Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

VĂN HÓA THÂN THIỆN

Đến một nơi hoàn toàn xa lạ, không quen biết ai, ngôn ngữ lại không rành, thì điều ước mơ lớn sẽ là gặp được một người có lòng tốt và thân thiện chỉ dẫn. Mới dọn đến lưu xá sinh viên năm đầu đại học, gặp được người bạn hàng xóm thân thiện để được giúp đỡ là một may mắn không dễ quên trong đời đi học. Hốt hoảng, ngơ ngác vì lạc đường, lạc nhóm giữa thành phố lớn trong chuyến du lịch nước ngoài, sẽ không gì sung sướng hơn khi gặp được người bản xứ thân thiện tận tình dẫn về khách sạn. Bị mất cắp điện thoại, giấy tờ trên đất khách quê người, sẽ không gì vui hơn được nhân viên an ninh thân thiện tìm cách giúp liên lạc với người thân.
Như thế, thân thiện là thái độ của người có lòng tốt sẵn sàng và tận tình giúp đỡ người khác khi họ cần, hoặc đoán trước nhu cầu của người khác và tự nguyện đề nghị giúp đỡ, như người nào đó thân thiện hỏi ta có cần họ giúp một tay không, khi thấy ta vất vả loay hoay với “tay xách nách mang”, đùm đề đồ đạc lỉnh kỉnh, lại đèo bồng hai con nhỏ nheo nhóc trước quầy “check -  in” ở phi trường. Thân thiện còn là thái độ vui vẻ chào thăm, hỏi han, vấn an người khác cách lịch sự, để tạo tương quan tin tưởng, và bầu khí thoải mái, vui tươi.
Người thân thiện không ngại mở đầu câu chuyện bằng lời chào niềm nở ; không ngượng ngùng nắm chặt bàn tay nói lời vấn an ; không rụt rè trao gửi nụ cười thân ái chung vui, và lúc nào cũng như muốn mở lòng, để cùng người chung quanh tạo thêm những tương quan mới, có thêm những bạn hiền mới, nối kết những tình thân mới. Người thân thiện luôn tươi tắn, dễ thương, hoà nhã, lịch sự, vì tận đáy sâu tâm hồn, họ có lòng tôn trọng tha nhân, tinh thần vị tha, bác ái, và tính năng nổ hay giúp đỡ, thích phục vụ mọi người.
Do đó, thân thiện không là thái độ bông lơi, nhẹ dạ, càng không là “tà lanh, tà lẹc”, xí xoọng, linh tinh, nhưng là đức tính cao qúy, nét đẹp nhân văn, nền văn hoá tuyệt vời làm cho các tương quan hài hoà, và đời sống xã hội an vui, hạnh phúc.
Trong xã hội văn minh, văn hoá thân thiện được coi là rất cần thiết, vì ở đó người ta đối xử với nhau lịch sự, có tình người, thể hiện qua thái độ thân thiện tôn trọng quyền lợi của nhau, qua lời ăn tiếng nói thân thiện khi trao đổi, qua cử chỉ thân thiện khi gặp gỡ, qua cách thế thân thiện khi cùng giải quyết một vấn đề, sự việc. Xã hội văn minh không cho phép con người  thô lỗ, bạo lực, dửng dưng, bất cần nhau trong sinh hoạt, nghiã là người văn minh phải là người có văn hoá thân thiện, khi loại bỏ khỏi đời sống chung những lời nói, việc làm mang tính chia rẽ, khai trừ, tẩy chay, loại bỏ. Những thái độ “phùng mang trợn mắt” như muốn “ăn tươi nuốt sống” người khác, những kiểu cách côn đồ, đe dọa, kiêu căng “xưng hùng xưng bá”, cả những phong thái lạnh nhạt, vô tâm, vô trách nhiệm đối với người chung quanh đều đi ngược nếp sống văn hoá thân thiện, và không xứng hợp với con người thân thiện.
Chính vì thế, khi phải ở trong một xã hội chậm tiến, kém phát triển, nhất là về phương diện giáo dục, thì người có văn hoá thân thiện dễ bị coi là người thiếu khôn ngoan khi chung quanh đầy những kẻ lưu manh, gian xảo, hở ra là chôm chỉa, cướp bóc ; dễ bị coi là người không cẩn trọng, khi xã hội dung dưỡng những kẻ lợi dụng lòng tốt của người khác ; dễ bị coi là ngây thơ, dại khờ trước phần đông những người mà trái tim đã hầu như vô cảm, chai đá. Và trong xã hội chậm tiến đó,  người ta coi thường những con người có tâm hồn và nếp sống thân thiện rất đáng trân qúy này.
Họ thực là những người rất đáng trân qúy, vì lối sống thân thiện của họ đem lại niềm vui cho cuộc sống, an ủi cho nhiều người, bởi một thế giới  gồm toàn những gương mặt cau có, khó chịu, lầm lì, “đâm lê”, thì hỏi niềm vui giữa người với người sẽ tìm đâu ra đất sống ? Họ thực là những người đáng trân trọng, vì có họ, gánh nặng đời sống của nhiều người sẽ bớt nặng hơn, khi được cảm thông, nâng đỡ bởi những tương giao thân thiện, những chia sẻ thân thiện. Họ thực là những người rất đáng tuyên dương, vì thái độ thân thiện phát xuất tự nhiên từ tâm hồn vị tha, nhân ái đã cho cuộc sống những bông hồng tươi thắm tình người.
Tóm lại, để trở thành người có văn hoá thân thiện, chúng ta không thể không trang bị cho mình một trái tim nhân ái, bởi không nhân ái, chúng ta không thể thân thiện được với ai, vì thân thiện chính là mở lòng ra với người khác, thân thiện là đưa bàn tay quảng đại và phục vụ ra cho người khác, thân thiện là hoà nhịp đập của trái tim với vui, buồn của người khác, thân thiện là đằm thắm chia sẻ và ân cần nâng đỡ người khác, thân thiện là quên mình để mang lại cho người khác niềm vui và hạnh phúc biết mình được quan tâm, trân trọng, yêu mến.
Vâng, được ở  khu phố có văn hoá thân thiện, được làm việc trong xí nghiệp có văn hoá thân thiện, được sống giữa xã hội có văn hoá thân thiện, cũng như được giao lưu, và ở với người có văn hoá thân thiện, chúng ta thực sự là những người may mắn hơn tất cả, bởi không gì đem đến cho ta niềm vui sống bằng tình người thân thiện, và không ai cho ta hạnh phúc sống hơn người có trái tim và lối sống thân thiện là “hoa thơm, trái ngọt” của văn minh loài người.
Jorathe Nắng Tím  

GIÁNG SINH CỦA NHỮNG NGƯỜI HÈN MỌN, BÉ NHỎ

Bêlem trong đêm Chúa giáng sinh cách đây hơn hai ngàn năm chắc chắn không như đêm giáng sinh năm nay ở Rôma, Paris, Nữu Ước, Sàigòn, … với trời đầy sao sáng, những đại lộ rộng lớn, muôn mầu rực rỡ, những cửa hàng lộng lẫy, sang trọng, và rừng người chen chúc xuống đường mừng Noel.
Qủa thực, Giáng Sinh năm xưa ở Bêlem không huy hoàng, tráng lệ như hôm nay, nhưng im lìm, lặng lẽ, không kèn đồng, trống phách, không tiếng người vui nhộn, không pháo nổ rền vang, không cây thông với thiệp mừng, quà tặng, không tiệc tùng với rượu qúy, đặc sản đắt tiền.
Giáng sinh năm ấy rất lặng lẽ với đám “người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật”. Họ được thiên thần báo tin. Họ đã sang Bêlem và đã thấy “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, cùng với bà Maria, ông Giuse, thân sinh của Hài Nhi (x. Lc 2,8-16).
