xa và nguầy nguậy lắc đầu tỏ ý xa lánh đời này và chỉ mong sớm được về Thiên Đàng, đời sau. 
  Có thực như thế không ? 
  Chắc chắn là không, bởi chỉ một lý do duy nhất "Thiên Chúa đã yêu thương loài người đến nỗi đã ban Con Một của Người cho thế gian" (1Ga 4,9) và "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1,14) cũng đã đủ chứng minh người đi theo Đức Giêsu không thể là người chán đời, hay xa lánh người đời, cuộc đời, trái lại, họ phải yêu cuộc đời này như Thiên Chúa đã yêu, gắn bó với kiếp làm người như Thiên Chúa đã gắn bó và tự nguyện chọn cho mình kiếp người, đồng thời luôn vui sống với mọi người và cùng mọi người bước đi trong niềm vui của Thiên Chúa, Đấng  có tên  là "Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng tôi" . 
  Thực vậy, Thiên Chúa đã bỏ trời xuống thế làm người vì yêu con người, lẽ nào người đi theo Thiên Chúa lại trốn tránh cuộc đời, không muốn làm người và ghét bỏ mọi người ? 
   Thiên Chúa đã làm người như mọi người, và ở giữa mọi người, lẽ nào môn đệ của Thiên Chúa lại khước từ ơn huệ làm người, và không chấp nhận sống với anh em ? 
    Thiên Chúa đã đến để yêu thương con người và không muốn mất một con người nào, cớ sao những người chọn Thiên Chúa là "Đường, Sự Thật và Sự Sống" lại chủ trương ganh ghét, hận thù, hủy diệt đồng loại ? 
   Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời mỗi người để yêu họ đến cùng và ban cho họ hạnh phúc ngay ở đời này khi an ủi, chúc phúc, chữa lành tật bệnh hồn xác, lẽ nào người thuộc về Thiên Chúa lại phủ nhận giá trị của đời sống hôm nay, hạnh phúc phải tìm kiếm cho nhau "ở đây và lúc này" ? 
   Thiên Chúa đã đến và chia sẻ trọn vẹn cuộc sống của con người với tất cả hoàn cảnh, tình huống, điều kiện nhân sinh, lẽ nào người đứng chung chiến tuyến với Thiên Chúa lại so đo, do dự, ngần ngại trước lời mời dấn thân, nhập cuộc, lên đường với mọi người ? 
    Thiên Chúa đã đến để phục vụ con người vì hạnh phúc của con người, không lẽ người môn đệ của Thiên Chúa lại thoái hoá biến thành kẻ thù của nhân loại cách này hay cách khác ? 
  Thiên Chúa đã đến và hiến mạng sống cho mọi người, lẽ nào người đi theo Thiên Chúa không nhận ra, hay cố tình không nhìn nhận giá trị vô giá của con người, của mỗi người được Thiên Chúa tạo dựng vì yêu thương ? 
   Thiên Chúa đã dong duổi với mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi khuynh hướng, quan điểm trên hành trình nhân loại, lẽ nào người chọn Thiên Chúa là "Đấng chăn nuôi tôi và tôi chẳng thiếu thốn gì" lại phân biệt kỳ thị, phân ranh vùng miền, phân chia giai cấp, phân  hoá cộng đoàn vì ích kỷ, bon chen, quyền lực, tham vọng bất chính? 
   Và cũng vì trần gian được chọn làm nhà của Thiên Chúa, quê hương của Thiên Chúa, nên dù đường trần có chông gai, gập ghềnh, quanh co, trắc trở đến đâu, bước chân người đi theo Chúa vẫn nở hoa rực rỡ; dù biển đời có sóng gió, nguy hiểm cỡ nào, tâm hồn người môn đệ vẫn hân hoan "ra sâu, ra xa" thả lưới, vì trên đường đời luôn có Chúa đồng hành và giữa biển đời luôn có Chúa cùng thuyền ra khơi. 
