Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2019

BIẾN CỐ ĐAU BUỒN MÙA GIÁNG SINH

Giáng Sinh là lễ của niềm vui Cứu Độ, khi  Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thế, nhập thể để cứu con người khỏi chết đời đời; Giáng Sinh là ngày hân hoan, hạnh phúc, khi Tin Mừng : Thiên Chúa yêu thương loài người được loan báo. Vì thế Giáng Sinh rất vui, vì là mùa của Tình Yêu ; Giáng Sinh rất mừng, vì là mùa của Sự Sống !
Nhưng một biến cố tang tóc, đau buồn đã xẩy ra giữa mùa Giáng Sinh vui mừng. Biến cố đã làm nghẹn ngào tiếng hát : Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm của các thiên thần (Lc 2,14), bởi Thiên Chúa vừa mới sinh ra, chưa kịp được mọi người vinh danh, thì kẻ ác tâm đã lấy đi nhiều mạng sống vô tội ngay  tại Bêlem, nơi Thiên Chúa hạ sinh làm người ; biến cố đã làm khựng lại chân sáo phấn khởi, hân hoan vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa của các mục đồng (Lc 2,20), sau khi gặp được Hài Nhi  bọc tã, đặt nằm trên máng cỏ (Lc 2,16), bởi  hàng trăm hài nhi vô tội ở Bêlem và vùng lân cận đã bị giết chết oan uổng (x. Mt 2,16-18) ; biến cố đã làm hoa mắt các đạo sĩ trên đường từ Bêlem trở về xứ sở, khi nghe tin các hài nhi dưới hai tuổi ở Bêlem, nơi các vị vừa rời gót đã bị thảm sát theo lệnh của Hêrôđê, người đã khôn khéo dặn dò các vị : xin qúy ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cùng đến bái lậy Người (Mt 2, 8) ; biến cố đã làm thánh Giuse và Đức Maria  mất ăn mất ngủ, và ngay trong đêm phải đưa Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai Cập (Mt 2,14) theo như lời thiên sứ  khẩn báo trong giấc mộng (Mt 2,13) ; và biến cố  đã lấy đi sự sống vừa nẩy mầm của hàng trăm trẻ thơ hoàn toàn trong trắng, ngây thơ, không can dự gì đến chuyện của người lớn, không biết gì đến chuyện triều đình, quốc gia, không liên quan gì đến chuyện ngai vàng, quyền lực, để  niềm đau, nỗi khổ  cùng với máu vô tội dâng cao ngút trời, làm chết ngất bao trái tim, tan nát bao cuộc đời ở Bêlem và vùng lân cận như Tin Mừng Mátthêu mô tả : Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ : tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa (Mt 2,18).
Vâng, tác giả của biến cố tang tóc, đau thương giữa mùa Giáng Sinh hồng phúc chính là Hêrôđê, vua dân Do Thái (x. Mt 2,16). Ông là vua, nên khi nghe có vua dân Do Thái sắp sinh ra, ông đã hỏang hốt, lo sợ mất ngai vàng, và tham vọng quyền lực đã thúc đẩy ông đi đến quyết định giết hết các trẻ thơ dưới hai tuổi.
Thủ đọan thật tinh vi, khi ra lệnh giết hết các trẻ thơ từ hai tuổi trở xuống ở Bêlem và các vùng lân cận, để bảo đảm trăm phần trăm việc thủ tiêu Hài Nhi Giêsu, vị vua tương lai của dân Do Thái. Theo tính toán thâm độc này, sẽ không có bất cứ xác suất dù nhỏ đến đâu, cũng như không còn bất cứ kẽ hở nào để lọt Hài Nhi Giêsu, đối tượng phải khẩn trương tiêu diệt.
Là vua, và tự cho mình là Sao, nên khi biết có Vì Sao Cứu Thế vừa xuất hiện ở Bêlem, trên lãnh thổ của mình đang trị vì, Sao Vua Hêrôđê đã quay cuồng, điên đảo tìm truy diệt cho kỳ được Vì Sao lạ, có tiềm năng đối đầu, đối kháng. Và ông đã thần tốc ban lệnh tiêu diệt Vì Sao lạ bằng ra lệnh tàn sát tất cả trẻ thơ trong vùng.
Dưới con mắt của phàm nhân, Hêrôđê là người nhìn xa trông rộng đã bao quát được cả thời gian và không gian để Hài Nhi Giêsu, vua tương lai của dân Do Thái không thể thoát khỏi bàn tay sát thủ của ông. Với suy tính của loài người, Hêrôđê là người khôn ngoan, khi thấy  trước, lường xa những bất trắc, nguy cơ cho ngai vàng, bằng cách diệt ngay lập tức và  tận gốc mọi mầm mống  bạo loạn, chiếm quyền, cướp ngôi. Trong tầm nhìn của con người, Hêrôđê là người biết tính toán, sắp đặt, khi không để bất cứ  bất ngờ bất lợi nào gây ảnh hưởng xấu đến uy quyền và vinh quang của mình. Tóm lại, ông là con người hoàn hảo, ông vua tuyệt vời, lãnh tụ tài giỏi. Ông có tất cả những điều kiện thành công theo kiểu thế gian, và như thế gian đòi hỏi, nhưng ông thiếu một điểm rất quan trọng để thành người, đó là lòng nhân ái.
Thực vậy, không phải tất cả những ai thành công là thành nhân, không phải cứ công thành danh toại là thành người, không phải cứ đạt địa vị cao, chỗ đứng tốt là người tốt và cao thượng. Bằng chứng là trước mắt chúng ta, không biết bao nhiêu người thành đạt mà gian ác ; không ít người làm lớn mà tầm thường, đáng kinh tởm , và được mấy người  nắm giữ vị thế cao ngất ngưởng trong thế gian mà nhân ái, dễ thương. 
Như Hêrôđê, làm vua  đáng lẽ để lo cho dân hạnh phúc, quốc gia phú cường, nhưng ông lại thủ đọan, nham hiểm ra lệnh giết cả những công dân bé bỏng, vô tội, tuổi đời chưa qúa hai năm, vì tham vọng cá nhân và  cơn giận điên cuồng. Rất nhiều người thế giá khác cũng đã dùng quyền, dùng tìền, dùng ảnh hưởng của mình để  tiêu diệt người khác không kém dã man, tàn bạo như Hêrôđê.
Hôm nay, Giáng Sinh về, chúng ta không quên biến cố tang tóc, đau thương đ xẩy ra ở Bêlem và vùng lân cận vào mùa Giáng Sinh cách đây hơn hai ngàn năm, và qua đó, chúng ta nhận ra:
1.   Tội ác là do chính con người gây ra :
Biến cố thảm sát hằng  trăm trẻ thơ vô tội được Tin Mừng Mátthêu tường thuật chi tiết chắc chắn chống lại ý muốn của Thiên Chúa, vì Ngôi Lời  giáng sinh cốt đem sự sống cho con người, và làm cho sự sống con người đạt giá trị linh thánh, và tuyệt đối, khi chính Thiên Chúa đã tự nguyện mang lấy sự sống con người ấy.
Cũng vì Thiên Chúa làm người như chúng ta, sống sự sống của loài người  chúng ta, mà sự sống con người không còn bị coi là rẻ rúng, tầm thường, vô vị, không giá trị, không ý nghiã. Trái lại, sự sống ấy được nâng cao, được tuyệt đối tôn trọng và giữ gìn, bảo vệ, để  không ai có quyền hủy hoại sự sống ấy, dưới bất cứ hình thức nào, dù là sự sống của mình hay của người khác, bởi sự sống thuộc về một mình Thiên Chúa, và chỉ một mình Thiên Chúa có quyền trên sự sống, sự chết của con người.
Do đó, khi có tội ác chống lại sự sống, thì chắc chắn tội ác ấy phát sinh từ gian ác, bạo lực của con người, như Cain đã giết chết em mình là Aben, và như Hêrôđê đã ra lệnh thảm sát hằng trăm trẻ thơ vô tội.
2.   Đau khổ là hậu qủa của tội ác :
Ở đâu có tội ác, ở đấy có đau khổ, cũng như ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa, và ngược lại : khi có phúc đức của lòng nhân ái thì có bình an, và có Thiên Chúa thì có niềm vui thiên đàng, nên phần lớn đau khổ là do chính anh em gây ra cho ta, hoặc chính ta gây ra cho anh em.
Nếu Cain không ghen tức và không giết em mình, thì Aben đã được sống, và cả Cain cũng không bị Thiên Chúa phạt, đến nỗi phải đau đớn than thân trách phận : Hình phạt dành cho con qúa nặng không thể mang nổi. Đây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con (St 4, 13-14) ; nếu Hêrôđê không ra lệnh giết các em bé, thì cha mẹ các em đâu phải chết ngất vì khổ đau, khi con không còn nữa ; nếu cậu thanh niên mười tám tuổi bốn tháng Nguyễn Hữu Tình không vì tự ái khi bị bà chủ trách mắng vì biếng nhác công việc, và bê tha bia rượu đã nhẫn tâm giết hết  năm người của gia đình bà chủ, thì  chẳng ai phải chết, và không bao giờ có bản án tử hình khắc nghiệt cho chính bản thân.
