Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2019

TRUYỀN GIÁO VÀ CẦU NGUYỆN

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXIX Thường Niên, Năm C
Đức tin Kitô giáo là sự gặp gỡ thiết thân giữa Thiên Chúa trong Đức Giêsu và con người. Vì là gặp gỡ thiết thân, nên không thể thiếu giao lưu, trao đổi, hiệp thông, hiệp nhất mà chỉ nhịp cầu Cầu Nguyện mới thực hiện được. Và vì không thể thiếu trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, nên cầu nguyện là đòi hỏi hàng đầu và là giáo huấn được Đức Giêsu quan tâm nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Tin Mừng.
Trước hết, chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu trong cầu nguyện. Ngài đã luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa, Cha Ngài, nhất là ở thời điểm của những biến cố quan trọng trên đường truyền giáo :
·      Ngài cầu nguyện khi chịu phép rửa của Gioan trên sông Giôđan : Khi toàn dân đã chịu phép rủa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tếng từ trời phán rằng : Con là Con của Cha ; ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con (Lc 3,21-22).
·      Ngài cầu nguyện trước khi chọn Mừơi Hai tông đồ : Trong những ngày ấy, Đức Giêsu lên núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ (Lc 6, 12-13).    
·      Ngài cầu nguyện trước khi lên đường rao giảng Tin Mừng : Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. Ông Simôn và vác bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Người, các ông thưa : Mọi người đang tìm Thầy đấy ! Người bảo các ông : Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó. Rồi Người đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ qủy (Mc 1,35-39).
·      Ngài cầu nguyện trước giờ bước vào cuộc tử nạn cứu thế : Người đi ra núi Ôliu như đã quen. Các môn đệ cũng theo Người. Đến nơi, Người bảo các ông : Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Rồi Người đi xa các ông một quãng… và qùy gối càu nguyện rằng : Lậy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha (Lc 22,39-42).
·      Ngài cầu nguyện trong giây phút cuối cùng của đời làm người, trên thánh giá với tâm tình tha thiết của người con dành cho Cha mình : Lậy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha (Lc 23,46).
Điều chúng ta nhận được ở Đức Giêsu, chính là trong mọi hoàn cảnh và sinh hoạt, Ngài luôn cầu nguyện để hiệp thông, hiệp nhất với Thiên Chúa Cha, nhất là để nhận ra và vâng phục thực thi thánh ý của Chúa Cha, bởi  đó là lẽ sống của Ngài : Lương thực  của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người (Ga 4,34).
Chiêm ngắm Đức Giêsu trong cầu nguyện cho chúng ta niềm xác tín về chỗ đứng không thể thiếu của cầu nguyện trong đời người môn đệ  Đức Giêsu trên đường đi theo Ngài loan báo Tin Mừng. Và đó chính là lý do Giáo Hội đã chọn dụ ngôn quan toà bất chính và bà goá quấy rầy trong Tin Mừng Luca cho ngày Chúa Nhật truyền giáo, mà ngay khởi đầu của dụ ngôn, thánh sử Luca đã nhấn mạnh trọng tâm : phải kiên tâm khi cầu nguyện : Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dậy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí (Lc 18,1).
Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đã vẽ lên hình ảnh một quan toà chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì (Lc 18,2), bên cạnh là một bà góa nhây như điả sẵn sàng ngồi lì, lải nhải ăn vạ ngày này qua ngày khác để được toà minh xét cho. Hai hình ảnh đều qúa quắt : một ông quan toà lãnh đạm, kiêu căng, bất chính ; một người đàn bà goá bụa già hàm quấy rầy có bằng cấp. Người đàn bà ấy cần được quan toà minh xét, nhưng ông không quan tâm đoái hoài, và phải chờ đến khi bị mụ goá này quấy rầy đến độ nhức đầu nhức óc, không còn chịu nổi nữa, ông quan toà gian ác kia mới chịu thua mà xét xử cho xong, để mụ ta khỏi quấy rầy (x. Lc 2-5).
Đức Giêsu đã lấy lại lời của ông quan toà: Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc (Lc 18,4-5) để dậy các môn đệ bài học cầu nguyện, đó là : nếu ông quan toà bất chính kia cuối cùng đã phải xét xử vì không muốn bị quấy rầy, thì Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, giầu lòng thương xót, lại hằng muốn cứu giúp, minh xử cho những ai kêu cầu Ngài lại không lắng nghe, mà lại bắt những người Ngài yêu thương, tuyển chọn đang kêu cầu Ngài phải chờ đợi mãi sao ? (x. Lc 18,6-7). Và Ngài quả quyết : Thiên Chúa sẽ mau chóng minh xét cho họ (Lc 18,8).  
Điều chúng ta muốn chia sẻ với nhau hôm nay trong chúa nhật truyền giáo chính là nhà truyền giáo với cầu nguyện, hay nói khác đi : sự cần thiết của cầu nguyện trong sứ vụ truyền giáo :
1.   Không cầu nguyện, truyền giáo chỉ còn là quảng cáo, tiếp thị :
Truyền giáo là loan báo Tin Mừng, mà Tin Mừng là chính Đức Giêsu, nên truyền giáo không là công tác tuyên truyền một chủ thuyết, rêu rao một luận điệu, qủang cáo một sản phẩm, rao bán một món đồ. Truyền giáo không xử dụng những kỹ năng lôi kéo đám đông, hoặc thủ thuật giành giật quần chúng như mị dân, mua chuộc, mồi chài, đe dọa, trấn áp… nhưng tuyệt đối tôn trọng tự do đón nhận chân lý Tin Mừng của mỗi người.
Chính vì loan báo con người Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, mà nhà truyền giáo phải thuộc về Con Người Thiên Chúa ấy, bởi không thuộc về Ngài, nhà truyền giáo không biết gì, hiểu gì về Ngài, và như thế, nhà truyền giáo chỉ còn là nhân viên tiếp thị của một công ty, nhân viên chào hàng, giới thiệu sản phẩm của một xí nghiệp, và công việc này hoàn toàn không đòi nhân viên phải thuộc về ai, hay phải toàn tâm toàn ý, yêu mến thiết tha người nào. Trái lại, loan báo Đức Giêsu, giới thiệu Đức Giêsu đòi phải biết Ngài, yêu Ngài, trở nên giống Ngài, hiệp thông trong Ngài, hiệp nhất với Ngài như cành nho gắn liền với cây nho (Ga 15,4), bởi Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo (Ga 15,5-6).
Ở đây, Đức Giêsu đã không chỉ mời gọi các môn đệ hiệp thông, hiệp nhất với Ngài, mà còn quả quyết : nếu không hiệp nhất, hiệp thông với Ngài thì không những chẳng làm gì được, mà còn bị ném ra ngoài, rồi tự khô héo, tàn rụi đi. Như thế, việc cầu nguyện tức gắn bó thiết thân, liên lạc chặt chẽ, mật thiết với Đức Giêsu không còn là một đề nghi làm cũng được, không làm cũng không sao, nhưng là một lệnh truyền, một điều kiện tất yếu mà bất cứ nhà truyền giáo môn đệ, tông đồ nào cũng phải triệt để thực hiện.
