Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019

BÊN GIƯỜNG NGƯỜI SẮP QUA ĐỜI

Bên giường người bạn những ngày cuối cùng của đời người, sau hơn bốn năm chống chọi với căn bệnh ung thư, tôi phần nào cảm được nỗi sợ ở người biết mình sắp giã từ cuộc đời, người đời để vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở lại. Trong nỗi sợ của người sắp ra đi ấy, tôi nhận ra nỗi sợ của chính mình…
Tôi nhận ra mình sợ đau trong nhăn nhó, quằn quại của bạn tôi mỗi lần ngưng thuốc giảm đau. Nhìn bạn toát mồ hôi hột, co dúm người, rên xiết van xin y tá tăng liều lượng morphine, mà chân tay tôi bủn rủn vì sợ. Tôi nhận ra mình sợ xa người thân, khi thấy bạn tôi  nghẹn ngào, hai giòng lệ chảy dài, mỗi lần vợ con, bạn hữu ghé thăm, và đau đớn giấu mặt  nức nở khi người thân tạm biệt ra về. Tôi nhận ra mình sợ bị bỏ rơi, quên lãng, khi bạn tôi thèm được người đến thăm nắm chặt bàn tay, hay âu yếm xoa nhẹ đôi bàn chân gầy xơ xác, trắng bệch. Tôi nhận ra mình sợ khoảng không chơi vơi, trống trải không điểm tựa, không trụ bám, khi đôi mắt vô hồn của bạn tôi  bâng quơ  lạc lõng như ở một cõi vô định nào đó vô cùng xa xôi. Tôi nhận ra mình sợ  bị trừng phạt, khi toàn thân bạn tôi  run rẩy sợ hãi và miệng ú ớ hốt hoảng đến thảm thương. Tôi nhận ra mình sợ tan biến vào hư vô, khi đôi mắt  hoắm sâu, vàng vọc, thất thần của bạn tôi  lạnh lùng và cay đắng quét dài trên thân xác tàn tạ, cạn kiệt sức sống của chính mình. Tôi nhận ra mình sợ thần chết nham nhở và tàn nhẫn với lưỡi hái sắc nhọn đã chực sẵn ở đầu giường, khi đôi bàn tay bạn tôi cứ quờ qụang tìm đường trốn chạy.
Vâng, bên giường bạn tôi ở những ngày sau cùng của một  đời người, tôi thực sự biết sợ, khi tận mắt nhìn bạn tôi sợ : sợ đau, sợ bị bỏ rơi, sợ bị trừng phạt, sợ chơi vơi, sợ  bị tan biến,  sợ sẽ vỡ vụn, sợ đi vào hủy diệt, hư vô …
                                                                          ***
Rồi bạn tôi chết… Những ngày bên xác bạn, tôi miên man nghĩ về một ngày đến phiên mình chết. Tuy sợ, rất sợ, nhưng tôi liều một phen đối diện với cái chết, trực diện với thần chết và tự đặt mình vào tình huống của giờ chết, với mục đích tìm cho mình cách thế nào để bớt sợ, bớt hốt hoảng, bớt kinh hoàng, bớt khủng khiếp khi đến phiên mình hấp hối, lâm chung.  
Nhưng dù đã  khó nhọc tìm kiếm trong kho tàng tri thức của nhân loại, tôi cũng không gặp được bí quyết nào để chết mà không sợ, chết mà không lo, chết mà không hoang mang, hãi hùng,  mà chỉ thấy và bị ám ảnh mãi những gì tôi đã thấy ở bạn tôi trước giờ chết : cô đơn và bất lực. Tôi sẽ như bạn tôi cô đơn, vì không ai chịu chia sẻ với tôi cái chết, không ai chịu chết theo tôi cho có bầu có bạn trên đường vào cõi chết chưa một lần khám phá, tham quan ; tôi sẽ như bạn tôi bất lực, vì không còn làm chủ được bất cứ sự gì trong tôi, thuộc về tôi, liên quan đến tôi, nhưng nhắm mắt, xuôi tay, xương cốt rã rời, hơi thở vội vã, sự sống hối hả tàn lụi. Bên cạnh cô đơn và bất lực của chính mình là bất lực toàn phần của toàn thể thế giới loài người trước cái chết của tôi, bởi không ai có thể  kéo dài  thêm  cho tôi một giây sự sống, không người nào có thể thay đổi số phận  phải chết của tôi, và không quyền lực trần gian nào có thể cứu tôi ra khỏi sự chết.
Chính trong bế tắc tuyệt vọng của tư duy về sự chết, tôi nhận ra mình chỉ còn duy nhất một khả thể là bám víu vào Thượng Đế toàn năng với niềm hy vọng không bị trừng phạt, và tiêu diệt.
Niềm tin lúc này với tôi qủa thực không còn là mê tín, thừa thãi, ấu trĩ, hoang đường, vì chỉ còn lại niềm tin mới  cứu tôi ra khỏi hãi hùng, kinh sợ ; chỉ niềm tin mới cho tôi an lòng ; chỉ niềm tin mới ban cho tôi niềm hy vọng, bởi chính mắt tôi đã thấy người sắp chết không bám víu, nương tựa được vào ai, vì không ai còn là bến bờ hy vọng, thành quách an toàn, nơi nương náu chở che bảo đảm , do luật lệ nghiệt ngã của sự chết là mỗi người phải ra đi một mình, không hành trang, không sức vóc, không tài năng, không của cải, không quyền lực, không bạn đường, không người hướng đạo. Niềm tin với tôi  bỗng dưng không còn là đồ trang sức xa xỉ, phụ tùng rẻ tiền, nhưng thiết yếu đến độ nếu không tin, tôi không thể sống nổi vì qúa sợ chết, không còn bình an để làm việc vì cảnh tượng hấp hối bi thương ám ảnh nặng nề, và tôi nhận ra  tôi chỉ còn duy nhất một Đấng Chủ Tạo đã cho tôi vào đời, làm người là nơi tôi phải đặt trọn niềm tin.
Tôi thấy mình có quyền đặt niềm tin ở Ngài, vì chỉ mình Ngài mới có thể cứu tôi, và tôi tin rằng chính Đấng ấy sẽ gọi tôi ra khỏi cuộc đời, đi vào một thế giới khác cũng thuộc về Ngài, qua ngưỡng cửa sự chết, như Ngài đã gọi tôi vào cuộc đời, trong thế giới thuộc về Ngài mà tôi đang sống, qua ngưỡng cửa sự sống. Lý trí tự nhiên và suy luận hợp lý cho phép tôi tin rằng : phải có một Đấng toàn năng đã cho tôi vào đời làm người, và suốt cuộc đời, Đấng ấy đã gìn giữ tôi để tôi được tồn tại, nên tôi cũng có quyền và được thúc bách tin rằng : cũng chính Ngài sẽ dắt tôi đến tận cùng của hành trình dương thế để vào một cuộc sống khác, cũng do Ngài sắp xếp, chuẩn bị, bởi Ngài là Thượng Đế, là Đấng Tạo Dựng mà tôi trực giác thấy : luôn yêu thương mọi loài Ngài đã dựng nên và cho chúng hạnh phúc trọn vẹn và tương lai tốt đẹp, ngời sáng. Cũng lý trí và trực giác, tôi nhận ra Ngài là Thượng Đế của Tình Yêu đã tạo dựng  vũ trụ và con người vì yêu thương, để tất cả mọi loài được sinh ra từ tình Ngài yêu thương sẽ được trở về với Ngài là nguồn yêu thương tuyệt đối.