3.   Tội ác và đau khổ vẫn có mặt trong thế giới loài người cho đến tận thế :
Đau khổ lớn nhất của con người là sự chết, và sự chết đã theo tội lỗi vào thế gian, nên bao lâu còn con người thì còn tội lỗi, bao lâu còn tội lỗi, bấy lâu còn đau khổ, sự chết. Vì lẽ đó, Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu loài người ra khỏi tội lỗi để con người được hạnh phúc ngay ở đời này, khi tội lỗi không còn khống chế những con người biết mở lòng đón nhận ơn sủng cứu độ của Ngôi Lời Thiên Chúa (x. Rm 5,12-19).
Điều này cũng có nghiã : Tội ác và đau khổ vẫn có mặt trong thế giới loài người, chứ không tự động biến mất, khi Ngôi Lời xuống thế, bởi Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của mỗi người để mỗi người tự chọn hoặc Thiên Chúa hoặc thế gian, hoặc gian ác hoặc nhân hậu, hoặc làm người thiện tâm hoặc làm người ác tâm, hoặc thuộc về Thiên Chúa hoặc thuộc về Satan, hoặc sống hoặc chết, hoặc lên thiên đàng hoặc xuống hoả ngục.
Khi Tin Mừng được loan báo Đấng Cứu Thế đã sinh ra, các thiên thần đã cho chúng ta biết : Bình An của Thiên Chúa chỉ dành cho những người thiện tâm, những người được Thiên Chúa thương. Thiện tâm hay được Thiên Chúa thương chính là những người có lòng tốt, có ý ngay lành, có nhân ái, có bác ái - yêu thương, có từ bi - hỉ xả. Họ là những người sống chân thật với tấm lòng vị tha, biết cảm thông và giúp đỡ, dám rộng lượng và khoan dung, bởi ơn An Bình của Ngôi Lời nhập thể không tuôn đổ bừa bãi trên thửa đất cằn khô của ganh ghét, trong những  trái tim sào huyệt của thủ đọan, mưu mô ác độc, ở những góc tối kiêu căng của quyền lực, danh vọng, nơi những con người ích kỷ, tham vọng, hãm hại tha nhân.
Thực vậy, xuống thế giữa thế giới loài người đầy tội ác và đau khổ, Thiên Chúa làm người đã trở nên Ơn Cứu Độ, Ơn Bình An cho tất cả những ai tội lỗi, đau khổ biết chạy đến và tin ở Ngài. Ngài chính là nơi nương náu cho tội nhân, chốn ủi an của người bất hạnh, đau khổ (x. Mt 5, 3-12), đồng thời cũng là Tiếng Gọi để mọi người đi theo Ngài lên đường loan báo Tin Vui cho toàn thể nhân loại : Hôm nay Thiên Chúa thương loài người, hôm nay Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em (Lc 2,11), hôm nay đoàn chiên bơ vơ, ngơ ngác có Mục Tử nhân lành đến ở cùng và hiến mạng sống cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Và chỉ nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, con người mới ra khỏi  vùng tăm tối của tội ác và thung lũng nước mắt khổ đau.
Để chạy đến với Đức Giêsu, tin Đức Giêsu và theo Đức Giêsu, chúng ta phải trở nên những con người thiện tâm, tức có lòng nhân ái, là điều kiện thiết yếu để được Thiên Chúa làm người thương và ban tràn đầy ơn Giáng Sinh của Ngài, ơn giải thoát khỏi cạm bẫy của tội ác và hậu qủa khổ đau, khi có Chúa là Chúa Chiên lành, có Nước Trời là gia nghiệp, có Lòng Thương Xót là bến đỗ hạnh phúc, Bình An.  
Ước gì thế giới sẽ giảm nhanh, thưa dần những biến cố tang tóc, đau thương hằng ngày làm nhói tim, đứt ruột, khi tội ác không ngừng lan rộng, hoành hành. Và điều ước ấy luôn đợi chờ sự cộng tác của mọi người thiện tâm trong việc loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ, Đấng đến để cho thế gian được sống và sống dồi dào (Ga 10,10).
Jorathe Nắng Tím   

GIÁNG SINH VỀ, ĐỪNG HOANG MANG, SỢ HÃI !

Hơn lúc nào hết, trong những ngày này, qua báo chí, và các phương tiện truyền thông, dư luận thế giới xôn xao, kể cả hoang mang về nhiều sự việc liên quan đến Giáo Hội như cách chức Hồng Y, Giám Mục phải ra toà vì bao che tội ấu dâm của nhiều linh mục, giáo phận phải bán cơ sở mục vụ để bồi thường cho các nạn nhân bị lạm dụng, nhất là biến cố Hội Đồng Giám Mục Đức quyết định đi đến cùng tiến trình đặt lại nhiều vấn đề trong Giáo Hội, trong đó có vấn đề luân lý tình dục, độc thân linh mục, và kiểm soát lạm dụng quyền bính trong Giáo Hội.
Riêng người viết, trước những sóng gió tưởng chết đến nơi, thì hoàn toàn ngược lại : không xôn xao, cũng chẳng chao đảo, hoang mang, sợ hãi, nhờ dựa vào những suy nghĩ đơn sơ xin được mạo muội chia sẻ với Bạn:
1.   Thiên Chúa táo bạo trong tình yêu :
Không kể đã táo bạo trong tình yêu khi tự nguyện xuống làm người, Thiên Chúa của Đức Giêsu còn táo bạo trong tình yêu khi thành lập Nhóm Mười Hai Tông Đồ, là rường cột của Hội Thánh.
Đức Giêsu đã táo bạo lập một nhóm mà nhìn vào với đôi mắt thế gian, chúng ta thấy đó là một nhóm bình thường, không có gì nổi trội : bình thường vì đa số là dân đánh cá, thuyền chài, không được ăn học đến nơi đến chốn ; không có gì nổi trội, vì  hầu hết các vị đều nghèo hoặc chỉ đủ ăn, không ai thuộc giai cấp đại gia, giầu sang, phú qúy, trừ Mátthêu nhờ làm nghề thuế vụ ; một nhóm bết bát thấy rõ khi thường xuyên hục hặc tranh giành chỗ cao chỗ thấp, bên trái bên phải, vinh quang này, danh giá nọ trong vương quốc của Thầy, mà các vị cứ tự vẽ ra, rồi hù dọa, đấu đá, kéo bè kéo cánh thách thức, khích bác nhau (x. Mc 10, 35-40) ; bết bát, khi anh quản lý của nhóm có tên Giuđa thoạt nghe tình hình căng thẳng đã vội lén lút đi đêm với đối phương và bán Thầy mình với giá rẻ mạt ba chục bạc (x. Mc 14,10-11), rồi anh trưởng nhóm Simôn Phêrô năng nổ tuyên bố trung thành Thưa Thầy, bỏ Thầy, chúng con biết theo ai ? Chỉ Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời (Ga 6,68), hoặc dõng dạc, trịnh trọng tuyên xưng : Thầy là Đức Kitô (Mc 8,29), nhưng khi Thầy bị bắt, bị tra vấn, hỏi cung bên trong dinh Thượng Tế Caipha thì chẳng ngại ngùng chối phăng : Tôi không biết người này là ai (x. Mc 14,66-71) ; một nhóm  bết bát, khi Thầy yếu nhược, nhục nhằn kéo lê Thánh Giá mà không một tông đồ dám lại gần, kề vai vác đỡ ; cả đến khi chết, tháo xác xuống rồi, cũng không tìm đâu ra bóng dáng các vị, ngoại trừ  Gioan nép mình kín đáo bên Đức Mẹ.
Tuy bình thường và bết bát như thế, nhưng Nhóm Mười Hai vẫn được Đức Giêsu yêu thương vô cùng và đến cùng (Ga 13,1). Ngài không bỏ ai, không khai trừ người nào, nhưng trung tín trong tình yêu dành cho từng vị. Chính tình yêu táo bạo của Ngài đã biến đổi các vị, và làm cho các vị nhận ra Thầy mình đích thực là Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót, và kết qủa là tất cả các vị, trừ Giuđa, đã trung thành và chết để làm chứng Thầy mình là Thiên Chúa, Đấng đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại. 
Vì thế, chúng ta có lý do tin rằng : Thiên Chúa có đường lối riêng của Ngài, khi táo bạo chọn những con người chẳng mấy gì sáng giá, và thành lập một Nhóm nòng cốt chẳng có gì đáng tin tưởng, kỳ vọng. Thế mà Giáo Hội của Ngài vẫn trường tồn với những con người bất toàn, yếu đuối ấy, chỉ vì nền tảng của Giáo Hội đã không là các ông, nhưng là Tình Yêu táo bạo của Thiên Chúa trên các ông.
