Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

BIẾT ƠN

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 28 Thường Niên, Năm C
Nhiều danh nhân đã nói : “Bài học quan trọng mà con người phải học với thú vật chính là lòng biết ơn”. 
Người mà phải học với thú sao ? Nghe thật chói tai, ngang ngược, và cực kỳ phạm thượng ! Nhưng với một chút lương thiện, chúng ta sẽ không còn coi đó là hành vi xúc phạm nhân phẩm, hạ thấp nhân vị, vì qủa thực điều mà con người chúng ta thiếu sót với nhau nhiều nhất, chính là lòng biết ơn.
Con người là hữu thể xã hội, nên cần đến nhau, và tính tương thân tương trợ luôn gắn liền, đeo đẳng đời sống, bởi không ai có thể sống, lớn lên, thành công, hạnh phúc một mình, nhưng “người khác” luôn là yếu tố quan trọng, không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của bản thân.
Biết ơn được hiểu là tâm tình yêu mến, kính trọng dành cho người đã cứu giúp, chia sẻ, nâng đỡ, ủi an, bênh vực mình dưới mọi hình thức, ở mọi mức độ, trong mọi hoàn cảnh. Người biết ơn dành cho người thi ân tình cảm đăc biệt trong trái tim, và chỗ đứng trân trọng trong đời sống của mình. Lòng biết ơn làm cho tương quan giữa người ban ơn và thụ ơn luôn tốt đẹp, nhờ người thụ ơn nhận biết giá trị của ơn đã nhận và tấm lòng cao cả, quảng đại, yêu thương của người đã ban ơn. Vì thế, tương quan ấy được hình thành tốt đẹp hay không hệ tại ở tâm tình và thái độ của người thụ ơn, chứ không ở người thi ân, vì người cho đi thường không tìm được đền đáp, nhưng người nhận ơn không thể bỏ quên bổn phận đáp đền.
Trong thực tế, sở dĩ người ta dễ quên ơn nhau vì biết ơn là một điều khó, một việc khó làm, vì đòi một điều kiện không luôn dễ có, đó là lòng khiêm tốn : khiêm tốn nhận mình yếu, nên cần đỡ nâng ; khiêm tốn biết mình thiếu, nên cần được chia sẻ, giúp đỡ, bù đắp ; khiêm tốn thấy mình bất lực, nên cần hỗ trợ, thêm sức ; khiêm tốn nhìn vào sự thật trần trụi, tiêu sơ, hoang vắng, cằn cỗi của mình để thấm thiá hiểu rằng lòng tốt của người khác luôn cần cho tôi. Nhưng hơn tất cả những cái khó vừa kể, cái khó đáng lo ngại nhất chính là khó có thể giữ mãi lòng khiêm nhường khi đã thoát khỏi cảnh khốn khó, bước đuờng cùng, ở đó mình đã thụ ơn, nhận ơn người, bởi ít ai muốn khoác mãi cho mình lớp áo quá khứ tăm tối, cơ hàn khi đã thành công, và để giũ được quá khứ này, tốt nhất là cạo sạch, đánh bóng quá khứ ấy bằng xóa tên người ơn như “nhân chứng nguy hiểm” của một thời cần phải được xoá sạch.
Kinh nghiệm bản thân chứng minh điều này : khi thiếu thốn, bần hàn, ta dễ khiêm tốn để nhận ơn, cũng như dễ khiêm nhường để biết ơn, nhớ ơn, nhưng đến khi không còn nghèo, hay khi  vừa ra khỏi cảnh khổ, ta không còn đủ khiêm tốn để tiếp tục biết ơn, nhớ ơn, đền ơn người đã giúp đỡ, thi ân cho ta. Trái lại, không những không khiêm tốn biết ơn, ta còn gồng mình kiêu hãnh chối bỏ quá khứ thiếu thốn, bệ rạc, bần cùng của mình bằng “xưng hùng xưng bá” tỏ ra ngang cơ, “trên kèo” ngay cả những người đã thi ân cho ta, bởi không xóa ơn bằng xoá tên tuổi họ trong đời mình, không xù ơn bằng khai tử sự có mặt ơn nghiã của họ trong tâm tưởng mình, ta sẽ không yên, vì luôn cảm thấy như có ai đó cản trở bước tiến của đời mình ; ta sẽ mãi nặng lòng, vì luôn bực bội, sượng sùng như có ai đó ngăn chặn đường lên của tương lai, bởi tự mãn, kiêu căng không cho ta chấp nhận một qúa khứ đã được giúp đỡ, một lịch sử đã được viết bằng những ngày thiếu thốn được trợ giúp, một lý lịch còn đậm những bi thương, gẫy đổ đã được vực dậy, nhiều đọan đường đã đi qua đầy những gian truân, quẫn bách được cứu thoát nhờ ân sâu nghiã nặng được phủ dầy. Chính vì thế, ta sẵn sàng quên ơn, vô ơn những người đã làm ơn cho ta.
Làm người như chúng ta, Đức Giêsu cũng thấm thiá những vô ơn của con người : hơn ai hết, Ngài đã suốt đời thi ân, giáng phúc, nhưng cũng hơn ai hết, gánh nặng nghiệt ngã của vô ơn đã chồng chất làm guc ngã Con Người Thiên Chúa trên đường thánh giá.
Trong Tin Mừng Luca về “mười người phong hủi”, chính Đức Giêsu cũng đã nói về câu chuyện vô ơn quen thuộc này của con người : “Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê. Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng : “Lậy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi !” (Lc 17,11-13). Họ phải dừng lại đằng xa vì Lề Luật cấm họ đến gần người khác, bởi người bệnh phong hủi bị coi là ô uế, dơ bẩn, bị cô lập, tẩy chay xa khỏi cộng đồng. Nhưng Đức Giêsu chạnh lòng thương khi nghe họ kêu xin lòng thương xót và đã chữa lành họ. “Một người trong họ thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Samari. Đức Giêsu mới nói : “Không phải cả mười người đều được sạch cả sao ? Thế thì chín người kia đâu ? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này ?” (Lc 17,15-18).
Hỏi “chín người kia đâu ?”, Đức Giêsu muốn hỏi lòng biết ơn của con người đối với Thiên Chúa, cũng là nhắc nhở lòng biết ơn của chúng ta đối với nhau, vì Ngài biết giá trị mang tính cứu độ của lòng biết ơn, bằng chứng là Ngài đã thốt lên trước người đàn bà Samari bên bờ giếng Giacóp : “Ước gì con nhận ra ơn Chúa ban !” (Ga 4,10), để nói lên hồng ân tuyệt vời chúng ta nhận được từ Thiên Chúa và hạnh phúc nhận ra ơn Ngài.