Một khi đã nhận ra Ngài là Yêu Thương tuyệt đối, Yêu Thương vô cùng, Yêu Thương đời đời trung tín, tôi sẽ nhận ra một chân lý khác là chính Ngài sẽ bảo đảm cho giờ chết của tôi, nói cách khác, tôi tìm thấy nơi Ngài bảo đảm vững chắc cho tôi không sợ khi giờ chết đến, không phải run rẩy khi phải lìa đời, không chút hoang mang, tuyệt vọng khi phải “cô đơn, bất lực” bỏ mọi sự, mọi người đi vào cõi chết, bởi  có Ngài, tôi sẽ không cô đơn, bất lực ; có Ngài tôi sẽ không đi vào cõi chết chơi vơi, hư vô ;  có Ngài là Tình Yêu, tôi sẽ không bị  xua đuổi, trừng phạt, hủy diệt đời đời.  
Vâng, tôi không thể  được sinh ra bởi một Đấng toàn năng, mà lại cô đơn, bất lực đi vào cõi chết mà không có Ngài ; tôi không thể được sinh ra bởi Đấng là tình yêu, mà phải cô quạnh, lầm lũi đi vào vùng hủy diệt, bởi tình yêu luôn bất tử và sức mạnh của tình yêu là “sự sống lại và sự sống” miên trường, vĩnh cửu ; tôi cũng không thể bị bỏ rơi, quên lãng, hay bị trừng phạt dễ dàng bởi Đấng dựng nên tôi và yêu thương tôi, bởi tôi tin đời tôi cũng như đời của mọi người không thể là ngẫu nhiên vô nghiã trước một Thượng Đế có tên là Tình Yêu. Và như thế, lý trí tự nó đã cho phép tôi nhận ra cái vô lý của lo sợ, và phi lý của tuyệt vọng ở giờ chết, vì tin rằng Đấng tạo dựng nên tôi toàn năng và yêu thương sẽ không thể bỏ rơi thụ tạo thuộc về mình ở giờ vượt qua sự chết đi vào cõi sống đời đời, như đã cho nó được vượt qua cát bụi hư vô để làm người trong thế giới hôm nay. Lý trí còn khuyến khích tôi chẳng nên qúa lo sợ khi giờ chết đến, bởi chết không là đối thủ ngang cơ, ngang hàng, ngang tầm của Thượng Đế ; chết không phải đối thủ đáng ngại của Thượng Đế, nhưng chết nằm trong tay Thượng Đế, bởi chính Ngài sắp xếp và định đọat thời điểm gọi mỗi người về với Ngài, vì tất cả thuộc về Ngài, và sự sống, sự chết của tất cả  đều nằm trong trái tim và bàn tay yêu thương, quan phòng của Ngài.  
Tuy thế tôi đã chỉ yên lòng, vững dạ, khi nhận ra một chân lý cuối cùng rất quan trọng, đúng hơn là đòi hỏi mang tính định mệnh bảo đảm giờ mình sẽ chết, đó là thái độ và việc làm yêu thương trong cuộc sống.
Sở dĩ, tôi cần phải yêu thương để không phải run rẩy, sợ hãi ở giờ chết, bởi vào giờ sau cùng ấy, ngoài vốn liếng tình yêu đã suốt đời chắt chiu, gom góp , chẳng hành trang nào được xem là đáng giá ; ngoài sự nghiệp yêu thương đã tần tảo suốt đời xây dựng, không kho tàng nào “có cửa” được gọi tên, định giá ; ngoài yêu thương được tận tụy gieo vãi, vun trồng, tuyệt nhiên không một công trạng, thành qủa nào được ghi nhận ; ngoài tình yêu suốt đời cần mẫn đan dệt, không trang phục nào được xem là xứng đáng để được mời vào đại yến tiệc đời sau ; ngoài Tình Yêu như dấu hiệu duy nhất để được Thượng Đế nhận ra là con cái, không một đồng phục, huy hiệu, huân chương, lon lá nào được chứng thực ; ngoài Tình Yêu như tiếng nói còn lại duy nhất khi miệng lưỡi cứng đơ, thân xác lạnh lẽo khi linh hồn lià khỏi xác, không tuyên ngôn nẩy lửa, hoặc  mỹ từ lộng lẫy, hùng hồn nào có khả năng vang vọng ; ngoài Tình Yêu là thông hành bắt buộc ở  ngưỡng cửa vào vương quốc Thiên Đàng, không một bằng cấp, chứng chỉ, chứng minh thư, giấy giới thiệu nào có giá trị ; ngoài Tình Yêu là cán cân tội phúc, không đơn vị hay phương tiện  đo lường nào được công nhận ở giờ phân xử công minh, bởi không lúc nào đức công minh của Thượng Đế được thể hiện trọn vẹn ở giờ chết, khi tất cả mọi người, bất luận nam nữ, sang hèn, giầu nghèo, đẹp xấu, giỏi giang, ngu si, qúy tộc, thứ dân, ông chủ, đầy tớ đều chung nhau một mẫu số Tình Yêu như quà tặng qúy giá và như bổn phận phải thực hiện.
Như quà tặng qúy giá, vì mỗi người đều nhận như nhau, bằng nhau tình yêu từ Thượng Đế ; như bổn phận phải thực hiện, vì khả năng yêu thương được ban đồng đều cho mọi nguời để yêu thương tha nhân trở thành đòi hỏi duy nhất của Thượng Đế ở mỗi người. Do đó, không ai được miễn trừ vinh dự, quyền lợi và nghiã vụ Yêu Thương, vì yêu thương làm con người nên giống Thượng Đế, để con người nhận ra Thượng Đế là Cha, và Thượng Đế nhận ra con người là con, đồng thời mọi người nhận ra nhau là anh em cùng được sinh ra, cùng được  yêu thương, cùng được gọi về bởi một Cha để chung một nguồn Yêu Thương, chung một mái ấm hạnh phúc , chung một cung lòng yêu thương của Thượng Đế, mà từ đó mỗi người đã được sinh ra, vào đời.
Từ những ngày cuối đời của bạn tôi đến ngày đưa tiễn bạn về với đất, tôi đi từ cảm nhận sợ hãi  trước cái chết đến niềm tin ở Thượng Đế, và nhận ra điều Ngài muốn tôi thực hiện trong cuộc sống để khi phải đến trước ngưỡng cửa của sự chết, như nhịp cầu cần thiết đi vào thế giới của sự sống mới, tôi sẽ không phải lo âu, sợ hãi, hoang mang, tuyệt vọng. Và tôi hiểu : điều tối cần thiết tôi phải làm ngay bây giờ là tập sống yêu thương mỗi ngày, tập ý thức lẽ sống yêu thương từng ngày, vì con  người được sinh vào đời để yêu thương, như lòng mong ước của Thượng Đế, nên nếu kiên trì đồng hành mỗi ngày với yêu thương, cái chết có bất ngờ đến, bước đi tới cũng vẫn là những bước chân yêu thương trên hành trình cuộc sống. Và khi yêu thương có mặt, Thượng Đế sẽ không vắng bóng, bởi đâu có yêu thương, ở đấy có Thượng Đế, và khi có Thượng Đế, tôi tin sẽ chẳng có gì làm con người phải qúa khiếp sợ, kinh hãi ở giờ “tử biệt”.