Đức Giêsu còn long trọng công bố : Nếu anh em ở lai trong Thầy và Lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là : Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy (Ga 15,7-8).
Thật không còn gì phải nghi ngờ Cầu Nguyện là đòi hỏi thứ nhất, quan trọng nhất ở nhà truyền giáo, và người môn đệ Đức Giêsu, bởi hoa trái thiêng liêng có được nơi người được rao giảng Tin Mừng hoàn toàn hệ tại ở điều kiện ở lại trong Đức Giêsu, chứ không do khả năng rao giảng, kỹ thuật loan báo hay do uy tín, ảnh hưởng cá nhân của nhà truyền giáo. Chẳng thế mà thánh Phaolô đã tuyên tín : Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi (Gl 2,20) , sau những năm tháng truyền giáo, với kinh nghiệm thiêng liêng của vị tông đồ dân ngoại biết rõ mình chỉ có thể thực sự loan báo Tin Mừng, rao giảng Đức Giêsu cách hữu hiệu và như ý Chúa muốn khi đạt đến tình trạng hoàn toàn tháp nhập đời mình vào Đức Giêsu bằng sống đời cầu nguyện, bởi tương quan đích thực giữa Thiên Chúa và con người chỉ được thiết lập trong và nhờ Đức Giêsu, như Đức Giêsu đã nói : Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy (Ga 14,23).  
2.   Không cầu nguyện, nhà truyền giáo không thể đứng vững trước sóng gió của cám dỗ :
Nếu ma qủy sàng chúng ta như sàng gạo (x. Lc 22,31), thì chúng sàng các nhà truyền giáo nhiều lần kỹ lưỡng hơn, bởi chúng vô cùng căm phẫn, thù ghét những ai bỏ mọi sự vì Tin Mừng, hy sinh trọn đời vì Nước Trời, và sẵn sàng hiến thân phụng sự Đức Giêsu và phục vụ Dân Ngài. Vì thế, nhà truyền giáo là đích điểm của mọi đòn thù ác độc của thế gian và  ma qủy, như Đức Giêsu trước khi lên Giêrusalem chịu chết đã cảnh báo các tông đồ của Ngài : Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian  đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, và tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em… Họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy (Ga 15,18-19.21).
Và sự thật không thể chối cãi, đó là ma qủy  luôn tìm giăng bẫy các nhà truyền giáo trên đường loan báo Tin Mừng bằng những cám dỗ rất thâm độc :
a.   Cám dỗ quyền lực :
Nhà truyền giáo là người của quần chúng, vì gần gũi dân chúng, thường xuyên giao lưu, gặp gỡ đám đông, nên dễ quên mình là sứ giả mà lầm tưởng mình là tác giả ; dễ quên mình là khí cụ, mà ảo tưởng mình là ông chủ ; dễ quên mình là  mục tử, mà mơ tưởng ngai vàng lãnh tụ ; dễ quên mình là người được sai đi, mà hoang tưởng mình là người cầm cân nẩy mực mọi công trình, đường lối, kế hoạch ; dễ quên lời đoan hứa : Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi (Ga 3,30), mà ngạo mạn tạc tượng mình cho thiên hạ sùng kính để rồi trở thành nhà truyền giáo biến chất khi kiêu căng, tự mãn, độc đoán, độc tài, bất trị, vô cảm, nhẫn tâm, tàn ác.
Những ngày này, Đức Thánh Cha Phanxicô không ngừng lên tiếng đả phá tinh thần giáo sĩ trị  còn tồn tại trong Giáo Hội. Điều này phần nào nói lên cơn cám dỗ quyền lực nơi nhà truyền giáo, và môn đệ Đức Giêsu vẫn còn là ung nhọt làm nhức nhối Thân Thể mầu nhiệm của Ngài.
b.   Cám dỗ tìm thành công tức khắc, và thấy được :
Truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu cho người khác, là gieo những hạt giống Tin Mừng trong lòng mọi người, nên khao khát tự nhiên của nhà truyền giáo là mong thấy nhiều người trở lại đạo, và con số tân tòng tăng vọt. Đây thực là một cám dỗ nguy hiểm, vì  ma qủy sẽ lợi dụng ước mong thánh thiện ấy để biến nhà truyền giáo thành một con buôn thuần vật chất, nghiã là  để đạt thành qủa bên ngoài, tức khắc và thấy ngay được, nhà truyền giáo sẽ tìm mọi phương thế mang tính trần tục, mọi mánh lới, thủ đọan để lái mục đích  đích thực của truyền giáo sang mục tiêu tìm thành qủa bên ngoài, nhất thời, vật chất, xa dần Tin Mừng, tách rời khỏi Đức Giêsu. Ma qủy sẽ làm cho nhà truyền giáo say men thành qủa hoành tráng  bên ngoài, mà quên đi chân lý rất quan trọng, đó là chính Thiên Chúa mới là người làm cho hạt giống mọc lên, mới là Đấng thánh hoá, đổi mới, cứu độ, trong khi nhà truyền giáo không thể thánh hoá ai, cũng không tự mình đổi mới được tâm hồn nào, nếu không có Thiên Chúa.
Thánh Phaolô đã xác tín điều này khi ngài viết về vai trò thực sự của người rao giảng Tin Mừng trong thư gửi giáo đoàn Côrintô : Vậy Apôlô là gì ? Phaolô là gì ? Đó là những tôi tớ đã giúp cho anh em có đức tin, mỗi người đã làm theo khả năng Chúa ban. Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể. Kẻ trồng, người tưới đều như nhau, nhưng ai nấy sẽ được thù lao tùy theo công khó của mình. Thực vậy, chúng tôi là cộng sự viên của Thiên Chúa. Anh em là cánh đồng của Thiên Chúa, là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên (1Cr 3, 5-9). Chỗ khác, thánh tông đồ dân ngoại viết : Nguyện xin Thiên Chúa là nguồn mạch bình an thánh hoá toàn diện con người anh em (1 Tx 5,23), để nói lên chân lý : chỉ một mình Thiên Chúa là nguồn ơn sủng và chỉ một mình Ngài ban ơn thánh hoá các tâm hồn.
Như thế, nhà truyền giáo phải tôn trọng quyền làm lớn lên, và thánh hoá của Thiên Chúa bằng tin tưởng vào mầu nhiệm của thời gian trong công cuộc cứu độ, để không nóng nẩy, vội vàng, luống cuống, bực bội khi hạt giống được gieo chưa nẩy mầm đúng kỳ hạn, người tội lỗi chưa hối cải, ăn năn đúng ngày giờ mình muốn, người được rao giảng mãi chưa ngỏ lời xin theo đạo, vì chỉ Thiên Chúa mới biết khi nào và cách nào hạt giống sẽ nảy mầm và cây lớn lên. Phần nhà truyền giáo, với cái nhìn đức tin và niềm xác tín ở mầu nhiệm thời gian trong công trình cứu độ sẽ bình an, kiên nhẫn rao giảng mà không tìm đốt giai đọan, rút bớt thời gian với tham vọng tìm kết qủa tức thời, thấy được ngay trước mắt của thế gian.            