“Nhận ra” ơn tức là biết ơn, và có biết ơn mới có thể đền ơn, đáp ơn. Với Thiên Chúa, chúng ta chỉ có thể đáp đền ơn bằng “tôn vinh Ngài”, như anh phung hủi duy nhất có  lòng “biết ơn” đã trở lại tôn vinh Thiên Chúa.
Tóm lại, trong cuộc sống, con người cần đến nhau, vì Thiên Chúa muốn như vậy, bởi loài người được dựng nên để yêu thương, hạnh phúc trong Thiên Chúa và với tha nhân, nên không thể không cần đến nhau, vì tình yêu, hạnh phúc luôn đòi đối tượng là “người khác”. Cần đến nhau nên trao ban và lãnh nhận, cần đến nhau nên “chị ngã em nâng”, cần đến nhau nên có nhau “khi khoẻ mạnh, lúc ốm đau, khi gian truân, lúc thịnh vượng”. Vì thế  cuộc sống xã hội sẽ là giòng chảy không ngừng  của “thi ơn và biết ơn”, của “cho và nhận”, mà trên đó người ban ơn cũng như người thụ ơn đều chan hoà niềm vui, ngụp lặn trong hạnh phúc, bởi có lòng tốt qủang đại trao ban và có trái tim biết rung niềm tri ân, cảm tạ.
Xin Chúa dậy chúng con biết ơn Chúa để  chúng con luôn sống trong hạnh phúc vì được ngợi khen, phụng sự Chúa, như người phong hủi “thấy mình được khỏi đã vui mừng quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 17,15). Và trong niềm vui say mê cảm tạ hồng ân Chúa, chúng con trở thành niềm vui cho mọi người khi hồn nhiên, khiêm tốn sống đời người “biết ơn”.
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2019

TRÀNG HẠT MÂN CÔI - HỒNG ÂN CỦA GIÒNG ĐỜI

Ai cũng có Mẹ và người Mẹ nào cũng yêu con, trừ một số rất ít bà mẹ không bình thường, đáng thương. Mẹ yêu con vì con là con của Mẹ. Đơn giản và hiển nhiên, nên không cần chứng minh cũng thấy con thuộc về Mẹ và Mẹ là của con; không cần lý luận dài dòng cũng hiểu trong tình mẹ, con là tất cả ; không phức tạp lý giải, Mẹ cũng mãi mãi sẵn sàng  một đời sống chết vì con.
Cũng vì là con Mẹ, nên con hạnh phúc hưởng trọn tình mẹ bao la, thoả thích bơi lội trong đại dương lòng Mẹ, nhõng nhẽo, nũng nịu bên gối, trong vòng tay Mẹ hiền âu yếm. Vì là Mẹ, nên từ giây phút thụ thai con cho đến ngày mẹ chết, không mấy lúc hình bóng con phai mờ trong tâm trí Mẹ, và hạnh phúc của con là hạnh phúc của Mẹ, bất hạnh của con là bất hạnh của Mẹ, thành công của con là thành công của Mẹ, và thất bại của con cũng chính là thất bại của Mẹ. Mẹ con nên một, vì Mẹ và con là một khi con được tạo hình trong cung lòng Mẹ ; là một khi con lớn lên bằng sữa từ máu thịt Mẹ ; là một khi Mẹ dậy con nói, cười, yêu thương ; là một khi con học ở Mẹ giá trị của nước mắt chạnh lòng, ý nghiã của vất vả sẻ chia, cao cả của nụ cười bao dung, tha thứ, nhất là trái tim khiêm tốn tri ân, tín thác ở lòng thương xót của Đấng đã cho con là con Mẹ, và Mẹ là Mẹ con.
Vâng, chân dung Mẹ hiền của bạn, và hình ảnh Mẹ yêu của tôi vừa được mô tả cũng là dung nhan tuyệt vời của Đức Maria, Mẹ của tất cả chúng ta. Mẹ là Mẹ đích thực, chứ không là mẹ “hữu danh vô thực”, hay mẹ ghẻ, mẹ hờ, mẹ nhận vơ, vì dưới chân Thánh Giá trên Núi Sọ, trước khi tắt thở, Đức Giêsu Thiên Chúa làm người đã công khai mặc khải cho chúng ta : Mẹ của Ngài cũng là Mẹ của mỗi người chúng ta. Lời giới thiệu hôm ấy rất trọng đại, vì hơn là lời giới thiệu, đó là lời di chúc của một Thiên Chúa làm người chính thức cho chúng ta vinh dự làm em Ngài, khi mặc khải Mẹ yêu dấu của Ngài cũng là Mẹ hiền của chúng ta. Thánh Gioan đã “nhân danh, thay mặt” mỗi người chúng ta nhận hạnh phúc và vinh dự này ngay dưới chân Thánh Giá, trong giây phút công trình Cứu Chuộc được hoàn thành (x. Ga 19,25-27).   
Như mọi người mẹ, Mẹ Maria cũng yêu thương con mình là chúng ta với tâm tình yêu thương dạt dào, với lòng hy sinh qủa cảm, sẵn sàng chết cho con mình được sống, với ước mơ con mình hạnh phúc, bình an, và niềm vui thấy con mình thành đạt, nên người hữu ích. Như mọi người mẹ, Mẹ Maria không một phút quên con mình, nhưng đồng hành theo từng bước chân con, và suốt đời khắc khoải trông chờ bóng con dong duổi.
Không biết có lần nào bạn đã chiêm ngắm người mẹ già mắt ngước cao, tay mân mê tràng hạt, miệng thì thầm cầu xin cho đàn con : có đứa đi xa bao nhiêu năm chưa  về, có đứa đau bệnh, có đứa gia đình xào xáo, bên bờ vực thẳm ly hôn, có đứa hoang đàng sa lưới pháp luật, có đứa khô khan, nguội lạnh bỏ bê kinh sách, lễ lậy… Và ngày rồi đêm, hết tháng năm này qua năm tháng nọ, bà mẹ già vẫn thầm thĩ cầu nguyện, vẫn mải mê lần chuỗi, vẫn kiên nhẫn trông chờ, hy vọng, vẫn từng ngày dõi bước chân con bằng từng nụ hồng của tràng kinh Mân Côi.
