Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

TỬ ĐẠO NGAY TRONG LÒNG MẸ GIÁO HỘI

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXXIII : Mừng Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam (Luca 21,5-19) 

Mỗi lần mừng kính các thánh Tử Đạo, chúng ta thường có chung hình ảnh về một Giáo Hội của Đức Giêsu bị tấn công từ các lực lượng bên ngoài, bị bách hại bởi những người không thuộc hàng ngũ Kitô hữu. Cảnh tượng nhà thờ, hoặc cả xóm đạo bị bao vây, rồi bị đốt cháy cùng với hằng trăm tín hữu ở thời cấm đạo tại Việt Nam, rồi những vu oan, cáo vạ, chỉ điểm từ phiá những người ngoài công giáo thù ghét người Kitô hữu hăng say trong các chiến dịch truy lùng, vây bắt, hành hình các  thừa sai, người có đạo và triệt để ủng hộ, tiếp tay với chính sách cấm đạo Công Giáo của triều đình các vua nhà Nguyễn. Hình ảnh ấy vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi trên thế giới. Theo nhật báo “Le Monde” ngày 12 tháng 1 năm 2018 : trong năm 2017 có đến 3000 tín hữu Kitô giáo bị thảm sát vì đức tin, nhật báo “Le Parisien” ngày 16 tháng 1 năm 2019 tổng kết con số 4300 Kitô hữu bị giết chết cũng vì đức tin trong năm 2018.   
Bài Tin Mừng Luca được chọn cho Chúa Nhật XXXIII, cũng là ngày mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam đặt ra cho chúng ta một hình ảnh khác, bên cạnh hình ảnh vừa kể về một Giáo Hội bị cấm cách, tiêu diệt từ bên ngoài. Đó là hình ảnh tử đạo do chính bàn tay của anh em trong nhà, và thách đố không kém cam go làm chứng nhân của Đức Giêsu giữa anh em, ngay trong lòng Mẹ Giáo Hội.
1.          Trước hết là thách đố đức tin trước những lạm dụng của cơ chế :
Như dân Do Thái ngày xưa đã đặt hết niềm tin vào sự trường tồn của Đền Thờ Giêrusalem, ngôi Đền Thờ không chỉ là nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa, mà còn là biểu hiệu niềm tin của toàn dân vào Thiên Chúa Giavê, đồng thời là niềm kiêu hãnh, vinh dự của Israel, dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài. Giêrusalem trong lòng tín hữu Do Thái là giá trị thiêng liêng không thể sụp đổ, là thành quách được Thiên Chúa Giavê gìn giữ, che chở mà không thế lực nào có thể lay chuyển được, và mọi người đều chung một tâm tình cầu nguyện khi hướng về Giêrusalem  : “Lậy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái. Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi, mong tới được khuôn viên đền vàng. Cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng” (Tv 84,2-3)
Nhưng rồi Giêrsalem đã hai lần bị tàn phá, lần thứ nhất bởi Nabuchodonosor năm 587 trước công nguyên, và lần thứ hai do Titus năm 70 sau công nguyên, như lời tiên báo của Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca hôm nay : “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21,6), “nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng” (Lc 21,5).     
Qủa thực, Đền Thờ là một công trình vĩ đại và kiên cố được xây dựng lần thứ nhất thời vua Salomon thế kỷ X trước Công Nguyên, bị phá hủy, và được khởi công xây dựng lại sau thời lưu đầy năm 536, và hoàn thành năm 515 trước Chúa Giáng Sinh, được trang hoàng bằng những gì qúy báu, hiếm hoi, đắt tiền nhất được đem về hoặc dâng cúng từ khắp nơi. Vì thế khi nghe Đền Thờ sẽ bị phá hủy tan tành và công trình kiến trúc nguy nga, đồ sộ và kiên cố kia sẽ chỉ còn là đống gạch vụn, “không tảng đá nào trên tảng đá nào”, thì bất kỳ người tín hữu Do Thái nào cũng đều cảm thấy xót dạ, đau lòng khôn tả. Bên cạnh tình cảm tiếc nuối đó là niềm lo sợ và nỗi nghi nan cũng không kém làm nặng lòng.
Đền Thờ Giêrusalem là hình ảnh của cơ chế “quá khổ” của Giáo Hội mà Đức Thánh Cha Phanxicô đang cố gắng vượt qua và thoát ra, bởi cơ chế mà Giáo Hội đi tìm cho mình dọc suốt lịch sử dài lâu đã không còn là cơ chế  nhằm phục vụ, và loan báo Tin Mừng như ý muốn thưở ban đầu của Đức Giêsu ; bởi cơ chế ngày càng nặng nề, chằng chịt, rối rắm, phức tạp làm thui chột ý chí, và chất nặng hành trang Ra Khơi với Đức Giêsu của người môn đệ ; bởi cơ chế  ngày càng tạo ra nhiều căng thẳng nội bộ, khi sản sinh những bất đồng, bất công chỉ vì cơ cấu đã lấn át tinh thần đơn sơ, bé nhỏ, nghèo khó, khiêm tốn, buông bỏ của Tin Mừng ; bởi cơ chế đã làm dung mạo nhân hậu, bao dung, giầu lòng thương xót của Đức Giêsu bị lu mờ, méo mó, lệch lạc do sức lôi cuốn vũ bão của cơ chế quyền lực.
Vấn đề đang xẩy ra cho Giáo Hội hôm nay, đó là đứng trước đòi hỏi phải đơn giản hoá những phức tạp của cơ chế chằng chéo, và giảm bớt uy lực của cơ chế đang lấn át tinh thần Bát Phúc một cách đáng sợ, thì nhiều người trong Giáo Hội, kể cả những Đấng Bậc ở hàng cao cấp đã bằng mọi giá bảo vệ cơ cấu nặng nề, khép kín, tự vệ này. Từ đó đưa đến nguy cơ chia rẽ trầm trọng giữa các thành phần Dân Chúa và gây nhiều hoang mang, ảnh hưởng xấu trên đời sống đức tin của đông đảo tín hữu.
Họ là những người đã đơn sơ đồng hoá đức tin với cơ chế Giáo Hội, nên khi cơ chế thay đổi, cơ chế bị thay thế, hay khi cơ chế rạn nứt, xiêu vẹo thì không tin nữa, bởi đức tin đã bị điều kiện hoá bởi cơ chế từ lúc nào không hay ; họ là những người đã ngây thơ nghĩ rằng : cơ chế bảo vệ sự tồn tại của Đức Giêsu, cơ chế cho phép Thiên Chúa có mặt, nên khi đổi mới cơ chế, cải thiện cơ chế, hoặc hủy bỏ một hay nhiều phần của cơ chế, họ nghĩ ngay đến việc Đức Giêsu bị cắt xén, giảm thiểu và Thiên Chúa không còn cơ hội cứu độ. Điển hình là những nhóm ly khai khỏi Giáo Hội sau Công Đồng Vaticanô II, khi Công Đồng đã mạnh dạn đổi mới không chỉ đổi mới cơ chế, mà cả cách nghĩ, lối nhìn của Giáo Hội về thế giới, về con người, về các tôn giáo khác, nhất là đã khiêm tốn nhìn nhận những thiếu sót, lầm lỗi, kể cả tội của mình đã làm tổn thương nhiều người trong suốt chiều dài lịch sử.
Phản ứng của nhóm người này là bằng mọi giá bảo vệ cơ chế, không khác những người Pharisêu và Luật Sĩ trong Do Thái giáo đã nhiều lần tẩy chay, lên án Đức Giêsu khi Ngài đụng chạm đến cơ chế, lề luật. Cũng chính vì phải bảo vệ cơ chế, lề luật, trước lời kêu gọi đổi mới, cải cách, cải thiện, mà Đức Giêsu đã trở thành đối thủ số một, kẻ thù nguy hiểm mà họ phải tiêu diệt cho bằng được. Và khi say mê bảo vệ cơ chế, họ đã quên bổn phận thờ phượng Thiên Chúa, mà cơ chế chỉ là phương tiện giúp đạt mục tiêu của tôn giáo. Một cách nào đó, chúng ta có thể diễn tả chọn lựa của nhóm người này khi nói : cơ chế còn, Thiên Chúa còn ; cơ chế mất, Thiên Chúa mất.              
Nhóm thứ hai gồm những nạn nhân của cơ chế. Họ là những tín hữu chịu nhiều thiệt thòi vì những lạm dụng của cơ chế, nạn nhân đáng thương của hiểm hoạ giáo sĩ trị và chính họ là những người dễ bi đẩy đến tình trạng bất mãn, chống lại Giáo Hội, và tự ý ly khai, từ bỏ hàng ngũ tín hữu khi cơ chế không biết thắng lại những lạm dụng. Trong thực tế, con số này ngày càng đông, và Giáo Hội ngày càng gặp khó khăn trước làn sóng bỏ đạo gia tăng không ngừng, vì bất mãn với cơ chế hơn là có vấn đề với Đức Giêsu.