Sở dĩ không phải quá khiếp sợ, vì khi tập sống yêu thương hằng ngày, nghiã là sống yêu thương từng phút giây của hiện tại ; là tập thân thiện đón nhận hết mọi người tôi gặp gỡ mỗi ngày ; là quảng đại chia sẻ những gì tôi có từ tâm tình, thời gian đến khả năng, vật chất ; là bao dung bỏ qua, “cho chìm xuống” những bất công, mâu thuẫn, đối kháng, và tổn thương tinh thần cũng như vật chất người khác gây ra cho tôi; là thao thức, khắc khoải lo cho tương lai và hạnh phúc của mọi người, bắt đầu từ những người thân yêu tôi có trách nhiệm ; là hết tình, hết mình cộng tác với mọi người trong việc xây dựng một xã hội công bình, nhân ái ; là khiêm tốn dấn thân chung vai sát cánh với những người thiện chí trong công tác phục vụ những anh chị em bất hạnh, kém may mắn ; là hào sảng, hồn nhiên, chân thành và trung tín trong mọi tương quan để tâm hồn luôn trong sáng, lương tâm luôn ngay thẳng hầu trở thành sứ giả Bình An cho mọi người.
Vì thế, sống yêu thương ở giây phút hiện tại là tất cả những gì Thượng Đế mong đợi ở mỗi người, vì trước mặt Ngài, chỉ hiện tại là đáng kể, vì là thời gian duy nhất con người có trong tay để biểu hiện tình yêu đối với Ngài và với anh em đồng loại, vì quá khứ đã qua, và ngày mai chưa tới. Sống yêu thương ngay giây phút hiện tại là việc làm không chỉ bao gồm lòng trân qúy Tình Yêu như qùa tặng của Thượng Đế, nhiệt tình chu toàn bổn phận yêu thương của con người, mà còn là thái độ chân thành  tạ tội, sám hối, ăn năn lầm lỗi. Sống yêu thương “ngay lúc này và ở đây” còn là bằng chứng của trái tim đầy thiện chí muốn nên tốt hơn, tử tế hơn, đạo hạnh hơn mỗi ngày như đòi hỏi của sự thánh thiện. Sống yêu thương hôm nay, với hết mọi người, kể cả với người “không dễ thương, nhưng dễ ghét”, với người “biết hết mọi sự trừ biết điều”, với người “không quen hy sinh vì người khác, mà chỉ  sành sỏi hy sinh người khác vì mình”, tôi sẽ thấm thiá giá trị cứu chuộc, ý nghiã cứu rỗi, sức mạnh cứu độ của bài học tình yêu mà Đức Giêsu đã dậy nhân loại :
“Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? … Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,44-46.48).
Vâng, nhờ được ở bên cạnh những ngày cuối đời, và chứng kiến sự ra đi của người bạn rất trân qúy, tôi đã hiểu ra : chỉ có tình yêu được sống mỗi ngày, và hiện thực từng ngày, đặc biệt tình yêu bao dung, tha thứ, tôi mới tìm lại được Bình An trong chính Đấng đã cho tôi vào đời và sẽ lấy tôi ra khỏi đời theo chương trình yêu thương của Ngài, mà chương trình yêu thương thì bao giờ cũng mang lại kết qủa an bình, hạnh phúc.
     Với niềm tín thác ở Thượng Đế là Tình Yêu bất diệt và trung tín, cùng với nỗ lực liên lỷ yêu thương  từng ngày, chắc chắn nỗi sợ chết trong tôi sẽ dần dà nguôi ngoai, phai nhạt, vì được thay thế bằng niềm hy vọng được bảo chứng, khi tôi xác tín và năng thầm nhủ : “Sống hay chết, mình vẫn cố yêu thương”. 
Jorathe Nắng Tím

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

TỬ ĐẠO NGAY TRONG LÒNG MẸ GIÁO HỘI

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXXIII : Mừng Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam (Luca 21,5-19) 

Mỗi lần mừng kính các thánh Tử Đạo, chúng ta thường có chung hình ảnh về một Giáo Hội của Đức Giêsu bị tấn công từ các lực lượng bên ngoài, bị bách hại bởi những người không thuộc hàng ngũ Kitô hữu. Cảnh tượng nhà thờ, hoặc cả xóm đạo bị bao vây, rồi bị đốt cháy cùng với hằng trăm tín hữu ở thời cấm đạo tại Việt Nam, rồi những vu oan, cáo vạ, chỉ điểm từ phiá những người ngoài công giáo thù ghét người Kitô hữu hăng say trong các chiến dịch truy lùng, vây bắt, hành hình các  thừa sai, người có đạo và triệt để ủng hộ, tiếp tay với chính sách cấm đạo Công Giáo của triều đình các vua nhà Nguyễn. Hình ảnh ấy vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi trên thế giới. Theo nhật báo “Le Monde” ngày 12 tháng 1 năm 2018 : trong năm 2017 có đến 3000 tín hữu Kitô giáo bị thảm sát vì đức tin, nhật báo “Le Parisien” ngày 16 tháng 1 năm 2019 tổng kết con số 4300 Kitô hữu bị giết chết cũng vì đức tin trong năm 2018.   
Bài Tin Mừng Luca được chọn cho Chúa Nhật XXXIII, cũng là ngày mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam đặt ra cho chúng ta một hình ảnh khác, bên cạnh hình ảnh vừa kể về một Giáo Hội bị cấm cách, tiêu diệt từ bên ngoài. Đó là hình ảnh tử đạo do chính bàn tay của anh em trong nhà, và thách đố không kém cam go làm chứng nhân của Đức Giêsu giữa anh em, ngay trong lòng Mẹ Giáo Hội.
1.          Trước hết là thách đố đức tin trước những lạm dụng của cơ chế :
Như dân Do Thái ngày xưa đã đặt hết niềm tin vào sự trường tồn của Đền Thờ Giêrusalem, ngôi Đền Thờ không chỉ là nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa, mà còn là biểu hiệu niềm tin của toàn dân vào Thiên Chúa Giavê, đồng thời là niềm kiêu hãnh, vinh dự của Israel, dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài. Giêrusalem trong lòng tín hữu Do Thái là giá trị thiêng liêng không thể sụp đổ, là thành quách được Thiên Chúa Giavê gìn giữ, che chở mà không thế lực nào có thể lay chuyển được, và mọi người đều chung một tâm tình cầu nguyện khi hướng về Giêrusalem  : “Lậy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái. Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi, mong tới được khuôn viên đền vàng. Cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng” (Tv 84,2-3)
Nhưng rồi Giêrsalem đã hai lần bị tàn phá, lần thứ nhất bởi Nabuchodonosor năm 587 trước công nguyên, và lần thứ hai do Titus năm 70 sau công nguyên, như lời tiên báo của Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca hôm nay : “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21,6), “nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng” (Lc 21,5).     
Qủa thực, Đền Thờ là một công trình vĩ đại và kiên cố được xây dựng lần thứ nhất thời vua Salomon thế kỷ X trước Công Nguyên, bị phá hủy, và được khởi công xây dựng lại sau thời lưu đầy năm 536, và hoàn thành năm 515 trước Chúa Giáng Sinh, được trang hoàng bằng những gì qúy báu, hiếm hoi, đắt tiền nhất được đem về hoặc dâng cúng từ khắp nơi. Vì thế khi nghe Đền Thờ sẽ bị phá hủy tan tành và công trình kiến trúc nguy nga, đồ sộ và kiên cố kia sẽ chỉ còn là đống gạch vụn, “không tảng đá nào trên tảng đá nào”, thì bất kỳ người tín hữu Do Thái nào cũng đều cảm thấy xót dạ, đau lòng khôn tả. Bên cạnh tình cảm tiếc nuối đó là niềm lo sợ và nỗi nghi nan cũng không kém làm nặng lòng.