Hình ảnh người mẹ già lần chuỗi nhớ con cũng là hình ảnh của Mẹ trên trời đồng hành với đàn con Mẹ trên đường đời  qua tràng hạt Mân Côi mà Mẹ yêu thích, bởi ngày xưa Mẹ đã yêu thương, chăm sóc, giữ gìn, giáo dục Đức Giêsu, con Mẹ ở Nadarét thế nào, thì hôm nay, Mẹ cũng có mặt để an ủi, nâng đỡ, chỉ dậy mỗi người chúng ta qua kinh Mân Côi, như ơn lành của Mẹ không ngớt phủ kín giòng đời của từng đứa con Mẹ như thế :
·             Mẹ có mặt để dậy chúng ta biết đón nhận thánh ý Thiên Chúa ngay khi vào đời làm người, làm con Chúa trong gia đình, bằng khiêm tốn Xin Vâng, vì Mẹ biết  rõ những khó khăn, thử thách trong đời hôn nhân, những thách đố trong  bổn phận làm cha mẹ, cũng như đòi hỏi không luôn dễ để sống đời  con cái hiếu thảo (x. Lc 1,26-38).
·             Mẹ nắm tay chúng ta lên đường Yêu Thương, đến với mọi người, nhất là những người đau khổ, bất hạnh đang cần được chúng ta chia sẻ, nâng đỡ, vì Mẹ là người đem Chúa Giêsu đến cho nhân loại, và hơn thế nữa, Mẹ biết : yêu thương không dễ chút nào, tha thứ còn khó gấp trăm lần yêu, và tình yêu nào cũng cần được nuôi lớn bằng máu, nước mắt, mồ hôi của Hy Sinh  (x. Lc 1,39-45).
·             Mẹ nâng đỡ chúng ta trên hành trình tận hiến để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ mọi người, vì đường tận hiến không luôn  thênh thang, thông thoáng, nhưng rất hiểm trở, chông gai, và nhiều bất công, trái ý, oan sai có khi từ chính anh em mình, vì hơn ai hết, ngay từ buổi đầu đời làm Mẹ Đức Giêsu, Mẹ đã hiểu lời tiên tri của cụ già Simêon : “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà”  (X. Lc 2,22-35)
·             Mẹ tìm kiếm và dắt chúng ta trở về với Chúa Giêsu, Con Mẹ những lần chúng ta bỏ nhà Thiên Chúa, bỏ Giáo Hội, bỏ cộng đoàn, bỏ gia đình, bỏ cả chính mình đi hoang, trụy lạc, vì Mẹ đã từng “hồn xiêu phách lạc” tất tưởi, lo lắng đi tìm Chúa Giêsu lạc mất trong dịp hành hương mừng lễ Vượt Qua ở Giêrusalem (x. Lc 2,41-50).
·             Và trên giòng đời truân chuyên, không luôn êm ả, với đủ thứ cạm bãy, cám dỗ, mồi chài, chúng ta liên tục vấp ngã khi dửng dưng, lạnh lùng với Ơn Chúa, thờ ơ, khinh mạn Giáo Hội, ngông cuồng, cao ngạo giơ chân đạp đổ công trình do tay Chúa sáng tạo. Ở những hoàn cảnh bê bết đáng bị ruồng bỏ này, chỉ có Mẹ mới vực chúng ta đứng dậy, ăn năn thống hối, và trở về với Nguồn Yêu Thương, như Mẹ đã là chỗ dựa an toàn, bến đỗ bình an cho các tông đồ ngày Chúa chịu nạn, khi các vị hoang mang, tan hàng để người thì phản bội, người chạy trốn, người bội tín, chối bỏ Thầy mình (x. Lc 22,47- 62).
·              Cũng Mẹ sẽ là người dậy chúng ta biết “yêu mến những sự trên trời”, và tìm kiếm Nước Trời vĩnh cửu, để rồi chúng ta sẽ được Mẹ “hiện đến bên giường” khuyên răn, nâng đỡ, ủi an giờ lâm tử, và trên đường về quê trời, chúng ta luôn có Mẹ ở bên, được Mẹ đồng hành, hướng dẫn.
Lậy Mẹ Maria yêu dấu của chúng con ! 
Tháng Mười hàng năm nhắc nhớ chúng con tình mẫu tử của Mẹ qua tràng hạt Mân Côi, như hoa hồng yêu thương của tình Mẹ hằng bao phủ giòng đời chúng con. Với kinh Mân Côi, Mẹ ở với chúng con và chúng con được ở trong lòng Mẹ, để bất cứ lúc nào trên giòng đời dù hạnh thông hay trắc trở, phấn khởi - hy vọng hay thất vọng - chán chường, Mẹ con mình luôn có nhau, Mẹ nhé !
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2019

TRUYỀN GIÁO VÀ CẦU NGUYỆN

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXIX Thường Niên, Năm C
Đức tin Kitô giáo là sự gặp gỡ thiết thân giữa Thiên Chúa trong Đức Giêsu và con người. Vì là gặp gỡ thiết thân, nên không thể thiếu giao lưu, trao đổi, hiệp thông, hiệp nhất mà chỉ nhịp cầu Cầu Nguyện mới thực hiện được. Và vì không thể thiếu trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, nên cầu nguyện là đòi hỏi hàng đầu và là giáo huấn được Đức Giêsu quan tâm nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Tin Mừng.
Trước hết, chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu trong cầu nguyện. Ngài đã luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa, Cha Ngài, nhất là ở thời điểm của những biến cố quan trọng trên đường truyền giáo :
·      Ngài cầu nguyện khi chịu phép rửa của Gioan trên sông Giôđan : “Khi toàn dân đã chịu phép rủa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tếng từ trời phán rằng : Con là Con của Cha ; ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,21-22).
·      Ngài cầu nguyện trước khi chọn Mừơi Hai tông đồ : “Trong những ngày ấy, Đức Giêsu lên núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6, 12-13).    
·      Ngài cầu nguyện trước khi lên đường rao giảng Tin Mừng : “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. Ông Simôn và vác bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Người, các ông thưa : Mọi người đang tìm Thầy đấy !” Người bảo các ông : “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó. Rồi Người đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ qủy” (Mc 1,35-39).
·      Ngài cầu nguyện trước giờ bước vào cuộc tử nạn cứu thế : “Người đi ra núi Ôliu như đã quen. Các môn đệ cũng theo Người”. Đến nơi, Người bảo các ông : “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Rồi Người đi xa các ông một quãng… và qùy gối càu nguyện rằng : “Lậy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,39-42).
·      Ngài cầu nguyện trong giây phút cuối cùng của đời làm người, trên thánh giá với tâm tình tha thiết của người con dành cho Cha mình : “Lậy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Điều chúng ta nhận được ở Đức Giêsu, chính là trong mọi hoàn cảnh và sinh hoạt, Ngài luôn cầu nguyện để hiệp thông, hiệp nhất với Thiên Chúa Cha, nhất là để nhận ra và vâng phục thực thi thánh ý của Chúa Cha, bởi  đó là lẽ sống của Ngài : “Lương thực  của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34).