Do đó, thái độ bảo vệ cơ chế đến độ quá khích, cực đoan, cũng như thái độ bất mãn, muốn hủy bỏ hết cơ chế, cả hai đều đưa đến cơn cám dỗ, cũng như thách đố đức tin gay go đối với người tín hữu muốn đi theo Đức Giêsu. Họ bị cám dỗ và bị đặt trước thách đố hoặc bỏ Đức Giêsu, vì cơ chế hữu hình của Giáo Hội bị lung lay, có nguy cơ rạn nứt, sụp đổ, hoặc tách rời Đức Giêsu ra khỏi Giáo Hội, vì không còn có thể chịu đựng lâu hơn những lạm dụng của cơ chế Giáo Hội. Hậu qủa là cả hai sẽ cùng làm tổn thương Thân Thể mầu nhiệm của Đức Giêsu ; cả hai sẽ cùng phân chia Thân Thể mầu nhiệm ra nhiều phần ; cả hai sẽ cùng xé tấm áo không đường may của Đức Giêsu,  phá bỏ công trình Hiệp Nhất của Đức Giêsu và đưa đến hậu qủa hoàn toàn bất lợi cho công cuộc loan báo Tin Mừng Cứu Độ.
Nhìn vào những biến cố trong những ngày gần đây của Giáo Hội toàn cầu, chúng ta không thể không lo lắng cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, không thể không lo sợ trước những đe doạ ly khai, không thể không đặt mình trước thách đố mà không ít người tín hữu phải đối diện, đó là cám dỗ tách Đức Giêsu ra khỏi Giáo Hội, bỏ Giáo Hội và chỉ giữ lại Đức Giêsu, chống phá Giáo Hội và tiếp tục đi với Đức Giêsu.  
Như thế, cuộc tử đạo của người tín hữu của thời đại hôm nay không chỉ từ bên ngoài, từ đối phương có “căn cước” xa lạ, khác biệt, nhưng ở ngay trong lòng Giáo Hội, ngay cơ chế mà Giáo Hội cần giữ, để có mặt trong thế giới. Cuộc tử đạo ấy không kém phần cam go, vì là cuộc tử đạo âm thầm, nội tâm ; không thiếu căng thẳng, rướm máu, vì là cuộc chiến trường kỳ, liên lỷ. Trong cuộc chiến này, chứng nhân sẽ là người chấp nhận mọi đau khổ trong lòng Giáo Hội, do chính những người của Giáo Hội để giành phần thắng cho Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài trước cám dỗ loại trừ Giáo Hội ra khỏi Đức Giêsu. Chứng nhân đức tin, đức ái sẽ kiên trì ở lại với Đức Giêsu trong Giáo Hội bằng từ chối tính toán theo kiẻu con người, khi tưự  nguyện “đóng đinh tính xác thịt”, nghiã là đóng đinh những luận lý bình thường, những nhận xét bình thường, những suy nghĩ bình thường trước những bất thường, kể cả tầm thường của  những “con người cơ chế”  không bình thường trong Giáo Hội đang gây sóng gió và làm suy yếu đời sống của Giáo Hội.
Nếu để ý quan sát, chúng ta sẽ phải giật mình trước hiện tượng người trẻ không còn hào hứng, hăng say đón nhận chân lý : Đức Giêsu và Giáo Hội là một Thân Thể (Cl 1,24), vì Đức Giêsu yêu Giáo Hội như Hiền Thê và hiến mình cho Giáo Hội (Ep 5,25), chỉ vì những con người của cơ chế Giáo Hội đã không làm chứng Giáo Hội thực sự là Hiền Thê đáng yêu, và dễ thương của Đức Giêsu giầu lòng thương xót, do thái độ và những việc làm không mấy đáng yêu, không dễ thương và quá khác biệt với Đấng Phu Quân nhân hậu của mình.    
2.   Thách đố của Đức Ái trước những mâu thuẫn, chia rẽ trong Giáo Hội :
Đây là thách đố rất lớn, và hậu qủa khó lường, nếu chúng ta không tỉnh thức để tinh tế nhận ra. Trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu sau khi cảnh báo thảm cảnh “người ta sẽ ra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy” (Lc 21,12), và nhiều hiện tượng như “chiến tranh, loạn lạc, động đất, ôn dịch, đói kém nhiều nơi” (x. Lc 21,9-11) đã căn dặn hai điều đều thuộc phạm vi trong nhà, giữa anh em : “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng : “Chính ta đây », và “Thời kỳ đã đến gần ; anh em chớ có theo họ” (Lc 21,8), và “Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em” (Lc 21,16).
Như thế, tử đạo không đâu xa, mà ngay trong gia đình, gia tộc, ở giữa cộng đoàn ; tử đạo không là biến cố do bên ngoài, nhưng từ bên trong, ở sẵn trong nội bộ, nội vi, nội cấm. Và anh em trở thành kẻ bách hại và nạn nhân của nhau, bởi cơn bách hại ấy xẩy ra ngay trong nhà, vì thiếu hiệp nhất, yêu thương.  
Cơn bách hại xẩy ra ngay trong nhà, khi người này tố giác người kia là tiên tri giả, là mạo danh ngôn sứ ; hoặc làm cho những anh em khác không còn nhận ra ai giả, ai thật, mặc dù cả hai đều ở chung một nhà, chung một Giáo Hội. Chỉ đơn cử một sự việc tuy rất nhỏ, nhưng gây hậu qủa khôn lường, như giữa vị tiền nhiệm và vị kế nhiệm không nhất trí, không thống nhất, tệ hơn nữa là không hiệp nhất, khi cùng một sự việc, cùng một tình trạng, cùng một đối tượng, mà hai vị hành xử hoàn toàn khác nhau trong khoảng thời gian không xa nhau. Giáo dân chắc chắn sẽ không khỏi hoang mang, nghi ngờ khi vị tiền nhiệm thì ủng hộ, cổ võ, vị kế nhiệm thì quyết tâm phá đổ, tẩy chay.
Trong những trường hơp tương tự, ai có thể cấm người tín hữu đặt ra câu hỏi : trong hai vị, ai giả, ai thật, ai đúng, ai sai, ai hành xử vì Giáo Hội, ai ra tay vì lợi ích nhóm, hay ghen tuông, và từ đó, mầm mống chia rẽ giữa con cái trong Giáo Hội phát sinh sẽ dẫn đến tình trạng mất dần niềm tin ở những người có trách nhiệm trong Giáo Hội.
Cũng thế, khi nói đến ngôn sứ giả, người ta khó có thể mường tượng một người hoàn toàn ở ngoài Giáo Hội, hay không biết gì về Giáo Hội lại có thể lừa phỉnh, khi mạo danh làm ngôn sứ, bởi thường chỉ có kẻ đã ở trong, đã nắm bắt khá đầy đủ mới có thể “làm hàng nhái, mạo danh” để lừa bịp.
Qủa thực, tình trạng ganh ghét, đố kị, bon chen, tranh giành giữa con cái trong Giáo Hội là một sự thật mà chúng ta phải can đảm và lương thiện nhìn nhận, không phải để “vạch áo cho người xem lưng”, lên án nhau hay bôi bác Giáo Hội, nhưng để thận trọng trong tư tưởng, lời nói, việc làm sao cho đức ái phải được xếp hàng đầu trên thang giá trị, và ưu tiên bậc nhất của tiêu chuẩn chọn lựa.
Chúng ta luôn có nhiều và rất nhiều lý do để biện minh cho việc làm thiếu đức ái của mình, nào là bảo vệ sự thánh thiêng, gìn giữ truyền thống, bảo tồn giá trị, vì lợi ích chung, nhưng thực tế không thiếu những trường hợp mục tiêu này chỉ được dùng  như bình phong, chiêu bài, “bánh vẽ”, mà ở đó, điều đáng tiếc đã xẩy ra khi  ích lợi nhân bản cũng như thiêng liêng của những con người cụ thể, sống động, nhưng nhỏ bé, không thần thế  lại bị hy sinh cách tàn nhẫn, bất công.  
Tóm lại, trước làn sóng “tuyên xưng yêu mến Đức Giêsu, nhưng từ bỏ Giáo Hội” ngày càng dâng cao, lan rộng, và những mâu thuẫn, đối kháng trong nội bộ Giáo Hội ngày càng căng thẳng có nguy cơ đưa đến ly giáo một lần nữa, chúng ta có lý do để nhìn vào nhà mình, thay vì chỉ nhìn ra ngoài để tìm “kẻ thù cấm cách, kẻ dữ chống phá, kẻ ác tiêu diệt Giáo Hội”. Tuy không xưng danh, gọi tên là đối thủ của nhau, vì làm gì có  đối kháng, kình chống giữa các chi thể  của cùng một Thân Thể (1 Cr 12,12-13), nhưng không vì thế mà quên nhận diện những thiếu sót, khuyết điểm, lầm lỗi đã biến mình thành kẻ bách hại anh em mình, và biến anh em mình thành nạn nhân, người chịu chết vì đạo dưới bàn tay thiếu yêu thương của mình.