Tin Mừng đã mô tả toàn thể quang cảnh đêm giáng sinh ở Bêlem, và quang cảnh ấy thật vắng vẻ, êm đềm, thanh tịnh : vắng vẻ vì chỉ vỏn vẹn một nhóm chăn chiên, với thánh gia ; êm đềm vì cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất nhẹ nhàng, chóng vánh, không huyên náo, ồn ào ; thanh tịnh vì bầu khí êm ả, trong sáng, đơn sơ, nghèo nàn. Qủa là một đêm an bình, một trời thanh bình, một cõi lòng bình an, khi Ngôi Lời đã bé nhỏ, kín đáo, âm thầm “làm người”, như không muốn đánh thức, làm phiền giấc ngủ của bất cứ tạo vật nào. Ngôi Lời “bé nhỏ” đã không đến trong cung điện nguy nga của vua Hêrođê, giữa lòng thủ đô Giêrusalem huyên náo, nhộn nhịp, nhưng chọn cánh đồng Bêlem chìm trong đêm tối, chìm trong thinh lặng, chìm trong nghèo khó, và ở giữa bóng đêm, thinh lặng, nghèo khó ấy, Thiên Chúa đã xuống thế làm người và ở giữa chúng ta.
Chọn Bêlem bé nhỏ, chọn thánh gia nghèo nàn, chọn đêm khuya thanh vắng, chọn thời điểm khó khăn, Thiên Chúa đã đi ngược suy đóan của con người, vì ai cũng nghĩ với lời loan báo “Hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, Đức Chúa” (Lc 2,11), Ngôi Lời sẽ đến trong vinh quang ngời sáng uy lực của Thiên Chúa các đạo binh, ai cũng tưởng Đấng Thiên Sai sẽ “oai phong lẫm liệt” vào đời cho xứng với danh hiệu và vinh dự Đức Chúa,  nhưng đã không có gì xẩy ra như ý nghĩ của con người, không có gì đã thực hiện như suy đoán của phàm nhân, khi ánh sáng của Thiên Chúa đã không chói sáng đến độ làm mù loà những người chăn chiên nghèo khó, cũng không quét sáng cả vùng để mọi người tỉnh giấc, vội vàng kéo nhau từng đoàn đông đảo đến Máng Cỏ Bêlem. Trái lại, ánh sáng dịu dàng của Thiên Chúa đã chỉ nói với những người chăn chiên nghèo hèn, đơn sơ, chất phác ; ánh sáng thân thiện, đằm thắm của Ngôi Hai đã chỉ trao đổi với những con người mà tâm hồn luôn sẵn sàng đón nhận ánh sáng ngay trong đêm đen, và bóng tối của cuộc sống hằng ngày ; ánh sáng tế nhị, ân cần của Đấng Cứu Thế đã chỉ chia sẻ với những con người bị xã hội khinh khi, nhưng vẫn hiền lành, nhân hậu. Và ánh sáng của Hài Nhi Giêsu đã kín đáo đến với nhân loại qua những con đuờng hiền lành, khiêm nhường, nghèo khó, để những con đường ngợp ánh đèn kiêu căng, những dẫy phố giăng kín sao danh vọng, những đại lộ chói chan ích kỷ, gian tham đã không là đường để ánh sáng nhẹ nhàng, êm dịu, khiêm cung của Thiên Chúa làm người đi qua, đến với nhân loại.         
Nhưng tại sao ánh sáng của Thiên Chúa giáng sinh lại chọn những con người nhỏ bé, nghèo hèn ?
Vì cuộc đời họ là đêm tối được tạo ra do lòng ích kỷ, tham lam của đồng loại quyền thế, nên họ khao khát được ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi, để họ không suốt đời phải tuyệt vọng trong tủi nhục, khi ánh sáng đến cho họ biết : “Chúa biểu dương sức mạnh... Người nâng mọi kẻ khiêm nhường… Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư” (Lc 1,51.52.53). Vì cuộc sống họ là bóng đêm làm nên bởi tham vọng bất chính của kẻ mạnh, nên họ mơ ước gặp được ánh sáng giải phóng, để đời họ không mãi là thân tù đầy, kiếp nô lệ, phận hẩm hiu, tăm tối, khi ánh sáng “loan báo Tin Mừng  cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (x. Lc 4,18-19). Vì kiếp người của họ chìm sâu trong bóng tối do ác độc của cơ chế quyền lực, nên họ mòn mỏi đợi trông ánh sáng cứu độ, để được giải thoát khỏi cảnh suốt đời phải khóc lóc, sầu buồn, bị “sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa”, khi ánh sáng đến mặc khải cho họ biết : Nước Trời là của họ, họ sẽ được Thiên Chúa ủi an, họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa, và phần thưởng của họ trên trời thật lớn lao (x. Mt 5, 3-12).          
Sở dĩ những người nghèo khó, cơ cùng, bé nhỏ này nhận được ánh sáng giáng sinh như các người chăn chiên ở Bêlem, vì họ khao khát, và mòn mỏi trông đợi ánh sáng của Thiên Chúa. Họ không như phần đông những người quyền thế, sang giầu đã không nhận ra “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đã đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), nhưng với trái tim đơn sơ của người khiêm nhường, nghèo khó, họ nhận ra “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, và họ “được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14).
Đàng khác, họ nhận ra ánh sáng của Thiên Chúa, nhờ họ giống Thiên Chúa ở yếu đuối, mong manh, mỏng dòn, dễ vỡ của những con người bé nhỏ, vô danh tiểu tốt, không tiếng nói, không địa vị, bị đời khinh bạc, ruồng rẫy, bỏ rơi, bởi khi xuống thế làm người, Thiên Chúa đã chọn yếu đuối của “con trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” để mặc khải cho những người nghèo hèn, nhỏ bé mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng yêu thương và chọn  người bé nhỏ là người lớn nhất trong Nước Trời (x. Mt 18,1-4).
Họ là những người quảng đại đón nhận niềm vui của ánh sáng, vì ánh sáng có chỗ trong tâm hồn nghèo khó của họ, trong khi tâm hồn những người quyền thế, ham mê của cải không còn chỗ cho ánh sáng, như thánh Gioan đã viết : “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Không đón nhận, một phần vì không có chỗ, nhưng phần lớn vì không muốn đón nhận, bởi họ thích bóng tối hơn ánh sáng, khi bóng tối đồng loã che đậy những điều gian ác họ làm.
Họ là những người được Thiên Chúa tuyển chọn để làm chứng Thiên Chúa đã làm người bé nhỏ để không người bé nhỏ, hèn mọn nào bị coi là nhỏ bé trong Nước Thiên Chúa, bởi người nhỏ nhất sẽ là người lớn nhất, bởi “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). “Làm như thế”, nghiã là “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới áo mặc, thăm viếng kẻ đau yếu, tù đầy, cho khách trú nhà, nghỉ chân” (x. Mt 25,35-36).
Sau cùng, vinh dự cao qúy Thiên Chúa dành cho người nhỏ bé, hèn mọn chính là sai họ như những người đầu tiên lên đường loan báo Tin Vui “nhân loại được cứu độ” như các mục đồng ở Bêlem “ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe” (Lc 2,20)     
Giáng Sinh về, xin Chúa Hài Đồng cho chúng ta nhận ra “mầu nhiệm yếu đuối, bé nhỏ” của Thiên Chúa và tình yêu đặc biệt Ngài dành cho những con người nhỏ bé, để biết trân trọng những gì bị coi là bé nhỏ trong cuộc sống, và yêu mến, bênh vực, nâng đỡ những người bị người đời coi thường, bạc đãi vì hèn mọn, bé nhỏ, bởi mầu nhiệm Thiên Chúa đã chỉ được mặc khải cho những người bé mọn, mà không cho bậc khôn ngoan, thông thái (x. Mt 11,25).   
Jorathe Nắng Tím                   
Noel 2019

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

LINH MỤC CỦA ĐỨC GIÊSU, MỤC TỬ NHÂN LÀNH

“Hôm nay, tôi được nghe kể chi tiết những gì bạn tôi đã sống sứ vụ linh mục cho đến ngày cuối cùng : mười năm Linh Mục ngắn ngủi, nhưng chưa bao giờ tìm gì cho bản thân. Những việc làm âm thầm  cho giáo phận mà tôi nhìn thấy chỉ là một phần, phần lớn còn lại là sống cho giáo dân. Họ rất nghèo, rất khổ. Được nghe kể chi tiết từng ngày người bạn của mình đã sống nghèo, sống khó cho giáo dân ở đó thế nào, và lý do qua đời không phải vì căn bệnh ung thư, mà ngã từ trên nóc nhà xuống đất, vì đã cùng gia đình nghèo lợp lại mái tôn, tôi lặng người thương nhớ người bạn rất đáng mến, cha Đaminh, người môn đệ của Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành”.