Chiêm ngắm Đức Giêsu trong cầu nguyện cho chúng ta niềm xác tín về chỗ đứng không thể thiếu của cầu nguyện trong đời người môn đệ  Đức Giêsu trên đường đi theo Ngài loan báo Tin Mừng. Và đó chính là lý do Giáo Hội đã chọn “dụ ngôn quan toà bất chính và bà goá quấy rầy” trong Tin Mừng Luca cho ngày Chúa Nhật truyền giáo, mà ngay khởi đầu của dụ ngôn, thánh sử Luca đã nhấn mạnh trọng tâm : phải kiên tâm khi cầu nguyện : “Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dậy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).
Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đã vẽ lên hình ảnh một quan toà “chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì” (Lc 18,2), bên cạnh là một bà góa “nhây như điả” sẵn sàng ngồi lì, lải nhải ăn vạ ngày này qua ngày khác để được toà minh xét cho. Hai hình ảnh đều qúa quắt : một ông quan toà lãnh đạm, kiêu căng, bất chính ; một người đàn bà goá bụa già hàm quấy rầy “có bằng cấp”. Người đàn bà ấy cần được quan toà minh xét, nhưng ông không quan tâm đoái hoài, và phải chờ đến khi “bị mụ goá này quấy rầy” đến độ “nhức đầu nhức óc”, không còn chịu nổi nữa, ông quan toà gian ác kia mới chịu thua mà xét xử cho xong, để mụ ta khỏi quấy rầy (x. Lc 2-5).
Đức Giêsu đã lấy lại lời của ông quan toà: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc” (Lc 18,4-5) để dậy các môn đệ bài học cầu nguyện, đó là : nếu ông quan toà bất chính kia cuối cùng đã phải xét xử vì không muốn bị quấy rầy, thì Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, giầu lòng thương xót, lại hằng muốn cứu giúp, minh xử cho những ai kêu cầu Ngài lại không lắng nghe, mà lại bắt những người Ngài yêu thương, tuyển chọn đang kêu cầu Ngài phải chờ đợi mãi sao ? (x. Lc 18,6-7). Và Ngài quả quyết : “Thiên Chúa sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18,8).  
Điều chúng ta muốn chia sẻ với nhau hôm nay trong chúa nhật truyền giáo chính là “nhà truyền giáo với cầu nguyện”, hay nói khác đi : sự cần thiết của cầu nguyện trong sứ vụ truyền giáo :
1.   Không cầu nguyện, truyền giáo chỉ còn là quảng cáo, tiếp thị :
Truyền giáo là loan báo Tin Mừng, mà Tin Mừng là chính Đức Giêsu, nên truyền giáo không là công tác tuyên truyền một chủ thuyết, rêu rao một luận điệu, qủang cáo một sản phẩm, rao bán một món đồ. Truyền giáo không xử dụng những kỹ năng lôi kéo đám đông, hoặc thủ thuật giành giật quần chúng như mị dân, mua chuộc, mồi chài, đe dọa, trấn áp… nhưng tuyệt đối tôn trọng tự do đón nhận chân lý Tin Mừng của mỗi người.
Chính vì loan báo con người Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, mà nhà truyền giáo phải thuộc về Con Người Thiên Chúa ấy, bởi không thuộc về Ngài, nhà truyền giáo không biết gì, hiểu gì về Ngài, và như thế, nhà truyền giáo chỉ còn là nhân viên tiếp thị của một công ty, nhân viên chào hàng, giới thiệu sản phẩm của một xí nghiệp, và công việc này hoàn toàn không đòi nhân viên phải thuộc về ai, hay phải toàn tâm toàn ý, yêu mến thiết tha người nào. Trái lại, loan báo Đức Giêsu, giới thiệu Đức Giêsu đòi phải biết Ngài, yêu Ngài, trở nên giống Ngài, hiệp thông trong Ngài, hiệp nhất với Ngài như “cành nho gắn liền với cây nho” (Ga 15,4), bởi “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo” (Ga 15,5-6).
Ở đây, Đức Giêsu đã không chỉ mời gọi các môn đệ hiệp thông, hiệp nhất với Ngài, mà còn quả quyết : nếu không hiệp nhất, hiệp thông với Ngài thì không những “chẳng làm gì được”, mà còn “bị ném ra ngoài, rồi tự khô héo, tàn rụi đi”. Như thế, việc cầu nguyện tức gắn bó thiết thân, liên lạc chặt chẽ, mật thiết với Đức Giêsu không còn là một đề nghi “làm cũng được, không làm cũng không sao”, nhưng là một lệnh truyền, một điều kiện tất yếu mà bất cứ nhà truyền giáo môn đệ, tông đồ nào cũng phải triệt để thực hiện.
Đức Giêsu còn long trọng công bố : “Nếu anh em ở lai trong Thầy và Lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là : Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” (Ga 15,7-8).
Thật không còn gì phải nghi ngờ “Cầu Nguyện” là đòi hỏi thứ nhất, quan trọng nhất ở nhà truyền giáo, và người môn đệ Đức Giêsu, bởi hoa trái thiêng liêng có được nơi người được rao giảng Tin Mừng hoàn toàn hệ tại ở điều kiện “ở lại trong Đức Giêsu”, chứ không do khả năng rao giảng, kỹ thuật loan báo hay do uy tín, ảnh hưởng cá nhân của nhà truyền giáo. Chẳng thế mà thánh Phaolô đã tuyên tín : “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20) , sau những năm tháng truyền giáo, với kinh nghiệm thiêng liêng của vị tông đồ dân ngoại biết rõ mình chỉ có thể thực sự loan báo Tin Mừng, rao giảng Đức Giêsu cách hữu hiệu và như ý Chúa muốn khi đạt đến tình trạng hoàn toàn tháp nhập đời mình vào Đức Giêsu bằng sống đời cầu nguyện, bởi tương quan đích thực giữa Thiên Chúa và con người chỉ được thiết lập “trong và nhờ” Đức Giêsu, như Đức Giêsu đã nói : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).  