Nhận diện tình trạng cần báo động, chúng ta cũng cần hiểu rõ : sẽ không tránh được những bất công, bất chính trong Giáo Hội, vì Giáo Hội là tập thể những con người bất toàn, tội lỗi đi theo Đức Giêsu, nên sẽ có những bất đồng, bất mãn giữa những con người thuộc về Giáo Hội. Đây chính là thách đố lớn lao, bởi vì không chịu đựng được nhau, người ta sẽ bỏ nhau, và bỏ Giáo Hội ; bởi không hiệp thông, hiệp nhất được với nhau, con cái trong nhà sẽ “chia đàn xẻ nghé”, bỏ cha mẹ, gia đình, biến nhau thành đối thủ ; bởi không có bác ái, huynh đệ, tập thể nào rồi cũng phải tan hàng, rã đám ; bởi không mang lấy huy hiệu Yêu Thương là dấu chỉ duy nhất để mọi người nhận ra chúng ta là môn đệ Đức Giêsu (Ga 13,35), chúng ta dễ lệch hướng, lầm đường khi tách Giáo Hội khỏi Đức Giêsu, chiêu bài ăn khách và thời thượng.
Bị cám dỗ bởi chiêu bài ăn khách và thời thượng này, chúng ta sẽ chẳng khác những anh hùng tử đạo đã bị ép bước qua Thánh Giá, khi chúng ta trung thành, bởi từ chối Giáo Hội, nguyền rủa Giáo Hội, lên án Giáo Hội và ly khai khỏi Giáo Hội là từ chối, nguyền rủa, lên án, và tự tách mình ra khỏi Đức Giêsu ; là không chân nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, bởi chính Ngài đã khẳng định Giáo Hội là mầu nhiệm cứu độ, là Hiền Thê yêu dấu, là Thân Thể mà Ngài là Đầu.
Vì thế, tử đạo mỗi ngày trong lòng Giáo Hội bởi chính anh em mình là điều không thể tránh, khi ở giữa lằn ranh của những con người yếu đuối, tội lụy, bất xứng trong Giáo Hội và đòi hỏi phải yêu mến và phục vụ cả Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài, vì Giáo Hội và Đức Giêsu là một. Đây cũng là cảm nghiệm thiêng liêng của các thánh, và của phần đông những tâm hồn tận hiến : các vị đã trải qua không ít những những đêm tối đức tin, những trưa nắng sa mạc đức ái do chính Bề Trên và anh em mình, và sự thánh thiện của các vị đã làm vinh danh Thiên Chúa, và mang lại lợi ích cho Giáo Hội bằng đời sống xoá mình tử đạo, và kiên trì ở lại với Đức Giêsu  trong Hội Thánh là Thân Thể mầu nhiệm của Ngài.
Lậy Đức Giêsu, Đấng đã lập và chọn Giáo Hội làm Hiền Thê yêu dấu, và hiến mình vì Giáo Hội, xin cho chúng con nhận ra bổn phận “làm chứng” đầu tiên và quan trọng của người Kitô hữu là sống chết với Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài, dù không thiếu những hoàn cảnh bị hiểu lầm, bị lãng quên, chịu thiệt thòi và đau khổ do chính Mẹ Giáo Hội. Và ngay trong lòng Mẹ Giáo Hội, luôn dậy lên những cơn cám dỗ phản chứng, và thách đố làm chứng  niềm tin và tình yêu đối với Đức Giêsu và Giáo Hội. Và như Chúa biết, làm Chứng Nhân hay Tử Đạo ở thời đại mới sẽ không chỉ là chịu chém ngoài pháp trường hay bị đấu tố trước đình làng, nhưng còn là âm thầm, câm lặng tử đạo hằng ngày, làm chứng hằng giờ trong chính ngôi nhà Giáo Hội, ở giữa anh em mình Tình Yêu kiên định cho Chúa và Giáo Hội, mà không chút nghi ngờ lời hứa của Chúa năm xưa với các thánh Tông Đồ : “Trên tảng đá này, Thầy xây Giáo Hội của Thầy, và qủy hỏa nguc sẽ không làm gì nổi” (Mt 16,18).  

Jorathe Nắng Tím         

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2019

KIM CHỈ NAM HOẠT ĐỘNG CỦA MA QỦY


Ma qủy là một thực thể không thể chối cãi, và những việc làm của ma qủy trong thế giới loài người là một thực tại hiển nhiên đã được chính Đức Giêsu qủa quyết như khi nhắc nhở Simôn Phêrô phải thận trọng cảnh giác, vì “ma qủy xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31), hay với các tông đồ ở vườn Cây Dầu : “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Mc 14,38), vì việc làm chính, công tác chuyên môn của ma qủy là cám dỗ, lôi cuốn loài người nghĩ xấu, nói xấu, làm xấu để nhận về hậu qủa xấu là ghen ghét, bất hoà, thù hận, bạo lực, bất hạnh và chết chóc, không chỉ chết chóc, bất hạnh ở đây, hôm nay, đời này, mà còn bất hạnh, chết chóc đời đời, ở thế giới bên kia, sau khi rời bỏ dương thế.
Tin Mừng khẳng định ma qủy là thụ tạo đã phản nghịch Thiên Chúa là Đấng Chủ Tạo khi kiêu căng muốn bằng Ngài (x. Kh 12,7-9 ). Tuy trừng phạt các thiên thần bất trung phản loạn trong hoả ngục, nhưng Thiên Chúa không tước đọat bản tính thiên thần thiêng liêng của chúng mà Ngài đã dựng nên. Vì thế, ma qủy vẫn có khả năng hoạt động cách vô hình, thiêng liêng để chống phá Thiên Chúa bằng lôi kéo loài người từ bỏ Ngài để đi theo chúng. Và nếu Thiên Chúa là Tình Yêu, thì ma qủy gieo rắc ganh ghét, hận thù, nên nếu ở đâu có Tình Yêu, ở đó có Thiên Chúa, thì ngược lại, ở đâu có ganh ghét, hận thù, ở đó có ma qủy. Ma qủy và Thiên Chúa như ánh sáng và bóng tối, như thiên đàng và hỏa ngục, như sự sống và sự chết không thể sống chung, ở cùng, không thể chia sẻ, hợp tác, nên ở đâu có Thiên Chúa, thì ở đó không có ma qủy và ngược lại. Ma qủy còn là  gian trá, xảo quyệt, lừa lọc, quanh co, trong khi Thiên Chúa là “Đường và Sự Thật”. Ở ma qủy không có sự thật, mà chỉ toàn là bánh vẽ, hão huyền, ảo tưởng được dùng để lừa phỉnh con người đầu quân theo chúng. Ma qủy còn là bạo lực đưa đến chết chóc, trong khi Thiên Chúa là Sự Sống, là Đấng ban sự sống và gìn giữ sự sống của mọi loài. Hơn thế nữa, Thiên Chúa còn là Sự Sống Lại, khi ban cho con người được sống lại với Ngài, như Đức Giêsu đã tuyên bố ở Bêtania, khi cho Ladarô sống lại từ cõi chết : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25- 26).
Câu chuyện Cain giết em ruột mình là Aben, cuộc thảm sát đầu tiên của lịch sử loài người đã nói lên sự can thiệp mãnh liệt và dữ dội của ma qủy trong thế giới loài người sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội. Câu chuyện này cho chúng ta thấy rõ tính cách “gian dối, ganh ghét, bạo lực và chết chóc” của ma qủy : Cain bị ma qủy châm ngòi  ghen tức, “sa sầm nét mặt” với em mình, khi lễ dâng của em được Thiên Chúa nhận, còn của mình thì không (x. St 3,3-5); Cain được ma qủy hướng dẫn lập mưu lừa dối em mình, để em cùng ra ngoài đồng với mình (x. St 38) ; và “khi hai người đang ở ngoài đồng, thì Cain xông đến giết Aben, em mình” (St 3,8). Sau khi giết chết em, bị Thiên Chúa vặn hỏi : “Aben, em ngươi đâu ?”, Cain đã  cứng đầu chối : “Con không biết. Bộ con là người canh giữ em con sao ?” (St 3,9-10), và Thiên Chúa đã lật tẩy tội ác giết em của Cain : “Ngươi đã làm gì vậy ? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang lêu lên Ta ! Giờ đây, ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra” (St 3,10-11).                    