Đây cũng là lý do để chúng ta yên lòng và không hoang mang khi những người lãnh đạo trong Giáo Hội xem ra bất xứng hay yếu đuối cách này cách khác. Chúng ta đừng quên chính Đức Giêsu đã chọn các vị, như đã chọn Nhóm Mười Hai rất bình thường và bết bát ngày xưa, để làm chứng cho mọi người : tình yêu táo bạo của Thiên Chúa, và sức mạnh, khôn ngoan của Ngài được thể hiện trong yếu đuối, tầm thường, bết bát của con người.  
2.   Thiên Chúa kiên nhẫn trong giáo dục :
Có lần Đức Giêsu thốt lên : Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin ! Tôi còn phải ở cùng các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa ? (Mc 9,19), khi thấy các tông đồ không đủ xác tín. Ngài còn tỏ ra ngao ngán trước tính khí nóng nẩy, háo thắng, tham vọng, kiêu căng như Tin Mừng kể lại : các ông cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả (Mc 9,34) ; các ông  xin lửa từ trời xuống thiêu hủy một làng người Samari, vì họ không tiếp rước các ông (x. Lc 9,51-53), hoặc nhỏ nhen, cục bộ và bực tức, khó chịu vì : có người nhân danh Thầy mà trừ qủy (Mc 9,38), rõ ràng nhất là chuyện tông đồ trưởng Phêrô đã giận dữ sử dụng bạo lực khi rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ của Thượng tế tên là Mankhô khi Đức Giêsu bị bắt (x. Ga 18,10). Trong bất cứ đề nghị mang tính tham vọng,  bạo lực, thiếu bác ái, huynh đệ  nào của các tông đồ, Đức Giêsu đều dậy các tông đồ phải nhân hậu, bao dung, quảng đại, cởi mở, và hiền lành, khiêm nhường.
Điều đáng chú ý ở đây là sự kiên nhẫn trong giáo dục của Đức Giêsu. Bằng chứng là Ngài không loại bỏ những thành viên “khó bảo, khó dậy, khó đào tạo”, nhưng nhìn vào thiện chí đổi mới của các ông và ơn đổi mới của Thiên Chúa. Ngài  nhẫn nại trông cậy vào Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ đến sau Ngài để tiếp tục giáo dục, chỉ dậy, nhắc bảo, đổi mới các tông đồ, như Tin Mừng Gioan đã ghi lại : sau khi trách Philípphê : Thầy ở với anh em đã lâu, thế mà anh Philiphê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’… (Ga 14,9), Đức Giêsu đã khẳng định : Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14,26).  
Thực vậy, cũng với tình yêu táo bạo và trung tín, Đức Giêsu đã tin tưởng vào sự đổi mới của những con người hôm nay còn đang rất bất xứng, bệ rạc, và ban cho họ ơn Chúa Thánh Thần để từng ngày nhận ra tình yêu của Ngài dành cho họ, và họ sẽ được đổi mới bởi tình yêu táo bạo và trung tín này.
Thế nên ngày chịu chức, ngày tấn phong, ngày tuyên khấn không được coi như đích đến, hay tột điểm của thánh thiện, vì như các tông đồ phải chờ Chúa Thánh Thần hiện xuống, các vị mới “toàn tâm toàn ý” mãnh liệt xác tín sứ vụ tông đồ, và hết mình thực hiện sứ vụ đó một cách qủa cảm bằng lên đường truyền giáo khắp nơi, cho dù phải hy sinh chính mạng sống mình.
Do đó, phê phán với ác ý để làm mất uy tín, hạ thấp danh dự những người của Giáo Hội thiết tưởng là việc không nên làm, nhưng phải tránh, nếu chúng ta tin vào đường lối giáo dục mầu nhiệm của Thiên Chúa đối với những người Chúa chọn. Vấn đề còn lại là các vị ấy có ý thức mình chưa hoàn thiện để không kiêu căng, tự phụ, phách lối, cao ngạo, cửa quyền, trịch thượng, khinh mạn, loại bỏ người này người nọ, nhưng từng ngày học với Chúa bài học hiền lành và khiêm nhường (x. Mt 11,29), để trở nên mục tử tốt lành (x.Ga 10), vị thượng tế biết cảm thương như thánh Phaolô viết : Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối ; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy (Dt 5, 1-3), đồng thời, giáo dân tức đoàn chiên của các vị cũng phải  ý thức : không ai có quyền xét đoán, lên án ai (x. Mt 7,1-5), vì  tất cả mọi người đều có thể được đổi mới, và Thiên Chúa kỳ vọng ở cố gắng đổi mới của mỗi người, bởi Thiên Chúa có đường lối giáo dục nhiệm mầu riêng của Ngài đối với từng người, và ban đủ ơn cho những người có thiện chí trên đường đi theo và phụng sự Ngài.
Với ý thức: mình cần được trở nên tốt hơn, và không có quyền xét đoán, lên án ai, chúng ta thực sự làm chứng tình yêu táo bạo, lòng kiên nhẫn không gì sánh được trong công trình đào tạo con người của Thiên Chúa, nhờ đó, chúng ta không bực dọc, bất mãn trước thiếu sót, kể cả tội lỗi của những tông đồ, môn đệ Đức Giêsu, đồng thời giúp chúng ta biết thương cảm, chia sẻ, nâng đỡ, cầu nguyện cho các vị, cũng như các vị luôn cầu nguyện cho chúng ta.  
3.    Thiên Chúa dùng tất cả để huấn luyện chúng ta thành những “kẻ lưới người”  thiện nghệ :
Mục tiêu của Ơn Gọi tông đồ là các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở nên những kẻ lưới người như lưới cá (Mc 1,17).
Với mục tiêu này, Đức Giêsu đã trực tiếp huấn luyện các tông đồ, để các ông trở nên những ngư phủ thiện nghệ đánh cá người trong cung cách hiền lành và khiêm nhường (Mt 11,29) của người đầy tớ trung tín và tận tụy phục vụ (x. Mt 24,45) với nếp sống Bát Phúc (x. Mt 5,3-12), bằng tinh thần cầu nguyện, phó thác, nhất là đời sống hy sinh của mục tử nhân lành sẵn sàng hiến mạng sống vì đoàn chiên (x. Ga 10).
Để đạt mục tiêu trên, nghiã là để được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu (Rm 8,29), người  đi theo Ngài được Ngài dẫn dắt qua mọi nẻo đường : có nẻo đường thênh thang, nhưng cũng có nẻo đường lầy lội, quanh co, dốc đá, hiểm trở ; có nẻo đường thơ mộng, lãng mạn, nhưng cũng có nẻo đường chán ngán, thất vọng ; có nẻo đường đầy hoa thơm cỏ lạ, nhưng cũng có nẻo đường hoang vu, đầy cạm bẫy ; có nẻo đường ngập tràn tình cảm đạo đức, nhưng cũng có nẻo đường khô khan, nguội lạnh, hoang vắng ; có nẻo đường thánh thiện, ngát hương thiêng nhân đức, nhưng cũng có nẻo đường  ngã qụy, giập vùi lê lết ; có nẻo đường hướng đạo người khác, nhưng cũng có nẻo đường yếu đuối, đáng thương ; có nẻo đường khấp khởi mừng reo chiến thắng, ngày về vinh quang, nhưng cũng có nẻo đường cô thân, thất bại, tủi buồn, lầm lũi. 
Và trên tất cả mọi nẻo đường, với mọi tình huống, tâm trạng, Thiên Chúa luôn có mặt như người Cha nhân hậu giầu lòng thương xót, chậm bất bình, rất khoan dung, nên không một chi tiết nào, dù dơ bẩn đến đâu, không một mầu sắc nào, dù xám xịt, đen ngòm cỡ nào, mà không được Thiên Chúa dùng để tạo nên tác phẩm tuyệt vời của Tình Yêu, bởi từ bàn tay và trái tim yêu thương vời vợi, Thiên Chúa vẽ được những chữ thẳng trên những hàng kẻ cong, biến những tội lỗi thành cơ hội để huấn luyện tâm tình thống hối, biết ơn, và sử dụng chính những ngang ngược, kiêu căng, ngạo mạn, để dạy bài học khiêm tốn, bao dung, nhân hậu với người khác. Xác tín điều này, thánh Phaolô đã qủa quyết với tín hữu Rôma : Chúng ta biết rằng : Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định (Rm 8,28).
Vì thế, sẽ không có lý do để chúng ta phê phán người khác đang khi họ còn trên đường và chưa đến đích, bởi tất cả chúng ta đều là lữ khách trên đường về, là môn sinh đang được đào tạo, huấn luyện để trở nên môn đệ đích thực và xứng danh trong chương trình Cứu Thế của Đức Giêsu. Đó cũng là lý do không cho phép chúng ta hoang mang, chao đảo, bất mãn trước những thiếu sót, khuyết điểm, kể cả tội lỗi của người khác trong Giáo Hội, dù họ là ai, ở phẩm trật nào, nắm giữ trách nhiệm  quan trọng đến đâu. Trái lại, với niềm tin vào chương trình đào tạo táo báo yêu thương và kiên nhẫn đến cùng của Thiên Chúa, chúng ta giúp nhau tránh những vấp ngã, chia sẻ với nhau những phương cách đối phó, giải quyết, mà không bôi bác, làm tổn thương nhau, vì trên hết và trước hết, tất cả chúng ta là chi thể của một Thân Thể duy nhất với đòi hỏi quan trọng nhất là Hiệp Nhất trong Đức Ái.  