3.   Cám dỗ bỏ cuộc, đào ngũ khi gặp khó khăn, thất bại :
 Nếu ma qủy cám dỗ nhà truyền giáo khao khát những thành công cấp thời, và bên ngoài, thì chúng cũng cám dỗ nhà truyền giáo bỏ cuộc, bỏ hàng ngũ khi không thành công, bị hiểu lầm, gặp khó khăn. Ngoài cám dỗ buông xuôi, bỏ cuộc khi thất bại, bị khiển trách hay sơ sót, lỡ lầm trong nhiệm vụ đuợc trao phó, nhà truyền giáo còn bị cám dỗ nặng nề bỏ hàng ngũ khi bị chính anh em mình hiểu lầm, hàm oan, xử ép.
   Sở dĩ Đức Giêsu đã không ngớt khuyên các tông đồ, môn đệ của Ngài : Anh em hãy thương yêu nhau, và Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy (Ga 13,34-35), vì Ngài biết không yêu thương nhau là cơn cám dỗ kinh khủng, và tàn phá nhất, bởi khi không còn yêu thương, người ta trở thành lang sói của nhau ; khi đánh mất đức ái, môn đệ không thể nhận ra mình là anh em với nhau, vì cùng có một Thiên Chúa là Cha, và một Thầy là Đức Giêsu ; khi tình yêu thương không còn hiện diện, nhà truyền giáo sẽ không  còn ở trong, ở với Đức Giêsu nữa, mặc dù chính Ngài vừa là Đấng sai nhà truyền giáo đi, vừa là lẽ sống  của nhà truyền giáo, vừa là đối tượng của công cuộc rao giảng. Do đó, tâm hồn truyền giáo sẽ trống vắng, trái tim truyền giáo sẽ lạnh tanh, đôi chân truyền giáo sẽ chùn bước, niềm vui truyền giáo sẽ tắt lịm, và con đường truyền giáo sẽ đóng lại, tắc nghẽn. Từ đó, cám dỗ buông xuôi, bỏ cuộc, rời hàng ngũ sẽ chiếm đọat toàn thể con người và đời sống nhà truyền giáo.
Tóm lại, ngày cầu nguyện cho truyền giáo, Hội Thánh đã không nhắc nhở gì ngoài  cầu nguyện, khi chọn dụ ngôn Quan toà bất chính và bà goá quấy rầy (Lc 18,1-8) làm Tin Mừng cho ngày lễ, bởi Mẹ Hội Thánh biết : không cầu nguyện, sẽ không có truyền giáo, vì nhà truyền giáo thiếu cầu nguyện sẽ biến thái thành nhà qủang cáo, nhân viên tiếp thị, vì không có Đức Giêsu, Đấng sẽ làm cho hạt giống Tin Mừng lớn lên. Thiếu cầu nguyện, nhà truyền giáo cũng không thể đứng vững trước vô số cám dỗ, mà ở đây, chỉ nêu ra một vài cám dỗ tiêu biểu, như Đức Giêsu hằng nhắc nhở : Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ (Mt 26,41).
Và để thực hiện điều Thiên Chúa mong ước trên, chúng ta phải cậy đến ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho chúng ta nên nghiã tử của Thiên Chúa nhờ đó, chúng ta được kêu lên : Ápba ! Cha ơi ! (Rm 8,15), và dậy chúng ta biết cầu nguyện thế nào cho phải, đồng thời cầu thay nguyện giúp chúng ta, cũng như cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa (x. Rm 8,26-27).  Cũng với tác động của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội truyền giáo đã được khai sinh trong ngày lễ Ngũ Tuần khi từ trời bỗng phát ra một tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi mọi người đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều đuợc tràn đầy Thánh Thần… (Cv 2, 1-4).
Hiệp thông cùng Giáo Hội, chúng ta xin Chúa ban cho mọi tín hữu, trong đó có chúng ta tinh thần truyền giáo ngày càng thăng tiến, lớn lên với đời cầu nguyện.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2019

CÁC THIÊN THẦN

Kinh thánh cho chúng ta biết về các thiên thần là thụ tạo thiêng liêng được dựng nên để hầu cận, phụng sự Thiên Chúa. Các vị còn là sứ giả của Thiên Chúa để “đến với và nói với” con người ý muốn, lệnh truyền của Thiên Chúa. Ngoài ra còn là nhịp cầu hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người, giữa Trời và Đất, khi chu toàn sứ mệnh “đồng hành, bảo trợ” loài người được Thiên Chúa trao phó.
Chỉ nội trong sách Sáng Thế của Cựu Ước, Thiên Chúa cũng đã mặc khải khá rõ sự hiện diện và sứ vụ của các thiên thần : các vị  được Thiên Chúa đặt canh giữ cây trường sinh, trong vườn địa đàng, “với lưỡi gươm sáng loé”, sau khi con người bị trục xuất ra khỏi vườn, vì đã ăn trái cây Thiên Chúa cấm (x. St 3,24) ; sứ thần của Đức Chúa hiện ra với Haga, nữ tỳ của Sarai, vợ ông Ápraham, lúc nàng đang ở “gần một suối nước trong sa mạc” trên đường đi trốn Sarai, vì nàng đã có thai với Ápraham, chồng của bà chủ mình (x. St 16,7) ; ba thiên thần được Thiên Chúa sai đến gặp Ápraham dưới hình dạng những người khách để báo tin vui : Sarai, vợ ông đã già nua nay “sẽ có một con trai” (x. St 18,1-15) ; và ấn tượng nhất là khi Ápraham đang “đưa tay ra cầm dao để sát tế con  mình” (St 22,10), thì “sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông : Ápraham ! Ápraham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” Người nói : “Đừng giơ tay hại đứqa trẻ, đừng làm gì nó ! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa…” (St 22,11-12).
Bên cạnh sách Sáng Thế, có sách Tôbia kể về biến cố tổng lãnh thiên thần Raphaen đến chữa bệnh cho gia đình ông Tôbia (x. Tb 12), cũng như sách Đanien, với sụ kiện giải thích thị kiến cho Đanien của tổng lãnh thiên thần Gabrien (x. Đn 8,15-16).
Trong Tân Ước, các thiên thần đã có mặt từ buổi đầu truyền tin “Ngôi Hai nhập thể” khi “Thiên Chúa sai sứ thần Gabrien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1,26-27), và trong đêm giáng sinh : các thiên thần đã loan Tin Vui cho các mục đồng và hợp xướng ngợi khen : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (x. Lc 2,8-14). Và xuyên suốt cuộc đời dương thế của Đức Giêsu, các thiên thần luôn có mặt để phục vụ Ngài như trong hoang điạ, ở đó Ngài chịu ma qủy cám dỗ (x. Mt 4,11) ; hoặc “đến tăng sức cho Người” trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt, lúc Ngài “xao xuyến, bồi hồi” và “mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22, 43-44), rồi buổi sáng Phục Sinh, cũng chính các thiên thần đã loan báo Tin Mừng “Chúa đã sống lại” cho các phụ nữ ra thăm mộ ngay từ tảng sáng  (x. Lc 24,1-7).