Từ bản chất ganh ghét, gian dối, bạo lực, chết chóc đó, chúng ta có thể khám phá “kim chỉ nam hoạt động của ma qủy” trong công tác gieo cỏ lùng nguy hại, xấu xa trong lòng nhân loại và làm cho nhân loại phải bất hạnh, và chết đời đời, ngược lại ý muốn cứu độ toàn thể nhân loại của Thiên Chúa, khi ban cho mọi người sự sống, tình yêu, an bình và hạnh phúc đời này, đời sau.
1.   Ma qủy áp dụng chiến thuật kín đáo rỉ rả, bí mật nhỏ to để khơi dậy lòng kiêu căng, ganh ghét :
Ma qủy là kẻ gian ngoa, dối trá, nên sợ ánh sáng, tránh đám đông. Chúng đeo mặt nạ xinh xắn, tươi đẹp, công chính để lôi cuốn, cám dỗ, nên rất sợ mặt thật bị lật tẩy, hành tung bị phát hiện, mưu đồ đen tối bị khám phá. Bóng tối, bí mật, tách rời, chia rẽ, cô lập để dụ dỗ, tấn công là ngón đòn lợi hại của chúng, nên để phá một cộng đoàn đang hiệp nhất, chúng bí mật nhỏ to với từng người để đánh thức lòng kiêu căng, rỉ rả “xa xa, gần gần” với từng thành viên để khơi dậy “cái tôi vĩ đại”, và liên tục “bỏ nhỏ” những tính hư, tật xấu của người khác để tạo mẫu thuẫn, căng thẳng, đồng thời gieo rắc nghi ngờ, đe dọa nhằm  làm ô nhiễm bầu khí cộng đoàn bằng siêu vi trùng hoang mang, sợ hãi, phòng thủ, tố cáo, phản bội.
Chúng biết cái yếu của con người là “cái tôi”, nên tập trung vinh danh “cái tôi” của người đang bị cám dỗ bằng thêu dệt công trạng, vẽ vời nhân đức, tô điểm nhân thân, lý lịch của người ấy và cùng lúc so sánh cái tôi vĩ đại, thánh thiện, hoàn hảo đang được bàn tay phù thùy của ma qủy đánh bóng  với những người chung quanh đầy khuyết điểm, tội lỗi, bất xứng, vô dụng, vì  ngoài ngón gian xảo, ganh ghét, bạo lực, ma qủy còn là tên Tố Cáo siêu hạng.
Với ngón đòn tung cao “cái tôi” của nạn nhân, ma qủy nắm chắc thành công khi chia rẽ người này với người kia, nhóm này với nhóm khác, cộng đoàn này với cộng đoàn nọ, vì chẳng ai chịu để “cái tôi” của mình, “cái chúng tôi” của phe nhóm, cộng đoàn mình thua “cái tôi, cái chúng tôi” của người khác, phe nhóm, cộng đoàn khác. Thế là tất cả tự nguyện tách xa nhau, đối kháng nhau, kịch liệt lên án và quyết tâm tiêu diệt nhau, mà không biết tất cả đã lọt lưới ma qủy và cùng đi đến bất hạnh, diệt vọng.
Evà, mẹ nguyên tổ của chúng ta cũng sập bẫy ma qủy vì đã một mình nói chuyện, tâm sự nhỏ to, rả rích với Rắn Satan. Trong tường thuật về Sa Ngã, Kinh Thánh đã khẳng định Rắn và người đàn bà đã nói chuyện riêng với nhau, mà không có mặt người đàn ông, nghiã là Evà đã để Satan gặp riêng và nhỏ to cám dỗ, mà không hề nói  với chồng là Ađam, cũng không kể lại cho chồng sự kiện gặp gỡ riêng Rắn mà chỉ “đưa cho chồng cùng ăn” khi “bà hái trái cây mà ăn” (St 3,6), nghiã là sau khi bà đã quyết định làm theo lời dụ dỗ của Rắn.
“Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng… Nó nói với người đàn bà : “Có thật Thiên Chúa bảo : ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?’ Người đàn bà nói với con rắn : Trái các cây trong vườn thì chúng tôi được ăn. Còn trái cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo : Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết”. Rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3, 1-5). Rắn cứ rỉ rả, nhỏ to, kín kín hở hở cám dỗ Evà, và cuối cùng Evà đã sập bẫy ma qủy chỉ vì muốn “cái tôi” trở thành những vị thần để biết hết mọi sự như Thiên Chúa biết. Giá như bà  đừng dấu chồng bí mật “tám” với Rắn, nhưng kể cho chồng hoặc gọi chồng đến nói chuyện công khai, thì chưa chắc Rắn Satan đã thành công … khi chia rẽ ông bà ra khỏi Thiên Chúa, như sẽ chia cách Cain ra khỏi Aben, em ruột mình.
2.   Ma qủy vẽ ra một tương lai hấp dẫn, một viễn tượng huy hoàng để thôi thúc con người phản bội :
Người ta phản bội nhau phần lớn do mơ ước một điều gì đó tốt hơn, đẹp hơn, hạnh phúc hơn những gì đang có với nhau ; phản bội nhau vì muốn tiến đến một ngày mai vượt xa hôm nay, muốn nắm bắt một tương lai không còn bình thường, tầm thường như hiện tại. Vì thế, để cám dỗ con người đi vào vùng tối phản bội, ma qủy dùng chiêu trò cho người ta ăn “bánh vẽ”, nghiã là mê hoặc, làm lu mờ tâm trí con người bằng những hình ảnh ảo, lý tưởng ảo, công trình ảo, kế hoạch ảo, đường lối ảo, và nguy hiểm nhất là đời sống thánh thiện ảo.
Như Evà và chồng đang sống trong địa đàng hiện tại, ở đó, ông bà có Thiên Chúa, và có tất cả mọi sự cho hạnh phúc tròn đầy và viên mãn của ông bà. Nhưng Rắn Satan biết Evà còn mơ một ngày mai, một địa đàng nhiều lần lớn hơn, hoành tráng, huy hoàng, diệu vợi hơn địa đàng đang có với Thiên Chúa, nên đã vẽ ra cho bà một ngày mai biết hết mọi sự mà Thiên Chúa còn giấu diếm, một viễn tượng trở thành thần thánh, một tương lai nắm giữ cả thiện, ác, lành dữ trong tay như Thiên Chúa. Ma qủy vẫn tiếp tục xử dụng ngón đòn cũ rích nhưng rất ngoạn mục và hiệu nghiệm này cho đến tận thế để cám dỗ con người phản bội Thiên Chúa và phản bội nhau : Gia đình đang ấm êm, hạnh phúc, nhưng khi bị Rắn Satan nhỏ to chuyện đổi đời, chuyện ngày mai thành đại gia, chuyện tương lai phút chốc lên hàng mệnh phụ, thì lập tức vợ chồng lục đục, rồi lạnh lùng theo thời gian từng bước đi về ly tan. Chiêu trò của ma qủy là xúi dục chúng ta bỏ hiện tại với hạnh phúc và những gì đang có như qùa tặng của Thiên Chúa để nuôi giấc mộng ảo ở tương lai, với chiêu bài phải cải tiến, phát triển… nhưng thực ra là để gây mẫu thuẫn, bất đồng, chia rẽ, đối kháng, tan hàng.     
3.   Ma qủy đe dọa, gây bất an, lo sợ và thúc đẩy đến giải pháp bạo lực :
Mục tiêu cuối cùng của ma qủy khi cám dỗ con người là làm cho con người bất an, lo sợ để phải đi đến giải pháp bạo lực dẫn đến bất hoà, chiến tranh, chết chóc. Hãy nhìn vào Evà, khi đẩy Evà lên đỉnh cao của ngày mai “sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,5), ma qủy đã gieo trong bà hoang mang, nghi ngờ và kết thúc bằng hành động xé nát hợp đồng yêu thương, ân tình với Thiên Chúa, khi “hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình” (St 3,6).
Cũng vẫn chiêu trò bạo lực, ma qủy luôn đề nghị và xúi chúng ta dùng bạo lực để giải quyết mọi vấn đề thay vì dùng tình yêu, lòng thương xót, bởi chỉ bạo lực, ma qủy mới thực hiện ráo ruốt chương trình tước đọat hết những gì con người lãnh nhận từ Thiên Chúa, như ông bà nguyên tổ đã “thấy mình trần truồng : họ mới kết lá và làm khố che thân” (St 3, 7). Ông bà trần truồng vì hành động đầy bạo lực khi kiêu căng chống lại lệnh cấm ăn trái cây ở giữa vườn của Thiên Chúa. Chính hành động bạo lực xuất phát từ kiêu căng đã đẩy ông bà đến tình trạng bị tước đọat tất cả những gì đã có trước đó. Cũng như Cain khi bị ma qủy đẩy đến quyết định bạo lực giết em, anh đã mất hết những gì đã có trước đó, nhưng bị nguyền rủa, xua đuổi như chính Cain đã than thở : “Hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con” (St 3,14).