2.   Không cầu nguyện, nhà truyền giáo không thể đứng vững trước sóng gió của cám dỗ :
Nếu “ma qủy sàng chúng ta như sàng gạo” (x. Lc 22,31), thì chúng sàng các nhà truyền giáo nhiều lần kỹ lưỡng hơn, bởi chúng vô cùng căm phẫn, thù ghét những ai bỏ mọi sự vì Tin Mừng, hy sinh trọn đời vì Nước Trời, và sẵn sàng hiến thân phụng sự Đức Giêsu và phục vụ Dân Ngài. Vì thế, nhà truyền giáo là đích điểm của mọi đòn thù ác độc của thế gian và  ma qủy, như Đức Giêsu trước khi lên Giêrusalem chịu chết đã cảnh báo các tông đồ của Ngài : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian  đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, và tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em… Họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy” (Ga 15,18-19.21).
Và sự thật không thể chối cãi, đó là ma qủy  luôn tìm giăng bẫy các nhà truyền giáo trên đường loan báo Tin Mừng bằng những cám dỗ rất thâm độc :
a.   Cám dỗ quyền lực :
Nhà truyền giáo là người của quần chúng, vì gần gũi dân chúng, thường xuyên giao lưu, gặp gỡ đám đông, nên dễ quên mình là sứ giả mà lầm tưởng mình là tác giả ; dễ quên mình là khí cụ, mà ảo tưởng mình là ông chủ ; dễ quên mình là  mục tử, mà mơ tưởng ngai vàng lãnh tụ ; dễ quên mình là người được sai đi, mà hoang tưởng mình là người “cầm cân nẩy mực” mọi công trình, đường lối, kế hoạch ; dễ quên lời đoan hứa : “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,30), mà ngạo mạn tạc tượng mình cho thiên hạ sùng kính để rồi trở thành “nhà truyền giáo biến chất” khi kiêu căng, tự mãn, độc đoán, độc tài, bất trị, vô cảm, nhẫn tâm, tàn ác.
Những ngày này, Đức Thánh Cha Phanxicô không ngừng lên tiếng đả phá tinh thần giáo sĩ trị  còn tồn tại trong Giáo Hội. Điều này phần nào nói lên cơn cám dỗ quyền lực nơi nhà truyền giáo, và môn đệ Đức Giêsu vẫn còn là ung nhọt làm nhức nhối Thân Thể mầu nhiệm của Ngài.
b.   Cám dỗ tìm thành công tức khắc, và thấy được :
Truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu cho người khác, là gieo những hạt giống Tin Mừng trong lòng mọi người, nên khao khát tự nhiên của nhà truyền giáo là mong thấy nhiều người trở lại đạo, và con số tân tòng tăng vọt. Đây thực là một cám dỗ nguy hiểm, vì  ma qủy sẽ lợi dụng ước mong thánh thiện ấy để biến nhà truyền giáo thành một con buôn thuần vật chất, nghiã là  để đạt thành qủa bên ngoài, tức khắc và thấy ngay được, nhà truyền giáo sẽ tìm mọi phương thế mang tính trần tục, mọi mánh lới, thủ đọan để lái mục đích  đích thực của truyền giáo sang mục tiêu tìm thành qủa bên ngoài, nhất thời, vật chất, xa dần Tin Mừng, tách rời khỏi Đức Giêsu. Ma qủy sẽ làm cho nhà truyền giáo say men “thành qủa hoành tráng  bên ngoài”, mà quên đi chân lý rất quan trọng, đó là chính Thiên Chúa mới là người làm cho hạt giống mọc lên, mới là Đấng thánh hoá, đổi mới, cứu độ, trong khi nhà truyền giáo không thể thánh hoá ai, cũng không tự mình đổi mới được tâm hồn nào, nếu không có Thiên Chúa.
Thánh Phaolô đã xác tín điều này khi ngài viết về vai trò thực sự của người rao giảng Tin Mừng trong thư gửi giáo đoàn Côrintô : “Vậy Apôlô là gì ? Phaolô là gì ? Đó là những tôi tớ đã giúp cho anh em có đức tin, mỗi người đã làm theo khả năng Chúa ban. Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể. Kẻ trồng, người tưới đều như nhau, nhưng ai nấy sẽ được thù lao tùy theo công khó của mình. Thực vậy, chúng tôi là cộng sự viên của Thiên Chúa. Anh em là cánh đồng của Thiên Chúa, là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên” (1Cr 3, 5-9). Chỗ khác, thánh tông đồ dân ngoại viết : “Nguyện xin Thiên Chúa là nguồn mạch bình an thánh hoá toàn diện con người anh em” (1 Tx 5,23), để nói lên chân lý : chỉ một mình Thiên Chúa là nguồn ơn sủng và chỉ một mình Ngài ban ơn thánh hoá các tâm hồn.
Như thế, nhà truyền giáo phải tôn trọng quyền “làm lớn lên, và thánh hoá” của Thiên Chúa bằng tin tưởng vào mầu nhiệm của thời gian trong công cuộc cứu độ, để không nóng nẩy, vội vàng, luống cuống, bực bội khi hạt giống được gieo chưa nẩy mầm đúng kỳ hạn, người tội lỗi chưa hối cải, ăn năn đúng ngày giờ mình muốn, người được rao giảng mãi chưa ngỏ lời xin theo đạo, vì chỉ Thiên Chúa mới biết khi nào và cách nào hạt giống sẽ nảy mầm và cây lớn lên. Phần nhà truyền giáo, với cái nhìn đức tin và niềm xác tín ở mầu nhiệm thời gian trong công trình cứu độ sẽ bình an, kiên nhẫn rao giảng mà không tìm đốt giai đọan, rút bớt thời gian với tham vọng tìm kết qủa tức thời, thấy được ngay trước mắt của thế gian.            
3.   Cám dỗ bỏ cuộc, đào ngũ khi gặp khó khăn, thất bại :
 Nếu ma qủy cám dỗ nhà truyền giáo khao khát những thành công cấp thời, và bên ngoài, thì chúng cũng cám dỗ nhà truyền giáo bỏ cuộc, bỏ hàng ngũ khi không thành công, bị hiểu lầm, gặp khó khăn. Ngoài cám dỗ buông xuôi, bỏ cuộc khi thất bại, bị khiển trách hay sơ sót, lỡ lầm trong nhiệm vụ đuợc trao phó, nhà truyền giáo còn bị cám dỗ nặng nề bỏ hàng ngũ khi bị chính anh em mình hiểu lầm, hàm oan, xử ép.