   Vì thế, đã là người theo Chúa, chúng ta không thể khinh đời, chán đời, ghét người, tẩy chay người vì Chúa đã yêu thương con người vô cùng và ở trong thế giới này với con người đến tận cùng thời gian trong bí tích Thánh Thể. Và cuộc đời của người tín hữu ở trong Thiên Chúa chính là sống ơn gọi làm người yêu thương và được yêu thương; là bước đi với Đức Giêsu trên hành trình đến với anh em để yêu thương và phục vụ; là thực hiện giới luật mới "hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" của Thiên Chúa làm người, để rồi cuộc sống dương thế có Thiên Chúa đồng hành được tràn đầy ý nghĩa, giá trị và niềm vui cứu độ. 
     Cuộc đời Kitô hữu chan chứa hạnh phúc được sống để yêu thương ấy sẽ nối dài sang cuộc sống đời đời, bất tận khi chính Thiên Chúa trở lại để đón vào vương quốc vinh quang của Ngài, như Đức Giêsu đã cho thấy và nghe trước lời mời gọi âu yếm của Thiên Chúa trong ngày chung thẩm: "Hỡi những người được Cha Ta chúc phúc, hãy vào hưởng vương quốc Cha Ta đã dọn sẵn cho các ngươi" (Mt 25,34). 
  Sở dĩ được đứng vào hàng ngũ những người được Thiên Chúa chúc phúc vì họ đã yêu mến cuộc đời, yêu mến con người và xả thân làm cho cuộc đời đẹp hơn, con người hạnh phúc hơn, để Thiên Chúa được vinh danh hơn, bởi "hạnh phúc của con người là vinh danh của Thiên Chúa". 
   Tin Mừng Luca (24, 50-51) ghi lại quang cảnh Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người về trời trước mặt các môn đệ là bảo chứng hạnh phúc thiên đàng Thiên Chúa dành sẵn cho những ai sống yêu mến trong cuộc đời này, đồng thời là nền tảng cho niềm tin của chúng ta: ở cuối hành trình ơn gọi làm người, chúng ta sẽ được thấy Thiên Chúa. Chính Ngài sẽ đón vào nhà Ngài, như Đức Giêsu đã quả quyết : "Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở... Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó" (Ga 14,2-3), bởi đời này là hành trình gieo vãi và vun trồng yêu thương, đời sau là quê hương, nơi chúng ta tất cả được trở về đoàn tụ như "người gieo trong nước mắt nay trở về trong hoan ca, vai nặng gánh lúa vàng" 
(Tv 126,6). 

   Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2019

CHÚA THÁNH THẦN LÀ THẦY DẠY

            Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH, Năm C
 Ai đã là học trò đều hiểu nỗi vất vả, khó nhọc phải học bài, ôn bài trước mỗi kỳ thi. “Sĩ tử” phải ép mình, bó cẳng, ngồi yên một chỗ cặm cụi ôn lại cả đống sách giáo khoa dầy cộm, nhồi nhét vào đầu từng chồng vở ghi chép bài đã học, để đối phó với đề thi, với  hy vọng “trúng tủ” trộn chung nỗi lo “rớt đài, đạp vỏ chuối”.
Sở dĩ có nỗi khổ phải ôn bài, học bài, vì bộ nhớ của con người có giới hạn, nên nhiều chuyện, nhiều việc, nhiều sự kiện bị quên đi không chỉ với thời gian, mà còn vì nhiều ký do khác nữa, nên để nhớ, người ta phải ôn lại, nhắc lại, tìm lại trong ký ức. Chẳng thế mà châm ngôn thành công của đời học trò là “văn ôn, võ luyện”, nghiã là đã học thì dù văn chương hay võ nghệ, toán học hay sử địa, lý hóa hay sinh vật, cả đến các môn chơi như bơi lội hay chạy đua, cầu lông, bóng đá, tất cả đều phải tuân theo một nguyên tắc vàng : ôn tập, học bài, thường xuyên luyện tập.     