Tóm lại, phần thưởng  cuối cùng  ma qủy dành cho những người sập bẫy cám dỗ của chúng là mất hết mọi sự đã nhận được từ Thiên Chúa, phải xa hẳn mặt Ngài, phải chui lủi, trốn tránh vì mặc cảm tội lỗi, và phải chết, như mục tiêu của ma qủy đã hoạch định từ đầu.
Trước những thủ đọan ngàn đời và mánh lới quen thuộc của ma qủy, điều chúng ta phải làm để không sập bẫy chúng là thực hiện Lời Đức Giêsu đã cảnh báo, căn dặn :
a.   Cầu Nguyện :
“Anh em hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Lc 22,40), vì cầu nguyện là bám chặt lấy Thiên Chúa là nguồn ơn phù trợ. Ngài là “Đấng mạnh mẽ trong chinh chiến” sẽ giúp ta chiến thắng ma qủy.
b.   Hy Sinh, hãm mình :
Lời cầu nguyện của chúng ta chỉ thực sự đẹp lòng Chúa, nếu kèm theo những hy sinh, hãm mình, bởi khi hy sinh, hãm mình, chúng ta tự nguyện xin được đóng đinh vào Thánh Giá với Đức Giêsu để được mật thiết kết hiệp với Ngài. Khi đó, chúng ta được sống chính sự sống của Đức Giêsu như thánh Phaolô xác quyết : “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19- 20). Có Chúa sống trong ta, ta sẽ còn sợ ai, sợ kẻ thù nào ?
c.    Thực hành đức ái anh hùng khi yêu và cầu nguyện cho cả kẻ thù :
Ma qủy là ganh ghét, thù hận, bạo lực và chết chóc. Nói cách khác, “Ở ma qủy không có chút gì yêu thương”, và những người thuộc về ma qủy mất hết khả năng yêu thương, vì không có Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu.
Vì thế, vũ khí ma qủy ngao ngán, khiếp sợ ở chúng ta chính là chúng ta yêu thương anh em mình. Khi cám dỗ, ma qủy luôn tìm cách lấy chúng ta ra khỏi tình yêu, bằng thúc đẩy chúng ta ghen ghét, đố kị, thị phi để chung quanh ta sẽ chỉ còn những kẻ thù, đối thủ. Công tác chính yếu của ma qủy là làm cho loài người ganh ghét, hận thù nhau : vợ chồng nghi ngờ nhau, cha mẹ, con cái giận hờn nhau, anh chị em tranh chấp nhau, họ hàng cắn xé nhau, láng giềng đố kỵ nhau, đồng nghiệp đấu đá nhau, đồng đạo nói xấu nhau, đồng hương bôi bác nhau, đồng bào khinh bỉ nhau, đồng chí tẩy chay nhau…
Do đó, vũ khí Đức Giêsu dậy chúng ta phải sử dụng để chiến thắng trong mọi hoàn cảnh, trước mọi cám dỗ dù nguy kịch, dữ dội đến đâu, chính là “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Đây là sức mạnh phi thường Thiên Chúa ban cho chúng ta để đánh gục ma qủy, dù con ma, thằng qủy ấy có dữ dằn, kinh dị đến cỡ nào, vì chúng không thể chịu được, cũng không thể cầm cự được, nhưng phải tháo lui, trốn chạy khi vũ khí tối tân nhất của Tình Yêu là “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho người ngược đãi mình” được trực chỉ bắn vào chúng .    
4.   Điều cần làm sau cùng là vạch trần và lột mặt nạ ma qủy bằng công khai hoá việc bí mật, làm lộ ra chuyện bí ẩn chúng đang âm mưu :
Evà đã tự ý bí mật  trao đổi và  nhỏ to kín đáo với Satan, nên mới sập bẫy, nhưng nếu bà nói ngay với chồng, tiết lộ kế hoạch của Satan với Ađam, và kể cho Thiên Chúa âm mưu đen tối xúi bà bất trung thì làm gì nên nông nỗi cho con cháu phải đọa đầy.
Vì ma qủy gian dối, nên chỉ thành công với ai thích “tiêu lòn”, đi đêm, thậm thụt giấu diếm, còn những tâm hồn trong sáng, cương nghị, thẳng thắn chỉ thích minh bạch, rõ ràng, chính nghiã, chính trực  thì chúng  ngả mũ chào thua, bởi là con cái của bóng tối, chúng không chịu nổi ánh sáng công chính của mặt trời.
Vâng, chúng ta không thể thoát khỏi rất nhiều cám dỗ đủ kiểu, đủ loại của ma qủy, vì chính Đức Giêsu cũng đã để ma qủy cám dỗ trong hoang địa (x. Mt 4,1-11). Trước những cám dỗ, thái độ khiêm nhường, không dựa vào sức mình, nhưng dựa vào ơn phù trợ của Thiên Chúa là điều cần thiết, và với tâm tình khiêm nhường của con thơ trong vòng tay ôm của cha mình là Thiên Chúa, chúng ta cầu nguyện, hy sinh, yêu mến và bình an, tin tưởng : với ơn phù trợ ở nơi danh Chúa, chúng ta sẽ chiến thắng ma qủy.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2019

VĂN HÓA CẢM ƠN


Đầu tháng Mười Một, Giáo Hội Công Giáo toàn cầu mừng lễ các Thánh nam, nữ và cầu nguyện cho các đẳng linh hồn để biểu hiện mầu nhiệm Hiệp Thông. Trong hiệp thông bao hàm lòng biết ơn, và nghiã cử đền đáp “ơn sâu nghiã nặng” của người sống đối với người đã qua đời. Cũng trong tháng này, vào thứ năm của tuần thứ tư, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mừng lễ Thanksgiving, là lễ toàn dân dâng lời tạ ơn Trời đã ban cho đất nước và mọi người một năm bình an. Đây được coi là nét đẹp của văn minh nhân loại, mà người viết xin được gọi là “Văn Hoá Cảm Ơn”.

Sở dĩ gọi là nét đẹp, vì đó là điều tốt đẹp mà ai cũng phải công nhận, bởi không ai có thể chối từ, phủ nhận giá trị của lòng biết ơn và nghiã cử đền ơn, đáp ơn ; cũng không ai không muốn người khác biết ơn, nhớ ơn mình. Gọi là văn hoá, vì biết ơn là tinh hoa, cái tuyệt vời còn đọng lại làm cho nếp nghĩ, nếp sống của con người đượm thắm tính người và tình người.
Biết ơn, vì thế là điều không thể thiếu ở mỗi người, không chỉ vì tính nhân văn tốt đẹp, vì giá trị cao qúy, mà còn là bổn phận, nghiã vụ và vinh dự của con người trong đời sống. Là bổn phận, vì có ai ra đời làm người, trưởng thành và sống đời người lại không cần đến tình thương và lòng tốt của người khác ? Là nghiã vụ, vì  có ai tự mình vào đời và một mình làm nên tất cả, mà không chịu ơn ai ? Là vinh dự, vì lòng biết ơn làm cho người biết ơn trở nên đáng kính, đáng yêu, dễ thương, dễ mến, và nghiã cử biết ơn làm cho mọi người ngưỡng mộ, cảm phục.
Hãy quan sát một gia đình, ở đó không ai biết ơn ai, khi con cái  bất hiếu, vợ chồng vô ơn, và cả nhà, từ tháng trước qua tháng sau, từ năm này sang năm nọ, không ai biết nói lời “cảm ơn”, không ai tỏ một thái độ, cử chỉ, hành động biết ơn người thân yêu cùng mâm cơm, cùng mái ấm ; đó là chưa kể gia đình ấy chẳng quan tâm đến họ hàng, gia tộc, hàng xóm láng giềng, và tất nhiên lời cảm ơn được các thành viên gia đình xếp vào loại hàng xa xỉ cực hiếm.
Trong sinh hoạt xã hội, nếu văn hoá biết ơn không thâm nhập và bao trùm, thì lời cám ơn, thái độ tri ân, tâm tình cảm tạ đều bị coi là chuyện hoang đường, cổ tích, rườm rà, vô ích, và người ta ra vào gặp gỡ, đối tác, trao đổi, như những người không quen biết từ những hành tinh xa lạ. Vì thế, thỉnh thoảng chúng ta cũng cần cho dừng lại nhịp sống vội vã, tất tả, để hỏi xem : Lối sống vô cảm, vô ơn có khi nào đã len lỏi vào gia đình, cộng đoàn, khu phố, làng xóm của chúng ta mà chúng ta chưa biết không ?
