Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2020

TÌNH YÊU LÀM ƠN MẮC OÁN


Làm ơn cho người khác là một niềm vui với những người có lòng tốt, có trái tim quảng đại; nhưng lại là một gánh nặng, một mất mát với những người ích kỷ, bon chen, tính toán. Không bàn đến gánh nặng này, ở đây ta chỉ chia sẻ niềm vui của những tâm hồn quảng đại hay làm ơn cho người khác.
Người thích thi ân, giúp đỡ người khác là người có lòng thương người. Có thương người mới mau mắn giúp người, có yêu người mới san sẻ cơm bánh, hy sinh thời gian, sức khỏe cho người. Thiếu tình yêu từ trái tim, bàn tay khó có thể mở ra để ban phát.
Khi làm ơn, giúp đỡ, đương sự ít nghĩ đến đòi ơn; nhưng thi ân như một bổn phận, một niềm vui, một cố gắng phải có của con người dành cho con người. Họ cũng không tính toán, so đo, tìm kiếm gì cho bằng chỉ nghĩ đến ích lợi và hạnh phúc của người mình thi ân. Chính vì thế, chuyện trả ơn là chuyện của người chịu ơn chứ không là đợi chờ, điều kiện, mục đích nơi người thi ân. Người làm ơn cũng chẳng nghĩ gì, chẳng buồn gì khi người chịu ơn quên họ hay chẳng mảy may nhớ đến ơn họ đã làm. Trách móc người vô ơn, chê bai người vong ân thường là của những người ngoài cuộc, nhận xét với con mắt khách quan; còn chính người thi ân thường chẳng biết mô tê và chẳng nhớ đã làm gì cho ai.
Chấp nhận người khác quên ơn mình là giá trị của người thi ơn. Thi ơn lúc đó trở thành một nghĩa cử cao đẹp không gì so sánh được trong sinh hoạt của con người. Nó nói lên sự cao thượng của tâm hồn và nét đẹp tuyệt vời của tình người không biên giới, không đổi chác. Nếu thế giới loài người chỉ có những con tim đóng cửa, chỉ gồm toàn những nhà kinh doanh tình cảm, những lái buôn tình yêu, những đầu nậu ơn nghĩa thì thế giới sẽ không còn tình nhân loại và con người sẽ mất hết đất sống. Sở dĩ thế giới còn đẹp, tình người còn xanh, ơn người còn đỏ thắm, chính là nhờ sự có mặt của những con tim quảng đại, những bàn tay thi ân không mỏi mệt.
Tuy thế, người thi ân đôi lúc cũng có nỗi khổ: làm ơn mắc oán. Đã hẳn làm ơn thì chẳng cần chi đến ơn phải trả; nhưng oái oăm thay, đôi lúc không những ơn không được trả mà ngược lại oán lại theo sau. Người thụ ơn phút chốc có thể oán trách người thi ân và xem ân nhân như thù địch của mình.
Trước khi chia sẻ về một thái độ phải có, ta dừng lại ở đây để phân tích tâm lý của người thụ ơn.
Người thụ ơn, không kể một số ít biết ơn, luôn muốn và tìm mọi cách đền đáp ân sâu nghĩa nặng; còn đa số rơi vào một tình trạng tâm lý rất phức tạp là tạo nên hờn oán để xóa mặc cảm chịu ơn. Tiến trình có thứ tự theo từng giao đoạn.
Giai đoạn thứ nhất là buổi bế tắc, eo hẹp, khó khăn phải cần đến người khác. Vì cần đến người nên chiều người, biết điều với người, dễ thương với người và làm mọi chuyện để được người thương. Được người thương, được người giúp đỡ. Giai đoạn thứ nhất xem như hoàn thành tốt đẹp.
Giai đoạn thứ hai là thời thịnh vượng. Nhờ có sự giúp đỡ của người nên công việc được hạnh thông, suông sẻ. Ỷ thức về khả năng của mình có cơ hội tung hoành.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn quá độ của ý thức “cái tôi toàn năng”. Trong ý thức quá độ và lệch lạc này, người thụ ơn muốn xóa hoàn toàn và tận gốc rễ cái quá khứ “bế tắc, eo hẹp, chịu ơn ” của mình. Họ không thể để sót lại bất cứ dấu vết gì của việc chịu ơn, của thời được giúp đỡ vì nghĩ rằng mình sẽ không thể “trọn vẹn là mình “, sẽ không nói lên cho đời hết khả năng của mình nếu còn một hình ảnh “tháng ngày ơn nghĩa xưa”. Ý tưởng “toàn năng” thống trị trong họ bắt họ phải nghĩ rằng: tôi có thể làm được tất cả, còn chuyện ngày xưa có người giúp đỡ chỉ là chuyện nhỏ; vì quả thực, nếu không có họ, tôi cũng đã giải quyết được vấn đề, có khác là bằng cách khác của riêng tôi. Lý luận ấy nghe rất chỉnh trong vòng vây của mặc cảm tự tôn; luận lý ấy nghe cũng rất thuận trong mục đích làm nổi “cái tôi ”. Để làm nổi “tôi”, tôi phải làm dìm “người”, làm chìm người khác đi, nhất là những người đã tham dự vào đời mình là nguyên tắc không thay đổi của những người “nhận ơn, trả oán” này.
Làm chìm người khác, họ phải nhận chìm mạnh bạo hơn, dữ dội hơn, kinh khủng hơn chính người đã đóng góp công sức và tình yêu làm nên thành công và hạnh phúc đời họ. Bởi còn dính dáng đến ơn nghĩa, qua lại với ân nhân là chưa được thực sự “toàn năng”, chưa đủ tầm vóc “một mình làm nên tất cả”, chưa thoả mãn ngông cuồng “một mình làm nên tất cả”.