Đền Thờ Giêrusalem là hình ảnh của cơ chế “quá khổ” của Giáo Hội mà Đức Thánh Cha Phanxicô đang cố gắng vượt qua và thoát ra, bởi cơ chế mà Giáo Hội đi tìm cho mình dọc suốt lịch sử dài lâu đã không còn là cơ chế  nhằm phục vụ, và loan báo Tin Mừng như ý muốn thưở ban đầu của Đức Giêsu ; bởi cơ chế ngày càng nặng nề, chằng chịt, rối rắm, phức tạp làm thui chột ý chí, và chất nặng hành trang Ra Khơi với Đức Giêsu của người môn đệ ; bởi cơ chế  ngày càng tạo ra nhiều căng thẳng nội bộ, khi sản sinh những bất đồng, bất công chỉ vì cơ cấu đã lấn át tinh thần đơn sơ, bé nhỏ, nghèo khó, khiêm tốn, buông bỏ của Tin Mừng ; bởi cơ chế đã làm dung mạo nhân hậu, bao dung, giầu lòng thương xót của Đức Giêsu bị lu mờ, méo mó, lệch lạc do sức lôi cuốn vũ bão của cơ chế quyền lực.
Vấn đề đang xẩy ra cho Giáo Hội hôm nay, đó là đứng trước đòi hỏi phải đơn giản hoá những phức tạp của cơ chế chằng chéo, và giảm bớt uy lực của cơ chế đang lấn át tinh thần Bát Phúc một cách đáng sợ, thì nhiều người trong Giáo Hội, kể cả những Đấng Bậc ở hàng cao cấp đã bằng mọi giá bảo vệ cơ cấu nặng nề, khép kín, tự vệ này. Từ đó đưa đến nguy cơ chia rẽ trầm trọng giữa các thành phần Dân Chúa và gây nhiều hoang mang, ảnh hưởng xấu trên đời sống đức tin của đông đảo tín hữu.
Họ là những người đã đơn sơ đồng hoá đức tin với cơ chế Giáo Hội, nên khi cơ chế thay đổi, cơ chế bị thay thế, hay khi cơ chế rạn nứt, xiêu vẹo thì không tin nữa, bởi đức tin đã bị điều kiện hoá bởi cơ chế từ lúc nào không hay ; họ là những người đã ngây thơ nghĩ rằng : cơ chế bảo vệ sự tồn tại của Đức Giêsu, cơ chế cho phép Thiên Chúa có mặt, nên khi đổi mới cơ chế, cải thiện cơ chế, hoặc hủy bỏ một hay nhiều phần của cơ chế, họ nghĩ ngay đến việc Đức Giêsu bị cắt xén, giảm thiểu và Thiên Chúa không còn cơ hội cứu độ. Điển hình là những nhóm ly khai khỏi Giáo Hội sau Công Đồng Vaticanô II, khi Công Đồng đã mạnh dạn đổi mới không chỉ đổi mới cơ chế, mà cả cách nghĩ, lối nhìn của Giáo Hội về thế giới, về con người, về các tôn giáo khác, nhất là đã khiêm tốn nhìn nhận những thiếu sót, lầm lỗi, kể cả tội của mình đã làm tổn thương nhiều người trong suốt chiều dài lịch sử.
Phản ứng của nhóm người này là bằng mọi giá bảo vệ cơ chế, không khác những người Pharisêu và Luật Sĩ trong Do Thái giáo đã nhiều lần tẩy chay, lên án Đức Giêsu khi Ngài đụng chạm đến cơ chế, lề luật. Cũng chính vì phải bảo vệ cơ chế, lề luật, trước lời kêu gọi đổi mới, cải cách, cải thiện, mà Đức Giêsu đã trở thành đối thủ số một, kẻ thù nguy hiểm mà họ phải tiêu diệt cho bằng được. Và khi say mê bảo vệ cơ chế, họ đã quên bổn phận thờ phượng Thiên Chúa, mà cơ chế chỉ là phương tiện giúp đạt mục tiêu của tôn giáo. Một cách nào đó, chúng ta có thể diễn tả chọn lựa của nhóm người này khi nói : cơ chế còn, Thiên Chúa còn ; cơ chế mất, Thiên Chúa mất.              
Nhóm thứ hai gồm những nạn nhân của cơ chế. Họ là những tín hữu chịu nhiều thiệt thòi vì những lạm dụng của cơ chế, nạn nhân đáng thương của hiểm hoạ giáo sĩ trị và chính họ là những người dễ bi đẩy đến tình trạng bất mãn, chống lại Giáo Hội, và tự ý ly khai, từ bỏ hàng ngũ tín hữu khi cơ chế không biết thắng lại những lạm dụng. Trong thực tế, con số này ngày càng đông, và Giáo Hội ngày càng gặp khó khăn trước làn sóng bỏ đạo gia tăng không ngừng, vì bất mãn với cơ chế hơn là có vấn đề với Đức Giêsu.
Do đó, thái độ bảo vệ cơ chế đến độ quá khích, cực đoan, cũng như thái độ bất mãn, muốn hủy bỏ hết cơ chế, cả hai đều đưa đến cơn cám dỗ, cũng như thách đố đức tin gay go đối với người tín hữu muốn đi theo Đức Giêsu. Họ bị cám dỗ và bị đặt trước thách đố hoặc bỏ Đức Giêsu, vì cơ chế hữu hình của Giáo Hội bị lung lay, có nguy cơ rạn nứt, sụp đổ, hoặc tách rời Đức Giêsu ra khỏi Giáo Hội, vì không còn có thể chịu đựng lâu hơn những lạm dụng của cơ chế Giáo Hội. Hậu qủa là cả hai sẽ cùng làm tổn thương Thân Thể mầu nhiệm của Đức Giêsu ; cả hai sẽ cùng phân chia Thân Thể mầu nhiệm ra nhiều phần ; cả hai sẽ cùng xé tấm áo không đường may của Đức Giêsu,  phá bỏ công trình Hiệp Nhất của Đức Giêsu và đưa đến hậu qủa hoàn toàn bất lợi cho công cuộc loan báo Tin Mừng Cứu Độ.
Nhìn vào những biến cố trong những ngày gần đây của Giáo Hội toàn cầu, chúng ta không thể không lo lắng cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, không thể không lo sợ trước những đe doạ ly khai, không thể không đặt mình trước thách đố mà không ít người tín hữu phải đối diện, đó là cám dỗ tách Đức Giêsu ra khỏi Giáo Hội, bỏ Giáo Hội và chỉ giữ lại Đức Giêsu, chống phá Giáo Hội và tiếp tục đi với Đức Giêsu.  