Người viết được đọc dòng tin nhắn cảm động trên, nên dù không quen biết vị linh mục trẻ đáng kính mới qua đời, nhưng nước mắt cứ tự nhiên ứa ra ướt mặt. Người viết khóc vì thương mến con người của người nghèo, sống chết vì người nghèo, và khóc vì niềm hạnh phúc và hãnh diện về gương sống của một linh mục trẻ, thánh thiện, chết cho giáo dân nghèo mà mình yêu, như Đức Giêsu, “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).
Thực ra, không linh mục nào không ao ước và không muốn sống trọn vẹn lý tưởng tuyệt vời của ơn gọi linh mục. Những tâm tình đạo đức của thời chủng sinh, những mơ ước thánh thiện ở đại chủng viện, những thề hứa nồng nàn, sốt sắng ngày thụ phong, những ân tình thánh tưởng không bao giờ phai nhạt, những hăng say, tận tụy, quên mình, xóa mình của những tháng đầu đời linh mục, rồi những chương trình, kế hoạch hoạt động mục vụ bất kể sức người có hạn, bất chấp nguy hiểm và liều lĩnh đến độ Bề Trên phải nhắc nhở, điều chỉnh, thắng bớt lại. Tất cả là bằng chứng hiển nhiên các linh mục đã hết lòng yêu mến và muốn hết tình, hết mình phục vụ dân Chúa.
Muốn hết tình cống hiến trong vai trò thầy dậy đức tin, muốn hết mình hoạt động để chu toàn bổn phận quản trị, muốn hết lòng với sứ vụ tiên tri, và tư tế phục vụ bàn thờ. Từng đó công việc, bấy nhiêu bổn phận cũng đã đủ tiêu hao đời linh mục như lửa làm sáp nến tiêu hao, đủ làm lao tâm, lao lực con người linh mục cũng yếu đuối, dòn mỏng, giới hạn như mọi người. Đó là chưa kể bao nhiêu khó khăn, nhiêu khê, phức tạp từ các tương quan chằng chịt, bởi linh mục là người của muôn người, người của cộng đoàn, của đám đông, quần chúng ; chưa kể rất nhiều thử thách đủ thể loại, đủ kích cỡ từ hoàn cảnh, môi trường, thời cuộc, và những thách đố nội tâm không kém cam go, gay cấn.
Vì thế, linh mục rất dễ rơi vào tình trạng căng thẳng trước phê bình, chỉ trích của đám đông, dễ xuống tinh thần khi bị quần chúng cô lập, tẩy chay, hoặc vì không theo ý họ, hoặc vì không thể theo ý ai, ngoài theo ý Chúa. Và đời linh mục mãi mãi là điểm nóng của dư luận, tâm điểm của nhận định, mục tiêu của chống đối.
Đức Giêsu biết rõ những căng thẳng không thể tránh, những hoạt cảnh thế gian gây chao đảo hồn tông đồ, nên đã ân cần căn dặn: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước… Hãy nhớ  lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em” (Ga 15, 18.20).    
Như thế, không phải tất cả mọi người thế gian sẽ xử tệ với các linh mục, nhưng luôn có những người kính trọng, yêu mến, vâng phục các vị, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Nếu họ tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em”. Nhưng họ là những người nào ?
Họ là những người nhìn thấy ở linh mục hình ảnh của Đức Giêsu “hiền lành và khiêm nhường”, hiền lành để không làm ai run rẩy, sợ hãi khi ở bên ; khiêm nhường để không ai bị tổn thương, xúc phạm khi đến gần, bởi không ít người đã bỏ nhà thờ, xa Chúa, vì linh mục đã đối xử với họ như quan lớn với thứ dân, như ông chủ với bầy tôi tớ, điều mà Đức Giêsu đặt ra với các môn đệ của Ngài như điều cấm kị : “Anh em biết, thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không đuợc như vậy : Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,25-28).
Họ là những người nhận ra ở linh mục dung mạo Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân hậu, không chấp nhất tội lỗi ai, nhưng rộng lượng, bao dung và sẵn sàng gánh hết tội trần gian, như sứ mệnh làm “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”, mà thánh Gioan Tiền Hô đã giới thiệu trước đám đông (Ga 1,29), bởi nếu qua linh mục, người của Thiên Chúa và có bổn phận giới thiệu Thiên Chúa, người ta chỉ thấy một Thiên Chúa ganh ghét, giận dữ, hung bạo, lại thêm nhỏ nhen, thù vặt, mưu đồ, thủ đọan, thích được xu nịnh, lười biếng, hưởng thụ, thì ôi thôi, sẽ không ai dám liều lĩnh tuân phục, vâng nghe và cùng với vị linh mục ấy đi gặp Đức Giêsu.
Họ là những người khao khát gặp được ở linh mục Đức Giêsu của những người nghèo, nghèo như “bà goá túng thiếu kia đã bỏ vào thùng tiền của Đền Thờ hai đồng tiền kẽm” (x. Lc 21,1-4), Đức Giêsu của những người đau yếu, tật nguyền như anh mù Batimê ở Giêrikhô (x.Mc 10,46-52) hay người bại liệt (x. Mt 9,1-8), Đức Giêsu của những người đau khổ, thất vọng, như bà mẹ thành Nain trên đường đi chôn con trai duy nhất (x. Lc 7,11-17), hay như người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang sầu thảm, lo lắng trước “đường tơ kẽ tóc” của cái chết dưới làn mưa đá (x. Ga 8 2-11), Đức Giêsu của đám đông những người bé nhỏ khao khát Nước Trời vừa được Ngài làm phép lạ nuôi ăn, sau nhiều ngày mải mê đi theo và nghe Ngài giảng (x. Mt 15,32-39), Đức Giêsu của những người tội lỗi tầy đình, bị xã hội loại bỏ khỏi sổ đời, như anh gian phi cùng bị đóng đinh với Ngài (Lc 23,39-43), Đức Giêsu của mọi hạng người bị coi là hư hỏng, bỏ đi, như “những người thu thuế và quân tội lỗi” được đồng bàn với Ngài (x. Mt 9,10-13)
Nhưng ấn tượng hơn cả là rất đông người, nếu không muốn nói là tất cả mọi người đều muốn gặp được ở linh mục “Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành” : mục tử  biết và gọi tên từng con chiên ; mục tử dắt chiên đến đồng cỏ để “chiên được sống và sống dồi dào” ; “mục tử hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (x. Ga 10, 1-15). Ba đặc tính của mục tử nhân lành là biết rõ chiên, chăn dắt, nuôi nấng chiên, và sẵn sàng hiến mạng sống để bảo vệ chiên, cho chiên được bình an, hạnh phúc.
Thực vậy, linh mục là mục tử và được sai đến như chủ chăn, nên linh mục không thể trở thành một ai khác, ngoài người chăn chiên ; không thể làm con người khác, ngoài làm mục tử ; không thể sống cuộc đời khác, ngoài cuộc đời của Đức Giêsu, Chúa Chiên lành. Chẳng thế mà người ta dễ bực bội với linh mục, khi không thấy ngài thương con chiên như Đức Giêsu thuơng, không qúy chiên như Đức Giêsu qúy, không trọng chiên như Đức Giêsu trọng, bởi trái tim của linh mục đã được dâng hiến cho Đức Giêsu, để yêu mến đoàn chiên của Ngài. Người ta nói xấu linh mục cũng vì ngài không lo cho chiên được no nê, khi hờ hững với đám chiên túng thiếu, bần cùng ; lạnh lùng xa lánh những con chiên ghẻ lở, đau ốm ; thờ ơ, dửng dưng với những con chiên thiểu năng, xấu số, và cô lập, tẩy chay, xua đuổi những con chiên ngang tàng, ngược ngạo, cá biệt. Không nhận ra linh mục giống Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành, người ta dễ nổi xùng, bất mãn, vì thất vọng, khi thấy linh mục không thiết tha gắn bó và chăm lo đoàn chiên, nhưng chỉ lo cho mình, và một số người thân cận, thuộc phe nhóm ; không nghĩ đến ngày mai của chiên, mà chỉ lo hiện tại vương giả của mình và người nhà ; không mang lấy mùi chiên, mà lúc nào cũng nực mùi nước hoa xa lạ ; không gần gũi chiên để cảm thông, chia sẻ, nâng đỡ, nên buồn vui, thành bại, đỉnh cao hay vực thẳm của chiên hoàn toàn là “ẩn số không đáp số” của linh mục.