Tóm lại, các thiên thần là thụ tạo thiêng liêng nhưng có thể mang lấy hình hài con người khi thi hành sứ mệnh đến gặp gỡ con người theo lệnh của Thiên Chúa (x. Lc 24,4 ; Cv 1,10). Đối với Thiên Chúa, các thiên thần có nhiệm vụ hầu cận, phụng sự, và chuyển lệnh của Ngài đến loài người. Nói cách khác, ngoài sứ vụ thờ phượng, các thiên thần là những sứ giả của Thiên Chúa. Riêng với con người, các thiên thần được Thiên Chúa trao những sứ vụ sau :
·      Sứ vụ cảnh giác, giải thoát con người khỏi những nguy hiểm, bế tắc :
Sách Công Vụ các Tông Đồ kể lại : “Trong đêm trước ngày bị vua Hêrôđê đem ra xử, ông Phêrô ngủ giữa hai người lính, và bị khóa vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phêrô, đánh thức ông và bảo : Đứng dậy mau đi !” Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông. Thiên sứ nói tiếp : “Thắt lưng lại và xỏ dép vào !” Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo : “Khoác áo choàng vào và đi theo tôi !” Ông liền theo ra, mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mnìh thấy một thị kiến. Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông tới trước cổng sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, thì bỗng nhiên thiên sứ bỏ ông mà đi. Lúc ấy Phêrô mới hoàn hồn và nói : “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê và khỏi mọi điều dân Do Thái mong muốn tôi phải chịu” (Cv 12,6-11). 
·      Sứ vụ giúp đỡ, an ủi con người :
Sách Các Vua kể lại chuyện ông Êlia trên đường lên núi Khôrép. Sau một ngày đường trong sa mạc. Mệt nhọc và nản chí, ông đến ngồi dưới gốc cây kim tước. Ông xin cho được chết và nói : “Lậy Đức Chúa, đủ rồi ! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con”. Rồi ông nằm dưới gốc cây kim tước đó mà thiếp đi. Nhưng này có một thiên sứ đụng vào người ông và nói : “Dậy mà ăn !” Ông đưa mắt nhìn thì thấy ở phiá đầu ông có một miếng bánh nướng trên những hòn đá nung và một hũ nước. Ông ăn bánh, uống nước, trồi lại nằm xuống. Thiên sứ của Đức Chúa trở lại lần nữa, đụng vào người ông và nói : “Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa”. Ông dậy, ăn bánh và uống nước. Rồi nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ông đi suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm tới Khôrép, là núi của Thiên Chúa. (1V19,4-8).
·      Sứ vụ khuyến khích, nâng đỡ tinh thần, củng cố niềm tin :
Câu chuyện thiên thần hiện ra với tông đồ dân ngoại trong cơn nguy hiểm gặp bão và đắm tầu được Phaolô kể lại “Thật vậy, đêm vừa rồi, một thiên sứ của Thiên Chúa là Chúa Tể của tôi và là Đấng tôi phụng thờ, đã hiện ra với tôi và bảo : Này ông Phaolô, đừng sợ ! Ông phải ra trước toà hoàng đế Xêda ; vì thương ông, Thiên Chúa cho tất cả những người cùng đi tầu với ông được sống” (Cv 27,24). Và Phaolô đã nói với các bạn cùng tầu đang lo lắng, hốt hoảng : “Vì thế, thưa các bạn, hãy can đảm lên ! Tôi tin tưởng nơi Thiên Chúa : sự việc sẽ xẩy ra đúng như lời đã phán với tôi” (Cv 27,25).
Cũng như trong Tin Mừng Mátthêu, khi thánh Giuse thấy Đức Mẹ có thai thì nghi nan, “mới định tâm bỏ đi cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kià sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : Này ông Giuse, con cháu vua Đavít, đừng ngại đón bà Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,19-21). 
·      Sứ vụ quy tụ, dẫn dắt con người  về với Thiên Chúa :
Các thiên thần không chỉ đồng hành với con người để chỉ bảo, hướng dẫn, che chở, an ủi, cứu chữa, mà còn dẫn dắt, quy tụ con người về với Thiên Chúa như Tin Mừng Mátthêu khẳng định : “Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia” (Mt 24,31).
Thực vậy, sự hiệp thông trong Thiên Chúa  của Giáo Hội vinh thắng, và Giáo Hội chiến đấu, cũng như với Giáo Hội thanh luyện được thực hiện một cách sống động và mầu nhiệm qua sự hiện diện và sứ vụ của các thiên thần trong thế giới loài người. Các vị hiệp thông với Giáo Hội ở trần thế khi chu toàn sứ vụ đồng hành, hướng dẫn, nâng đỡ chúng ta sống như Thiên Chúa muốn ; các vị chuyển đến chúng ta lệnh truyền, ý muốn của Thiên Chúa, đồng thời dâng lên Thiên Chúa lời nguyện cầu, lễ tế hy sinh cuộc đời của chúng ta. Do đó, các vị chia sẻ tất cả với chúng ta, kể cả thông điệp của Tin Mừng, như thánh tông đồ Phêrô đã qủa quyết : “Đó là thông điệp mà nay các người rao giảng Tin Mừng đã loan báo cho anh em, nhờ tác động của Thánh Thần là Đấng đã được cử đến từ trời. Chính các thiên thần cũng ước mong được tìm hiểu kỹ lưỡng thông điệp ấy” (1 P 1,12), để rồi phần rỗi của chúng ta trở nên  niềm vui lớn của các vị, như Đức Giêsu đã khẳng định : “Giữa triều thần thiên quốc, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,10)
Mừng kính các Thiên Thần Hộ Thủ, mỗi người chúng ta đều có lý do và vinh dự để tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta các “thiên thần  hộ thủ” đồng hành để bảo vệ chúng ta trên đường đời lữ thứ nhiều thách đố, nguy hiểm. Ước gì chúng ta không bao giờ lãng quên : dù những cây số đường đời có khó khăn, nguy hiểm, cám dỗ bủa vây, cạm bẫy kẻ thù giăng mắc tinh vi, dầy đặc đến đâu, thiên thần hộ thủ của mỗi người vẫn luôn có mặt để yêu thương, hướng dẫn, giải cứu, gìn giữ, bảo vệ, đỡ nâng Và đến ngày sau hết, chính thiên thần hộ thủ sẽ hân hoan dẫn chúng ta đến trước Thiên Nhan để giới thiệu với Thiên Chúa, Đấng chúng ta đã suốt đời yêu mến, phụng thờ: “Đây là người tôi tớ tài giỏi và trung thành. Người đáng được hưởng niềm vui của chủ mình” (Mt 25,21).
   Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

VƯỢT QUA QUÁ KHỨ

                                  Mừng kính thánh Phanxicô thành Assisi    
 Cuộc đời con người từ phút đầu vào đời làm người đến phút cuối ra khỏi đời người luôn bị thời gian và không gian chi phối : thời gian với qúa khứ, hiện tại, tương lai ; không gian với những cây số đã đi qua, với nơi đang ở, và những chặng đường, địa chỉ sắp tới. Cuộc đời ấy còn bị chi phối bởi một Tiếng Gọi siêu nhiên réo gọi con người đi từ thời gian hữu hạn được tính bằng giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm để bước vào “thời gian đời đời, vĩnh cửu” không còn “được đo” và “đo được” bằng thời khắc. Không gian cũng theo Tiếng Gọi đi tìm nơi ở từ không gian giới hạn của thế giới hữu hình vào không gian vô hạn, vô cùng của thế giới  vĩnh cửu, siêu nhiên. Nói theo ngôn ngữ “thiêng liêng”, thì Tiếng Gọi không chỉ réo gọi mà còn hướng dẫn, dìu dắt con người đi từ qúa khứ khiếm khuyết, thiếu sót, tội lụy của mình vào một tương lai tốt đẹp, hoàn hảo, thánh thiện. Và mỗi người, dưới ánh sáng của Tin Mừng đều đang bước đi từ đêm đen của qúa khứ tội lỗi vào bình minh tươi sáng của ân sủng cứu rỗi.