Tin Mừng Gioan chương 14 vẽ lên hình ảnh Thiên Chúa là người thầy tuyệt vời khi dạy chúng ta : Thiên Chúa giàu lòng thương xót đã sai Con Một xuống thế gian để cứu độ nhân loại bằng tình yêu chết cho người mình yêu. Tình yêu vô cùng ấy đi đến tận cùng của thời gian và tận cùng của yêu thương là tha thứ cho cả những kẻ làm khổ và đóng đinh mình.  
Ngài còn dạy chúng ta : ơn cứu độ không đơn phương áp đặt đối tượng là con người, nhưng Thiên Chúa tôn trọng tự do của mỗi người mà Ngài cứu độ, khi mời gọi con người đáp trả tình yêu cứu độ bằng chấp nhận đi vào vùng phủ sóng của tình yêu Thiên Chúa khi thực hiện giới luật “yêu thương anh em mình như Thiên Chúa đã yêu thương”. Đây là phần đóng góp cần thiết của con người, trách nhiệm cộng tác của người được yêu thương, nghiã vụ không thể thiếu sót của phận người được thương xót, như người đầy tớ kia trong Tin Mừng Mátthêu chính ra đã phải chạnh lòng xót thương và tha món nợ cỏn con cho bạn mình, sau khi đã được ông chủ rộng lòng xót thương xóa trắng món nợ kếch xù (x. Mt 18,21-35).
Như thế, lời di chúc “hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34) của Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa là bài học Chúa muốn chúng ta nằm lòng và đem ra thực hành trong đời sống, vì “Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy”, “Ai không yêu mến Thầy thì không giữ lời Thầy” (Ga 14,23-24). Và Lời Thầy cũng là bài học duy nhất Thiên Chúa dạy “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Là người thầy từ tâm, nhân hậu, Đức Giêsu biết học trò hay quên học bài, hay học bài rồi quên, nên nhẫn nại chịu đựng những lơ đãng, biếng lười của con người. Bên cạnh là những ương ngạnh, ngông cuồng, kiêu căng, tham lam, ích kỷ, ganh ghét, đố kị, nghi ngờ làm lu mờ tâm trí khiến bài học tình yêu Chúa dạy không nhập tâm, không vào đời, không biến đổi đời sống, trái lại, vì quên nên tâm hồn câm điếc trước tiếng gọi của tình yêu không ngừng réo gọi, và trái tim chai lì, vô cảm, lạnh lùng, dửng dưng, xa lạ trước thiếu thốn, cơ cực của anh em.
Tình trạng trên là tâm hồn chúng ta, những học trò biếng nhác, lơ đãng, ngang ngược trong lớp học của Đức Giêsu, bởi ngay các tông đồ, là những học trò được ở bên Chúa, hằng ngày, hằng giờ được Chúa dạy dỗ, nhắc nhở cũng đã hay quên bài học “hiền lành, khiêm nhường”, nên đã khó chấp nhận những khác biệt giữa nhau, và không đón nhận những thành qủa tốt đẹp cũng như những khiếm khuyết, thiếu sót nơi anh em mình, để rồi hở ra là tranh chấp, đấu đá, kiện tụng, vì chỗ đứng chỗ ngồi, chức tước này, vị thế kia (x. Mt 20,20-28). Cũng như chúng ta, các vị hay quên lắm, nên mới ra nông nỗi kẻ chối Thầy, kẻ bán Thầy, kẻ bỏ Thầy, kẻ tháo chạy “mất dép”, tuột cả áo ngoài khi Thầy bị bắt, chỉ vì tất cả đã quên lời Thầy chỉ bảo, dặn dò trước đó.