Giáng Sinh về, xin ơn Bình An của Ngôi Lời nhập thể ở trong tâm hồn những người anh em đang lo âu cho tương lai, tiền đồ của Giáo Hội, hay bất mãn, bực bội, thất vọng vì những “linh tinh, lôm côm, rắc rối” gây ra cho Giáo Hội bởi chính những người của Giáo Hội, khi tin rằng Đức Giêsu yêu Giáo Hội như Hiền Thê dấu ái và không ngừng đào tạo, đổi mới, thánh hoá tất cả chúng ta, những con người ngu muội, yếu đuối, tội lỗi thuộc về Giáo Hội ấy, bởi cho những con người tầm thường, bết bát, tội lụy là tất cả chúng ta, mà Đức Giêsu đã lập Giáo Hội của Ngài trên nền tảng các Tông Đồ.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019

VĂN HOÁ CAO THƯỢNG

Khi nói quốc gia văn minh, con người có văn hoá, khu phố văn hoá, đơn vị văn hoá, đất nước ngàn năm văn vật hay việc làm có tính nhân văn, người ta hiểu ngay đó là quốc gia phát triển, con người tử tế, đơn vị đoàn kết, khu phố không tệ đoan xã hội, và việc làm tốt đẹp, nhân ái. Như thế, tất cả những gì được gọi là văn minh, văn hoá, văn vật, nhân văn, cũng như văn chương, văn nghệ đều là những gì  được đề cao và trân trọng, bởi nó tốt đẹp và góp phần xây dựng hạnh phúc của con người. Và đương nhiên, sẽ không có cái gọi là văn hoá đồi trụy, vì văn hoá thì tốt đẹp, đồi trụy thì xấu xa, nên cả hai không thể sánh vai đồng hành ; cũng như không thể quan niệm những cụm từ tự thân mâu thuẫn như văn hoá bê tha, văn hoá ngáo đá, văn hoá nói dóc, văn hoá chôm chiả, văn hoá lường gạt, văn hoá sở khanh, văn hoá bạo hành ….
Vì con người luôn cầu tiến, phát triển để mỗi ngày hạnh phúc hơn, nên xã hội loài người không dừng lại một chỗ, không chôn chân ở một điểm, nhưng tiến mãi, để từ một xã hội thiếu thốn, chật vật vì chậm tiến đến một xã hội văn minh với đầy đủ tiện nghi phục vụ đời sống.
Vì con người không đơn độc, nhưng sống chung, sống với và làm thành gia đình, xã hội, quốc gia, thế giới, nên các tương quan rất cần thiết được cải thiện, để cuộc sống chung không là một gánh nặng phải chịu đựng nhau, nhưng là niềm vui cùng nhau chung hưởng khi tư duy, chọn lựa, cũng như thái độ ứng xử, và lối sống thường ngày thấm nhuần một nền văn hoá xứng hợp nhân phẩm và đạo đức làm người.
Do đó, ở đâu, và thời nào, xã hội loài người luôn nhắm đến một cuộc sống văn minh, gồm những con người có văn hoá để đạt hạnh phúc tối đa trong sinh hoạt.    
Bên cạnh văn hoá lương thiện, văn hoá xin lỗi, văn hoá cám ơn, văn hoá dễ thương, văn hoá thân thiện, văn hoá cạnh tranh lành mạnh, mà người viết đã hân hạnh chia sẻ với Bạn, nay xin gửi đến Bạn những suy tư về một văn hoá khác, cũng không kém phần quan trọng, đó là văn hoá cao thượng.
Văn hoá cao thượng hệ tại ở cái nhìn lớn rộng, khác cái nhìn ngắn ngủi, chật hẹp của kẻ tiểu nhân. Người có cái nhìn lớn rộng sẽ không ti tiện, nhỏ mọn, chấp nhất người khác những chuyện không đâu, cũng không bới móc, vạch lá tìm sâu, khai thác những khiếm khuyết của người khác đến độ gay gắt, tàn bạo, càng không bé xé ra to, trầm trọng một cách lố bịch và ấu trĩ một sự việc không quan trọng, nhất là không thổi phồng với ác tâm, ác ý một sự kiện mà bản chất không có gì  đáng nói.
Ở người không văn hoá cao thượng, chúng ta gặp được lý do của những tư duy gò bó, ghì trói, khép chặt, bởi họ luôn đặt mình ở tình trạng báo động, đề phòng, thủ thân trước người khác, vì sợ mất những gì đang có, đang là. Nói cách khác, họ là những con người cực kỳ ích kỷ đang ra sức bảo vệ cái tôinhững gì của tôi. Khác với người có văn hoá cao thượng với khối óc trải xa, và trái tim mở rộng, nên đón nhận được tất cả, bao dung được tất cả, đồng hành được với tất cả.
Văn hoá cao thượng đặt nền móng trên tinh thần trách nhiệm của đại nhân, quân tử biết mình có trách nhiệm trên cuộc sống hạnh phúc của mọi người cùng sống. Bậc đại nhân, quân tử không những ý thức mình có trách nhiệm với người khác một khi đã nhập cuộc vào đời, mà còn đem hết tâm lực thực hiện cho bằng được ước muốn đem lại hạnh phúc đó. Chính vì biết mình có trách nhiệm, mà người có văn hoá cao thượng không thấp, không hèn để thù dai, thù vặt ; không đê tiện, đốn mạt để ném đá giấu tay, xúi chó bụi rậm, nhưng cư xử xứng đáng danh phận của bậc đại nhân, trượng phu, trưởng thượng cao qúy, với tài cao, đức trọng, trí lớn, tâm sâu.    
Sở dĩ người có văn hoá cao thượng ý thức trách nhiệm của mình với cộng đồng xã hội, vì họ không ích kỷ, nhỏ mọn, nhưng biết rằng : bất cứ ai sống trong cuộc đời đều phải mang trên vai trách nhiệm đem lại hạnh phúc cho người cùng sống, khi xác tín : niềm vui của người khác chính là niềm vui của tôi, sự sống của người khác cũng là sự sống của tôi, và hạnh phúc của tôi gắn liền với hạnh phúc của mọi người, nên những thiếu sót, lầm lỗi, yếu kém ở người khác không bao giờ là cớ cho tôi trù dập họ, trái lại, là lý do để tôi cảm thương, nâng đỡ, che chở, đóng góp xây dựng, cải thiện. 
Văn hoá cao thượng còn hướng đến những gì tích cực, như hình ảnh của người ở tầm cao và luôn hướng thượng, nên những đấu đá vặt vãnh, những bắt lỗi nhỏ nhặt, những phiền trách ấu trĩ, những đòn thù trẻ con đều là những điều làm cho người có văn hoá cao thượng  kinh tởm, gớm ghiếc và tìm cách tránh xa. Họ không như những tiểu nhân khi có chút quyền trong tay thì trả thù xưa, rửa hận cũ, hay như những người đầu óc đặc sệt thành kiến, ích kỷ hở ra là khẩn trương kết luận, là nghiêm trọng kết án những sai sót nhỏ nhoi của người khác, mà không bao giờ tìm cho người khác một con đường tốt hơn, một lối thoát an toàn, một hạnh phúc trong tầm tay.
Và quan trọng hơn cả là người có văn hoá cao thượng dám lắng nghe và chấp nhận những ý kiến trái ngược ý mình, cũng như trân trọng và đón nhận một cách lương thiện Chân - Thiện - Mỹ ở người khác, trong tôn giáo, và chủ thuyết khác với tôn giáo, chủ thuyết mình theo. Với họ, không có biên giới, vùng cấm của Chân - Thiện - Mỹ, và mọi người đều có quyền và trách nhiệm đóng góp những gì chân thực, tốt đẹp cho hạnh phúc chung của mọi người. 
Sau cùng, người có văn hoá cao thượng là người đặc biệt có lòng bao dung, khi không ân oán sòng phẳng, không mắt đền mắt, răng đền răng, nợ máu phải trả bằng máu. Trái lại, tâm hồn cao thượng luôn cảm thông, thương xót, bằng cách tìm cho kỳ được những lý lẽ để tha thứ, ân xá, khoan hồng. Văn hoá cao thượng, vì thế, vượt xa những tầm thường của ganh ghét, tị hiềm, đố kỵ, hận thù, ích kỷ, nhỏ nhen trong cuộc sống. Nhờ thế, đời người được thắm tươi niềm vui sống.