Vâng, cuộc đời người Kitô hữu chính là cuộc Vượt Qua với Đức Giêsu : vượt qua quá khứ vào tương lai, vượt qua Biển Đỏ vào Đất Hứa, vượt qua tội lỗi vào ân sủng, vượt qua cái chết vào phục sinh. Trong ý nghiã của Vượt Qua, chúng ta có thể hình dung đường đời mỗi người chính là đường về Nước Trời, và năm tháng làm người chính là thời gian được biến đổi từ yếu đuối nên mạnh mẽ trong đức tin ; từ gian tham, ích kỷ, ganh ghét, hận thù nên nghèo khó, vị tha, yêu thương, phục vụ trong đức ái ; từ kiêu căng, bạo lực, tuyệt vọng nên khiêm nhường, bình an trong niềm hy vọng được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ. Vì thế, người Kitô hữu là người được kêu gọi Vượt Qua để nên thánh, như Cha trên trời là Đấng thánh : thánh ở lòng thương xót, ở tình yêu phục vụ, ở niềm tín thác, cậy trông nơi Đức Giêsu, “Đấng đến để tìm lại những gì đã hư mất, Đấng đến để chuộc lại những người có tội đáng phải chết” (x. Luc 15).
Sở dĩ con đường làm người - làm con Chúa, làm thánh của chúng ta khả thi, vì Thiên Chúa muốn chúng ta được cứu độ, muốn chúng ta cùng ngài vượt qua cõi chết để vào cõi sống, vượt qua hữu hạn vào vô hạn, vượt qua tự nhiên để vào siêu nhiên, vượt qua con người gian ác để thành con Chúa nhân hậu, bởi không có ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, không ai trong chúng ta có thể được đổi mới để trở nên thánh thiện từ quá khứ tội lỗi, nhơ nhớp, ô uế, bất xứng của mình. Vì thế, niềm vui của chúng ta, những con người yếu đuối, có tội chính là biết Thiên Chúa là người cha bao dung, giầu lòng thương xót luôn có mặt và chờ đón con mình trở về ở cuối đường, để có thể xác tín và sống hạnh phúc với niềm xác tín : bất cứ tội nhân nào cũng có một tương lai, và bất cứ vị thánh nào cũng có một quá khứ.
Ngày 4 tháng 10 hằng năm, Giáo Hội mừng kính một con người đã sống hết mình niềm xác tín này khi thực hiện hành trình đời mình một cách anh hùng, qủa cảm bằng đi từ những mốc chốt kiêu căng, xa hoa, phóng túng, tham vọng, vinh quang, quyền chức, hưởng thụ, tranh giành, bạo lực đến khó nghèo, xóa mình, nhiệm nhặt, hy sinh, phục vụ, xây dựng hoà bình, tìm kiếm lẽ công chính, chấp nhận mọi thiệt thòi, vu khống xấu xa để chỉ mong được trở nên “khí cụ bình an của Chúa hầu được phụng sự Chúa trong mọi người”.
Con người đó là thánh Phanxicô thành Assisi. Ngài chào đời năm 1182. Thuộc dòng dõi qúy tộc, giầu có với tuổi thơ được nuông chiều và tuổi thanh niên sôi nổi vì tham vọng. Cũng chính vì tham vọng chính trị mà Phanxicô đã phải nếm mùi tù tội năm 1202. Nhưng đến năm 1205, khi tròn 23 tuổi, Phanxicô nhận ra Tiếng Gọi. Tiếng Gọi ấy muốn chàng thanh niên phong lưu, lịch lãm, tài danh từ bỏ tất cả vinh hoa, phú qúy, và tương lai huy hoàng của một công tử từng trải mọi “ngón ăn chơi” ở đời để trở thành khí cụ Yêu Thương của Thiên Chúa bằng buông bỏ tất cả để sống đời chứng nhân Nước Trời bằng thực hành đòi hỏi của Hiến Chương Bát Phúc, đặc biệt tinh thần khó nghèo. Thánh nhân đã thành lập tu đoàn “Anh em nghèo khó” và luật dòng được Đức Giáo Hoàng Innôxentê III phê chuẩn năm 1210, đến năm 1212, ngài cùng thánh nữ Clara Offreduccio thành lập nhánh nữ. Về cuối đời, vào ngày 17 tháng 9 năm 1224,  thánh nhân được Chúa cho in năm dấu thánh trên thân thể, và là người đầu tiên được mang năm dấu đanh của Đức Giêsu chịu nạn trong lịch sử Giáo Hội. Ngài về với Chúa ngày 3 tháng 10 năm 1226 ở tuổi 44, và di chúc được để lại là khát vọng sống tinh thần khó nghèo của Tin Mừng.
Thực vậy, từ một thanh niên thuộc gia đình qúy tộc với mọi đặc lợi, đặc quyền của xã hội, Phanxicô đã có một đời sống rất xa Tin Mừng, khác biệt với những đòi hỏi của Nước Trời như khó nghèo, hiền lành, khiêm nhường, biết chạnh lòng xót thương, trong sạch, tìm kiếm điều công chính, yêu chuộng hoà bình, chấp nhận chịu hàm oan, xỉ nhục vì Tin Mừng (x. Mt 5,1-2) đã được biến đổi thành khí cụ Bình An của Thiên Chúa như chính lời kinh ngài hằng tha thiết, sốt sắng khẩn cầu :
“Lậy Chúa từ nhân ! Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lậy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ Bình An của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm ; để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng ; để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu”.
“Lậy Chúa, xin hãy dậy con : tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.
“Ôi Thần Linh thánh ái, xin mở rộng lòng con. Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí  ơn An Bình”.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

NHỮNG NỤ HỒNG BÉ BÉ XINH XINH - Tác giả JORATHE NẮNG TÍM

HỒN NHIÊN – ĐƠN SƠ

                         Lễ Kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu (01-10), và Tháng Mười là tháng của Mẹ Mân Côi
Em bé dễ thương trước hết phải là em bé ngây thơ, hồn nhiên, bởi mới nứt mắt, ăn chưa no, lo chưa tới mà đã chảnh chọe, đa đoan, linh tinh, nhiều chuyện thì chẳng có chút đáng yêu nào của tuổi thơ. Người lớn cũng không ra ngoài tiêu chuẩn định giá này, nên người đơn sơ ở đâu, thời nào cũng luôn là người được mọi người  trân trọng, qúy mến.