Chính vì biết chúng ta chóng quên, hay quên bài học Yêu Thương là bài học duy nhất, giới răn duy nhất, con đường duy nhất Chúa dạy không chỉ vì trí nhớ có hạn, nhưng còn vì những cản trở, áp lực của Danh - Lợi - Thú và sức công phá dữ dội của thần dữ, nên Đức Giêsu, người Thầy tuyệt vời hay chạnh lòng bao dung, thương xót đã xin Chúa Cha sai đến cho thế giới Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ “Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều, và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,27).  
Thực vậy, Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội trước hết  để “dạy dỗ và làm nhớ lại” bài học giới luật mới mà Đức Giêsu đã dạy các môn đệ và tất cả những ai đi theo Ngài : yêu thương như Thiên Chúa đã yêu thương.
Là bài học cho mọi người, vì bất cứ ai, bất kể trình độ nào cũng biết yêu thương là gì, biết yêu thương thế nào và có khả năng yêu thương đến tột cùng tuyệt vời của tình yêu. Là bài học dễ học cho mọi người, vì không gì đơn sơ, đơn giản hơn tình yêu, không gì dễ diễn tả, dễ bộc lộ, dễ biểu hiện, dễ thấy, dễ cảm hơn tình yêu. Là bài học hạnh phúc cho mọi người, vì tình yêu là quà tặng của Thiên Chúa cho tất cả mọi người, không trừ ai. Là bài học qúy gía cho mọi người, vì tình yêu là đại dương bao la mà ai cũng có quyền được bơi lội trong đó. Là bài học thiết yếu cho mọi người, vì Thiên Chúa đòi ở mỗi người duy nhất một đòi hỏi phải “yêu thương anh em mình” để được sống đời đời. Là bài học Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu, nên ai không yêu thương thì không “sống với và sống trong” Thiên Chúa, nhưng ở trong sự chết. 
Và bài học yêu thương tuy dễ hiểu nhưng khó thuộc và áp dụng ấy phải được ôn lại hằng ngày, thực tập liên lỉ, thao tác thường xuyên, thực hành không ngơi nghỉ với ơn của Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ luôn có mặt và ân cần nhắc nhở, giúp chúng ta nhớ lại những điều Đức Giêsu đã dạy được tóm tắt “gọn nhẹ” trong di chúc tình yêu của Ngài : “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Lạy Chúa Thánh Thần là Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, xin dạy và làm cho chúng con nhớ lại bài học yêu thương Đức Giêsu đã dạy, để cuộc đời chúng con ngày càng đẹp hơn, ý nghiã hơn, đẹp lòng Chúa hơn trong hạnh phúc được Chúa yêu thương và niềm vui với ơn gọi, và sứ mệnh làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu khi hết tình yêu thương, và hết mình phục vụ mọi người.   
Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

“SỐNG VỚI”

https://www.youtube.com/watch?v=e_JtPnvr9XM
Sống là “sống với” vì ngay khi vào đời, con người đã sống với nhau, sống với những người khác đang sống cùng thời đại, bởi không ai có thể sống một mình tách biệt, đơn độc, mà không cần đến người khác để tồn tại và phát triển, vì con người là sinh vật xã hội, có nhu cầu sống chung, ở cùng.
Nhưng sống chung, ở cùng chưa hẳn đã là “sống với”, bởi “sống với” không chỉ là chung nhà, cùng xóm, chung mâm, cùng bàn, chung đường, cùng ngõ, mà còn là  chung lời chung tiếng, cùng một tấm lòng, chung nhịp đập của cùng một trái tim tình người.