Thực vậy, văn hoá cao thượng làm cho cuộc sống chung trở nên nhẹ nhàng, đơn giản, bình an và không ngừng thăng tiến, khi không ai nhỏ nhen chấp nhất những chuyện nhỏ cần phải bỏ qua và quên đi ; khi mọi người tìm ở nhau những điểm mạnh, điểm tốt để khuyến khích, động viên nhau làm tốt hơn, sống đẹp hơn ; khi người người cùng chung tầm nhìn xa và cao, với tinh thần hợp tác lạc quan, tích cực. Nền văn hoá cao thượng còn giúp mỗi người dễ dàng buông bỏ những bất đồng nhỏ nhặt, những mâu thuẫn cỏn con khó tránh trong đời sống thường ngày, để tình người, tình gia đình, tình bạn hữu không vì thế mà rạn nứt, đổ vỡ, gây bất hạnh cho cuộc sống mà đáng lý ra phải hạnh phúc và hạnh phúc dồi dào.
Nhìn vào cuộc sống hôm nay, chúng ta không khỏi buồn khi thấy các bậc hiền nhân, quân tử cao qúy, các bậc đại nhân, trượng phu cao thượng  xem ra ngày càng thưa thớt, có thể các vị  đã trở thành loài người qúy hiếm, hoặc chính các vị không còn muốn xuất hiện trong một xã hội mà cao thượng bị coi là dở hơi, thần kinh, lạc hậu, và đám người ti tiện, đê hèn, láu cá, ích kỷ lại được phần đông thiên hạ nâng lên hàng thức thời, biết sống, khôn ngoan.
Ước mơ một đất nước có nhiều con người được trang bị văn hoá cao thượng để người người, nhà nhà, từ làng quê đến tỉnh thành, khắp nơi rực rỡ những ánh mắt cao thượng, những lời nói cao thượng, những việc làm cao thượng đem lại tình thân cao thượng rạng ngời, là điều kiện không thể thiếu của niềm vui đồng hành trên đường đời, và hạnh phúc cùng chung nhau cuộc sống.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

ĐÔI CHÂN GIÁNG SINH

Mầu nhiệm Thiên Chúa xuống thế làm người là mầu nhiệm Thiên Chúa từ trời đi xuống thế giới loài người, mầu nhiệm Ngôi Lời đi vào nhà con người, đi đến vùng đất con người sống, đi với con người trên đường đời và trong cuộc sống với tất cả chiều kích, khiá cạnh của cuộc đời ấy. Trên hành trình Nhập Thể ấy, đôi chân của Thiên Chúa làm người đã dong duổi từ buổi đầu thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, khi cùng Mẹ đến thăm bà dì Êlisabét, cho đến bước chân cuối cùng trên đồi Gôlgôtha, nơi Ngài chịu đóng đinh, và treo lên khỏi đất. 
Thực vậy, nếu Đức Tin của Ápraham, Môsê, và các tổ phụ Israel, cũng như ơn gọi của các tông đồ, môn đệ Đức Giêsu trong Tân Ước đều bắt đầu và kết thúc bằng đôi chân lên đường, ra đi, bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi (St 12,1), bỏ đàn chiên, đi gặp con cái Itrael (Xh 3,13), đến với Pharaô để đưa để đưa dân Ta là con cái Ítraen ra khỏi Ai Cập (Xh 3,10), bỏ thuyền chài, bỏ cả cha để đi theo (Mt 4,22), vì tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá (Mt 4,19), thì mầu nhiệm Nhập Thể  chính là những bước chân Thiên Chúa  đến với con người, và hạnh phúc của con người, khi đôi chân lên đường tìm gặp Thiên Chúa.
Vì thế, không có đôi chân lên đường, Đức Tin không thể được gieo trồng và lớn lên ; không có bàn chân ra khỏi cái tôi, Đức Ái không thể nẩy mầm, sinh hoa kết qủa ; không có bước chân liều lĩnh đi về phiá trước để đến với người khác, Niềm Hy Vọng không thể loé sáng, xuất hiện.
Chúng ta hãy chiêm ngắm đôi chân Giáng Sinh của Đức Mẹ và thánh Giuse trên đường từ Nadarét về nguyên quán Bêlem, miền Giuđê để khai căn cước, theo lệnh kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ của hoàng đế Augúttô (Lc 2,1), và ở Bêlem những ngày đông người ấy, hai đấng đã không tìm được chỗ trong nhà trọ, mà Đức Mẹ đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa (Lc 2,6-7). Cũng những bước chân tin yêu, phó thác, không lâu sau, đã cùng Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai Cập ngay trong đêm, khi sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho thánh Giuse, vì vua Hêrôđê đang ráo riết truy lùng tìm giết con trẻ (x. Mt 2,13-18).
Bên cạnh những bước chân của Thánh Gia là  những đôi chân hân hoan tìm đến chuồng lừa Bêlem ngay trong đêm Giáng Sinh của các mục đồng. Họ đã đến và đã gặp Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ, đúng như Tin Vui các thiên thần đã loan báo cho họ : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ (Lc 2,11-12).   
Đặc biệt là những bàn chân các đạo sĩ đã vất vả đến từ phương Đông, khi dõi theo ánh sao lạ, và các vị đã mừng rỡ vô cùng gặp được Hài Nhi và sấp mình thờ lậy Người (Mt 2,11).
Qủa thực, toàn cảnh Giáng Sinh là những bàn chân vất vả đi tìm Thiên Chúa, những đôi chân phấn khởi gặp gỡ Ngôi Lời, những bước chân hối hả trốn chạy Thần Dữ. Bầu khí ấy còn  rộn ràng với những bước chân của người yêu mến Sự Thật, tưng bừng với những nhịp chân reo vui ngày Thiên Chúa đến cư ngụ giữa dân Người, những đôi chân khấp khởi, hạnh phúc của đoàn lũ những người  sẵn sàng bỏ mọi sự, lên đường đi theo Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể.
Họ là những người không ngại lên đường theo Tiếng Gọi, không lười biếng nằm lì một chỗ, khép kín, co cụm trong pháo đài ích kỷ, nhưng như các đạo sĩ, họ đã liều lĩnh lên đường, mạo hiểm ra đi, vì tin vào Ánh Sao lạ dẫn đường, tin vào sự can thiệp của Trời cao. Họ khác với các thượng tế và kinh sư, tuy biết rõ những gì các ngôn sứ đã tiên báo về vị Lãnh Tụ chăn dắt Ítraen sẽ ra đời ở Bêlem, miền đất Giuđa (x. Mt 2,4-5), nhưng đã không lên đường, không cất bước, không đi tìm, không đến gặp Đấng mà toàn dân mong đợi. Cũng như vua Hêrôđê, họ không đi, không bước đi, vì không muốn hay không thể  ra khỏi ngai toà, rời xa dinh thự, tạm biệt vị thế,  giã từ quyền lực, giũ bỏ cái tôi họ đang nắm giữ, làm chủ. Trái lại, từ chỗ ngồi của quyền lực, từ sức mạnh của bạo lực, họ đã như Hêrôđê ra lệnh giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận (Mt 2,16), gây đau thương, khốn khó cho nhiều người.
Qủa thực, nếu Hêrôđê đã khiêm tốn lên đường cùng đi Bêlem với các đạo sĩ, thì chắc chắn họ đã nhận ra Đấng Cứu Thế là Thiên Chúa nhân hậu, từ bi, hay chạnh lòng, khi thấy Hài Nhi bé bỏng, dễ thương, không chút đe dọa nằm trong máng cỏ khó nghèo, và thảm cảnh các trẻ thơ dưới hai tuổi ở Bêlem và vùng phụ cận bị giết oan uổng bởi ông đã không xẩy ra, để không ai phải đứt ruột, nát lòng khi nghe ở Rama tiếng khóc than rền rĩ : tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa (Mt 2,18) ; nếu các thượng tế và kinh sư đã mạnh dạn cùng ba đạo sĩ lên đường đến Bêlem, thì não trạng kiêu căng, cục bộ, cửa quyền và thái độ hống hách, coi thường người khác, cứng lòng, ngoan cố trước lời các ngôn sứ về Đấng Cứu Thế của giai cấp lãnh đạo trong Đạo Do Thái đã không  đưa cả đạo, đời » đến bế tắc, đường cùng, đánh dấu bằng biến cố Đền Thờ Giêrusalem bị quân đội Rôma tàn phá, và dân chúng bị tản mát, lưu đầy.