Qủa thực, không cần phải đợi lâu mới có đáp án, vì chỉ cần hỏi những người giúp việc trong nhà có bao giờ nhận được lời cảm ơn của ông bà chủ, và các con ông bà chủ không ? Những tiếp viên trong các quán ăn, nhà hàng có thường nhận được lời cảm ơn của khách không ? Những em bé và những người làm công vất vả, lam lũ, nghèo khó thi thoảng có được người lớn, người có chức tước, quyền thế, ảnh hưởng mở lời cảm ơn không ? Những cô y tá, y công quên mình, ngày đêm tận tụy phục vụ trong các bệnh viện, trạm xá có được bệnh nhân tỏ lòng trìu mến, và biết ơn không ? Những học sinh, sinh viên có nghĩ tới việc mở lời cảm ơn thầy cô sau giờ học không ? Những bác tài lái xe buýt, taxi, xe đò, hay những anh xe ôm có nhận được lời cảm ơn không ? Hay ai nấy chỉ nghĩ : “trả tiền, chi tiền xong rồi thôi. Đã tốn tiền, sao lại phải cảm ơn ?”. Nhiều người còn gay gắt hạch sách : “Không cảm ơn tôi thì thôi, chứ mắc mớ gì tôi phải cảm ơn vì tôi không ăn, tôi không bệnh, tôi không đi xe, tôi không học, tôi không mua thì các anh chị lấy tiền đâu mà sống ?”. Thật kinh dị ý nghĩ nặc mùi “buôn bán, thương trường” của một xã hội hoàn toàn bị đồng tiền chi phối, điều khiển !
Vì thế, một xã hội không “Văn Hoá Cảm Ơn” sẽ dần dà biến con người thành những người máy lạnh lùng, vô cảm và mọi tương quan sẽ thoái hoá xuống hàng đổi chác, mua bán, mất hết nhân nghiã, ân tình. Mất nhân nghiã, ân tình vì nhân nghiã không thể “cân, đo, đong, đếm”, ân tình không thể tính toán bằng thước đo vật chất, bằng cân tiểu ly định lượng vàng bạc, hay qua máy đếm tiền tinh xảo ở ngân hàng, vì nhân nghiã là một giá trị thiêng liêng, và ân tình thì vô hình, bất tử, nên có khi chỉ cho nhau một ly nước lạnh, một chén cơm nguội chẳng đáng giá gì cũng đã là cho nhau cả tấm lòng, trao tặng nhau cả khối tình yêu thương.     
Đứng trước những thiếu sót, khập khễnh, chênh vênh, xiêu vẹo của nền văn hoá biết ơn, chúng ta phải làm gì ?
Thiết tưởng chẳng có gì phải làm ngoài “Biết”. Biết mình cần nhiều người, biết mình đã cần, đang cần, và mãi mãi cần rất nhiều người, bằng chứng là chết rồi cũng còn cần người tẩm liệm, chôn cất, hoả táng, cúng viếng, ma chay, xin lễ cầu nguyện… ; biết mình chịu ơn nhiều người : chịu ơn trực tiếp đã đành, mà còn chịu ơn gián tiếp vô số những  người chưa một lần nghe tên, như những người đã phát minh ra điện, bóng đèn, và phương tiện giao thông như máy bay, xe lửa, xe hơi, sáng chế những đồ gia dụng cần thiết như máy giặt, nồi điện, robot quét nhà, những nhu cầu thông tin, liên lạc như internet, điện thoại…và hàng triệu những sản phẩm ích dụng khác làm cho đời sống thoải mái, hạnh phúc hơn ; chưa kể biết bao nhiêu người đã dầy công học tập để phục vụ đời sống ở mọi lãnh vực từ vật chất, thể lý  đến tâm linh như các bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, nhạc sĩ, nhạc công, nhà tâm lý, linh mục, thượng toạ, đại đức, thầy cô giáo….  Ngoài ra, cũng cần biết : so với những gì người đời cống hiến, trao tặng, thì những gì chúng ta đóng góp cho đời qủa không có gì đáng kể. Nhưng vấn đề không phải ít hay nhiều, vĩ đại hay không đáng kể, nhưng vấn đề hệ tại ở việc chúng ta có biết để Biết Ơn, có biết để Ghi Ơn, có biết để Nhớ Ơn, có biết để Đền Ơn người khác hay không.   
Bên cạnh Biết để sống “Văn Hoá Cảm Ơn”, chúng ta còn phải làm cho nền văn hoá biết ơn ấy lan toả, lớn mạnh, bằng làm gương biết ơn, sống tinh thần biết ơn, thực hành Văn Hóa Cảm Ơn, khi không quên nói lời cảm ơn với thái độ biết ơn chân thành ; bằng nhắc nhở con em, nhất là tập cho các bé nói lời cảm ơn trong các nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, để nếp sống có nhân văn, tình người ăn sâu vào đời sống các bé ngay từ ấu thơ, bởi hậu qủa của cộng đoàn xã hội gồm toàn những người vô ơn sẽ vô cùng bi thảm, khi không ai biết ơn ai, để rồi đến một lúc mọi người của xã hội, cộng đoàn ấy sẽ biến thành vô cảm, nhẫn tâm, độc ác với nhau, như câu nói trứ danh bằng tiếng latinh : Homo homini lupus - Người là lang sói của người.
Thực vậy, nếu “lời chào nhau” đẹp, thì “lời cảm ơn nhau” còn đẹp hơn rất nhiều, vì cảm ơn gói ghém tâm tình yêu mến sâu đậm. Khi cảm ơn ai, ta không chỉ tỏ lòng yêu mến bản thân người ấy, mà còn biểu hiện sự trân trọng đối với việc làm của người ấy dành cho ta. Lời cám ơn khi ấy không những có giá trị nhân bản, mà còn mang giá trị tâm linh, một giá trị tuyệt đối, vô cùng. Từ đó, đời sống của ta được nâng lên tầm mới, phong phú và thăng hoa.
Những tháng cuối năm là dịp chúng ta tỏ lòng cảm ơn nhau. Nếu nước ngoài có lễ Thanksgiving, thì ở quê hương chúng ta có lễ Tạ Ơn ngày cuối năm, và đặc biệt ngày đầu năm, là dịp người người, nhà nhà đến với nhau với lời chúc Tết rạo rực ân tình, nôn nao tình nghiã, cũng là dịp mọi người cảm ơn nhau, tỏ lòng biết ơn nhau về những nghiã cử đã dành cho nhau trong suốt năm cũ. Truyền thống và văn hoá đạo đức, nhân bản sống động ấy mong mãi được gìn giữ, phát huy, để  chúng ta không phải hổ thẹn với Tổ Tiên và hậu duệ về tình trạng thiếu Văn Hoá Cảm Ơn của thời đại chúng ta đang làm chủ.         
Joratrhe Nắng Tím



THẦY CÔ TÔI

Năm nay đã qua khỏi lục tuần, nhưng hình ảnh thầy cô từ những năm mẫu giáo đến giờ vẫn đầy ắp trong tôi. Và mỗi năm đến ngày Nhà Giáo, tôi lại không khỏi  bùi ngùi, thổn thức nhớ từng thầy cô đã dạy dỗ từ ngày chập chững đến trường, tập đánh vần, tô chữ …
Tôi rất thích kể về thầy cô và những kỷ niệm thời còn đi học, và mỗi lần ôn lại “những ngày xưa thân ái” ấy, tôi như được sống lại tuổi thơ thần tiên với thầy cô yêu thương ở mái trường làng mái lá vách đất thưở ba mẹ và gia đình mới từ Bắc di cư vào Nam. Thầy cô tôi, ai cũng dễ thương và hiền hoà, tận tụy và hy sinh, ân cần và cởi mở, nghèo nhưng nghiã khí, liêm sỉ.
Thầy cô tôi cũng như thầy cô của bao nhiêu học trò khác, thầy cô của bao nhiêu thế hệ đàn anh, đàn em, của bao thời thế thăng trầm, đổi dời, các thầy cô vẫn thao thức ước mơ, vẫn âm thầm và miệt mài cống hiến cho gia đình, xã hội, quê hương, đất nước và thế giới những con người tử tế.
Vâng, “những con người tử tế” là hoa trái của một đời “bán cháo phổi” của Thầy Cô ; “những con người tử tế” là thành qủa của qúa trình “quên mình vì tương lai con em” của Thầy Cô ; “những con người tử tế” là hoa xuân hạnh phúc mà Thầy Cô đã chăm bẵm, vun trồng từ những tháng “hạ, thu, đông” dài đẵng dẵng ;
“những con người tử tế” là vinh dự của dân tộc mà Thầy Cô đã góp phần kiến tạo ; “những con người tử tế” vừa là bảo đảm vừa là hy vọng của một quốc gia phú cường, một thế giới hoà bình, huynh đệ, mà Thầy Cô là kiến trúc sư đã chung tay xây dựng, bởi lẽ sống, lý tưởng sống, phương châm sống, chỉ nam sống, nghị lực sống của Thầy Cô chính là dâng tặng cho đời “những con người tử tế”.
Nhưng thế nào là con người tử tế, nói cách khác, đâu là tiêu chuẩn tử tế được Thầy Cô đề ra ?