Thực tế chứng minh điều trên khi ở cùng nhà mà như người xa lạ của cặp vợ chồng những ngày sát bờ vực thẳm đổ vỡ, chia tay. Họ tuy chung mái nhà, cùng một tổ ấm, nhưng không còn “sống với” khi trái tim im lìm, căng thẳng, lạnh lùng, xa vắng, hờ hững, dửng dưng. “Bà con láng giềng” cùng xóm, nhưng thực tế vẫn “trăm năm cô đơn”, hoang vắng, khi không ai nói với ai một lời, không ai rảnh rỗi chia sẻ buồn vui, nên có chung thôn, cùng xóm, chung đường, cùng ngõ người ta vẫn không “sống với” nhau, vì con tim còn e dè, khép kín, chưa thông thoáng, cởi mở. Bạn cùng lớp, cùng trường, cùng công ty, cùng xí nghiệp, tuy chung thầy, chung khoá, chung công tác, chung trách nhiệm, nhưng có khi mạnh ai nấy sống, thấy nhau hằng ngày vẫn là ngừơi dưng, mỗi người một góc nhỏ, mỗi người “một góc trời”, chưa một lần “sống với”.
Như thế “sống với” không chỉ là sống bên nhau, sống gần nhau, sống có nhau, nhưng trên hết và trước hết phải là sống trong mối tương quan đích thực của lòng nhân ái, sống niềm vui gặp gỡ giữa hai con người có “tình người” cho nhau, sống hạnh phúc liên đới của hai tâm hồn vừa cho đi vừa đón nhận, sống niềm thương nỗi nhớ của trái tim biết chạnh lòng, và thương cảm, đồng cảm với nhau trong gian truân, thử thách.
Nói tóm lại, “sống với” hệ tại ở tấm lòng người ta cho nhau khi sống chung, sống cùng, sống bên nhau ; “sống với” chỉ xuất hiện khi sống có tình, và “sống với” chỉ thực sự là “sống với” khi lẽ sống là yêu thương.
Sở dĩ người ta chỉ thực sự sống với nhau, trọn vẹn sống với nhau và sống với nhau hạnh phúc khi yêu thương nhau, bởi chỉ với tình yêu, người mới  gặp được người, con người mới gặp được nhau, bởi duy nhất tình yêu mới có khả năng đưa được người này vào nguồn cội và bản chất sâu sa của người kia, chỉ tình người mới có sức biến “cái khác” dễ ghét, dễ sợ nơi “người khác” thành “dễ thương, dễ yêu, dễ cưng” cho mình. Và chỉ với gặp gỡ trong nhiệm mầu của tình yêu này, con người mới đạt được khát vọng thầm kín, sâu thẳm của đời mình là “hạnh phúc yêu và được yêu”, bởi từ lẽ sống đến ý nghiã cuộc sống và cùng đích của đời sống, tất cả đều được đan dệt, hình thành và triển nở với tình yêu và cho tình yêu.
Vì tình yêu tiên thiên là lẽ sống, tình người sâu thẳm là nguồn sống, lòng nhân ái là sức sống mãnh liệt, và bác ái, vị tha cho đời người ý nghiã cao đẹp, chưa kể đến định mệnh đời đời của con người cũng sẽ được đánh giá, quyết định trên nền tảng và với thước đo tình yêu, nên tháo gỡ tình yêu khỏi công việc, con người sẽ chỉ còn là người máy trong một hãng sản xuất ; cởi bỏ trái tim ra khỏi sinh hoạt đời thường, đời sống con ngừơi sẽ buồn tẻ, vô vị, vô nghiã ; lấy đi tình người khỏi mọi tình huống, hoàn cảnh, con người sẽ đánh mất chính mình và giá trị cuộc sống làm người, bởi ra khỏi tình người, ở ngoài tình yêu, cắt bỏ trái tim, giết chết tâm hồn, con người không còn điểm chung gặp gỡ, không còn khả thể gặp gỡ, không còn động cơ đi tìm gặp gỡ là bước chân thứ nhất và quan trọng nhất đi vào đời “sống với”.