   Sở dĩ Đức Giêsu đã không ngớt khuyên các tông đồ, môn đệ của Ngài : “Anh em hãy thương yêu nhau”, và “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy” (Ga 13,34-35), vì Ngài biết “không yêu thương nhau” là cơn cám dỗ kinh khủng, và tàn phá nhất, bởi khi không còn yêu thương, người ta trở thành lang sói của nhau ; khi đánh mất đức ái, môn đệ không thể nhận ra mình là anh em với nhau, vì cùng có một Thiên Chúa là Cha, và một Thầy là Đức Giêsu ; khi tình yêu thương không còn hiện diện, nhà truyền giáo sẽ không  còn “ở trong, ở với” Đức Giêsu nữa, mặc dù chính Ngài vừa là Đấng sai nhà truyền giáo đi, vừa là lẽ sống  của nhà truyền giáo, vừa là đối tượng của công cuộc rao giảng. Do đó, tâm hồn truyền giáo sẽ trống vắng, trái tim truyền giáo sẽ lạnh tanh, đôi chân truyền giáo sẽ chùn bước, niềm vui truyền giáo sẽ tắt lịm, và con đường truyền giáo sẽ đóng lại, tắc nghẽn. Từ đó, cám dỗ buông xuôi, bỏ cuộc, rời hàng ngũ sẽ chiếm đọat toàn thể con người và đời sống nhà truyền giáo.
Tóm lại, ngày cầu nguyện cho truyền giáo, Hội Thánh đã không nhắc nhở gì ngoài  cầu nguyện, khi chọn dụ ngôn “Quan toà bất chính và bà goá quấy rầy” (Lc 18,1-8) làm Tin Mừng cho ngày lễ, bởi Mẹ Hội Thánh biết : không cầu nguyện, sẽ không có truyền giáo, vì nhà truyền giáo thiếu cầu nguyện sẽ biến thái thành nhà qủang cáo, nhân viên tiếp thị, vì không có Đức Giêsu, Đấng sẽ làm cho hạt giống Tin Mừng lớn lên. Thiếu cầu nguyện, nhà truyền giáo cũng không thể đứng vững trước vô số cám dỗ, mà ở đây, chỉ nêu ra một vài cám dỗ tiêu biểu, như Đức Giêsu hằng nhắc nhở : “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Mt 26,41).
Và để thực hiện điều Thiên Chúa mong ước trên, chúng ta phải cậy đến ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho chúng ta nên nghiã tử của Thiên Chúa “nhờ đó, chúng ta được kêu lên : “Ápba ! Cha ơi !” (Rm 8,15), và “dậy chúng ta biết cầu nguyện thế nào cho phải”, đồng thời “cầu thay nguyện giúp chúng ta”, cũng như “cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (x. Rm 8,26-27).  Cũng với tác động của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội truyền giáo đã được khai sinh trong ngày lễ Ngũ Tuần khi “từ trời bỗng phát ra một tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi mọi người đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều đuợc tràn đầy Thánh Thần…” (Cv 2, 1-4).
Hiệp thông cùng Giáo Hội, chúng ta xin Chúa ban cho mọi tín hữu, trong đó có chúng ta tinh thần truyền giáo ngày càng thăng tiến, lớn lên với đời cầu nguyện.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2019

CÁC THIÊN THẦN

Kinh thánh cho chúng ta biết về các thiên thần là thụ tạo thiêng liêng được dựng nên để hầu cận, phụng sự Thiên Chúa. Các vị còn là sứ giả của Thiên Chúa để “đến với và nói với” con người ý muốn, lệnh truyền của Thiên Chúa. Ngoài ra còn là nhịp cầu hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người, giữa Trời và Đất, khi chu toàn sứ mệnh “đồng hành, bảo trợ” loài người được Thiên Chúa trao phó.
Chỉ nội trong sách Sáng Thế của Cựu Ước, Thiên Chúa cũng đã mặc khải khá rõ sự hiện diện và sứ vụ của các thiên thần : các vị  được Thiên Chúa đặt canh giữ cây trường sinh, trong vườn địa đàng, “với lưỡi gươm sáng loé”, sau khi con người bị trục xuất ra khỏi vườn, vì đã ăn trái cây Thiên Chúa cấm (x. St 3,24) ; sứ thần của Đức Chúa hiện ra với Haga, nữ tỳ của Sarai, vợ ông Ápraham, lúc nàng đang ở “gần một suối nước trong sa mạc” trên đường đi trốn Sarai, vì nàng đã có thai với Ápraham, chồng của bà chủ mình (x. St 16,7) ; ba thiên thần được Thiên Chúa sai đến gặp Ápraham dưới hình dạng những người khách để báo tin vui : Sarai, vợ ông đã già nua nay “sẽ có một con trai” (x. St 18,1-15) ; và ấn tượng nhất là khi Ápraham đang “đưa tay ra cầm dao để sát tế con  mình” (St 22,10), thì “sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông : Ápraham ! Ápraham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” Người nói : “Đừng giơ tay hại đứqa trẻ, đừng làm gì nó ! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa…” (St 22,11-12).
Bên cạnh sách Sáng Thế, có sách Tôbia kể về biến cố tổng lãnh thiên thần Raphaen đến chữa bệnh cho gia đình ông Tôbia (x. Tb 12), cũng như sách Đanien, với sụ kiện giải thích thị kiến cho Đanien của tổng lãnh thiên thần Gabrien (x. Đn 8,15-16).
Trong Tân Ước, các thiên thần đã có mặt từ buổi đầu truyền tin “Ngôi Hai nhập thể” khi “Thiên Chúa sai sứ thần Gabrien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1,26-27), và trong đêm giáng sinh : các thiên thần đã loan Tin Vui cho các mục đồng và hợp xướng ngợi khen : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (x. Lc 2,8-14). Và xuyên suốt cuộc đời dương thế của Đức Giêsu, các thiên thần luôn có mặt để phục vụ Ngài như trong hoang điạ, ở đó Ngài chịu ma qủy cám dỗ (x. Mt 4,11) ; hoặc “đến tăng sức cho Người” trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt, lúc Ngài “xao xuyến, bồi hồi” và “mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22, 43-44), rồi buổi sáng Phục Sinh, cũng chính các thiên thần đã loan báo Tin Mừng “Chúa đã sống lại” cho các phụ nữ ra thăm mộ ngay từ tảng sáng  (x. Lc 24,1-7).