Sở dĩ giáo dân đòi linh mục nhiều như vậy, và dễ bực bội, khó chịu như thế, vì linh mục với họ là người chăn chiên, là mục tử nhân lành, là chủ chăn nhân hậu, như Giáo Hội khẳng định khi linh mục được sai đến, bởi chẳng Giám Mục nào sai “người chăn thuê”, hay “kẻ trộm cướp” đến với đoàn chiên của mình (x. Ga 10,1.8.10.12). Do đó, trách giáo dân khó tính, không thông cảm tưởng cũng là một điều cần xem lại, khi hình ảnh họ đợi chờ ở linh mục, cũng là điều Đức Giêsu và Giáo Hội mong muốn, đòi hỏi, chính là mục tử nhân lành “yêu thuơng, chăm sóc và hy sinh cho đoàn chiên”. Cũng vì guơng mẫu mục tử qúa quan trọng và ấn tượng, nên hình ảnh thầy dậy thông thái, và nhà quản trị khôn ngoan ở linh mục không còn là điểm chói sáng, vì thực ra, đời linh mục hệ tại ở nếp sống gương mẫu hơn ở kiến thức và tài ba, chủ yếu ở gương sáng hơn nhiều lời giảng dậy, quan trọng ở gương lành hơn tổ chức cơ cấu.     
Theo gương Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành, suốt “mười năm linh mục ngắn ngủi, nhưng chưa bao giờ tìm gì cho bản thân”, vì cha Đaminh chỉ say mê, miệt mài tìm kiếm chiên lạc, chiên nghèo, chiên bệnh, chiên hoang đàng, tội lỗi, chiên bị đời ruồng rẫy, bỏ rơi và lo cho đoàn chiên có được mái nhà che nắng mưa, có được cơm sắn ngày hai bữa, có được Thiên Chúa là lẽ sống, niềm vui, có được thiên đàng ngay dưới thế khi nhận ra Đức Giêsu là “EMMANUEL – Thiên Chúa ở cùng chúng tôi”.
Vì xác tín mình là Linh Mục, tức mục tử được Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành sai đến, cha Đaminh đã tận hiến những gì mình “có”, mình “là” cho đoàn chiên nghèo, khao khát Tin Mừng, và tự nguyện “sống nghèo, sống khó cho giáo dân”, với đoàn chiên, để thực sự trở nên “Tất cả cho mọi người  - Omnia omnibus”. Cha đã không nói nhiều, dậy dỗ dài dòng bằng lời nói suông, nhưng làm chứng bằng chính đời sống của mục tử nhân lành : biết rõ và gọi tên từng con chiên ; trân trọng và yêu mến đoàn chiên ; săn sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ, gìn giữ đoàn chiên khỏi nanh vuốt của sói dữ, mưu mô của trộm cướp và kẻ chăn thuê. Gương sáng đã làm chứng cha được sai đến từ Thiên Chúa ; gương lành đã làm chứng cha đến để “chiên được sống và sống dồi dào”, để chiên được hưởng niềm vui ơn Cứu Độ, vì cha là mục tử nhân hậu : không khinh khi, nóng gắt, chửi rủa, hành hạ, làm khó chiên ; gương hy sinh đã làm chứng cha là mục tử sống chết cho đoàn chiên, vì bất cứ lúc nào, cha cũng “sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đoàn chiên” ; gương từ bỏ tất cả danh, lợi, thú, cả những “tiện nghi tối thiểu được phép” đã làm chứng cha tự nguyện buông bỏ tất cả vì hạnh phúc của đoàn chiên. 
Qủa thực, không sống đời chứng nhân, không làm chứng Thiên Chúa là tình yêu thương xót, không muốn noi gương Mục Tử nhân lành là Đức Giêsu, không mang trái tim sục sôi tình yêu dành cho đoàn chiên, cha Đaminh không thể đến từng nhà, thăm từng người, lắng nghe từng tâm sự não lòng, thương đau của đoàn chiên nghèo, nhà ở không đủ che nắng mưa, cơm sắn không đủ no từng bữa. Cũng thế, nếu không được thúc bách mãnh liệt bởi tình yêu Đức Kitô, Mục Tử nhân lành, cha Đaminh không thể quên mình đến độ chẳng tìm gì cho mình, cũng chẳng vun vén, thu gom của cải, kết bạn với đại gia để phòng khi ốm đau, già yếu có tiền, có người giúp đỡ, phục dịch. 
Chắc chắn khi cùng đám chiên nghèo đến làm nhà cho  gia đình con chiên nào đó, cha đã muốn làm chứng Mục Tử nhân lành phải mang lấy mùi chiên, và không muốn mang mùi nào khác, đồng thời làm gương cho đoàn chiên tình bác ái, tương trợ bằng dấn thân phục vụ như đầy tớ của anh em mình, khi đích thân leo lên mái nhà. Tất nhiên khi nghe tin cha chết, vì té từ mái nhà cao, đang khi lợp tôn cho một gia đình nghèo trong xứ đạo, có người sẽ cho rằng cha lo chuyện bao đồng, cha làm công việc không dành cho linh mục, cha năng nổ thái qúa, cha liều lĩnh, thiếu khôn ngoan, cha thế này thế nọ. Trong số những người lớn tiếng hay thì thầm phê phán đó, chỉ một số ít là lương thiện, số đông còn lại phê bình cha cốt để biện minh cho đời sống “không làm chứng” của họ, hơn là thật tình thương tiếc cha. 
Như Đức Giêsu đã phải hoàn toàn xóa mình, từ bỏ tất cả để có thể hiến mạng sống cho người mình yêu, khi chịu treo trên Thánh Giá, dù bị mọi người chê bai, thách thức : “Nếu đã cứu được người khác, thì tự cứu lấy mình đi”, “Nếu ông là Vua dân Do Thái, là Đấng Kitô của Thiên Chúa”, tại sao không tự cứu mình ? (x.Lc 23,35-38), cha Đaminh cũng đã phải từ bỏ chính mình, buông bỏ tất cả, kẻ cả những “lời ra tiếng vào” của bạn hữu suốt cuộc đời làm nhân chứng, để có thể trở thành Của Lễ dâng Thiên Chúa, cho hạnh phúc được cứu độ của đoàn chiên cha chăn dắt, khi leo lên mái nhà để yêu thương, phục vụ, và từ đó ngã xuống mất mạng.             
Vâng, Thiên Chúa cần chứng nhân để sai đi, con người tìm chứng nhân để gặp Chúa, thế giới khao khát chứng nhân để vững dạ an lòng, vì chứng nhân thì đánh động, và gương sáng thì ghi khắc, ấn tượng. Nhưng tiếc thay, càng ngày chứng nhân càng hiếm hoi, khó gặp, vì phải làm chứng ngược dòng thời đại, làm chứng những giá trị mà thế giới không còn quen thuộc, ưa chuộng ; làm chứng những chân lý mà người đời không còn cho là cần thiết, có lợi ; làm chứng nhnữg sự thật mà đám đông cố tình nhắm mắt, bịt tai, để đường danh vọng, tiền bạc, bạo lực của họ không bị tắc nghẽn, cản trở.  
Nhưng dù hiếm hoi, khó tìm, Thiên Chúa vẫn tiếp tục đổi mới, và cứu thế giới nhờ những chứng nhân chấp nhận vất vả, khó nhọc, hy sinh, liều lĩnh, như cha Đaminh, một trong những linh mục là nhân chứng sống động bằng xương bằng thịt của Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành, những linh mục đã và đang âm thầm làm chứng từng giây từng phút, bằng sẵn sàng sống và chết cho đoàn chiên mình yêu thương.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

LỄ CHÚA HIỂN LINH

CHIẾN TRANH CÁC VÌ SAO
Giữa các cuộc chiến  hôm nay, thì chiến tranh giữa các vì sao là cuộc chiến thường xuyên, gay cấn và kinh khủng, mà ai cũng thấy được, nghe được dễ dàng, bởi sao từ nay không chỉ ở  bầu trời, xuất hiện về đêm, nhưng sao là người, người biến thành sao, vì ai cũng cho mình là sao, ai cũng muốn trở thành sao, ai cũng tìm cách chiếm lĩnh vị trí  sao, nên “sao”, và “siêu sao” tràn ngập, đông đảo đến độ nhân mãn, bão hoà, lạm phát làm hoa mắt thiên hạ, bộn bề, ngăn trở đời sống nhân gian.