Nhiều ca sĩ nổi danh, doanh thương có tiếng hay chính trị gia thời đại cũng thường tránh xa quá khứ tăm tối của đời mình, ngại nhắc đến cha mẹ với xóm làng thanh bạch nghèo nàn thời cơ hàn. Họ chỉ nói đến hiện tại huy hoàng, thành công và tự phụ là do chính mình, tự mình làm nên công danh sự nghiệp. Những nhịp cầu đã tận tụy, âm thầm hy sinh làm cầu đưa họ lên đài vinh quang này đã bị họ cẩn thận đốn chặt, thiêu hủy. Họ tự viết ra một lý lịch mới trong đó họ là đứa bé hạnh phúc nhất đời, tuổi trẻ thành công nhất đời, sự nghiệp vững chắc nhất đời. Chỉ có họ là “nhất”, nhất từ đầu đến cuối, nhất trong mọi phương diện, nhất hơn hết mọi người.
Và chỉ một tham vọng đứng nhất thôi đã đủ thôi thúc họ đập nát những người ơn xưa; vì có mặt những người ơn này, họ khó có thể thay đổi lý lịch, man khai thành quả, vỗ ngực xưng tên mà không bị phát hiện; bởi không ai biết sự thực về đời họ hơn những người đã đóng góp hy sinh, xây dựng đời họ.
Sau cùng, thân phận phải có của những người làm ơn là chịu vùi dập bởi chính những người mình đã giúp đỡ, thi ơn. Bị vùi dập bằng thủ đoạn, có thể là những thủ đoạn thô bỉ nhất, với mục đích là phải xóa sổ, bôi tên. Chính trong cảnh phũ phàng này là lúc người thi ơn nhận về phần mình mọi bẽ bàng, đau đớn. Không đau đớn sao được khi tình yêu vẫn còn đó, trong tim người thi ân. Không bẽ bàng sao được khi người mình trao gửi hy sinh và hy vọng lại đang điên cuồng, cao ngạo tẩy xóa sự có mặt của mình trong đời họ. Và nước mắt nghẹn trong cổ, đắng đót ứ trong tim khi ân sâu nghĩa nặng được đền bằng oán hận ngút ngàn.
Đức Kitô đã sống nỗi khổ này, bởi tình yêu cho đi là thế, bởi qui luật của tình yêu là phải bỏ mình, đánh mất mình trọn vẹn. Trước mặt quan tổng trấn Philatô, người đại diện chính quyền đế quốc Rôma và quần chúng, Đức Kitô đã bị chính những người mà Ngài đã yêu thương, dậy dỗ, chăm sóc chữa lành lên án. Họ gào thét inh ỏi, phẫn nộ: “Đóng đinh nó, đóng đinh Giêsu vào thập giá ” (Lc 23,13-26). Họ chịu ơn Chúa cách này cách khác, họ được Chúa yêu thương, bênh vực; dù gì ân tình vẫn còn đó, có lý do gì mà trở mặt vô ơn trắng trợn đến như vậy khi gào thét yêu cầu đóng đinh người đã thi ơn cho mình vào thập giá. Sự vô ơn của đám đông đã làm Đức Kitô phải rùng mình. Ngài rùng mình vì cái bạc bẽo đáng sợ của lòng người, rùng mình vì sự trở mặt không thể lường trưóc của tình đời. Cái rùng mình, đau đớn, đắng cay của một Thiên Chúa đã nói lên cơn đau cực độ của những trái tim đã theo Ngài thi ân để rồi bị phản bội.
Trước phẫn nộ của dân chúng, Đức Kitô tuy đau khổ nhưng chẳng biện bác, kể lể gì. Công lênh Ngài bao la, tình yêu Ngài tràn đầy; nhưng trước đám đông đang lấy oán trả ơn, Ngài chỉ khóc vì vẫn thiết tha yêu họ.
Ở đây, Đức Kitô dậy ta thêm một nghệ thuật yêu nữa, đó là chấp nhận bị báo oán khi yêu thương, giúp đỡ người khác. Nếu ta sợ thi ân vì sẽ bị vô ơn và trả oán thì ta sẽ không bao giờ làm ơn cho ai và như thế, ta không hơn gì những người khác. Như họ, ta cũng sẽ khép chặt cánh cửa lòng, nắm chặt đôi bàn tay, nhắm nghiền đôi mắt để không thấy yêu thương đâu, không tìm chia sẻ bao giờ và lui về vỏ ốc ích kỷ, cao ngạo, tự mãn. Nếu ta sợ phải khóc vì ơn sẽ được đền bằng oán, ta cũng sẽ rơi vào tình trạng dửng dưng trước mọi nhu cầu của tha nhân và tim ta sẽ héo khô vì thiếu hẳn tình người.
Đức Kitô không muốn ta sợ. Ngài muốn ta thấy hết những chuyện có thể xảy ra khi ta yêu, Ngài muốn ta cứ can đảm yêu và kiên trì theo hành trình bác ái với Ngài. Như Ngài, ta chấp nhận gian khổ, chấp nhận bị vu oan vì yêu thương, bị xỉ nhục vì làm phước cho người khác, chấp nhận bị xóa mờ kể cả xóa hết tên tuổi, danh dự vì tương lai, hạnh phúc của tha nhân. Cùng với Đức Kitô, ta âm thầm khóc khi bị báo oán, hàm oan chỉ vì đã yêu thương. Nước mắt ấy sẽ trở thành máu, máu cứu độ của Đức Kitô, kéo ơn thứ tha cho chính những người ta đã yêu thương, giúp đỡ. Họ không thương ta, đó là chuyện của họ; họ không biết ơn ta, đó cũng là chuyện của họ. Hãy làm mọi việc vì Thiên Chúa vì chính Ngài sẽ “đong lại cho ta rất nhiều, nhiều hơn những đấu ta đã đong cho người khác” (Lc 6,38).
Trong kinh nguyện chiều nay, chúng ta nhớ cầu cho những tâm hồn quảng đại hay thi ân giúp đỡ. Xin cho họ ý thức sự có mặt và đồng hành của Đức Kitô trên mọi tuyến đường bác ái của họ. Cầu cho họ, tôi cũng cầu cho bạn, vì tôi biết tâm hồn bạn cũng quảng đại, đang rộng mở thi ơn.