Vâng, Giáng Sinh về với những bước đi rộn ràng niềm vui đến với các dân tộc của các nhà truyền giáo để loan báo Tin Mừng : Thiên Chúa yêu thương loài người và ban bình an cho người thiện tâm ; Giáng Sinh đến, với hạnh phúc chan hoà trong từng nhịp bước của người được sai đi, để kể cho mọi người : Thiên Chúa Cứu Độ đang ở giữa chúng ta ; Giáng Sinh trở lại, với niềm hy vọng ở  đôi chân không mệt mỏi đồng hành với người tật nguyền, bệnh hoạn, yếu đuối, và báo Tin Vui cho họ : Thiên Chúa đã đoái thương dân Người, và cứu chữa dân Người, như lời ngôn sứ Isaia : Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta (Mt 8,17) ; Giáng Sinh toả sáng soi dẫn từng bước chân  người thiện tâm trên đường đi tìm Thiên Chúa nơi những người bé nhỏ, bị quên  lãng, bỏ rơi, những người nghèo hèn, không tiếng nói, những người thấp cổ bé miệng, bị hàm oan, vu khống, kết án oan sai, đầy đọa, hiếp đáp, và báo cho họ Tin Mừng của Thiên Chúa làm người : người nghèo được nghe Tin Mừng, kẻ bị giam cầm biết mình được tha, người mù biết mình được sáng mắt, kẻ bị áp bức biết mình được trả tự do, và mọi người được hưởng năm hồng ân của Thiên Chúa (x. Mt 4,18-19).                      
Giáng Sinh năm nay lại một lần nữa mời gọi chúng ta rời nhà ra đi theo Tiếng Gọi, từ bỏ pháo đài Cái Tôi ích kỷ để lên đường tìm gặp Thiên Chúa trong người khác, bỏ lại sau lưng tất cả để xuống thuyền ra sâu, ra xa với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã bỏ Trời cao, bỏ thiên nhan, bỏ vị thế Thiên Chúa, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế (Pl 2,7), chỉ vì yêu thương, muốn ở cùng, đồng hành với con người để chia sẻ đến cùng, và tận cùng mọi sự của con người, ngoại trừ tội lỗi để con người được cứu độ. Lên đường với Đức Giêsu, xuống thuyền với Đức Giêsu, chúng ta cùng Đức Giêsu đến với mọi người, và  đưa mọi người đến với Đức Giêsu để ơn Bình An của Thiên Chúa làm người tràn đầy trên mọi người, chẳng trừ ai.
Xin Chúa Hài Đồng cho chúng ta đôi chân biết lên đường mà không sợ đường xa, nguy hiểm ; xuống thuyền mà không sợ biển sâu, sóng dữ ; đi ra khỏi nhà mình, mà không sợ mất cái tôi ích kỷ, hưởng thụ, để Tin Vui Giáng Sinh, Tin Mừng Nhập Thể được loan báo cho muôn dân, đem lại ơn Cứu Rỗi cho chúng ta và mọi người.      
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

VĂN HOÁ CẠNH TRANH LÀNH MẠNH


Nhiều người tự biện minh cho những hành vi không lương thiện trong việc làm ăn của mình bằng phương châm “Thương trường là chiến trường”. Và tự cho mình cái quyền hạ gục đối phương bằng bất cứ phương tiện nào, dù phi nhân, phi đạo đức đến đâu. Đây là hiện tượng phá hoại tận gốc rễ, nền tảng luân lý, đạo đức, nhưng rất tiếc, hiện tượng này ngày càng trở nên bình thường và được coi là chuyện tự nhiên, đương nhiên, không thể làm khác nếu muốn tồn tại, thành công.
Thực ra, chúng ta không chỉ lo lắng trước tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, cạnh tranh không lương thiện trong kinh doanh, thương mại, mà còn lo sợ trước tình trạng cạnh tranh “bá đạo” trong mọi sinh hoạt của đời sống. Do ảnh hưởng chủ nghiã thực dụng, người ta dễ dàng nghĩ đến chuyện truy diệt những người cùng buôn bán một mặt hàng, cùng làm một ngành nghề, cùng theo đuổi một chủ trương, đường hướng, để tiến đến độc quyền thao túng thị trường, độc quyền khống chế sinh hoạt xã hội. Vì thế, đừng tưởng những người cùng chung một nghề, cùng thực hiện một công việc luôn biết đoàn kết, tương thân tương trợ, trái lại, chính những người chung nghề như ta lại tìm cách giết ta bạo tay hơn người khác, những người cùng đường hướng hoạt động như ta lại là đối thủ nguy hiểm nhất của ta. Và qủa thực, lòng người qúa khó dò, khó đo !
Thực tế làm chứng điều này, khi báo chí đăng tin những đại gia dùng mọi thủ đọan đê hèn đốn hạ nhau, như  làm tờ rơi vu khống, bôi bác, mạ lỵ, hoặc như tiệm phở kia đã bị bà chủ quán phở đối diện gài người bỏ muối vào nồi phở, bỏ thuốc vào đồ ăn. Kết qủa là khách hàng bị đau bụng, và tất nhiên nhà hàng mất khách, phải đóng cửa, đồng thời bị truy tố. Cũng vậy, rất nhiều công ty đã phá sản vì bị công ty đối thủ cạnh tranh bằng gài người ăn cắp thông tin, gieo tin đồn, gây chia rẽ nội bộ, thúc đẩy, mua chuộc nhân viên chống đối giám đốc, đình công, bãi thị. Cùng một cách thức, đời sống khu phố, thôn xóm thường xuyên xáo trộn, mất đoàn kết,   những màn hạ uy tín, vùi dập danh dự, đấu đá, tranh chấp giữa  hàng xóm láng diềng, do cạnh tranh không lành mạnh, bằng những phương tiện triệt hạ nhau rất  xấu xa, thô bỉ.
Nhiều người nghĩ rằng : đã cạnh trạnh thì không cần đạo đức, cũng như đã vào cuộc chiến “thua được, sống chết”, thì bất cứ vũ khí nào cũng được tự do sử dụng. Đàng khác, một khi đã gọi là lâm chiến, lâm trận thì không độc ác không được, không dã man không xong, không tàn bạo không chiến thắng, nên mọi thủ đọan ma mãnh, mọi mưu kế thâm độc, mọi kế hoạch gian xảo, mọi chiêu trò qủy quyệt đều coi như được phép, và mọi phương tiện, cách thế dù độc địa, tàn ác đến đâu cũng không làm người ta rùng mình, nương tay, chùn bước. Và do ý nghĩ duy nhất khi cạnh tranh là phải chiến thắng, phải thành công, phải hạ cho bằng được đối phương, bởi đối phương sống, thì ta chết, nên ta muốn sống, bằng mọi giá ta phải tiêu diệt, đốn gục đối phương.
Như thế sẽ không còn đạo đức trong cạnh tranh, khi thắng thua là tiêu chí, và hai bên không thể sống chung dưới một bầu trời, hai đối thủ không thể thở chung một làn khí, hai kẻ thù không được chiếu sáng chung bởi một mặt trời.
Nhưng tại sao cạnh tranh lại phi đạo đức, và không lành mạnh ?  
Thưa vì người ta lầm tưởng cạnh tranh là chiến tranh, sai lầm khi đồng hoá cạnh tranh với chiến tranh, và ảo tưởng khoác cho cạnh tranh áo giáp của chiến tranh, trang bị cho cạnh tranh vũ khí chiến tranh, và ép sinh hoạt cạnh tranh vốn bình thường, lành mạnh trở thành cuộc chiến tang thương, đẫm máu.    
Thực vậy, cạnh tranh không là chiến tranh, vì cạnh tranh là cố gắng vươn lên, là phấn đấu để vươn cao, vươn xa, vượt trội nhờ ý chí, khả năng, nghị lực. Trí thông minh, óc sáng tạo, tinh thần qủa cảm, hy sinh và việc làm hữu hiệu, có chất lượng là điều kiện, phương tiện, khí giới để cạnh tranh thành công. Giữa nhiều cửa tiệm buôn bán, giữa nhiều xí nghiệp sản xuất, giữa nhiều công ty dịch vụ, người ta đều có quyền và phải nỗ lực cạnh tranh, vì đó là luật tự nhiên, luật xã hội, luật lao động, khi ai nấy đều muốn sản phẩm của mình tốt hơn sản phẩm của người khác, dịch vụ của mình làm vui lòng khách hàng  hơn dịch vụ của công ty bạn. Có như thế con người mới tiến bộ, kinh tế mới phát triển, quốc gia mới phú cường.
Khi hiểu đúng cạnh tranh là cuộc thi đua lành mạnh, nghiã là mọi người đều được kêu gọi cố gắng để thành công hơn những người khác, xí nghiệp được nhắc nhở sản xuất sản phẩm có chất lượng hơn các xí nghiệp bạn với tinh thần cầu tiến, và lương thiện, cạnh tranh sẽ không còn là cuộc chiến tranh tương tàn, khi anh em, bạn bè, đồng nghiệp tìm cách đánh sụp cơ đồ, sự nghiệp của nhau cách tàn nhẫn, bằng những thủ đọan đê tiện ; cạnh tranh sẽ không bị xếp vào danh sách cuộc chiến  không đội trời chung giữa những người làm chung một ngành nghề, chủ trương chung một đường lối, khi không ngại xuống tay làm “tan gia bại sản” của nhau ; cạnh tranh sẽ không cho phép chiến tranh can thiệp với những chiến thuật, chiến lược tàn bạo, những vũ khí giết người, bởi chiến tranh không là cạnh tranh, khi chiến tranh đòi máu xương, thì cạnh tranh cậy nhờ trí tuệ, tìm đến ý chí  phấn đấu, hy sinh và dựa vào tinh thần hăng say làm việc.