Vì tràn ngập, lấn chiếm khắp nơi, nên trong đạo ngoài đời, đâu đâu cũng thấy các vì sao ngăm nghe rình rập, phục kích quậy phá, tiêu diệt nhau. Và không lúc nào, xã hội được yên ổn vì hận thù, ganh ghét, đấu đá vì tranh giành chỗ đứng, đất làm ăn, lượng “fan” cuồng, vùng tỏa sáng ảnh hưởng, thế lực giữa các sao, và không ở đâu, người ta được an bình vì cuộc chiến quyết tử của các vì sao không ngừng diễn ra dữ dội, ác liệt này. Thậm chí ngay trong đêm Giáng Sinh, “Ngôi Sao lạ” dẫn đường cho các đạo sĩ từ phương Đông đến Bêlem cũng không thoát khỏi số phận bị rơi vào tầm ngắm của siêu sao Hêrôđê và các sao thượng tế, kinh sư ở Giêrusalem.
Tin Mừng Mátthêu kể : “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrođê trị vì, có mấy nhà chiêm tình từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi : Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đên bái lậy Người. Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao” (Mt 2,1-3).
Qủa thực, các nhà chiêm tinh từ phương xa đã thấy ngôi sao lạ và vì sao đã dẫn đường cho họ đến Giêrusalem, trong khi vua Hêrôđê trị vì ngay tại Giêrusalem lại chẳng thấy gì. Vua đã không thấy sao lạ, vì vua tin rằng ngoài vua là vì sao vĩ đại đang chói sáng, sẽ chẳng có vì sao nào sáng hơn “Sao Vua” trên bầu trời nhân loại ; vua đã không nhìn thấy ngôi sao của Thiên Chúa, ngay trên đầu vua, vì mắt vua chỉ nhìn thấy mình, chỉ chiêm ngưỡng mình, chỉ trầm trồ ca ngợi mình và bắt thần dân chúc tụng mình như một siêu sao ; vua đã không nhận ra ngôi sao của Đấng Cứu Thế, “vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen”, vì kiêu căng cho mình là duy nhất, không thể thay thế, không bao giờ mất ngôi, hay bị truất phế, nhưng bất khả xâm phạm và vĩnh cửu bền vững ; vua không thấy gì ngoài thấy mình như một vì sao  chói loà, nên sao nào cũng phải lu mờ, yếu ớt trước hào quang huy hoàng của vua. Và vì kiêu ngạo, nên vua không còn thói quen nhìn ra xa ; vì ngạo mạn, nên vua mất khả năng nhìn lên cao ; vì tự mãn, nên thị lực bị giới hạn, vua không còn nhìn thấy người khác ; vì quên mình là thụ tạo, nên vua không còn nhận ra Thiên Chúa qua kỳ công của Ngài, và vua Hêrôđê đã rơi vào tình trạng bối rối, lo âu, sợ hãi khi nghe tin có ngôi sao lạ xuất hiện dẫn đường cho ba đạo sĩ từ phương xa đến tìm Đức Vua dân Do Thái vừa hạ sinh ngay trên lãnh thổ của mình.
Trong cơn hoảng hốt, tức giận, siêu sao Hêrôđê đã xử dụng thủ đọan, và nhiều chiêu độc để khẩn trương truy diệt Ngôi Sao lạ là Đấng Cứu Thế vừa hạ sinh :
1.   Siêu tra lý lịch, nguồn gốc Sao đối thủ:
Công việc đầu tiên để đánh gục đối phương, bắn hạ “sao đối thủ” là điều nghiên lý lịch, thẩm tra nhân thân, nhận diện nhân dạng, nghiên cứu nơi ăn chốn ở, quan sát “đường đi nước bước”, thời gian sinh hoạt. Trong công tác siêu tra nguồn gốc này, một công việc khác, không kém quan trọng, đó là moi móc, tìm tòi  những sai trái, thiếu sót, khuyết điểm của đối phương ; ra sức “bới lông tìm vết”, cầy xới qúa khứ của đương sự, và của gia đình, dòng tộc đương sự, hầu củng cố hồ sơ tố giác, và nâng cao tính khả tín của cáo trạng tố gian, vu khống.
Siêu sao Hêrôđê đã thực hiện đúng quy trình, bằng “triệu tập tất cả thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu” (Mt 2,4). Đó là bước thứ nhất của âm mưu bắn rớt Ngôi Sao Đấng Cứu Thế của siêu sao Hêrôđê. 
2.   Bầy mưu, lập kế : Ném đá giấu tay.
Lúc đầu, Hêrôđê không muốn ra mặt ngay, vì chưa biết Đấng Cứu Thế là ai, ăn ở ra sao, hoạt động thế nào, lại không muốn dân đánh giá thấp mình, nhất là ông sợ  phản ứng vội sẽ hớ, có thể gây hậu qủa bất lợi cho ngai vàng, nên chọn “ném đá giấu tay”, bằng bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng : “Xin qúy ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy xin báo lại cho tôi, để tôi cùng đến bái lậy Ngài” (Mt 2,7-8).       
Trong thâm tâm, vua Hêrôđê đã chuẩn bị sẵn một kế hoạch, đó là nắm vững tình hình Đấng Cứu Thế qua ba đạo sĩ, rồi kín đáo cho người tiêu diệt Ngài. Làm như thế, vua sẽ không mang tiếng giết Đấng Cứu Thế, cũng không phải mất công giải thích, giải trình gì với dân, bởi cho người “giết nguội” Đấng Cứu Thế, sau khi có thông tin, thì chẳng còn vấn đề gì phải lấn cấn, nghĩ ngợi, và ngai vàng của vua sẽ mãi bền vững, khi không còn “Sao đối thủ”.
3.   Sử dụng bạo lực để càn quét, truy diệt tận gốc :
Không thực hiện được thủ đọan “ném đá giấu tay” : giết Hài Nhi mà không ai hay biết, sau khi lấy thông tin về Hài Nhi từ ba đạo sĩ, nhưng vì sứ thần Chúa đã báo mộng cho ba vị lấy đường khác trở về, mà không trở lại Giêrusalem gặp Hêrôđê, như lời vua dặn (x.Mt 2,12), nên vua Hêrôđê đã “đùng đùng nổi giận, sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh” (Mt 2,16-17).
Sử dụng bạo lực là công đọan phải đến của chiến tranh. Trong bất cứ cuộc chiến nào, cũng có ít nhất một bên gây chiến, vì lý do nào đó, đa phần vì quyền lợi. Ở đây, siêu sao Hêrôđê là người gây chiến do tham vọng bảo toàn ngai báu, và nỗi sợ bị lật đổ, truất phế, chiếm ngôi. Sự xuất hiện của Ngôi Sao lạ, mà các thượng tế, kinh sư cho vua biết đã được ghi trong sách ngôn sứ (x. Mt 2,6) đã không chỉ làm vua căm tức, mà còn cực kỳ làm hốt hoảng, lo sợ. Chính trong cơn hoảng loạn của kẻ tham vọng, gian ác, Hêrôđê đã nhẫn tâm ra lệnh giết tất cả các con trẻ vô tội “ở Bêlem và toàn vùng lân cận”.
Thật không tội ác nào ác hơn tội ác giết trẻ em thơ ngây, vô tội. Chúng không hề liên can đến chuyện người lớn, cũng chẳng dính dáng đến chuyện đấu đá tranh quyền, giành ngôi  giữa các vì sao. Thế mà chúng bị chết oan, sự sống của chúng bị chiếm đọat một cách quá dễ dàng, bất công, và chỉ để thoả mãn cơn tức giận, ngông cuồng và tham vọng bất chính của một con người cho mình là siêu sao.
Giáng Sinh về, cứ tưởng có hoà bình giữa Đất Trời, bình an giữa Thiên Chúa và loài người. Nào ngờ, ngay khi vừa giáng sinh làm người, Vì Sao của Ngôi Lời Thiên Chúa đã lập tức bị các vì sao trần gian, các ngôi sao phàm tục tìm cách chống phá, tiêu diệt, điển hình là siêu sao Hêrôđê đã tiên phong ra tay triệt hạ.