Như thế, cuộc tử đạo của người tín hữu của thời đại hôm nay không chỉ từ bên ngoài, từ đối phương có “căn cước” xa lạ, khác biệt, nhưng ở ngay trong lòng Giáo Hội, ngay cơ chế mà Giáo Hội cần giữ, để có mặt trong thế giới. Cuộc tử đạo ấy không kém phần cam go, vì là cuộc tử đạo âm thầm, nội tâm ; không thiếu căng thẳng, rướm máu, vì là cuộc chiến trường kỳ, liên lỷ. Trong cuộc chiến này, chứng nhân sẽ là người chấp nhận mọi đau khổ trong lòng Giáo Hội, do chính những người của Giáo Hội để giành phần thắng cho Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài trước cám dỗ loại trừ Giáo Hội ra khỏi Đức Giêsu. Chứng nhân đức tin, đức ái sẽ kiên trì ở lại với Đức Giêsu trong Giáo Hội bằng từ chối tính toán theo kiẻu con người, khi tưự  nguyện “đóng đinh tính xác thịt”, nghiã là đóng đinh những luận lý bình thường, những nhận xét bình thường, những suy nghĩ bình thường trước những bất thường, kể cả tầm thường của  những “con người cơ chế”  không bình thường trong Giáo Hội đang gây sóng gió và làm suy yếu đời sống của Giáo Hội.
Nếu để ý quan sát, chúng ta sẽ phải giật mình trước hiện tượng người trẻ không còn hào hứng, hăng say đón nhận chân lý : Đức Giêsu và Giáo Hội là một Thân Thể (Cl 1,24), vì Đức Giêsu yêu Giáo Hội như Hiền Thê và hiến mình cho Giáo Hội (Ep 5,25), chỉ vì những con người của cơ chế Giáo Hội đã không làm chứng Giáo Hội thực sự là Hiền Thê đáng yêu, và dễ thương của Đức Giêsu giầu lòng thương xót, do thái độ và những việc làm không mấy đáng yêu, không dễ thương và quá khác biệt với Đấng Phu Quân nhân hậu của mình.    
2.   Thách đố của Đức Ái trước những mâu thuẫn, chia rẽ trong Giáo Hội :
Đây là thách đố rất lớn, và hậu qủa khó lường, nếu chúng ta không tỉnh thức để tinh tế nhận ra. Trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu sau khi cảnh báo thảm cảnh “người ta sẽ ra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy” (Lc 21,12), và nhiều hiện tượng như “chiến tranh, loạn lạc, động đất, ôn dịch, đói kém nhiều nơi” (x. Lc 21,9-11) đã căn dặn hai điều đều thuộc phạm vi trong nhà, giữa anh em : “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng : “Chính ta đây », và “Thời kỳ đã đến gần ; anh em chớ có theo họ” (Lc 21,8), và “Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em” (Lc 21,16).
Như thế, tử đạo không đâu xa, mà ngay trong gia đình, gia tộc, ở giữa cộng đoàn ; tử đạo không là biến cố do bên ngoài, nhưng từ bên trong, ở sẵn trong nội bộ, nội vi, nội cấm. Và anh em trở thành kẻ bách hại và nạn nhân của nhau, bởi cơn bách hại ấy xẩy ra ngay trong nhà, vì thiếu hiệp nhất, yêu thương.  
Cơn bách hại xẩy ra ngay trong nhà, khi người này tố giác người kia là tiên tri giả, là mạo danh ngôn sứ ; hoặc làm cho những anh em khác không còn nhận ra ai giả, ai thật, mặc dù cả hai đều ở chung một nhà, chung một Giáo Hội. Chỉ đơn cử một sự việc tuy rất nhỏ, nhưng gây hậu qủa khôn lường, như giữa vị tiền nhiệm và vị kế nhiệm không nhất trí, không thống nhất, tệ hơn nữa là không hiệp nhất, khi cùng một sự việc, cùng một tình trạng, cùng một đối tượng, mà hai vị hành xử hoàn toàn khác nhau trong khoảng thời gian không xa nhau. Giáo dân chắc chắn sẽ không khỏi hoang mang, nghi ngờ khi vị tiền nhiệm thì ủng hộ, cổ võ, vị kế nhiệm thì quyết tâm phá đổ, tẩy chay.
Trong những trường hơp tương tự, ai có thể cấm người tín hữu đặt ra câu hỏi : trong hai vị, ai giả, ai thật, ai đúng, ai sai, ai hành xử vì Giáo Hội, ai ra tay vì lợi ích nhóm, hay ghen tuông, và từ đó, mầm mống chia rẽ giữa con cái trong Giáo Hội phát sinh sẽ dẫn đến tình trạng mất dần niềm tin ở những người có trách nhiệm trong Giáo Hội.
Cũng thế, khi nói đến ngôn sứ giả, người ta khó có thể mường tượng một người hoàn toàn ở ngoài Giáo Hội, hay không biết gì về Giáo Hội lại có thể lừa phỉnh, khi mạo danh làm ngôn sứ, bởi thường chỉ có kẻ đã ở trong, đã nắm bắt khá đầy đủ mới có thể “làm hàng nhái, mạo danh” để lừa bịp.
Qủa thực, tình trạng ganh ghét, đố kị, bon chen, tranh giành giữa con cái trong Giáo Hội là một sự thật mà chúng ta phải can đảm và lương thiện nhìn nhận, không phải để “vạch áo cho người xem lưng”, lên án nhau hay bôi bác Giáo Hội, nhưng để thận trọng trong tư tưởng, lời nói, việc làm sao cho đức ái phải được xếp hàng đầu trên thang giá trị, và ưu tiên bậc nhất của tiêu chuẩn chọn lựa.
Chúng ta luôn có nhiều và rất nhiều lý do để biện minh cho việc làm thiếu đức ái của mình, nào là bảo vệ sự thánh thiêng, gìn giữ truyền thống, bảo tồn giá trị, vì lợi ích chung, nhưng thực tế không thiếu những trường hợp mục tiêu này chỉ được dùng  như bình phong, chiêu bài, “bánh vẽ”, mà ở đó, điều đáng tiếc đã xẩy ra khi  ích lợi nhân bản cũng như thiêng liêng của những con người cụ thể, sống động, nhưng nhỏ bé, không thần thế  lại bị hy sinh cách tàn nhẫn, bất công.  
Tóm lại, trước làn sóng “tuyên xưng yêu mến Đức Giêsu, nhưng từ bỏ Giáo Hội” ngày càng dâng cao, lan rộng, và những mâu thuẫn, đối kháng trong nội bộ Giáo Hội ngày càng căng thẳng có nguy cơ đưa đến ly giáo một lần nữa, chúng ta có lý do để nhìn vào nhà mình, thay vì chỉ nhìn ra ngoài để tìm “kẻ thù cấm cách, kẻ dữ chống phá, kẻ ác tiêu diệt Giáo Hội”. Tuy không xưng danh, gọi tên là đối thủ của nhau, vì làm gì có  đối kháng, kình chống giữa các chi thể  của cùng một Thân Thể (1 Cr 12,12-13), nhưng không vì thế mà quên nhận diện những thiếu sót, khuyết điểm, lầm lỗi đã biến mình thành kẻ bách hại anh em mình, và biến anh em mình thành nạn nhân, người chịu chết vì đạo dưới bàn tay thiếu yêu thương của mình.