Tóm lại, cạnh tranh là đòi hỏi tốt đẹp, điều kiện cần thiết, và việc làm chính đáng trong cuộc sống mà ai cũng phải cố gắng thực hiện, nếu muốn thành công hơn người. Đây là cuộc thi đua, phấn đấu đúng nghiã nhân văn cao qúy, khi đem hết khả năng, tài trí và nỗ lực của mình để xây dựng tương lai bản thân, và đóng góp vào sự phát triển của quê hương, đất nước, cũng như  hạnh phúc của cả nhân loại. Cạnh tranh khi ấy sẽ không vẩn đục ý nghĩ thù hận, ganh ghét, không vướng víu thủ đọan phi nhân, không tanh dơ mùi máu xương bạo lực, không nhơ nhớp những cáo trạng vu khống gian ác, hồ đồ, chỉ vì muốn diệt cho bằng được đối phương để  thành đạt, phải bước lên xác người khác để tiến thân khi đồng hoá cạnh tranh với chiến tranh và hăng say lao mình vào những cạnh tranh bất chính, không lành mạnh.     
Một xã hội mà cạnh tranh không lành mạnh, khi người ta lầm tưởng cạnh tranh là chiến tranh, thi đua là đấu đá, phấn đấu là hạ gục, tiêu diệt, thì diệt vong sẽ là tai hoạ không thể tránh. Vì thế, để con người sống bình an, xã hội chan hòa hạnh phúc, chúng ta phải cùng nhau phát huy nền văn hoá cạnh tranh lành mạnh, để đẩy lui não trạng “thương trường là chiến trường”, não trạng đã làm rạn nứt nền móng nhân ái, lương thiện của nhiều thế hệ, và hệ lụy của hiện tượng rạn nứt ấy vẫn còn rất nặng nề trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Ước mong thế hệ trẻ hôm nay ý thức giá trị và ý nghiã đích thực của văn hoá cạnh tranh lành mạnh để cuộc sống ngày càng thăng tiến cho hạnh phúc của mọi người.
Jorathe Nắng Tím

VĂN HÓA THÂN THIỆN

Đến một nơi hoàn toàn xa lạ, không quen biết ai, ngôn ngữ lại không rành, thì điều ước mơ lớn sẽ là gặp được một người có lòng tốt và thân thiện chỉ dẫn. Mới dọn đến lưu xá sinh viên năm đầu đại học, gặp được người bạn hàng xóm thân thiện để được giúp đỡ là một may mắn không dễ quên trong đời đi học. Hốt hoảng, ngơ ngác vì lạc đường, lạc nhóm giữa thành phố lớn trong chuyến du lịch nước ngoài, sẽ không gì sung sướng hơn khi gặp được người bản xứ thân thiện tận tình dẫn về khách sạn. Bị mất cắp điện thoại, giấy tờ trên đất khách quê người, sẽ không gì vui hơn được nhân viên an ninh thân thiện tìm cách giúp liên lạc với người thân.
Như thế, thân thiện là thái độ của người có lòng tốt sẵn sàng và tận tình giúp đỡ người khác khi họ cần, hoặc đoán trước nhu cầu của người khác và tự nguyện đề nghị giúp đỡ, như người nào đó thân thiện hỏi ta có cần họ giúp một tay không, khi thấy ta vất vả loay hoay với “tay xách nách mang”, đùm đề đồ đạc lỉnh kỉnh, lại đèo bồng hai con nhỏ nheo nhóc trước quầy “check -  in” ở phi trường. Thân thiện còn là thái độ vui vẻ chào thăm, hỏi han, vấn an người khác cách lịch sự, để tạo tương quan tin tưởng, và bầu khí thoải mái, vui tươi.
Người thân thiện không ngại mở đầu câu chuyện bằng lời chào niềm nở ; không ngượng ngùng nắm chặt bàn tay nói lời vấn an ; không rụt rè trao gửi nụ cười thân ái chung vui, và lúc nào cũng như muốn mở lòng, để cùng người chung quanh tạo thêm những tương quan mới, có thêm những bạn hiền mới, nối kết những tình thân mới. Người thân thiện luôn tươi tắn, dễ thương, hoà nhã, lịch sự, vì tận đáy sâu tâm hồn, họ có lòng tôn trọng tha nhân, tinh thần vị tha, bác ái, và tính năng nổ hay giúp đỡ, thích phục vụ mọi người.
Do đó, thân thiện không là thái độ bông lơi, nhẹ dạ, càng không là “tà lanh, tà lẹc”, xí xoọng, linh tinh, nhưng là đức tính cao qúy, nét đẹp nhân văn, nền văn hoá tuyệt vời làm cho các tương quan hài hoà, và đời sống xã hội an vui, hạnh phúc.
Trong xã hội văn minh, văn hoá thân thiện được coi là rất cần thiết, vì ở đó người ta đối xử với nhau lịch sự, có tình người, thể hiện qua thái độ thân thiện tôn trọng quyền lợi của nhau, qua lời ăn tiếng nói thân thiện khi trao đổi, qua cử chỉ thân thiện khi gặp gỡ, qua cách thế thân thiện khi cùng giải quyết một vấn đề, sự việc. Xã hội văn minh không cho phép con người  thô lỗ, bạo lực, dửng dưng, bất cần nhau trong sinh hoạt, nghiã là người văn minh phải là người có văn hoá thân thiện, khi loại bỏ khỏi đời sống chung những lời nói, việc làm mang tính chia rẽ, khai trừ, tẩy chay, loại bỏ. Những thái độ “phùng mang trợn mắt” như muốn “ăn tươi nuốt sống” người khác, những kiểu cách côn đồ, đe dọa, kiêu căng “xưng hùng xưng bá”, cả những phong thái lạnh nhạt, vô tâm, vô trách nhiệm đối với người chung quanh đều đi ngược nếp sống văn hoá thân thiện, và không xứng hợp với con người thân thiện.
Chính vì thế, khi phải ở trong một xã hội chậm tiến, kém phát triển, nhất là về phương diện giáo dục, thì người có văn hoá thân thiện dễ bị coi là người thiếu khôn ngoan khi chung quanh đầy những kẻ lưu manh, gian xảo, hở ra là chôm chỉa, cướp bóc ; dễ bị coi là người không cẩn trọng, khi xã hội dung dưỡng những kẻ lợi dụng lòng tốt của người khác ; dễ bị coi là ngây thơ, dại khờ trước phần đông những người mà trái tim đã hầu như vô cảm, chai đá. Và trong xã hội chậm tiến đó,  người ta coi thường những con người có tâm hồn và nếp sống thân thiện rất đáng trân qúy này.
Họ thực là những người rất đáng trân qúy, vì lối sống thân thiện của họ đem lại niềm vui cho cuộc sống, an ủi cho nhiều người, bởi một thế giới  gồm toàn những gương mặt cau có, khó chịu, lầm lì, “đâm lê”, thì hỏi niềm vui giữa người với người sẽ tìm đâu ra đất sống ? Họ thực là những người đáng trân trọng, vì có họ, gánh nặng đời sống của nhiều người sẽ bớt nặng hơn, khi được cảm thông, nâng đỡ bởi những tương giao thân thiện, những chia sẻ thân thiện. Họ thực là những người rất đáng tuyên dương, vì thái độ thân thiện phát xuất tự nhiên từ tâm hồn vị tha, nhân ái đã cho cuộc sống những bông hồng tươi thắm tình người.
Tóm lại, để trở thành người có văn hoá thân thiện, chúng ta không thể không trang bị cho mình một trái tim nhân ái, bởi không nhân ái, chúng ta không thể thân thiện được với ai, vì thân thiện chính là mở lòng ra với người khác, thân thiện là đưa bàn tay quảng đại và phục vụ ra cho người khác, thân thiện là hoà nhịp đập của trái tim với vui, buồn của người khác, thân thiện là đằm thắm chia sẻ và ân cần nâng đỡ người khác, thân thiện là quên mình để mang lại cho người khác niềm vui và hạnh phúc biết mình được quan tâm, trân trọng, yêu mến.
Vâng, được ở  khu phố có văn hoá thân thiện, được làm việc trong xí nghiệp có văn hoá thân thiện, được sống giữa xã hội có văn hoá thân thiện, cũng như được giao lưu, và ở với người có văn hoá thân thiện, chúng ta thực sự là những người may mắn hơn tất cả, bởi không gì đem đến cho ta niềm vui sống bằng tình người thân thiện, và không ai cho ta hạnh phúc sống hơn người có trái tim và lối sống thân thiện là “hoa thơm, trái ngọt” của văn minh loài người.