Thực ra chuyện ấy đâu có gì mới lạ, bởi ngay từ bình minh của lịch sử nhân loại, Ngôi Sao Thiên Chúa đã bị kịch liệt đả kích, tấn công, bởi Thiên Chúa là ngôi sao Sự Thật, mà ma qủy là Gian dối, Xảo trá, nên chúng phải vùng lên chống lại ; bởi Thiên Chúa là vì sao Yêu Thương, mà ma qủy là Ganh Ghét, Hận Thù, nên chúng phải điên cuồng tìm cách tiêu diệt ; bởi Thiên Chúa là ngôi sao Nguồn Sống, An Bình, mà ma qủy là Bạo Lực, Chết Chóc, nên chúng phải căm phẫn dùng thủ đoạn đốn hạ ; bởi Thiên Chúa là Ánh Sao hiền lành, khiêm nhường, mà ma qủy là đứa kiêu căng, hung dữ, nên chúng không ngừng lồng lộn lập mưu triệt hạ.
Là con cái của Ánh Sáng, chúng ta cần cảnh giác “mưu ma chước qủy”. Chúng có thể  không đủ sức xúi chúng ta làm Siêu Sao gian ác như Hêrôđê, nhưng dư sức khiến chúng ta quên mình chỉ là đầy tớ vô dụng và nhiều giới hạn của Thiên Chúa, để gieo vào chúng ta tham vọng trở thành Sao trong khi phục vụ ; ảo tưởng là Siêu Sao đang khi rao giảng Tin Mừng ; tìm cách xây dựng, mở rộng mạng lưới tương quan “Siêu Sao - fan cuồng” trong khi loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh. Ma qủy có thể bất lực để lôi kéo chúng ta chống lại Thiên Chúa, nhưng đủ sức dậy chúng ta biết lợi dụng danh Chúa để tạo  cho mình hào quang của Sao ; biết dựa vào Giáo Hội của Chúa để  xây dựng cho mình vị thế Sao ; biết luồn lách giữa lòng dân Chúa để tạo cho mình một hình ảnh Sao trên cả tuyệt vời. Và đến lúc thuận tiện, khi thời cơ cho phép, ma qủy sẽ không ngần ngại suy tôn chúng ta là Siêu Sao ngang hàng với Thiên Chúa, như chúng đã suy tôn Luxiphe, lãnh tụ, Siêu Sao bất trung, phản nghịch của chúng, khi kiêu căng làm loạn chống lại Thiên Chúa.
Ước mong Sao Giáng Sinh chiếu sáng tâm hồn mỗi người chúng ta tình yêu dịu ngọt của “Hài Nhi bé nhỏ, bọc tã, nằm trong máng cỏ”, là tình yêu khiêm hạ, hiền lành, đôn hậu của Ngôi Lời nhập thể muốn được ở với con người, vì yêu con người vô cùng và đến cùng.
Jorathe Nắng Tím   
    

ĐƯỢC HOÀ GIẢI VÀ ĐỔI MỚI TRONG THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI

Hình ảnh đổi mới để đón Đấng Cứu Thế đã được Tin Mừng Luca cực tả với lời chép từ sách ngôn sứ Isaia : “Có tiếng người hô trong hoang địa : hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lối lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3,4-6). Hình ảnh ấy được thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại khai triển cụ thể và sống động trong thư gửi giáo đoàn Êphêxô : “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công bình và thánh thiện” (Ep 4,22-24).     
Như thế, đợi chờ của Thiên Chúa và cũng là đòi hỏi của Ngài ở con người, khi Ngài đến trong thế giới, chính là mỗi người phải đổi mới để trở nên thụ tạo mới trong Đức Giêsu Kitô, nên niềm vui của lễ Giáng Sinh không chỉ là mừng Thiên Chúa xuống thế làm người, nhưng còn là mừng con người được tái sinh, được thanh tẩy, biến đổi, và được trở nên mới trong Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, như thánh Phaolô  khẳng định : “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thụ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hoà giải với Người… Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người” (2Cr 5,17-19).  
Và niềm vui Giáng Sinh chính là con người được hoà giải với Thiên Chúa trong Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể. Được hoà giải với Thiên Chúa nghiã là được “trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12), “được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (Ga 3,3), “được mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá” (Cl 3,10), được trở nên Đền Thờ của Chúa Thánh Thần (x. 1 Cr 6,19), được là “phần thân thể của Đức Kitô” (x. 1Cr 6,15), khi được sống chính sự sống của Đức Kitô : “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi”  (x.Gl 2,20).  
1.   Được hòa giải với Thiên Chúa :
Sở dĩ con người tội lỗi được hoà giải với Thiên Chúa, vì chính Thiên Chúa giầu lòng thương xót đã muốn con người được cứu sống, và chính Ngài tự nguyện đến làm của lễ xoá tội nhân loại. Nói cách khác, không phải con người tự mình thực hiện việc hoà giải, nhưng chính Thiên Chúa đã tự hạ mình hoà giải với con người, chỉ vì thương xót con người, như thánh Phaolô đã viết : “Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa” (Ep 5,2), để chuộc tội nhân loại, và hoà giải con người với Thiên Chúa. Ngài là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1,29), là “mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15), là Đấng “đã phải trả giá đắt mà chuộc lấy anh em” (1 Cr 6,20).
2.   Trở thành tạo vật mới :
Khi được hoà giải với Thiên Chúa, chúng ta “nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết…, và được sống như Người đã sống lại. Chúng ta biết rằng : con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị hủy diệt, để chúng ta không còn là nô lệ cho tội lỗi nữa” (x.Rm 6, 5-7), nhưng “được đổi mới theo hình ảnh Thiên Chúa” (Cl 3,10), như thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu giáo đoàn Côlôxê : “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, thánh hiến và yêu thương”, nên “hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau.. Và trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo.” (Cl 3,12-15).                
Tóm lại, ý nghiã quan trọng nhất của Giáng Sinh, chính là chúng ta được hoà giải với Thiên Chúa trong Đức Giêsu và nhờ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, và cũng “nhờ và trong” Đức Giêsu, chúng ta được trở nên tạo vật mới.
Nhưng để được hoà giải và trở nên tạo vật mới, Thiên Chúa đòi chúng ta phải tin ở Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa : tin Ngài thương ta, tin Ngài cứu độ ta, bởi không tin Ngài là Đấng Cứu Độ, chúng ta không thể ở trong Ngài và nhờ Ngài để được hoà giải với Thiên Chúa Cha. Bên cạnh đó, chúng ta được mời gọi giã từ con người cũ, nghiã là đọan tuyệt với quá khứ tội lỗi để có thể đón nhận ơn Cứu Độ bằng mặc lấy con người mới. Ở đây, chúng ta ghi nhận một số khó khăn thường gặp trên hành trình Đổi Mới chính mình.
a.   Khó trút bỏ gánh nặng qúa khứ :
Không phải gánh nặng nào cũng dễ trút bỏ, bởi có những gánh nặng quá khứ rất đáng bỏ, cần bỏ, nhưng không dễ bỏ như gánh nặng của tình yêu đổ vỡ, gánh nặng của thất bại nghề nghiệp, gánh nặng của lầm lỡ, tội lụy, gánh nặng của ân oán, hận thù, cả những gánh nặng của uy tín bị dập vùi, danh dự bị chà đạp.
Vì khó bỏ, nên người ta khó tha thứ những yếu đuối, dại khờ, thiếu sót của mình, lại càng khó quên khuyết điểm, sai phạm, lỗi lầm của người khác. Những gánh nặng qúa khứ không được trút bỏ sẽ như những cối đá ngày đêm đè sâu, nhận chìm con người xuống vực thẳm mặc cảm đủ thể loại, và trói  chặt con người trong bất hạnh không lối thoát, để công trình hoà giải với Thiên Chúa và với tha nhân, cũng như đòi hỏi phải đổi mới bản thân trở nên bất khả thi, khi qúa khứ cứ đeo bám  như gông cùm, xiềng xích, không cho con người được hưởng bình an của hoà giải và hạnh phúc của thụ tạo mới với hình ảnh của Đấng Tạo Hoá. 