Là điểm chung để gặp gỡ, vì tình yêu là mẫu số chung mầu nhiệm của nhân loại, khi ai cũng biết yêu, có khả năng yêu, và hạnh phúc khi yêu và được yêu ; là điểm gặp gỡ tuyệt vời, vì tình yêu là ngôn ngữ chung của nhân loại, để mọi người hiểu nhau khi mở lòng cho nhau, và tận cùng chia sẻ, cảm thông khi trái tim được yêu thương nối kết.
Vì thế, con người chỉ đạt được hạnh phúc đích thực và viên mãn khi gặp được “người khác” trong tình yêu, “người khác” mà hằng ngày thấy mặt trong sở làm, ngay đầu ngõ, đối diện nhà, ở sát bên nhưng vẫn xa lạ, khô khan, lạt lẽo ; “người khác”, tuy cùng vùng miền, cùng trình độ, cùng đẳng cấp, kể cả cùng là đồng chí, nhưng sao vẫn thấy xa xôi, nghi ngại, gượng ép ; “người khác” tuy đồng trang lứa, cùng hoàn cảnh, nhưng sao vẫn phải dè chừng, đề phòng, tự vệ ; “người khác” tuy hàng tuần “chén chú chén tôi” rôm rả nói cười trong cơn say túy lúy, nhưng sao vẫn sượng sùng, giữ kẽ.
Qủa thực, khi con người không gặp được nhau ở tình yêu, tình người, lòng  nhân ái, vị tha, là điểm gặp cần thiết và bảo đảm, thì mãi mãi con người không thể hạnh phúc trong kiếp sống làm người, chỉ vì kiếp sống ấy tiên thiên đã đòi tình yêu phải là lẽ sống, tình yêu mới đem lại hạnh phúc, giá trị, ý nghiã đời người, và tình yêu mới thực là cùng đích của đời người.
Nhưng thế nào là “sống với” khi để tình yêu, tình người, lòng nhân ái được tham chiếu, tham dự trong sinh hoạt của xã hội loài người ?
Vì tình yêu đòi nhập cuộc, đòi đi vào con người sống động, đi vào đời người đang sống, đi vào từng đường gân thớ thịt của từng người, nên tình yêu có những bước đi rất cụ thể, chính xác, thiết thực, và kiên định :
1.   Bước thứ nhất của tình yêu trên hành trình “sống với” được cụ thể bằng tiên phong đến với người khác, qua thái độ kính trọng, cảm thông, và những lời chào thăm, chúc mừng, cám ơn, xin lỗi xuất phát từ tấm lòng.
Thực vậy, có lẽ vì hình dung  tình yêu bao la, mông lung do qúa vĩ đại, mà nhiều khi chúng ta đã bỏ lỡ những cơ hội cụ thể trong đời thường để gặp gỡ người chung quanh ; cũng có thể vì nhát gan, nên ta đã không dám liều mạng tiên phong làm người thứ nhất nở một nụ cười thân thiện, nói một lời chào thăm lịch sự, thân ái, hay gửi đến người khác một tâm tình yêu mến, ngưỡng mộ.
Với những việc làm cụ thể xuất phát từ tình người này, người người sẽ xích lại gần nhau hơn, đưa nhau về gặp gỡ đích thực là niềm vui của đời người được “sống với”.
2.   Bước thứ hai của tình yêu trên đường tìm về gặp gỡ phải thiết thực trên hai điểm nhấn : Bao dung và Quảng đại.
a.   Bao dung khi phải phân định, phán xét  theo nguyên tắc “không lấy tội nặng nhất, lỗi lớn nhất của người bị khiển trách  làm chuẩn mực định lượng hình phạt”, nhưng căn cứ vào  lỗi nhẹ nhất, tội ít nặng hơn cả, vì lòng bao dung  cho phép hiểu rằng : lỗi nặng, tội lớn chỉ là yếu đuối bất ngờ, sai phạm đột xuất, lầm lỗi nhất thời luôn đáng thứ tha.
b.   Quảng đại khi khen thưởng theo nguyên tắc “chọn thành qủa lớn nhất, đức tính nổi trội, và công trình nhiều công sức hơn cả” của đương sự.