Nhận diện tình trạng cần báo động, chúng ta cũng cần hiểu rõ : sẽ không tránh được những bất công, bất chính trong Giáo Hội, vì Giáo Hội là tập thể những con người bất toàn, tội lỗi đi theo Đức Giêsu, nên sẽ có những bất đồng, bất mãn giữa những con người thuộc về Giáo Hội. Đây chính là thách đố lớn lao, bởi vì không chịu đựng được nhau, người ta sẽ bỏ nhau, và bỏ Giáo Hội ; bởi không hiệp thông, hiệp nhất được với nhau, con cái trong nhà sẽ “chia đàn xẻ nghé”, bỏ cha mẹ, gia đình, biến nhau thành đối thủ ; bởi không có bác ái, huynh đệ, tập thể nào rồi cũng phải tan hàng, rã đám ; bởi không mang lấy huy hiệu Yêu Thương là dấu chỉ duy nhất để mọi người nhận ra chúng ta là môn đệ Đức Giêsu (Ga 13,35), chúng ta dễ lệch hướng, lầm đường khi tách Giáo Hội khỏi Đức Giêsu, chiêu bài ăn khách và thời thượng.
Bị cám dỗ bởi chiêu bài ăn khách và thời thượng này, chúng ta sẽ chẳng khác những anh hùng tử đạo đã bị ép bước qua Thánh Giá, khi chúng ta trung thành, bởi từ chối Giáo Hội, nguyền rủa Giáo Hội, lên án Giáo Hội và ly khai khỏi Giáo Hội là từ chối, nguyền rủa, lên án, và tự tách mình ra khỏi Đức Giêsu ; là không chân nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, bởi chính Ngài đã khẳng định Giáo Hội là mầu nhiệm cứu độ, là Hiền Thê yêu dấu, là Thân Thể mà Ngài là Đầu.
Vì thế, tử đạo mỗi ngày trong lòng Giáo Hội bởi chính anh em mình là điều không thể tránh, khi ở giữa lằn ranh của những con người yếu đuối, tội lụy, bất xứng trong Giáo Hội và đòi hỏi phải yêu mến và phục vụ cả Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài, vì Giáo Hội và Đức Giêsu là một. Đây cũng là cảm nghiệm thiêng liêng của các thánh, và của phần đông những tâm hồn tận hiến : các vị đã trải qua không ít những những đêm tối đức tin, những trưa nắng sa mạc đức ái do chính Bề Trên và anh em mình, và sự thánh thiện của các vị đã làm vinh danh Thiên Chúa, và mang lại lợi ích cho Giáo Hội bằng đời sống xoá mình tử đạo, và kiên trì ở lại với Đức Giêsu  trong Hội Thánh là Thân Thể mầu nhiệm của Ngài.
Lậy Đức Giêsu, Đấng đã lập và chọn Giáo Hội làm Hiền Thê yêu dấu, và hiến mình vì Giáo Hội, xin cho chúng con nhận ra bổn phận “làm chứng” đầu tiên và quan trọng của người Kitô hữu là sống chết với Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài, dù không thiếu những hoàn cảnh bị hiểu lầm, bị lãng quên, chịu thiệt thòi và đau khổ do chính Mẹ Giáo Hội. Và ngay trong lòng Mẹ Giáo Hội, luôn dậy lên những cơn cám dỗ phản chứng, và thách đố làm chứng  niềm tin và tình yêu đối với Đức Giêsu và Giáo Hội. Và như Chúa biết, làm Chứng Nhân hay Tử Đạo ở thời đại mới sẽ không chỉ là chịu chém ngoài pháp trường hay bị đấu tố trước đình làng, nhưng còn là âm thầm, câm lặng tử đạo hằng ngày, làm chứng hằng giờ trong chính ngôi nhà Giáo Hội, ở giữa anh em mình Tình Yêu kiên định cho Chúa và Giáo Hội, mà không chút nghi ngờ lời hứa của Chúa năm xưa với các thánh Tông Đồ : “Trên tảng đá này, Thầy xây Giáo Hội của Thầy, và qủy hỏa nguc sẽ không làm gì nổi” (Mt 16,18).  

Jorathe Nắng Tím         

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2019

KIM CHỈ NAM HOẠT ĐỘNG CỦA MA QỦY


Ma qủy là một thực thể không thể chối cãi, và những việc làm của ma qủy trong thế giới loài người là một thực tại hiển nhiên đã được chính Đức Giêsu qủa quyết như khi nhắc nhở Simôn Phêrô phải thận trọng cảnh giác, vì “ma qủy xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31), hay với các tông đồ ở vườn Cây Dầu : “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Mc 14,38), vì việc làm chính, công tác chuyên môn của ma qủy là cám dỗ, lôi cuốn loài người nghĩ xấu, nói xấu, làm xấu để nhận về hậu qủa xấu là ghen ghét, bất hoà, thù hận, bạo lực, bất hạnh và chết chóc, không chỉ chết chóc, bất hạnh ở đây, hôm nay, đời này, mà còn bất hạnh, chết chóc đời đời, ở thế giới bên kia, sau khi rời bỏ dương thế.
Tin Mừng khẳng định ma qủy là thụ tạo đã phản nghịch Thiên Chúa là Đấng Chủ Tạo khi kiêu căng muốn bằng Ngài (x. Kh 12,7-9 ). Tuy trừng phạt các thiên thần bất trung phản loạn trong hoả ngục, nhưng Thiên Chúa không tước đọat bản tính thiên thần thiêng liêng của chúng mà Ngài đã dựng nên. Vì thế, ma qủy vẫn có khả năng hoạt động cách vô hình, thiêng liêng để chống phá Thiên Chúa bằng lôi kéo loài người từ bỏ Ngài để đi theo chúng. Và nếu Thiên Chúa là Tình Yêu, thì ma qủy gieo rắc ganh ghét, hận thù, nên nếu ở đâu có Tình Yêu, ở đó có Thiên Chúa, thì ngược lại, ở đâu có ganh ghét, hận thù, ở đó có ma qủy. Ma qủy và Thiên Chúa như ánh sáng và bóng tối, như thiên đàng và hỏa ngục, như sự sống và sự chết không thể sống chung, ở cùng, không thể chia sẻ, hợp tác, nên ở đâu có Thiên Chúa, thì ở đó không có ma qủy và ngược lại. Ma qủy còn là  gian trá, xảo quyệt, lừa lọc, quanh co, trong khi Thiên Chúa là “Đường và Sự Thật”. Ở ma qủy không có sự thật, mà chỉ toàn là bánh vẽ, hão huyền, ảo tưởng được dùng để lừa phỉnh con người đầu quân theo chúng. Ma qủy còn là bạo lực đưa đến chết chóc, trong khi Thiên Chúa là Sự Sống, là Đấng ban sự sống và gìn giữ sự sống của mọi loài. Hơn thế nữa, Thiên Chúa còn là Sự Sống Lại, khi ban cho con người được sống lại với Ngài, như Đức Giêsu đã tuyên bố ở Bêtania, khi cho Ladarô sống lại từ cõi chết : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25- 26).
Câu chuyện Cain giết em ruột mình là Aben, cuộc thảm sát đầu tiên của lịch sử loài người đã nói lên sự can thiệp mãnh liệt và dữ dội của ma qủy trong thế giới loài người sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội. Câu chuyện này cho chúng ta thấy rõ tính cách “gian dối, ganh ghét, bạo lực và chết chóc” của ma qủy : Cain bị ma qủy châm ngòi  ghen tức, “sa sầm nét mặt” với em mình, khi lễ dâng của em được Thiên Chúa nhận, còn của mình thì không (x. St 3,3-5); Cain được ma qủy hướng dẫn lập mưu lừa dối em mình, để em cùng ra ngoài đồng với mình (x. St 38) ; và “khi hai người đang ở ngoài đồng, thì Cain xông đến giết Aben, em mình” (St 3,8). Sau khi giết chết em, bị Thiên Chúa vặn hỏi : “Aben, em ngươi đâu ?”, Cain đã  cứng đầu chối : “Con không biết. Bộ con là người canh giữ em con sao ?” (St 3,9-10), và Thiên Chúa đã lật tẩy tội ác giết em của Cain : “Ngươi đã làm gì vậy ? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang lêu lên Ta ! Giờ đây, ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra” (St 3,10-11).                    