Tuy thế, hồn nhiên và đơn sơ không chắc đã được hiểu đúng và trong thực tế, rất nhiều người đã tưởng lầm mình đơn sơ, trong khi mình rắc rối, phức tạp ; nghĩ mình hồn nhiên, nhưng kỳ thực mình khờ dại, ngây ngô, cả tin, nhẹ dạ.
Trước hết, người hồn nhiên, đơn sơ không phải là người vô lo, cẩu thả, lơ đãng, ruột ngựa, thả trôi đời mình một cách vô trách nhiệm ; người đơn sơ cũng không là người ăn nói tuyệch tạc, bừa bãi, vô ý vô tứ ; và hồn nhiên không bao giờ là nếp sống buông thả, liều lĩnh, phóng đãng, a dua, đồng bóng, thiếu cân nhắc hơn thiệt, không phán đoán, chọn lựa. Trái lại, người hồn nhiên, đơn sơ là người đáng yêu vì vượt lên trên những tầm thường, đáng trọng vì biết giữ lại phần cốt yếu, đáng tin vì trưởng thành, và xứng đáng là bến đỗ, nơi nương tựa của người khác, vì dễ gần, dễ cảm thông, dễ sống với, dễ đồng hành với mọi người. 
Đức Giêsu cũng gián tiếp đặt đơn sơ, hồn nhiên là điều kiện để được nhận vào Nước Trời, khi tuyên bố : Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng (Mt 19,14), và Tin Mừng cho chúng ta nhận rõ dung mạo đích thực của người hồn nhiên, đơn sơ luôn được Thiên Chúa chúc phúc và loài người mến chuộng :
1.   Người hồn nhiên, đơn sơ là người hiền lành, khiêm nhường :
Trong cuộc sống, có khi nào chúng ta gặp người hung bạo, dữ tợn, kiêu căng, cao ngạo, tự phụ, tự mãn mà đơn sơ, hồn nhiên không ? Chắc chắn không, bởi chỉ người hiền lành mới có thể hồn nhiên, khi tâm hồn bình an, vì không tìm kiếm danh - lợi - thú ; chỉ người khiêm nhường mới đơn sơ, khi thanh thản, bình an, vì trái tim không là sào huyệt của mưu mô, thủ đoạn do ganh ghét, tị hiềm, tham vọng.  Sở dĩ Đức Giêsu đã chọn em bé  như gương mẫu của công dân Nước Trời là vì em bé hồn nhiên, đơn sơ, là hoa trái của tuổi thơ hiền lành, khiêm nhường, khi biết mình bé nhỏ, cần mọi người thương yêu, giúp đỡ để tồn tại.
Biết mình bé nhỏ, cần mọi người là đức tính căn bản của tuổi thơ và nền tảng của hiền lành, khiêm nhường, bởi bé nhỏ mới được Thiên Chúa yêu thương (x. Mt 11,25), bé nhỏ mới có thể học với Đức Giêsu bài học hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng (Mt 11,29), bé nhỏ mới có thể làm bước chân thứ nhất, như khởi điểm của con đường Nước Trời : hồn nhiên, đơn sơ.
2.   Người hồn nhiên, đơn sơ là người tín thác ở Thiên Chúa quan phòng :
Cuộc sống vô thường, nên không tín thác, cuộc sống sẽ quay tít mù như con vụ, choáng váng, chóng mặt, mất phương hướng. Giòng đời với biết bao nhu cầu, đòi hỏi, áp lực đủ kiểu, đủ phiá, đủ thể loại, đủ mức độ, trọng lượng, và con người hụt hơi từng ngày, từng giờ trong đó, đến nỗi đánh mất chính mình vì bon chen, tranh giành, đấu đá. Rơi vào cảnh hỗn chiến hơn thua từng phân li quyền lợi này, hỏi sao người ta có thể giữ được tâm hồn hào sảng, trái tim nhân hậu, tinh thần bao dung, ước mơ cao thượng để có thể hồn nhiên, đơn sơ trong tương quan với người khác ?
Khi chọn em bé là mẫu ứng viên lý tưởng của Nước Trời, Đức Giêsu đã đặt hồn nhiên, đơn sơ như tiêu chuẩn, nhưng không là tiêu chuẩn khơi khơi, ngạo nghễ  đứng một mình, nhưng cắm chặt trong niềm tín thác tuyệt đối ở Thiên Chúa yêu thương, quan phòng, như bảo chứng vững chắc : Thầy bảo cho anh em biết : đừng lo cho mạng sống : lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo cho thân thể : lấy gì mà mặc.. Hãy nhìn xem chim trời : chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng qúy giá hơn chúng sao ? (Mt 6,25-26).
Chúng ta không thể đơn sơ, hồn nhiên nếu không có niềm tín thác sâu thẳm ở Thiên Chúa, Cha chúng ta, Đấng yêu thương và thừa biết chúng ta cần gì (x Mt 6,37), và đã dậy chúng ta : anh em đừng qúa lo lắng cho ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy (Mt 6,34).
Nhiều người lầm tưởng : đơn sơ phó thác, hay hồn nhiên trông cậy ở Chúa đồng nghiã với lười biếng, ỷ lại vô trách nhiệm, không cần phải cố gắng, nỗ lực, cũng không cần phải phấn đấu lao nhọc. Trái với ý nghĩ của họ : đơn sơ phó thác  hay hồn nhiên trông cậy của những người thuộc về Chúa chính là kết qủa của cuộc sống dấn thân, tận tụy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và cuộc đời hy sinh từng ngày vất vả, lao nhọc đi tìm đức công chính của Người (x. Mt 6,33), như Đức Giêsu đã công bố, bởi đó chính là điều kiện tất yếu để có được đời đơn sơ phó thác, và trái tim hồn nhiên trông cậy được Thiên Chúa chúc phúc.
Như thế, tín thác ở Thiên Chúa là Cha yêu thương, quan phòng không chỉ là điều kiện, mà còn là nền tảng, lý do có mặt và tồn tại của đời sống hồn nhiên, đơn sơ, như đòi hỏi phải đáp ứng để được nhận vào Nước Trời.
3.   Người hồn nhiên, đơn sơ là người biết mình được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ :
Biết mình được Thiên Chúa yêu là hạnh phúc lớn nhất của con người, bởi nếu không biết mình được yêu, cho dù có tín thác, chúng ta vẫn nơm nớp một nỗi lo âu, bâng khuâng một niềm lo lắng, xao xuyến một nỗi lo sợ về hạnh phúc đời đời của mình. Nhưng khi ý thức và xác tín được Thiên Chúa yêu thương bằng tình cha nhân hậu, bao dung vô cùng, chúng ta sẽ không còn lo âu, lo lắng, lo sợ, mà thay vào đó là niềm vui được làm con, hạnh phúc mang hình ảnh của Cha trên trời và hy vọng được hưởng gia nghiệp Cha đã dành sẵn cho các con từ tạo thiên lập địa (x. Mt 25,34).
Tháng Mười là tháng của Mẹ mân côi. Hình ảnh đơn sơ phó thác và hồn nhiên Xin Vâng của Mẹ lại trở về  đậm nét trong tâm hồn các con của Mẹ.