Jorathe Nắng Tím  

GIÁNG SINH CỦA NHỮNG NGƯỜI HÈN MỌN, BÉ NHỎ

Bêlem trong đêm Chúa giáng sinh cách đây hơn hai ngàn năm chắc chắn không như đêm giáng sinh năm nay ở Rôma, Paris, Nữu Ước, Sàigòn, … với trời đầy sao sáng, những đại lộ rộng lớn, muôn mầu rực rỡ, những cửa hàng lộng lẫy, sang trọng, và rừng người chen chúc xuống đường mừng Noel.
Qủa thực, Giáng Sinh năm xưa ở Bêlem không huy hoàng, tráng lệ như hôm nay, nhưng im lìm, lặng lẽ, không kèn đồng, trống phách, không tiếng người vui nhộn, không pháo nổ rền vang, không cây thông với thiệp mừng, quà tặng, không tiệc tùng với rượu qúy, đặc sản đắt tiền.
Giáng sinh năm ấy rất lặng lẽ với đám “người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật”. Họ được thiên thần báo tin. Họ đã sang Bêlem và đã thấy “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, cùng với bà Maria, ông Giuse, thân sinh của Hài Nhi (x. Lc 2,8-16).
Tin Mừng đã mô tả toàn thể quang cảnh đêm giáng sinh ở Bêlem, và quang cảnh ấy thật vắng vẻ, êm đềm, thanh tịnh : vắng vẻ vì chỉ vỏn vẹn một nhóm chăn chiên, với thánh gia ; êm đềm vì cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất nhẹ nhàng, chóng vánh, không huyên náo, ồn ào ; thanh tịnh vì bầu khí êm ả, trong sáng, đơn sơ, nghèo nàn. Qủa là một đêm an bình, một trời thanh bình, một cõi lòng bình an, khi Ngôi Lời đã bé nhỏ, kín đáo, âm thầm “làm người”, như không muốn đánh thức, làm phiền giấc ngủ của bất cứ tạo vật nào. Ngôi Lời “bé nhỏ” đã không đến trong cung điện nguy nga của vua Hêrođê, giữa lòng thủ đô Giêrusalem huyên náo, nhộn nhịp, nhưng chọn cánh đồng Bêlem chìm trong đêm tối, chìm trong thinh lặng, chìm trong nghèo khó, và ở giữa bóng đêm, thinh lặng, nghèo khó ấy, Thiên Chúa đã xuống thế làm người và ở giữa chúng ta.
Chọn Bêlem bé nhỏ, chọn thánh gia nghèo nàn, chọn đêm khuya thanh vắng, chọn thời điểm khó khăn, Thiên Chúa đã đi ngược suy đóan của con người, vì ai cũng nghĩ với lời loan báo “Hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, Đức Chúa” (Lc 2,11), Ngôi Lời sẽ đến trong vinh quang ngời sáng uy lực của Thiên Chúa các đạo binh, ai cũng tưởng Đấng Thiên Sai sẽ “oai phong lẫm liệt” vào đời cho xứng với danh hiệu và vinh dự Đức Chúa,  nhưng đã không có gì xẩy ra như ý nghĩ của con người, không có gì đã thực hiện như suy đoán của phàm nhân, khi ánh sáng của Thiên Chúa đã không chói sáng đến độ làm mù loà những người chăn chiên nghèo khó, cũng không quét sáng cả vùng để mọi người tỉnh giấc, vội vàng kéo nhau từng đoàn đông đảo đến Máng Cỏ Bêlem. Trái lại, ánh sáng dịu dàng của Thiên Chúa đã chỉ nói với những người chăn chiên nghèo hèn, đơn sơ, chất phác ; ánh sáng thân thiện, đằm thắm của Ngôi Hai đã chỉ trao đổi với những con người mà tâm hồn luôn sẵn sàng đón nhận ánh sáng ngay trong đêm đen, và bóng tối của cuộc sống hằng ngày ; ánh sáng tế nhị, ân cần của Đấng Cứu Thế đã chỉ chia sẻ với những con người bị xã hội khinh khi, nhưng vẫn hiền lành, nhân hậu. Và ánh sáng của Hài Nhi Giêsu đã kín đáo đến với nhân loại qua những con đuờng hiền lành, khiêm nhường, nghèo khó, để những con đường ngợp ánh đèn kiêu căng, những dẫy phố giăng kín sao danh vọng, những đại lộ chói chan ích kỷ, gian tham đã không là đường để ánh sáng nhẹ nhàng, êm dịu, khiêm cung của Thiên Chúa làm người đi qua, đến với nhân loại.         
Nhưng tại sao ánh sáng của Thiên Chúa giáng sinh lại chọn những con người nhỏ bé, nghèo hèn ?
Vì cuộc đời họ là đêm tối được tạo ra do lòng ích kỷ, tham lam của đồng loại quyền thế, nên họ khao khát được ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi, để họ không suốt đời phải tuyệt vọng trong tủi nhục, khi ánh sáng đến cho họ biết : “Chúa biểu dương sức mạnh... Người nâng mọi kẻ khiêm nhường… Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư” (Lc 1,51.52.53). Vì cuộc sống họ là bóng đêm làm nên bởi tham vọng bất chính của kẻ mạnh, nên họ mơ ước gặp được ánh sáng giải phóng, để đời họ không mãi là thân tù đầy, kiếp nô lệ, phận hẩm hiu, tăm tối, khi ánh sáng “loan báo Tin Mừng  cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (x. Lc 4,18-19). Vì kiếp người của họ chìm sâu trong bóng tối do ác độc của cơ chế quyền lực, nên họ mòn mỏi đợi trông ánh sáng cứu độ, để được giải thoát khỏi cảnh suốt đời phải khóc lóc, sầu buồn, bị “sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa”, khi ánh sáng đến mặc khải cho họ biết : Nước Trời là của họ, họ sẽ được Thiên Chúa ủi an, họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa, và phần thưởng của họ trên trời thật lớn lao (x. Mt 5, 3-12).          
Sở dĩ những người nghèo khó, cơ cùng, bé nhỏ này nhận được ánh sáng giáng sinh như các người chăn chiên ở Bêlem, vì họ khao khát, và mòn mỏi trông đợi ánh sáng của Thiên Chúa. Họ không như phần đông những người quyền thế, sang giầu đã không nhận ra “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đã đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), nhưng với trái tim đơn sơ của người khiêm nhường, nghèo khó, họ nhận ra “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, và họ “được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14).
Đàng khác, họ nhận ra ánh sáng của Thiên Chúa, nhờ họ giống Thiên Chúa ở yếu đuối, mong manh, mỏng dòn, dễ vỡ của những con người bé nhỏ, vô danh tiểu tốt, không tiếng nói, không địa vị, bị đời khinh bạc, ruồng rẫy, bỏ rơi, bởi khi xuống thế làm người, Thiên Chúa đã chọn yếu đuối của “con trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” để mặc khải cho những người nghèo hèn, nhỏ bé mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng yêu thương và chọn  người bé nhỏ là người lớn nhất trong Nước Trời (x. Mt 18,1-4).
Họ là những người quảng đại đón nhận niềm vui của ánh sáng, vì ánh sáng có chỗ trong tâm hồn nghèo khó của họ, trong khi tâm hồn những người quyền thế, ham mê của cải không còn chỗ cho ánh sáng, như thánh Gioan đã viết : “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Không đón nhận, một phần vì không có chỗ, nhưng phần lớn vì không muốn đón nhận, bởi họ thích bóng tối hơn ánh sáng, khi bóng tối đồng loã che đậy những điều gian ác họ làm.
Họ là những người được Thiên Chúa tuyển chọn để làm chứng Thiên Chúa đã làm người bé nhỏ để không người bé nhỏ, hèn mọn nào bị coi là nhỏ bé trong Nước Thiên Chúa, bởi người nhỏ nhất sẽ là người lớn nhất, bởi “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). “Làm như thế”, nghiã là “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới áo mặc, thăm viếng kẻ đau yếu, tù đầy, cho khách trú nhà, nghỉ chân” (x. Mt 25,35-36).
Sau cùng, vinh dự cao qúy Thiên Chúa dành cho người nhỏ bé, hèn mọn chính là sai họ như những người đầu tiên lên đường loan báo Tin Vui “nhân loại được cứu độ” như các mục đồng ở Bêlem “ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe” (Lc 2,20)     
Giáng Sinh về, xin Chúa Hài Đồng cho chúng ta nhận ra “mầu nhiệm yếu đuối, bé nhỏ” của Thiên Chúa và tình yêu đặc biệt Ngài dành cho những con người nhỏ bé, để biết trân trọng những gì bị coi là bé nhỏ trong cuộc sống, và yêu mến, bênh vực, nâng đỡ những người bị người đời coi thường, bạc đãi vì hèn mọn, bé nhỏ, bởi mầu nhiệm Thiên Chúa đã chỉ được mặc khải cho những người bé mọn, mà không cho bậc khôn ngoan, thông thái (x. Mt 11,25).   
Jorathe Nắng Tím                   
Noel 2019