3.   Bước thứ ba để tình yêu bền bỉ trước sóng gió là nhẫn nại chịu đựng :
Vì ai cũng là người khác đối với ta, nên không ai giống ta, cũng như không ai giống ai. Cái khác ở mỗi người tuy có làm cuộc sống thêm phong phú, đa diện, đa sắc, nhưng cũng là nguyên nhân gây nhiều trái ý, bực dọc, mâu thuẫn, đối kháng, và làm các tương quan, liên đới trở nên căng thẳng. 
 Đối diện với thách đố này, có người tìm cô tịch, thanh vắng để tránh đụng chạm ; có người chủ trương giữ khoảng cách  và áp dụng chiến thuật : không biết, không nghe, không thấy ; người khác xem tha nhân như thù địch, và cẩn mật thủ thân, đề phòng, dè dặt.
Mỗi người đều cho mình có lý khi chọn lựa. Vấn đề ở đây là hạnh phúc có đạt được trong những chọn lựa này hay không ? Thực ra, “sống với” là nhu cầu tiềm tàng  và âm ỉ thúc bách trong mỗi người, nên khi không được thoả mãn, con người không  hạnh phúc, vì phương án được chọn  không phù hợp với đòi hỏi của nhu cầu. Chính vì “sống với” là nhu cầu thiết yếu của con người và chỉ khi nhu cầu thiết yếu, căn bản được đáp ứng, con người mới đạt hạnh phúc viên mãn, nên bất cứ chủ trương, phương thức sống nào loại bỏ nhu cầu “sống với” sẽ đều thất bại và thất sách trong nỗ lực tìm kiếm hạnh phúc.
Vẫn biết tình yêu để tồn tại trong tương quan giữa những con người nhiều khác biệt luôn đòi nhẫn nại chịu đựng, nhưng sự nhẫn nại chịu đựng trong tình yêu không mang dáng dấp của hình phạt hay số phận nghiệt ngã, mà mang dấu ấn của tình yêu đích thực khi hy sinh chính mình cho người mình yêu, bởi tình yêu không thể thiếu hy sinh, nếu không sẽ chỉ là thứ tình qua đêm, qua đường, bông đùa, giả dối nào đó.   
4.   Bước thứ tư của tình yêu dẫn đến hạnh phúc “sống với” mọi người là kiên định trong lòng biết ơn :
Biết ơn là nét đẹp cao qúy cuả người đạo đức, có nhân văn, là hoa thơm trái ngọt cho đời, là niềm hãnh diện chung của cả nhân loại, nên chỉ người thiếu văn hoá mới vô ơn ; chỉ người thiếu khôn ngoan mới vô ơn, vì biết ơn là nguồn vui vô tận, khi biết mình được người khác yêu thương và nhớ đến, bởi có yêu thương, người ban ơn mới làm ơn cho ta, có được ở trong trái tim của người thi ân, ta mới nhận được ân sâu nghiã nặng của họ ; và sau cùng chỉ người vô đạo đức mới vô ơn, vì biết ơn là nền tảng của lòng nhân ái, bổn phận đạo đức căn bản của con người.
Người vô ơn không phải vì không biết ơn đã nhận, nhưng thường vì muốn xoá tên người biết quá khứ không như ý của mình, cái quá khứ cần được giấu kín, ém nhẹm, thay thế, sửa đổi, đánh bóng, mạ vàng khi thời đã đến, khi công danh đã đạt, bởi không mấy người thành công hôm nay còn muốn giữ lại qúa khứ thất bại hôm qua ; bởi chẳng ai “công thành danh toại” lúc này lại tìm về hình ảnh nghèo hèn, túng bấn, cơ cùng năm xưa ; bởi phần đông “áo gấm về làng”, “vinh quy bái tổ” đều muốn xóa sạch cuốn phim kỷ niệm có hình ảnh cơ hàn thời ở trọ, phải nhờ cậy mọi người, phải nương náu đủ nơi, và tồn tại được là nhờ lòng tốt của nhiều người.  