Tôi còn nhớ như in tấm bảng vẽ hàng chữ to đùng mầu đỏ trên nền trắng : “Tiên học lễ, hậu học văn” ngay cửa trường như thường xuyên nhắc nhớ học sinh hai tiêu chuẩn của giáo dục là đào tạo những con người vừa có kiến thức vừa có đạo đức, mà không thể thiếu một trong hai.
Không thể thiếu một trong hai, vì có kiến thức mà không đạo đức thì hại nhiều hơn lợi, khi kẻ “có óc mà không có tim” sẽ thủ đoạn, mưu mô, bầy đủ thứ chiêu trò ma mãnh, bẩn thỉu để lừa phỉnh, bóc lột, làm hại người khác hầu vun vén tiền của, quyền lực, danh vọng cho riêng mình ; nhưng có tim mà thiếu óc, có đạo đức mà thiếu kiến thức cũng không làm lợi nhiều cho xã hội, khi không đủ khả năng phân định, giải quyết những khó khăn khi phục vụ. Tâm và trí phải đi đôi : tâm tốt với trí cao, tâm lành với trí sáng sẽ giúp được mình và nhiều người.
Như thế, người tử tế không chỉ là người có trí tuệ, được đào tạo trí thức, có vốn liếng kiến thức đáng kể ; cũng không chỉ là người đạo đức, có tâm, có lòng, nhưng phải là người vừa có Tâm vừa có Tầm : Tâm thiện, tâm lành và tầm nhìn rộng, tầm thấy xa.              
Nhưng có hai tiêu chuẩn Trí và Đức rồi cũng chưa đủ để làm người tử tế, vì thiếu đối tượng, bởi Tâm phải hướng đến ai, thương ai và Tầm phải biết sẽ phục vụ, đem lợi ích cho người nào ?
Vì thế, người tử tế phải là người có lòng nhân ái để tất cả khả năng trí thức và đạo đức hướng về lòng yêu mến và phục vụ con người, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người chung quanh. Người tử tế có mục tiêu hành động là phúc lợi của con người ; có hướng đến là đời sống an vui của con người ; có đích tới là “con người được hạnh phúc”, bởi nếu không nhắm đến con người, giáo dục sẽ vô nghiã, và những phấn đấu, tận tụy, hy sinh của Thầy Cô sẽ không mang một giá trị nhân văn nào.
Thời gian gần đây, một số dư luận khắt khe phê phán một số ít Thầy Cô có những việc làm không mấy xứng hợp với vinh dự “Lương Sư Hưng Quốc” mà từ bao đời xã hội đã dành cho. Trước một số sự việc đáng tiếc, người viết trộm nghĩ : có khi nào chúng ta dành chút thời gian để tìm xem : có thể xã hội đã khắc nghiệt đẩy các Thầy Cô vào một hoàn cảnh bế tắc  nghiệt ngã, ở đó, bất cứ ai cũng chỉ còn duy nhất một khả thể cuối cùng là phải cố vùng vẫy để sống còn ?    
Phần tôi, tận đáy sâu tâm hồn, tôi luôn yêu mến, trân trọng các Thầy Cô, vì các Thầy Cô đã cho tôi hình ảnh sống động về một con người tử tế, lý tưởng cao đẹp được làm người tử tế, và ý chí sắt đá phải trở nên người tử tế, và tôi tin rằng : không Thầy Cô nào đã dấn thân vào nghề đào tạo người tử tế mà đã không nằm lòng, và tự nhủ mỗi lần đứng trên bục, đưa mắt âu yếm nhìn từng học sinh :
1.   Không chỉ là người chuyển tải kiến thức, tôi còn là người xây dựng những tâm hồn ngay thẳng, thật thà, tôn trọng sự thật, những con người  không gian dối, lọc lừa, không lưu manh, dối trá, không hồ đồ tố cáo, không vu khống oan sai.
2.   Không chỉ là người truyền đạt kiến thức, tôi còn là người chăm sóc, vun trồng những tâm hồn yêu mến, trân trọng sự sống, bởi sự sống là quà tặng qúy giá của Thượng Đế ban cho con người. Một xã hội mất ý thức  về giá trị của sự sống sẽ nhanh chóng suy đồi, trầm trọng  sa sút và chênh vênh bờ thảm họa.
3.   Không chỉ là người mở mang, khai phóng trí tuệ, tôi còn là người dậy trái tim biết yêu thương, sống nhân ái, và biết chạnh lòng, bởi trái tim không được đào tạo để yêu thương, nó sẽ biến thành hoả ngục của chính mình, và lửa thiêu đốt người khác.     
Vâng, tôi thương các Thầy Cô ; tôi mến tất cả những ai mang trong đời sứ mệnh giáo dục những con người tử tế cho đời ; tôi nhớ ơn các Thầy Cô đã dạy tôi làm người tử tế, và tôi muốn nói với đàn em, đàn con, đàn cháu : Hãy yêu mến Thầy Cô, vì đời của Thầy Cô là chuỗi dài những tận tụy quên mình, những hy sinh câm lặng, những chịu đựng thầm kín, những căng thẳng cam go, những đánh giá bất công, những vô ơn, bạc bẽo, bởi khi chọn đời làm Thầy Giáo, Cô Giáo, các Thầy Cô đã không chọn một nghề để sinh sống, một chỗ đứng “ăn nên làm ra”, một cơ hội “bốc hốt, làm giầu”, nhưng đã chọn một Ơn Gọi, ơn gọi trồng người, ơn gọi chăm bẵm mầm non “tử tế”, để gia đình, đất nước, thế giới được sống hạnh phúc trên vùng đất lành có những con người tử tế.  
Ngày Nhà Giáo Việt Nam, người viết cùng các Bạn, xin kính chúc các Thầy Cô của chúng ta An Bình tiến bước trên đường thực hiện Sứ Mệnh và Ơn Gọi  tuyệt vời cao đẹp : “Lương Sư - Hưng Quốc  - Thầy Cô đạo đức, Quốc Gia hưng thịnh”.   
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2019

THIÊN ĐÀNG

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXXII Thường Niên, Năm C (Lc 20,27-38)      
Khao khát hạnh phúc và đi tìm hạnh phúc, đó là mẫu số chung của mọi người, mà ai cũng bắt gặp được ở mình và ở người khác. Là người, ai cũng khao khát hạnh phúc, vì từ nguyên thủy, ở buổi đầu tạo dựng, nguyên tổ loài người đã được sinh ra để hạnh phúc, như sách Sáng Thế đã mô tả cảnh thiên đàng tại thế khi Thiên Chúa “sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc lành cho họ và Thiên Chúa phán với họ : Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất (St 1, 27-28) …. và mọi thứ cây có trái mang hạt giống… và mọi thứ cỏ xanh tươi  để làm lương thực” (x. St 1,29-30). Thiên Chúa còn thường xuyên gặp gỡ, đi dạo rong chơi với  Ađam và Evà (x. St 3,8).  Và cuộc đời con người thật là hạnh phúc thiên đàng !
Nhưng thiên đàng ấy đã mất, sau khi ông bà phạm tội và cảnh khổ, bất hạnh đã theo tội lỗi vào thế gian, như lời truyền của Thiên Chúa  với Evà: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén ; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con.” (St 3,16), và với Ađam : “đất đai bị nguyền rủa vì ngươi ; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong cuộc đời mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hô trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3, 17-19).
Như thế, con người đã biết thiên đàng là gì, và hạnh phúc ấy ra sao : Thiên Đàng là tình trạng có Thiên Chúa hiện diện, con người ở với Thiên Chúa, và có tất cả hạnh phúc của con cái Thiên Chúa, những đứa con được Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc. Ngược lại, Thiên Đàng mất đi, khi con người sợ hãi, trốn tránh Thiên Chúa, vì cắt đứt tình nghiã với Thiên Chúa, như nguyên tổ loài người đã thưa với Thiên Chúa khi Ngài hỏi : “Ngươi ở đâu ?” sau khi ông bà  phạm tội : “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn” (St 3, 9-10).  
Thực trạng “Sợ hãi, trần truồng và lẩn trốn” Thiên Chúa chính là tình trạng đánh mất Thiên Đàng, khi con người không còn dám đến gần Thiên Chúa như con thơ sà vào lòng cha mình, nhưng lấm lét, sợ hãi vì không còn tin yêu, mà chỉ còn hình phạt ám ảnh ; khi con người mất hết những gì Thiên Chúa dành sẵn cho từ đời đời để đời đời hạnh phúc, nhưng thay bằng thiếu thốn, túng cực, bần hàn, nghèo khó ; khi con người không còn tự do ra vào nhà Thiên Chúa như nhà Cha mình, và của cha không còn là của con, nhưng cạn kiệt ân tình, cằn khô ơn nghiã vì phản bội, đổ vỡ tương quan do kiêu căng và âm mưu đoạt ngôi, chiếm quyền, để phải lẩn trốn khi bị trục xuất, khai trừ (x. St 3,23-24).