Từ bản chất ganh ghét, gian dối, bạo lực, chết chóc đó, chúng ta có thể khám phá “kim chỉ nam hoạt động của ma qủy” trong công tác gieo cỏ lùng nguy hại, xấu xa trong lòng nhân loại và làm cho nhân loại phải bất hạnh, và chết đời đời, ngược lại ý muốn cứu độ toàn thể nhân loại của Thiên Chúa, khi ban cho mọi người sự sống, tình yêu, an bình và hạnh phúc đời này, đời sau.
1.   Ma qủy áp dụng chiến thuật kín đáo rỉ rả, bí mật nhỏ to để khơi dậy lòng kiêu căng, ganh ghét :
Ma qủy là kẻ gian ngoa, dối trá, nên sợ ánh sáng, tránh đám đông. Chúng đeo mặt nạ xinh xắn, tươi đẹp, công chính để lôi cuốn, cám dỗ, nên rất sợ mặt thật bị lật tẩy, hành tung bị phát hiện, mưu đồ đen tối bị khám phá. Bóng tối, bí mật, tách rời, chia rẽ, cô lập để dụ dỗ, tấn công là ngón đòn lợi hại của chúng, nên để phá một cộng đoàn đang hiệp nhất, chúng bí mật nhỏ to với từng người để đánh thức lòng kiêu căng, rỉ rả “xa xa, gần gần” với từng thành viên để khơi dậy “cái tôi vĩ đại”, và liên tục “bỏ nhỏ” những tính hư, tật xấu của người khác để tạo mẫu thuẫn, căng thẳng, đồng thời gieo rắc nghi ngờ, đe dọa nhằm  làm ô nhiễm bầu khí cộng đoàn bằng siêu vi trùng hoang mang, sợ hãi, phòng thủ, tố cáo, phản bội.
Chúng biết cái yếu của con người là “cái tôi”, nên tập trung vinh danh “cái tôi” của người đang bị cám dỗ bằng thêu dệt công trạng, vẽ vời nhân đức, tô điểm nhân thân, lý lịch của người ấy và cùng lúc so sánh cái tôi vĩ đại, thánh thiện, hoàn hảo đang được bàn tay phù thùy của ma qủy đánh bóng  với những người chung quanh đầy khuyết điểm, tội lỗi, bất xứng, vô dụng, vì  ngoài ngón gian xảo, ganh ghét, bạo lực, ma qủy còn là tên Tố Cáo siêu hạng.
Với ngón đòn tung cao “cái tôi” của nạn nhân, ma qủy nắm chắc thành công khi chia rẽ người này với người kia, nhóm này với nhóm khác, cộng đoàn này với cộng đoàn nọ, vì chẳng ai chịu để “cái tôi” của mình, “cái chúng tôi” của phe nhóm, cộng đoàn mình thua “cái tôi, cái chúng tôi” của người khác, phe nhóm, cộng đoàn khác. Thế là tất cả tự nguyện tách xa nhau, đối kháng nhau, kịch liệt lên án và quyết tâm tiêu diệt nhau, mà không biết tất cả đã lọt lưới ma qủy và cùng đi đến bất hạnh, diệt vọng.
Evà, mẹ nguyên tổ của chúng ta cũng sập bẫy ma qủy vì đã một mình nói chuyện, tâm sự nhỏ to, rả rích với Rắn Satan. Trong tường thuật về Sa Ngã, Kinh Thánh đã khẳng định Rắn và người đàn bà đã nói chuyện riêng với nhau, mà không có mặt người đàn ông, nghiã là Evà đã để Satan gặp riêng và nhỏ to cám dỗ, mà không hề nói  với chồng là Ađam, cũng không kể lại cho chồng sự kiện gặp gỡ riêng Rắn mà chỉ “đưa cho chồng cùng ăn” khi “bà hái trái cây mà ăn” (St 3,6), nghiã là sau khi bà đã quyết định làm theo lời dụ dỗ của Rắn.
“Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng… Nó nói với người đàn bà : “Có thật Thiên Chúa bảo : ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?’ Người đàn bà nói với con rắn : Trái các cây trong vườn thì chúng tôi được ăn. Còn trái cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo : Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết”. Rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3, 1-5). Rắn cứ rỉ rả, nhỏ to, kín kín hở hở cám dỗ Evà, và cuối cùng Evà đã sập bẫy ma qủy chỉ vì muốn “cái tôi” trở thành những vị thần để biết hết mọi sự như Thiên Chúa biết. Giá như bà  đừng dấu chồng bí mật “tám” với Rắn, nhưng kể cho chồng hoặc gọi chồng đến nói chuyện công khai, thì chưa chắc Rắn Satan đã thành công … khi chia rẽ ông bà ra khỏi Thiên Chúa, như sẽ chia cách Cain ra khỏi Aben, em ruột mình.
2.   Ma qủy vẽ ra một tương lai hấp dẫn, một viễn tượng huy hoàng để thôi thúc con người phản bội :
Người ta phản bội nhau phần lớn do mơ ước một điều gì đó tốt hơn, đẹp hơn, hạnh phúc hơn những gì đang có với nhau ; phản bội nhau vì muốn tiến đến một ngày mai vượt xa hôm nay, muốn nắm bắt một tương lai không còn bình thường, tầm thường như hiện tại. Vì thế, để cám dỗ con người đi vào vùng tối phản bội, ma qủy dùng chiêu trò cho người ta ăn “bánh vẽ”, nghiã là mê hoặc, làm lu mờ tâm trí con người bằng những hình ảnh ảo, lý tưởng ảo, công trình ảo, kế hoạch ảo, đường lối ảo, và nguy hiểm nhất là đời sống thánh thiện ảo.
Như Evà và chồng đang sống trong địa đàng hiện tại, ở đó, ông bà có Thiên Chúa, và có tất cả mọi sự cho hạnh phúc tròn đầy và viên mãn của ông bà. Nhưng Rắn Satan biết Evà còn mơ một ngày mai, một địa đàng nhiều lần lớn hơn, hoành tráng, huy hoàng, diệu vợi hơn địa đàng đang có với Thiên Chúa, nên đã vẽ ra cho bà một ngày mai biết hết mọi sự mà Thiên Chúa còn giấu diếm, một viễn tượng trở thành thần thánh, một tương lai nắm giữ cả thiện, ác, lành dữ trong tay như Thiên Chúa. Ma qủy vẫn tiếp tục xử dụng ngón đòn cũ rích nhưng rất ngoạn mục và hiệu nghiệm này cho đến tận thế để cám dỗ con người phản bội Thiên Chúa và phản bội nhau : Gia đình đang ấm êm, hạnh phúc, nhưng khi bị Rắn Satan nhỏ to chuyện đổi đời, chuyện ngày mai thành đại gia, chuyện tương lai phút chốc lên hàng mệnh phụ, thì lập tức vợ chồng lục đục, rồi lạnh lùng theo thời gian từng bước đi về ly tan. Chiêu trò của ma qủy là xúi dục chúng ta bỏ hiện tại với hạnh phúc và những gì đang có như qùa tặng của Thiên Chúa để nuôi giấc mộng ảo ở tương lai, với chiêu bài phải cải tiến, phát triển… nhưng thực ra là để gây mẫu thuẫn, bất đồng, chia rẽ, đối kháng, tan hàng.     