Do đó, biết và dám trút bỏ những gánh nặng qúa khứ là điều kiện cần thiết để sống ơn hoà giải và đổi mới trong Đức Giêsu, khi tin vào lòng thương xót, bao dung, nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng tha thứ tất cả lỗi lầm, tội lụy của những ai tín thác ở Ngài. Bởi không trút bỏ gánh nặng quá khứ, chúng ta vẫn không tín thác trăm phần trăm vào lòng tốt và giá trị tuyệt đối của ơn Cứu Độ, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm : “Đức Chúa phán như sau : Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thưở trước” (Is 43,18).
b.   Khó quên những vết thương lòng :
Người ta thích khơi lại chuyện cũ đau buồn, và khoét sâu vết thương lòng ngày trước, ngay cả vết thương đã khép miệng, hoặc lâu ngày thành sẹo, mặc dù  khơi lại chỉ  thêm buồn, và khoét sâu sẽ não nề hơn. Người có khuynh hướng đào khoét vết thương qúa khứ thường bị thúc đẩy bởi khao khát thầm kín thích được mọi người  chú ý, quan tâm, khi cho nỗi đau  quá khứ của mình là kỳ công, và trầm trọng vết thương lòng mà họ coi như không bao giờ có thể liền da, rịn máu, để rồi hiện tại đang sống chỉ còn là xót xa, đắng đót, căm phẫn, uất hận, tổn thương, bất mãn, than trách, thiệt thòi. Không vượt qua được những vết thương quá khứ, không quên được những tổn thất của tâm hồn, người ta sẽ bị kẹt vào một tình huống tiêu cực dễ dẫn đến kiêu căng và thù hận : kiêu căng vì đặt cái tôi ở vị trí quan trọng mà mọi nguời phải quan tâm, và thù hận vì lòng luôn nặng trĩu với ân oán trả vay.
Vì thế, để được hoà giải và đổi mới trong và nhờ Đức Giêsu, chúng ta không thể để lòng bị choáng ngộp bởi những gánh nặng ân oán, thất bại, tội lỗi của qúa khứ, bởi Thiên Chúa cần chỗ trống trong trái tim chúng ta để cư ngụ, và tâm hồn chúng ta cần chỗ rộng để đón nhận ơn sủng của Ngài ; cần đoạn tuyệt quá khứ, để  hiện tại đón nhận ơn hoà giải, đổi mới ; cần hôm qua yếu đuối, tội lỗi được xếp lại, để hôm nay được trải ra trước lòng thương xót, bao dung của Thiên Chúa ; cần tháng ngày qua bất xứng, bất toàn được lui vào quên lãng, để chỉ còn thấy tình thương của Cha nhân hậu trên đường về hôm nay của con. Và chỉ khi nào qúa khứ tự nguyện khép lại, hiện tại mới  trở thành quà tặng hoàn hảo của ân sủng ; chỉ khi nào hôm qua không lấn sân hôm nay, hiện tại mới  được tình yêu làm tròn đầy, và có chỗ cho tương quan thiết thực giữa Thiên Chúa và tâm hồn, nhất là mới thực sự đi vào Hoà Giải với chính mình, với tha nhân và với Thiên Chúa, khi tất cả được đổi mới trong Đức Giêsu, nhờ giá máu Cứu Chuộc của Ngài. 
Giáng Sinh về với hiện tại được chúc phúc, một hiện tại cứu độ, ở đó, Thiên Chúa muốn chúng ta sống trọn vẹn và đầy đủ từng phút giây, mà không tiếc nuối qúa khứ đã huy hoàng, hoành tráng hơn hiện tại, cũng không đay nghiến, nguyền rủa qúa khứ chất chồng tội lỗi, ngổn ngang thất bại, càng không lười biếng, bi quan ở lì trong qúa khứ, như điểm đến sau cùng. Với mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, hiện tại là thời điểm Thiên Chúa đến, thời gian Chúa cứu độ, cũng là cơ hội qúy giá chúng ta được hoà giải với Thiên Chúa, với anh em và chính mình. Nhờ đó, chúng ta được trở nên thụ tạo mới trong Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ loài người.
Trước máng cỏ có Hài Nhi Giêsu, chúng ta cùng xin ơn can đảm để đọan tuyệt với quá khứ tội lỗi, và quên đi qúa khứ tội lỗi ấy, vì tin ở lòng thương xót, bao dung, nhân hậu của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, bởi không đọan tuyệt và quên đi qúa khứ  của con người cũ, chúng ta khó có thể hưởng ơn Hoà Giải và Đổi Mới của Đấng đến trong thế giới để hoà giải nhân loại với Thiên Chúa, hoà giải nhân loại với nhau, và đổi mới tâm hồn mỗi người, cũng như toàn thể địa cầu.
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 3/12

Ngày “Thế Giới Người Khuyết Tật” năm nay, người viết muốn được chia sẻ với Bạn về thái độ của những người bình thường, khỏe mạnh trước những anh chị em không may mắn vì khuyết tật. Đây cũng là dịp nhìn lại chính mình, với những sai sót đã làm tổn thương không ít những anh chị em thiếu may mắn, qua thái độ thiếu trân trọng, không cảm thông và cái nhìn đôi khi diễu cợt, coi thường.
Không biết từ đâu và do nguyên nhân nào, một số không ít người trong đời thường có cái nhìn không mấy khác nhau về người khuyết tật : người khuyết tật bị nhìn như một thành phần thấp kém, một đám người xấu số, có khi như những người đã gây nhiều tội ác và đang phải đền trả. Chẳng thế mà đối với người khuyết tật, người ta dễ có thái độ khinh bỉ, xa lánh, ngao ngán, bực bội và thi thoảng mới chút ít thương hại, tội nghiệp. Xa lánh, khinh bỉ vì cho rằng  khuyết tật là do đã gây  nghiệp ác đâu đó ; ngao ngán, bực bội vì khuyết tật không có ích cho ai, nhưng suốt đời là gánh nặng của gia đình, xã hội ; riêng người có lòng tốt thì chép miệng thương hại, tội nghiệp khi nghĩ khuyết tật như thân phận hẩm hiu, số kiếp bị đọa đầy.
Não trạng tiêu cực về người khuyết tật trên đã đưa đến thái độ thiếu tôn trọng, cảm thông đã đành ; não trạng ấy còn làm cho cái nhìn của người khỏe mạnh, bình thường dễ trở nên tàn ác, phi nhân, làm tổn thương trầm trọng người khuyết tật. Viết điều này, bạn đọc có thể trách người viết đã “vơ đũa cả nắm”, khi bỏ quên những trái tim nhân ái suốt đời cống hiến cho hạnh phúc của người khuyết tật.
Đúng, bạn có lý, vì có thật những trái tim nhân ái trong những con người bằng xương bằng thịt ngày đêm tận tụy, hy sinh, quên mình trong các bệnh viện, trung tâm khuyết tật ; những tình yêu trên cả tuyệt vời đã được dâng hiến trọn vẹn cho anh chị em tật nguyền, bất hạnh ; những tâm hồn cao thượng dám nhìn thấy “Mầu Nhiệm con người” ở người anh em, chị em bại liệt, nằm ngồi xe lăn, ú ớ nửa tỉnh nửa mê, quờ quạng nửa sống nửa chết ; những tấm lòng quảng đại ngời sáng không ngại nhận làm người thân của mình người anh em khuyết tật, mà giá trị và ý nghiã đích thực của những bất hạnh trên thân xác của cuộc sống hôm nay sẽ chỉ có thể nắm bắt được ở một thế giới vĩnh hằng nào đó, phía sau thế giới này.
Nhưng khi viết lên nỗi đau của người khoẻ mạnh, bình thường gây ra cho đồng loại khuyết tật vì não trạng, và qua thái độ tiêu cực, người viết muốn nhìn thẳng vào nguy cơ của một ngày mai không còn mấy người cảm thông, yêu mến, tôn trọng và dám hy sinh phục vụ người khuyết tật, khi hôm nay, trong xã hội cực kỳ thực dụng và ích kỷ này, trẻ em trên đường đến trường không còn biết kính trọng người khuyết tật, nhưng sẵn sàng xô lấn, làm té người què cụt để dành lối đi ; ở đèn xanh đẻn đỏ, không còn người trẻ dám đưa tay dắt cụ già mù loà qua đường vì thẹn thùng, mắc cở với bạn bè ; trên xe buýt, người trẻ cũng đã đánh mất khả năng đứng dậy nhường chỗ cho người già tàn tật, người mẹ ẵm em bé bại não ; ngoài đường phố, một đám thiếu nhi vô tâm đang nhởn nhơ trêu ghẹo, chọc phá em bé tàn tật ngồi xe lăn. Đó là chưa kể những diễu cợt, khôi hài độc ác, dã man lấy đề tài từ tật nguyền khốn khổ, từ hình hài dị dạng của người khuyết tật đang co quắp, ngơ ngác, đờ đẫn rất đáng thương trước mặt đám trẻ không được giáo dục. Và ngay trong gia đình, người khuyết tật cũng thường xuyên bị anh chị em coi thường, bỏ quên, giấu diếm, vì sự có mặt, hay xuất hiện của “thành viên xấu số” này chỉ tăng thêm phần xỉ nhục cho người nhà trước bạn bè, bà con, khách khứa.       