Vì thế, cái tâm lý của người chịu ơn rất phức tạp : vừa biết mình mang ơn, vừa muốn quên ơn người, muốn quên vì sợ hơn vì ghét : sợ quá khứ chiụ ơn bị người ban ơn tiết lộ, sợ cái yếu, cái dở của thuở hàn vi bị thiên hạ xâm xoi, coi thường. Chính cái sợ vô lý này đã thúc đẩy ngừơi ta đi nhanh đến vô ơn, và không ngại xóa tên người đã làm ơn cho mình.
Bên cạnh đó là tính kiêu căng, thần tượng “cái tôi” cố hữu, để khi còn yếu thì “nín thở qua sông”, khi bần hàn thì khiêm nhu, hiền hậu để được giúp đỡ, nhưng khi vừa “có lông có cánh” là oang oác huyênh hoang : “ta làm nên tất cả, tất cả là do ta, và ta đã chẳng nhờ ai để có hôm nay”.
Sau cùng, người vô ơn thường ru ngủ lương tâm mình bằng luận điệu ấu trĩ, với mục đích giảm thiểu đến mức tối đa giá trị của ơn nghiã và lòng tốt của ngừơi thi ân, khi cho rằng : “không giúp mình, ông ta cũng giúp người khác” hoặc “bà ta giúp mình để tạo ảnh hưởng, uy tín cá nhân đó thôi”, để một khi lương tâm đã bị “buà mê thuốc lú”, người vô ơn sẽ tự do và trân tráo phủ nhận tình yêu, lòng tốt của người ban ơn đã dành riêng cho mình.
Thực vậy, “biết ơn” là điều phải làm, là bổn phận không thể bỏ qua của người chịu ơn, mặc dù không người thi ân chân chính nào đòi được biết ơn, trả ơn, đền ơn, hay đáp nghiã. Trong câu chuyện ơn nghiã, người làm ơn hầu hết quên ơn mình đã làm, có khi quên cả người mình đã làm ơn để lòng được nhẹ, tâm được an, đôi tay được thông thoáng, hầu được tiếp tục rộng mở, thi ơn.
Cũng trong câu chuyện ơn nghiã, khác với người thi ơn, người thụ ơn phải biết ơn, dù biết ơn không có nghiã sẽ trả được ơn, nhưng vì là bổn phận đạo đức, nên đã nhận ơn tất phải biết ơn đã nhận, và đáp trả bằng tâm tình yêu mến thâm sâu.
Trên đây là bốn bước cần thiết trên hành trình tìm hạnh phúc “sống với”. Những bước chân có khi nối tiếp, có khi đồng hành, đồng nhịp tạo nên cuộc sống yêu thương hài hoà, khi những con người “khác” chung nhau một điểm gặp dưới nhiều danh xưng khác nhau :  tình yêu, tình người, lòng nhân ái.
Ước gì thế giới loài người với đủ thứ mặt nạ, mặt chìm, mặt nổi, mặt trong, mặt ngoài làm chúng ta mệt mỏi, chán chường, sợ hãi, hoang mang sẽ biến thành thế giới rạng rỡ tình người trên từng khuôn mặt, tươi thắm nhân ái trên từng bờ môi, ngời sáng yêu thương trên từng khoé mắt và mọi người nhận ra nhau qua dung nhan tuyệt vời của tình yêu đồng loại, gặp gỡ nhau ở điểm hẹn Bác ái, Vị tha, và cùng nhau xây dựng nền văn minh tình yêu và sự sống để mọi người được hạnh phúc trong niềm vui gặp gỡ và “sống với” anh em mình.
Jorathe Nắng Tím