3.   Ma qủy đe dọa, gây bất an, lo sợ và thúc đẩy đến giải pháp bạo lực :
Mục tiêu cuối cùng của ma qủy khi cám dỗ con người là làm cho con người bất an, lo sợ để phải đi đến giải pháp bạo lực dẫn đến bất hoà, chiến tranh, chết chóc. Hãy nhìn vào Evà, khi đẩy Evà lên đỉnh cao của ngày mai “sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,5), ma qủy đã gieo trong bà hoang mang, nghi ngờ và kết thúc bằng hành động xé nát hợp đồng yêu thương, ân tình với Thiên Chúa, khi “hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình” (St 3,6).
Cũng vẫn chiêu trò bạo lực, ma qủy luôn đề nghị và xúi chúng ta dùng bạo lực để giải quyết mọi vấn đề thay vì dùng tình yêu, lòng thương xót, bởi chỉ bạo lực, ma qủy mới thực hiện ráo ruốt chương trình tước đọat hết những gì con người lãnh nhận từ Thiên Chúa, như ông bà nguyên tổ đã “thấy mình trần truồng : họ mới kết lá và làm khố che thân” (St 3, 7). Ông bà trần truồng vì hành động đầy bạo lực khi kiêu căng chống lại lệnh cấm ăn trái cây ở giữa vườn của Thiên Chúa. Chính hành động bạo lực xuất phát từ kiêu căng đã đẩy ông bà đến tình trạng bị tước đọat tất cả những gì đã có trước đó. Cũng như Cain khi bị ma qủy đẩy đến quyết định bạo lực giết em, anh đã mất hết những gì đã có trước đó, nhưng bị nguyền rủa, xua đuổi như chính Cain đã than thở : “Hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con” (St 3,14).
Tóm lại, phần thưởng  cuối cùng  ma qủy dành cho những người sập bẫy cám dỗ của chúng là mất hết mọi sự đã nhận được từ Thiên Chúa, phải xa hẳn mặt Ngài, phải chui lủi, trốn tránh vì mặc cảm tội lỗi, và phải chết, như mục tiêu của ma qủy đã hoạch định từ đầu.
Trước những thủ đọan ngàn đời và mánh lới quen thuộc của ma qủy, điều chúng ta phải làm để không sập bẫy chúng là thực hiện Lời Đức Giêsu đã cảnh báo, căn dặn :
a.   Cầu Nguyện :
“Anh em hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Lc 22,40), vì cầu nguyện là bám chặt lấy Thiên Chúa là nguồn ơn phù trợ. Ngài là “Đấng mạnh mẽ trong chinh chiến” sẽ giúp ta chiến thắng ma qủy.
b.   Hy Sinh, hãm mình :
Lời cầu nguyện của chúng ta chỉ thực sự đẹp lòng Chúa, nếu kèm theo những hy sinh, hãm mình, bởi khi hy sinh, hãm mình, chúng ta tự nguyện xin được đóng đinh vào Thánh Giá với Đức Giêsu để được mật thiết kết hiệp với Ngài. Khi đó, chúng ta được sống chính sự sống của Đức Giêsu như thánh Phaolô xác quyết : “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19- 20). Có Chúa sống trong ta, ta sẽ còn sợ ai, sợ kẻ thù nào ?
c.    Thực hành đức ái anh hùng khi yêu và cầu nguyện cho cả kẻ thù :
Ma qủy là ganh ghét, thù hận, bạo lực và chết chóc. Nói cách khác, “Ở ma qủy không có chút gì yêu thương”, và những người thuộc về ma qủy mất hết khả năng yêu thương, vì không có Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu.
Vì thế, vũ khí ma qủy ngao ngán, khiếp sợ ở chúng ta chính là chúng ta yêu thương anh em mình. Khi cám dỗ, ma qủy luôn tìm cách lấy chúng ta ra khỏi tình yêu, bằng thúc đẩy chúng ta ghen ghét, đố kị, thị phi để chung quanh ta sẽ chỉ còn những kẻ thù, đối thủ. Công tác chính yếu của ma qủy là làm cho loài người ganh ghét, hận thù nhau : vợ chồng nghi ngờ nhau, cha mẹ, con cái giận hờn nhau, anh chị em tranh chấp nhau, họ hàng cắn xé nhau, láng giềng đố kỵ nhau, đồng nghiệp đấu đá nhau, đồng đạo nói xấu nhau, đồng hương bôi bác nhau, đồng bào khinh bỉ nhau, đồng chí tẩy chay nhau…
Do đó, vũ khí Đức Giêsu dậy chúng ta phải sử dụng để chiến thắng trong mọi hoàn cảnh, trước mọi cám dỗ dù nguy kịch, dữ dội đến đâu, chính là “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Đây là sức mạnh phi thường Thiên Chúa ban cho chúng ta để đánh gục ma qủy, dù con ma, thằng qủy ấy có dữ dằn, kinh dị đến cỡ nào, vì chúng không thể chịu được, cũng không thể cầm cự được, nhưng phải tháo lui, trốn chạy khi vũ khí tối tân nhất của Tình Yêu là “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho người ngược đãi mình” được trực chỉ bắn vào chúng .    
4.   Điều cần làm sau cùng là vạch trần và lột mặt nạ ma qủy bằng công khai hoá việc bí mật, làm lộ ra chuyện bí ẩn chúng đang âm mưu :
Evà đã tự ý bí mật  trao đổi và  nhỏ to kín đáo với Satan, nên mới sập bẫy, nhưng nếu bà nói ngay với chồng, tiết lộ kế hoạch của Satan với Ađam, và kể cho Thiên Chúa âm mưu đen tối xúi bà bất trung thì làm gì nên nông nỗi cho con cháu phải đọa đầy.
Vì ma qủy gian dối, nên chỉ thành công với ai thích “tiêu lòn”, đi đêm, thậm thụt giấu diếm, còn những tâm hồn trong sáng, cương nghị, thẳng thắn chỉ thích minh bạch, rõ ràng, chính nghiã, chính trực  thì chúng  ngả mũ chào thua, bởi là con cái của bóng tối, chúng không chịu nổi ánh sáng công chính của mặt trời.
Vâng, chúng ta không thể thoát khỏi rất nhiều cám dỗ đủ kiểu, đủ loại của ma qủy, vì chính Đức Giêsu cũng đã để ma qủy cám dỗ trong hoang địa (x. Mt 4,1-11). Trước những cám dỗ, thái độ khiêm nhường, không dựa vào sức mình, nhưng dựa vào ơn phù trợ của Thiên Chúa là điều cần thiết, và với tâm tình khiêm nhường của con thơ trong vòng tay ôm của cha mình là Thiên Chúa, chúng ta cầu nguyện, hy sinh, yêu mến và bình an, tin tưởng : với ơn phù trợ ở nơi danh Chúa, chúng ta sẽ chiến thắng ma qủy.
Jorathe Nắng Tím