Nếu não trạng xem người khuyết tật là người đáng bỏ đi, như nhà độc tài phát xít Hitler đã tìm cách tiêu diệt “sạch sẽ” những người khuyết tật để làm nhẹ gánh nặng của Đức Quốc Xã, nếu tuổi trẻ hôm nay trên quê hương chúng ta mất dần khả năng tôn trọng người khuyết tật, khi không còn coi họ là những con người có đầy đủ giá trị và quyền làm người như bất cứ con người nào nữa, thì tương lai của những  người khuyết tật sẽ đi về đâu, và số phận của họ sẽ ra sao ?
Vì thế, chúng ta có bổn phận ưu tư, nếu không muốn nói là lo lắng, và đặt vấn đề thái độ phải có đối với người khuyết tật một cách đứng đắn, và nghiêm chỉnh.
Để có thái độ đúng đắn, nghiã là thái độ tôn trọng, thân thiện, chia sẻ, cảm thông, nâng đỡ đối với anh chị em khuyết tật, thiết tưởng chúng ta phải :
1.   Ý thức về giới hạn  con người của mình :
Ý thức giới hạn của con người, tức biết mình là một hữu thể luôn có giới hạn, không những bởi không gian, thời gian, mà còn bị giới hạn bởi vô số những nhân tố khác, và tình trạng khuyết tật là điển hình, khi không chỉ khuyết tật do gien di truyền, do tai hoạ thiên nhiên, mà còn do tai nạn tự mình hoặc người khác gây ra,  hoặc do lòng ganh ghét và hành vi bạo lực, do cẩu thả, vô trách nhiệm của người đáng lẽ phải nuôi nấng, chăm nom, cứu chữa… Vì thế, không ai có thể nắm chắc suốt đời sẽ không gặp tai họa, và chẳng ai dám nắm chăc tương lai an bình, thịnh vượng của mình như bàn tay nắm chặt. 
Nhờ ý thức mình có giới hạn, nghiã là bất cứ lúc nào, ở đâu, ai cũng có thể từ người bình thường, khỏe mạnh thành người khuyết tật, không bình thường, chúng ta sẽ có thái độ và cái nhìn nhân bản, nhân văn hơn đối với anh chị em khuyết tật. Và qua họ, qua thân xác tật nguyền, và cuộc sống vất vả, khó khăn, không ngừng  phải chiến đấu để vượt qua của họ, chúng ta nhận ra giới hạn của chính mình, giới hạn của con người và giới hạn của đời người ở mọi người để không rơi vào thái độ vô cảm, vô tâm làm tổn thương người kém may mắn.
2.   Ý thức tính dễ bị tổn thương :
Con người có trí khôn để tư duy, nhưng cũng có trái tim để rung cảm. Vì rung cảm, nên  dễ bị tổn thương. Biết mình là con người nhạy cảm vì khao khát yêu và được yêu, nên chúng ta sẽ biết mình phải làm gì trước người khác cũng nhạy cảm, và dễ bị tổn thương như ta.
Một nền giáo dục tình cảm luôn được coi là cần thiết đối với thế hệ tương lai của một dân tộc, bởi nhờ nền giáo dục tình cảm đúng mức, người trẻ hôm nay sẽ không là những người lớn vô cảm, vô nhân đạo ở ngày mai, khi lạnh lùng và không chút ngượng ngùng làm tổn thương những người yếu kém, bất hạnh hơn mình, như những em học sinh hôm nay vì không chút ý thức về tính dễ bị tổn thương đang cười đuà, diễu cợt cách lố bịch, và vô văn hoá  trên tật nguyền của  những bạn khuyết tật cùng trang lứa.
Thực vậy, chỉ với ý thức tính dễ bị tổn thương của con người, chúng ta mới có thể hiểu nỗi đau bị tổn thương của người khuyết tật, và hết sức tránh những thái độ vô tâm, vô cảm, vô trách nhiệm làm anh chị em khuyết tật bị trầm trọng tổn thương .
3.   Ý thức con người là một mầu nhiệm :
Nhiều người cũng đã cố gắng cắt nghiã con người và đời sống con người như một trò chơi ngẫu nhiên, nghiã là không có gì linh thiêng, mầu nhiệm nơi con người, nhưng tất cả cố gắng của họ đều đã thất bại, bởi chỉ đứng trước cái chết và đau khổ thôi, người ta đã thấy mình bất lực trước những gì vượt quá hiểu biết của con người, mà chúng ta gọi là mầu nhiệm.
Vì con người có hồn, với sinh hoạt thiêng liêng, đây là chân lý không ai có thể chối cãi, nếu lương thiện với chính mình, và không bị áp lực khách quan, nên trước những bất toàn, khiếm khuyết, như tình trạng khuyết tật, người ta phải chân nhận giới hạn hiểu biết của mình trước mầu nhiệm của con người, mầu nhiệm mà mỗi người đang nắm giữ và được mời gọi trân qúy, tôn trọng.
Bởi có trân qúy mầu nhiệm con người, chúng ta mới có thể vượt qua những khiếm khuyết của thân xác, những thiếu sót của tinh thần, những yếu đuối của thân phận ; có tôn trọng con người là một mầu nhiệm, chúng ta mới có thể đón nhận với chia sẻ, cảm thông của tình người những khuyết điểm, khuyết tật trên thân xác và tinh thần của anh chị em ; mới có thể yêu thương họ với niềm hy vọng ở  mầu nhiệm sẽ được mặc khải sau này ; mới hết lòng hy sinh cho họ với niềm tin sẽ được cùng họ chia sẻ hạnh phúc khi mầu nhiệm khổ đau, mầu nhiệm của cuộc sống tật nguyền, mầu nhiệm của yếu đuối, thất bại, cùng với mầu nhiệm của sự chết được toả sáng trong ý nghĩa và giá trị tuyệt vời khi mọi sự được thực sự hoàn tất.
Đang khi chia sẻ với Bạn, người viết chợt nhớ câu chuyện trong Kinh Thánh của Kitô giáo liên quan đến mầu nhiệm khổ đau của con người : Hôm ấy, Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thưở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” Đức Giêsu trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh ta” (Ga 9, 1-3).
Trả lời như thế, Đức Giêsu đã khẳng định : khuyết tật mù loà từ thưở mới sinh của người mù này hoàn toàn không do tội lỗi, sai phạm, nghiệp chướng của ai. Và nếu không do tội lỗi, ác nghiệp, thì chỉ có thể là một mầu nhiệm mà con người sẽ hiểu được sau này, khi ra khỏi thế giới thực nghiệm “cân - đo - đong - đếm”. Ở đây, Đức Giêsu dùng kiểu nói : “để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh ta” để nói lên giá trị tuyệt vời và ý nghiã thánh thiêng của mầu nhiệm con người, chứ không như một số người cố tình cắt nghĩa : Thiên Chúa thật ác độc đã tìm vinh quang của mình trên đau khổ, bất hạnh của loài người do mình dựng nên.
Với những chia sẻ chân thành nhân “Ngày Thế Gìới Người Khuyết Tật”, người viết xin được kính gửi đến tất cả các Bạn khuyết tật lòng trân qúy và yêu mến. Rất trân qúy các Bạn, vì các Bạn cho chúng tôi thấy giới hạn của phận làm người, và biên giới của khả năng trong cuộc sống. Rất yêu mến các Bạn, vì chính các Bạn đang đem lại muà xuân cho nhân loại bằng làm chứng Mầu Nhiệm Con Người qua tháng ngày khuyết tật nhiều thử thách, đau đớn, vất vả, nhục nhằn.
Jorathe Nắng Tím