Vì kiêu căng và không tin yêu, con người đã tự mình làm mất Thiên Đàng, khi ương ngạnh khước từ và bất trung, bất tín với Thiên Chúa. Chính vì thế, ước mơ tìm lại Thiên Đàng đã mất không bao giờ nguôi ngoai trong mỗi người, bởi chúng ta đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, được sinh ra từ ý muốn và tình yêu của Thiên Chúa, nói cách khác, tất cả chúng ta thuộc về Thiên Chúa, vì được dựng nên từ Ngài và cho Ngài, nên suốt đời mãi canh cánh nỗi nhớ Thiên Đàng, ở đó có Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng toàn năng và Cha hiền giầu lòng thương xót.
Trong Tin Mừng, không phải một lần, mà rất nhiều lần, người Do Thái đã đặt vấn đề sự sống lại và Thiên Đàng với Đức Giêsu, bằng những cách hỏi khác nhau. Riêng Tin Mừng Luca của chúa nhật XXXII Thường Niên, Năm C, mấy người Do Thái thuộc nhóm Xa - Đốc là, “nhóm này chủ trương không có sự sống lại” (Lc 20,27) đã hỏi Đức Giêsu về chuyện vợ chồng ngày sau ở Thiên Đàng : “Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta luật này : Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh, hay em mình. Vậy nhà kia có bẩy anh em trai. Người anh cả lấy vợ nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ góa ấy. Cứ như vậy, bẩy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng người đàn bà ấy đã chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bẩy đã lấy nàng làm vợ ?” (Lc 20,28-33).
Câu hỏi thật hóc búa, nhưng không che dấu được giới hạn của con người trước Thiên Chúa. Giới hạn ấy được phô bầy khi con người nhìn Thiên Đàng hoàn toàn khác với những gì Thiên Chúa mặc khải. Với cái nhìn rất hữu hạn và thô thiển ấy, con người quên mất yếu tính của Thiên Đàng, nghiã là chỉ đánh giá Thiên Đàng theo tiêu chuẩn trần thế, định giá Thiên Đàng theo thang giá trị của con người trần tục với những nhu cầu trần tục. Cái nhìn trần tục ấy còn hạ giá Thiên Đàng như nhiều người vẫn mơ tưởng : ở Thiên Đàng có đủ món ăn chơi như ở trần gian, cũng rượu ngon, gái đẹp, hút sách, cờ bạc và mọi thứ trên đời, mà chẳng phải vất vả đi làm kiếm cơm gạo, hay ngay ngáy lo tiền nhà cuối tháng. Thiên Đàng trong tâm trí những con người này là thứ thiên đàng do óc tưởng tưởng bị ám ảnh bởi ham muốn vật chất và hưởng thụ, mà không mảy may dính dáng đến Thiên Đàng đích thực như Đức Giêsu đã mặc khải :
1.   Thiên Đàng của Thiên Chúa hứa ban là nơi có Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa của người sống :
Bởi bất hạnh lớn nhất của con người khi đánh mất thiên đàng tại thế, sau khi sa ngã phạm tội, là phải chết. Cái chết là tai họa, hình phạt lớn nhất, vì chết khép lại, đóng lại, cắt đứt, phá hoại tất cả, từ thân xác đến sự nghiệp, công trình, hiện tại, tương lai, ước mơ, thao thức. Nay Thiên Đàng được ban lại cho những ai “được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết” (Lc 20,34). Họ sẽ không bao giờ phải chết nữa, nhưng sống đời đời với Thiên Chúa hằng sống.
Vì thế, những gì thuộc thần chết, sự chết, cõi chết, và những gì có thể bị hư hao, hủy hoại sẽ không còn ảnh hưởng trên những nguời được sống lại và sống đời đời với Thiên Chúa là Sự Sống, nên những chuyện thuộc thế giới tương đối, hữu hạn, nhất thời, những dịch vụ thuộc sinh hoạt trần thế của con người trần thế sẽ không còn tái diễn ở thế giới dành cho những người đã sống lại từ cõi chết, và “không thể chết nữa, vì họ được ngang hàng các thiên thần” ( Lc 20, 36). Ngang hàng các thiên thần có nghiã sự sống mới họ vừa lãnh nhận từ Thiên Chúa hằng sống sau khi sống lại sẽ không còn là sự sống trong thân xác sẽ phải hư nát như đã hư nát, cũng không còn là những hạnh phúc không vĩnh cửu của con người còn mang trên mình thân xác sẽ chịu hủy hoại, tan rữa, nhưng là sự sống và hạnh phúc dành riêng cho những con người đã sống lại, để từ nay họ sống sự sống vĩnh cửu và hạnh phúc thiêng liêng như các thiên thần.
Khi trả lời những người thuộc phái Xa Đốc : “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống” (Lc 20,38), Đức Giêsu đã cho chúng ta biết : ở Thiên Đàng, chúng ta sẽ không bị sự chết đe dọa, khổ đau khống chế, nhưng sẽ sống một đời sống mới với sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa, vì được ở với Thiên Chuá hằng sống, Thiên Chúa của người sống. Và hạnh phúc của chúng ta sẽ là hạnh phúc của các thiên thần, thụ tạo thiêng liêng của Thiên Chúa (x. Lc 20,36).
2.   Thiên Đàng là Gia Đình của Thiên Chúa :
Chỉ gọi là nhà, là mái ấm, là gia đình khi có bóng cha hiền hoà, có mẹ yêu dấu, có đàn con ngoan, hiếu thảo. Nếu địa đàng của buổi đầu Sáng Tạo đã biến thành vườn chết, ở đó, có cây tội lỗi, có Rắn độc qủy quyệt cám dỗ, có ông bà nguyên tổ phản bội, bất trung, bất tín nên ra nông nỗi phải xấu hổ khi thấy mình trần truồng, phải sợ hãi, lẩn trốn do không còn tấm áo ơn nghiã, và bị tước đi quyền làm công chúa, hoàng tử, con của Vua Thiên Đàng, “Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình”, thì Thiên Đàng là mái ấm, gia đình, nhà của Thiên Chúa, ở đó, Thiên Chúa trở lại với con người như buổi đầu Ađam và Evà chưa phạm tội, khi mà con người còn trọn vẹn vinh dự và quyền làm con Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã qủa quyết : Những người được sống lại “họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại” (Lc 20,36).
Như thế khi được nhận vào hàng ngũ “những người được Cha Ta chúc phúc, hãy vào hưởng sự sống đời đời” (Mt 25,34), người được sống lại không những sẽ không bao giờ phải chết nữa, nhưng quan trọng và hạnh phúc gấp bội phần là được nhận làm con cái trong gia đình Thiên Chúa. Đây là hạnh phúc vô cùng, hạnh phúc đích thực, cũng là cùng đích của hành trình làm người trên dương thế, khi được Thiên Chúa xót thương, được gọi là con Thiên Chúa, được nhìn thấy Thiên Chúa và được Thiên Chúa cho thoả lòng. Và vì là con Thiên Chúa, những người được sống lại và được chúc phúc sẽ được Thiên Đàng làm sở hữu, gia nghiệp, Nước Trời làm quê hương, gia đình, mái ấm, ở đó có Thiên Chúa là Cha và không còn nước mắt khóc than, nhưng được vui mừng hớn hở vì phần thưởng được dành cho trên Thiên Đàng thật vô cùng lớn lao, như Đức Giêsu đã long trọng công bố trong Hiến Chương Nước Trời trên núi  Bát Phúc năm xưa (x. Mt 5,3-12).  
Vâng, khi nhớ đến “thân phận sẽ phải chết”, không ai không liên tưởng đến “tội - phúc, thưởng - phạt, thiên đàng - hoả ngục”. Người Do Thái đồng thời với Đức Giêsu đã thay chúng ta đặt những vấn nạn về đời sau, những chuyện “khó nói và ít ai dám nghĩ tới”, và Đức Giêsu đã mặc khải chân lý cuộc đời này, cũng như cuộc sống đời đời mai hậu cho chúng ta.
Xin Chúa thương ban cho mỗi người luôn ý thức và đừng bao giờ quên : tất cả mọi người đều đã đến từ Thiên Chúa khi lãnh nhận ơn làm người với hình ảnh Ngài, và nhập cuộc vào đời để thực hiện chương trình của Ngài, để rồi sẽ trở về với Ngài sau hành trình dương thế.  
Được thuộc về Thiên Chúa, và là con cái Thiên Chúa, chúng ta hãy vui mừng vì vinh dư cao qúy và hạnh phúc vô cùng có Thiên Chúa là Cha, Đấng đời đời trung tín và không từ bỏ ai biết tín thác, trong cậy nơi Ngài đang khi “mong đợi Ngài lại đến” và cho chúng ta được sống lại vinh quang trong Nước Ngài.
Jorathe Nắng Tím