Tóm lại, các thiên thần là thụ tạo thiêng liêng nhưng có thể mang lấy hình hài con người khi thi hành sứ mệnh đến gặp gỡ con người theo lệnh của Thiên Chúa (x. Lc 24,4 ; Cv 1,10). Đối với Thiên Chúa, các thiên thần có nhiệm vụ hầu cận, phụng sự, và chuyển lệnh của Ngài đến loài người. Nói cách khác, ngoài sứ vụ thờ phượng, các thiên thần là những sứ giả của Thiên Chúa. Riêng với con người, các thiên thần được Thiên Chúa trao những sứ vụ sau :
·      Sứ vụ cảnh giác, giải thoát con người khỏi những nguy hiểm, bế tắc :
Sách Công Vụ các Tông Đồ kể lại : “Trong đêm trước ngày bị vua Hêrôđê đem ra xử, ông Phêrô ngủ giữa hai người lính, và bị khóa vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phêrô, đánh thức ông và bảo : Đứng dậy mau đi !” Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông. Thiên sứ nói tiếp : “Thắt lưng lại và xỏ dép vào !” Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo : “Khoác áo choàng vào và đi theo tôi !” Ông liền theo ra, mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mnìh thấy một thị kiến. Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông tới trước cổng sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, thì bỗng nhiên thiên sứ bỏ ông mà đi. Lúc ấy Phêrô mới hoàn hồn và nói : “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê và khỏi mọi điều dân Do Thái mong muốn tôi phải chịu” (Cv 12,6-11). 
·      Sứ vụ giúp đỡ, an ủi con người :
Sách Các Vua kể lại chuyện ông Êlia trên đường lên núi Khôrép. Sau một ngày đường trong sa mạc. Mệt nhọc và nản chí, ông đến ngồi dưới gốc cây kim tước. Ông xin cho được chết và nói : “Lậy Đức Chúa, đủ rồi ! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con”. Rồi ông nằm dưới gốc cây kim tước đó mà thiếp đi. Nhưng này có một thiên sứ đụng vào người ông và nói : “Dậy mà ăn !” Ông đưa mắt nhìn thì thấy ở phiá đầu ông có một miếng bánh nướng trên những hòn đá nung và một hũ nước. Ông ăn bánh, uống nước, trồi lại nằm xuống. Thiên sứ của Đức Chúa trở lại lần nữa, đụng vào người ông và nói : “Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa”. Ông dậy, ăn bánh và uống nước. Rồi nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ông đi suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm tới Khôrép, là núi của Thiên Chúa. (1V19,4-8).
·      Sứ vụ khuyến khích, nâng đỡ tinh thần, củng cố niềm tin :
Câu chuyện thiên thần hiện ra với tông đồ dân ngoại trong cơn nguy hiểm gặp bão và đắm tầu được Phaolô kể lại “Thật vậy, đêm vừa rồi, một thiên sứ của Thiên Chúa là Chúa Tể của tôi và là Đấng tôi phụng thờ, đã hiện ra với tôi và bảo : Này ông Phaolô, đừng sợ ! Ông phải ra trước toà hoàng đế Xêda ; vì thương ông, Thiên Chúa cho tất cả những người cùng đi tầu với ông được sống” (Cv 27,24). Và Phaolô đã nói với các bạn cùng tầu đang lo lắng, hốt hoảng : “Vì thế, thưa các bạn, hãy can đảm lên ! Tôi tin tưởng nơi Thiên Chúa : sự việc sẽ xẩy ra đúng như lời đã phán với tôi” (Cv 27,25).
Cũng như trong Tin Mừng Mátthêu, khi thánh Giuse thấy Đức Mẹ có thai thì nghi nan, “mới định tâm bỏ đi cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kià sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : Này ông Giuse, con cháu vua Đavít, đừng ngại đón bà Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,19-21). 
·      Sứ vụ quy tụ, dẫn dắt con người  về với Thiên Chúa :
Các thiên thần không chỉ đồng hành với con người để chỉ bảo, hướng dẫn, che chở, an ủi, cứu chữa, mà còn dẫn dắt, quy tụ con người về với Thiên Chúa như Tin Mừng Mátthêu khẳng định : “Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia” (Mt 24,31).
Thực vậy, sự hiệp thông trong Thiên Chúa  của Giáo Hội vinh thắng, và Giáo Hội chiến đấu, cũng như với Giáo Hội thanh luyện được thực hiện một cách sống động và mầu nhiệm qua sự hiện diện và sứ vụ của các thiên thần trong thế giới loài người. Các vị hiệp thông với Giáo Hội ở trần thế khi chu toàn sứ vụ đồng hành, hướng dẫn, nâng đỡ chúng ta sống như Thiên Chúa muốn ; các vị chuyển đến chúng ta lệnh truyền, ý muốn của Thiên Chúa, đồng thời dâng lên Thiên Chúa lời nguyện cầu, lễ tế hy sinh cuộc đời của chúng ta. Do đó, các vị chia sẻ tất cả với chúng ta, kể cả thông điệp của Tin Mừng, như thánh tông đồ Phêrô đã qủa quyết : “Đó là thông điệp mà nay các người rao giảng Tin Mừng đã loan báo cho anh em, nhờ tác động của Thánh Thần là Đấng đã được cử đến từ trời. Chính các thiên thần cũng ước mong được tìm hiểu kỹ lưỡng thông điệp ấy” (1 P 1,12), để rồi phần rỗi của chúng ta trở nên  niềm vui lớn của các vị, như Đức Giêsu đã khẳng định : “Giữa triều thần thiên quốc, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,10)
Mừng kính các Thiên Thần Hộ Thủ, mỗi người chúng ta đều có lý do và vinh dự để tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta các “thiên thần  hộ thủ” đồng hành để bảo vệ chúng ta trên đường đời lữ thứ nhiều thách đố, nguy hiểm. Ước gì chúng ta không bao giờ lãng quên : dù những cây số đường đời có khó khăn, nguy hiểm, cám dỗ bủa vây, cạm bẫy kẻ thù giăng mắc tinh vi, dầy đặc đến đâu, thiên thần hộ thủ của mỗi người vẫn luôn có mặt để yêu thương, hướng dẫn, giải cứu, gìn giữ, bảo vệ, đỡ nâng Và đến ngày sau hết, chính thiên thần hộ thủ sẽ hân hoan dẫn chúng ta đến trước Thiên Nhan để giới thiệu với Thiên Chúa, Đấng chúng ta đã suốt đời yêu mến, phụng thờ: “Đây là người tôi tớ tài giỏi và trung thành. Người đáng được hưởng niềm vui của chủ mình” (Mt 25,21).
   Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

VƯỢT QUA QUÁ KHỨ

                                  Mừng kính thánh Phanxicô thành Assisi    
 Cuộc đời con người từ phút đầu vào đời làm người đến phút cuối ra khỏi đời người luôn bị thời gian và không gian chi phối : thời gian với qúa khứ, hiện tại, tương lai ; không gian với những cây số đã đi qua, với nơi đang ở, và những chặng đường, địa chỉ sắp tới. Cuộc đời ấy còn bị chi phối bởi một Tiếng Gọi siêu nhiên réo gọi con người đi từ thời gian hữu hạn được tính bằng giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm để bước vào “thời gian đời đời, vĩnh cửu” không còn “được đo” và “đo được” bằng thời khắc. Không gian cũng theo Tiếng Gọi đi tìm nơi ở từ không gian giới hạn của thế giới hữu hình vào không gian vô hạn, vô cùng của thế giới  vĩnh cửu, siêu nhiên. Nói theo ngôn ngữ “thiêng liêng”, thì Tiếng Gọi không chỉ réo gọi mà còn hướng dẫn, dìu dắt con người đi từ qúa khứ khiếm khuyết, thiếu sót, tội lụy của mình vào một tương lai tốt đẹp, hoàn hảo, thánh thiện. Và mỗi người, dưới ánh sáng của Tin Mừng đều đang bước đi từ đêm đen của qúa khứ tội lỗi vào bình minh tươi sáng của ân sủng cứu rỗi.
Vâng, cuộc đời người Kitô hữu chính là cuộc Vượt Qua với Đức Giêsu : vượt qua quá khứ vào tương lai, vượt qua Biển Đỏ vào Đất Hứa, vượt qua tội lỗi vào ân sủng, vượt qua cái chết vào phục sinh. Trong ý nghiã của Vượt Qua, chúng ta có thể hình dung đường đời mỗi người chính là đường về Nước Trời, và năm tháng làm người chính là thời gian được biến đổi từ yếu đuối nên mạnh mẽ trong đức tin ; từ gian tham, ích kỷ, ganh ghét, hận thù nên nghèo khó, vị tha, yêu thương, phục vụ trong đức ái ; từ kiêu căng, bạo lực, tuyệt vọng nên khiêm nhường, bình an trong niềm hy vọng được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ. Vì thế, người Kitô hữu là người được kêu gọi Vượt Qua để nên thánh, như Cha trên trời là Đấng thánh : thánh ở lòng thương xót, ở tình yêu phục vụ, ở niềm tín thác, cậy trông nơi Đức Giêsu, “Đấng đến để tìm lại những gì đã hư mất, Đấng đến để chuộc lại những người có tội đáng phải chết” (x. Luc 15).
Sở dĩ con đường làm người - làm con Chúa, làm thánh của chúng ta khả thi, vì Thiên Chúa muốn chúng ta được cứu độ, muốn chúng ta cùng ngài vượt qua cõi chết để vào cõi sống, vượt qua hữu hạn vào vô hạn, vượt qua tự nhiên để vào siêu nhiên, vượt qua con người gian ác để thành con Chúa nhân hậu, bởi không có ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, không ai trong chúng ta có thể được đổi mới để trở nên thánh thiện từ quá khứ tội lỗi, nhơ nhớp, ô uế, bất xứng của mình. Vì thế, niềm vui của chúng ta, những con người yếu đuối, có tội chính là biết Thiên Chúa là người cha bao dung, giầu lòng thương xót luôn có mặt và chờ đón con mình trở về ở cuối đường, để có thể xác tín và sống hạnh phúc với niềm xác tín : bất cứ tội nhân nào cũng có một tương lai, và bất cứ vị thánh nào cũng có một quá khứ.
Ngày 4 tháng 10 hằng năm, Giáo Hội mừng kính một con người đã sống hết mình niềm xác tín này khi thực hiện hành trình đời mình một cách anh hùng, qủa cảm bằng đi từ những mốc chốt kiêu căng, xa hoa, phóng túng, tham vọng, vinh quang, quyền chức, hưởng thụ, tranh giành, bạo lực đến khó nghèo, xóa mình, nhiệm nhặt, hy sinh, phục vụ, xây dựng hoà bình, tìm kiếm lẽ công chính, chấp nhận mọi thiệt thòi, vu khống xấu xa để chỉ mong được trở nên “khí cụ bình an của Chúa hầu được phụng sự Chúa trong mọi người”.
Con người đó là thánh Phanxicô thành Assisi. Ngài chào đời năm 1182. Thuộc dòng dõi qúy tộc, giầu có với tuổi thơ được nuông chiều và tuổi thanh niên sôi nổi vì tham vọng. Cũng chính vì tham vọng chính trị mà Phanxicô đã phải nếm mùi tù tội năm 1202. Nhưng đến năm 1205, khi tròn 23 tuổi, Phanxicô nhận ra Tiếng Gọi. Tiếng Gọi ấy muốn chàng thanh niên phong lưu, lịch lãm, tài danh từ bỏ tất cả vinh hoa, phú qúy, và tương lai huy hoàng của một công tử từng trải mọi “ngón ăn chơi” ở đời để trở thành khí cụ Yêu Thương của Thiên Chúa bằng buông bỏ tất cả để sống đời chứng nhân Nước Trời bằng thực hành đòi hỏi của Hiến Chương Bát Phúc, đặc biệt tinh thần khó nghèo. Thánh nhân đã thành lập tu đoàn “Anh em nghèo khó” và luật dòng được Đức Giáo Hoàng Innôxentê III phê chuẩn năm 1210, đến năm 1212, ngài cùng thánh nữ Clara Offreduccio thành lập nhánh nữ. Về cuối đời, vào ngày 17 tháng 9 năm 1224,  thánh nhân được Chúa cho in năm dấu thánh trên thân thể, và là người đầu tiên được mang năm dấu đanh của Đức Giêsu chịu nạn trong lịch sử Giáo Hội. Ngài về với Chúa ngày 3 tháng 10 năm 1226 ở tuổi 44, và di chúc được để lại là khát vọng sống tinh thần khó nghèo của Tin Mừng.
Thực vậy, từ một thanh niên thuộc gia đình qúy tộc với mọi đặc lợi, đặc quyền của xã hội, Phanxicô đã có một đời sống rất xa Tin Mừng, khác biệt với những đòi hỏi của Nước Trời như khó nghèo, hiền lành, khiêm nhường, biết chạnh lòng xót thương, trong sạch, tìm kiếm điều công chính, yêu chuộng hoà bình, chấp nhận chịu hàm oan, xỉ nhục vì Tin Mừng (x. Mt 5,1-2) đã được biến đổi thành khí cụ Bình An của Thiên Chúa như chính lời kinh ngài hằng tha thiết, sốt sắng khẩn cầu :
“Lậy Chúa từ nhân ! Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lậy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ Bình An của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm ; để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng ; để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu”.
“Lậy Chúa, xin hãy dậy con : tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.
“Ôi Thần Linh thánh ái, xin mở rộng lòng con. Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí  ơn An Bình”.
Jorathe Nắng Tím