Vâng, trong ngày Truyền Tin, vì đơn sơ, nên Mẹ đã bối rối và tự hỏi lời chào có nghiã gì (Lc 1,29), khi sứ thần Gabrien vào nhà và nói : Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn sủng, Đức Chúa ở cùng bà (Lc 1,28) ; vì đơn sơ, Mẹ đã hồn nhiên thưa với sứ thần : Việc ấy xẩy đến thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ! (Lc 1,34), khi sứ thần báo tin : Và đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao.. (Lc 1,31-32) ; cũng vì đơn sơ, mà Mẹ đã hồn nhiên trả lời : Này tôi là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền (Lc 1,38).
Qủa thực, Mẹ đã đơn sơ với ý thức tròn đầy về trách nhiệm vô cùng lớn lao và thách đố vô cùng cam go trước lời mời gọi làm Mẹ Thiên Chúa được sứ thần đề nghị. Mẹ bối rối và tự hỏi, vì đơn sơ và hồn nhiên trước Ơn Gọi, khác với những con người tham vọng, thủ đọan, tính toán đã chẳng thèm bối rối và tự hỏi để phân định khi cơ hội thuận lợi, thời cơ đến, và có lợi, có danh… Mẹ đã đơn sơ trình bầy điều mình nghĩ khi hồn nhiên cho sứ thần biết : Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng, mà không úp mở, lấn cấn, ngượng ngùng, che đậy do tính toán, mưu mô trước vinh dự làm mẹ Đấng Cứu Thế được đề nghị. Và cuối cùng, khi nhận ra thánh ý Thiên Chúa, Mẹ đã đơn sơ  thưa Xin Vâng mà không chút nghi nan, ngờ vực, bởi hồn nhiên tín thác vào Thánh Thần và  quyền năng của Đấng Tối Cao đang rợp bóng trên mình  (x. Lc 1,35), và triều đại của lòng thương xót Chúa trải dài vô cùng vô tận (x. Lc 1,33). 
Ngước trông lên Mẹ, chúng ta nhận ra tâm hồn đơn sơ tín thác và cuộc đời hồn nhiên xin vâng của Mẹ hoàn toàn không phảng phất hay giăng mắc một chút gì là buông xuôi, ươn lười, ỷ lại, hèn yếu, bồng bột, ngốc nghếch, dại khờ, ngu ngơ, hay nhẹ dạ. Trái lại, đơn sơ của tâm hồn Mẹ là đơn sơ của năm cô trinh nữ khôn ngoan vừa mang đèn vừa mang dầu theo(Mt 25,3), để khi chàng rể đến trễ, các cô  vẫn sẵn sàng với đèn đầy dầu và được đi theo chàng rể vào tiệc cưới (Mt 25,10) ; đơn sơ của cuộc đời Mẹ là khôn ngoan của người được Đức Giêsu hết lời ca ngợi : Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi (Mc 3,35) ; đơn sơ của nếp sống Mẹ là chọn lắng nghe Lời Thiên Chúa, như phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi mà Đức Giêsu, Con Mẹ đã khẳng định (Lc 10,42).
Noi gương đơn sơ, hồn nhiên trong đức tin, đức ái và lòng trông cậy của Đức Maria, thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống tinh thần hồn nhiên, đơn sơ của trẻ thơ trước Thiên Chúa, Cha mình. Chị rất đơn sơ và hồn nhiên trong suy nghĩ, lời nói, hành động vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương, nhận mình là con thơ bé nhỏ, và tuyệt đối tín thác ở Cha mình.
Như Đức Maria, chị thánh đã sống đòi hỏi đơn sơ, hồn nhiên của Nước Trời khi sống triệt để Hiến Chương Bát Phúc, như gương sáng cho tất cả chúng ta cũng đang được Thiên Chúa mời gọi sống hồn nhiên, đơn sơ để được nhận làm công dân Nước Trời bằng :
·      Không dính bén của cải để đơn sơ có Nước Trời làm gia nghiệp ;
·      Không kiêu hãnh, hung bạo để đơn sơ hiền lành ;
·      Không háo danh, ham lợi để đơn sơ chia sẻ ;
·      Không bất công, bất chính để đơn sơ phục vụ ;
·      Không ganh ghét, hận thù để đơn sơ cảm thương ;
·      Không gắn bó với những giá trị nhất thời để đơn sơ chiêm ngưỡng một mình Chúa ;
·      Không hiếu chiến, chiếm đoạt để đơn sơ xây dựng hoà bình ;
·      Không sợ khổ, sợ nhục  vì Tin Mừng để đơn sơ hưởng  hạnh phúc làm con Thiên Chúa
Ước gì tâm hồn mỗi người chúng ta ngày càng trở nên đơn sơ trên đường theo Chúa và gặp gỡ anh em, như em bé hồn nhiên nắm chặt tay Cha hiền yêu thương trên đường về mái nhà hạnh phúc.   
  Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2019

TIỀN CỦA

(Luca 16,1 -13) : Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT  25 và 26 Thường Niên, Năm C
Khi dòng tộc, láng diềng còn nghèo, lại ở vào hoàn cảnh đất nước chiến tranh, thì nét đơn sơ, chân thành, tình nghiã, tương trợ nổi bật, và ai nấy đều cảm thấy hạnh phúc vì được người khác yêu thương, tin tưởng, và vì thế cũng  một lòng tin tưởng, yêu thương mọi người. Gia đình, họ hàng, làng xóm ở thời ngô khoai, dưa cà tuy đạm bạc ấy nhưng luôn rộn rã, ăm ắp một niềm vui !
Gần nửa thế kỷ sau, vào những năm 2018,2019, khi chủ nghiã thực dụng bùng nổ với nền kinh tế tiêu thụ đạt đỉnh cao, xã hội không còn bình an nhưng thay vào đó là những cảnh thảm sát vì tham lam của cải và ma giáo, bất lương, tàn bạo : cháu cắt cổ bà để cướp đôi khoen vàng, con rể tương lai giết cả gia đình vợ sắp cưới vì những bất đồng vật chất, anh ruột sáng sớm vác dao lao vào giết gia đình em ruột chỉ vì tranh chấp rẻo đất cha mẹ để lại. Và còn vô số những cảnh tang thương, đẫm máu, chết chóc khác mà ngày ngày làm rùng mình, chấn động, hoang mang, hoảng lọan đám dân lành chỉ mong tìm lại ngày xưa quê mình yên ổn, ở đó dân mình hiền hậu, dễ thương.
Nguyên nhân đều do lòng tham vô đáy, được  ma mãnh, gian ngoa viết thành kịch bản lọc lừa và bạo lực đạo diễn thành thảm kịch đau thương. Kết qủa là người ta đã trở thành đồ tể, hoả ngục, ác qủy của nhau từ lúc nào không hay.
Đức Giêsu trong dụ ngôn người quản lý bất lương đã đưa ra một mẫu người gian tham, ma giáo có đẳng cấp, và không mấy lạ lẫm trong xã hội, thời đại chúng ta hôm nay :
Người phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. Ông mời gọi anh đến và bảo : Tôi nghe người ta nói gì về anh đó ? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa. Người quản lý liền nghĩ bụng : ‘Mình sẽ làm gì đây ? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia sẽ có người đón rước mình về nhà họ !’
Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất : Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy ? Người ấy đáp : ‘Một trăm thùng dầu ô - liu’. Anh ta bảo : ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi’. Rồi anh ta hỏi người khác : ‘Còn bác, bác nợ bao nhieèu vậy ?’ Người ấy đáp : ‘Một ngàn gịa luá’. Anh ta bảo : ‘Bác cầm ấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi’.. (Lc 16,1-7).
Để có thể sống, sau khi mất việc, người quản lý kia đã tìm cho mình một mánh lới tinh vi và chiêu trò gian lận, bớt xén của chủ theo kiểu của người phúc ta để giữ cho mình một số người ủng hộ, hầu bảo đảm đời sống bắt đầu bấp bênh. Với những người chỉ sống    tiền, và cuộc sống chỉ có ý nghiã khi nhu cầu vật chất được đáp ứng, thì anh quản lý bất lương kia là người khôn ngoan : anh được coi là khôn ngoan vì biết  lừa đảo ông chủ bằng  cho các con nợ  của chủ viết lại giấy nợ  với  số nợ đã được ma mãnh  cắt xén; anh được gọi là khôn ngoan, vì ma giáo chiếm đọat trắng trợn  một phần tiền không nhỏ của chủ mà chẳng để lại dấu vết, chứng cớ gì có thể tố cáo anh ta ; anh được tôn làm sư phụ khôn ngoan, vì vừa ăn cướp vừa nhân ái khi giảm tô, bớt nợ cho các con nợ ; anh được  con nợ suy tôn làm thần tượng khôn ngoan vì đã làm nhẹ đi gánh nợ nặng nề của họ bằng gian xảo, lừa dối ông chủ và lợi dụng con nợ với âm mưu chiếm đọat phần nợ tạm thời được tha; anh được tiếng là người khôn ngoan, vì biết tính toán khi dùng phương tiện bất chính là ký lại giấy nợ, để đạt mục tiêu bất công là chiếm đoạt một phần không nhỏ tiền cho vay của ông chủ, với ý hướng bất lương là lừa đảo, bịp bợm mưu lợi riêng.
Nếu ngưng lại ở đây, và chỉ dừng lại ở phạm trù luân lý thì Đức Giêsu đã không mở lời khen anh quản lý bất lương là người khôn ngoan, khi Ngài nói : Và ông chủ khen tên qủan gia bất lương đó đã hành động khôn khéo (Lc 16,8),  nhưng Đức Giêsu đã đặt chúng ta vào một phạm trù siêu nhiên hoàn toàn khác với ý nghĩ  về sự khôn ngoan của con người trước tiền bạc, khi đặt tiền bạc vào đúng vị trị với giá trị đích thực của nó : Vị thế và giá trị của một phương tiện.
Sở dĩ Đức Giêsu khen người quản lý bất lương kia khi nói : Thầy bảo cho anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu (Lc 16,9), vì Ngài nhấn mạnh với chúng ta : tiền bạc chỉ là, mãi là phương tiện, và không bao giờ là cùng đích, cứu cánh, mục đích của đời con nguời. Vì là phương tiện, và lạị là phương tiện sẽ hư hao, phôi phai, tàn rụi, nên chúng ta không được bám víu vào tiền bạc như lẽ sống, nhưng chỉ được dùng nó thuần túy như phương tiện để thực hiện mục đích vĩnh cửu, đời đời. Ở đây, Đức Giêsu mở ra cho chúng ta mục đích đời đời là tình bạn Nước Trời với những người bạn của Thiên Chúa. Nói cách khác, Đức Giêsu hướng mục đích của cuộc sống chúng ta đến tha nhân, dắt chúng ta ra khỏi pháo đài tiền bạc khép kín để đến với người khác; cởi trói chúng ta khỏi xiềng xích của ích kỷ, tham lam vật chất để chan hoà yêu thương, chia sẻ với người khác. Khi đặt tiền bạc chỉ là phương tiện chóng qua, Đức Giêsu muốn chúng ta thoát khỏi ràng buộc của vật chất và kéo chúng ta ra khỏi vũng lầy của cải cho hạn phúc Nước Trời, được biểu hiện qua tình huynh đệ với những người bạn vĩnh cửu như Tin Mừng Luca đã  ghi lại.
Cũng khởi đi từ vật chất, từ những sinh hoạt liên quan đến của cải như lòng trung tín, Đức Giêsu hướng chúng ta đến lòng trung tín với  Lề Luật : Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cng bất lương trong việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tền Của bất chính, thì ai sẽ giao phó cho anh em của cải chân thật ? (Lc 16,10-11). Điều này muốn nói lên : ngay đối với những giá trị vật chất, tuy  nhất thời chóng qua, người ta cũng cần đến lòng trung tín, nói chi đến những giá trị siêu nhiên, đời đời, thì lòng trung tín còn cần thiết biết bao.
Điểm sau cùng Đức Giêsu nhắn nhủ, đó là sức cuốn hút mãnh liệt của tiền bạc, khi đặt tiền bạc như đối trọng có tầm cỡ với Thiên Chúa : Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ ny mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được (Lc 16, 13).
Khi gọi tiền bạc là ông chủ, hẳn Đức Giêsu muốn nói lên khuynh hướng tôn thờ tiền bạc, thần tượng của cải, sùng bái vật chất như vị thần, ông chủ của đời mình và cuộc sống chỉ còn là một cuộc đời nô lệ tiền bạc, và con người là đầy tớ mù quáng, trung thành của giá trị vật chất hay hư nát, chóng qua.
Tiền bạc không xấu bao lâu còn giữ  vị thế là phương tiện. Nó chỉ xấu và làm con người mất địa vị chủ nhân của mình, khi con người biến nó thành ông chủ của mình, để phải bất hạnh  vì ông chủ có bản chất khắc nghiệt, tàn nhẫn này. Đức Giêsu không lên án người giầu có, nhiều của cải, nhưng cảnh giác nguy cơ người giầu đánh mất chính mình khi tự biến mình thành nô lệ bất hạnh của tiền bạc. Trái lại, hãy khôn ngoan xử dụng tiền bạc là phương tiện với giá trị nhất thời, chóng qua, hay hư nát để mua lấy giá trị  đời đời, vĩnh cửu là hạnh phúc Nước Trời   
Và chỉ khi nào tất cả chúng ta ý thức tiền bạc chỉ là phương tiện để thực hiện những mục đích cao đẹp phục vụ con người, làm vinh danh Thiên Chúa, thì xã hội mới không còn cảnh anh em cùng cha cùng mẹ thảm sát nhau vì những thước đất, cháu cưng xiết cổ bà nội, vì vài phân vàng, bạn bè truy sát nhau vì bất đồng vật chất.
Xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận của cải như hồng ân, và xử dụng  tiền bạc như phương tiện để làm vinh danh Chúa bằng  quảng đại chia sẻ, và tận tâm phục vụ anh em, nhất là những anh chị em cơ cùng, tân khổ, bần hàn, thiếu thốn đang cần những giá trị vật chất tuy chóng qua, nhưng cần thiết từ bàn tay chúng ta để được sống xứng đáng là con người, và chúng ta được trở thành  bạn hữu đời đời, vĩnh cửu của họ trong Vương Quốc Nước Trời.
Jorathe Nắng Tím