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2020

TÌNH YÊU PHỤC VỤ CỦA ĐỨC KITÔ


Cuộc sống là chuỗi dài chọn lựa nên không chọn lựa là không sống. Cũng có những cuộc sống không chọn lựa; nhưng chính khi không chọn lựa gì, những cuộc sống ấy đã chọn sống cuộc đời không chọn lựa.
Tôi tin rằng, bạn muốn sống đời bạn, sống đời của bạn nên vấn đề chọn lựa trở thành chính cuộc sống, gắn bó, gần gũi, triền miên, cấp bách.
Có những chọn lựa rất quan trọng, nhưng chỉ chọn một lần trong đời như đi tu, lập gia đình. Có những chọn lựa ít quan trọng hơn và có thể chọn đi chọn lại nhiều lần như chọn ngành học, chọn nghề nghiệp, chọn nơi ở, nhà cửa, xe cộ... Bên cạnh đó có những chọn lựa liên lỉ hằng ngày, hằng giờ, hằng phút: chọn một thái độ.
Thái độ là bộ mặt của cuộc sống. Qua bộ mặt này, ta gặp gỡ tha nhân, ta đến với người khác. Bộ mặt biểu lộ tình trạng vui buồn, sung sướng, lo âu, xuề xòa, bẳn gắt, dễ thương của tâm hồn. Và thái độ rất ít khi phản bội sự thực của con tim, tổng hành dinh của sự sống.
Chọn một thái độ sống, tức là chọn cho đời sống một hình ảnh, một hướng đi, một mục đích. Thái độ không giản đơn ở bề mặt, ngoại diện, nhưng là kết quả của những cố gắng, những chọn lựa của trí óc và qủa tim. Trí óc ấy gắn bó với trái tim để hình thành một thái độ xứng hợp. Thái độ cao qúy làm cho đời trở thành cao qúy; thái độ làm xàm biến đời thành vô vị. Bởi qua thái độ, người ta cho điểm giá trị cuộc đời.
Như thế, tình yêu cũng đòi một thái độ. Khi yêu nhau, thái độ phải khác khi chưa yêu. Bằng chứng là ta đã dành không ít thời giờ để lo lắng, chăm sóc từng cử chỉ, điệu bộ khi ra mắt người yêu, khi gần gũi người yêu. Thái độ ấy không thể đi ngược tình yêu ta đang có. Nên nếu phải đóng kịch, thì thái độ ấy cũng chỉ qua được một vài màn, rồi sẽ tự lộ tẩy, bị khám phá, lật mặt.
Thái độ trong tình yêu là yêu. Nhưng đó chỉ là thái độ chung chung chưa chính xác, chưa được gọi đích danh. Phải tìm ra một thái độ nào đó có khả năng làm nền cho tình yêu đứng vững, có sức mạnh đẩy tình yêu đi lên, có nghị lực nâng đỡ tình yêu đang đổ vỡ, có độ mặn làm nồng nàn tình yêu đang nguội lạnh, có chất diệp lục làm xanh lại tình yêu đang héo úa. Thái độ ấy không thay thế những đòi hỏi của tình yêu nhưng làm nền móng cho ngôi nhà tình yêu, ngôi nhà lý tưởng mà ai cũng mơ ước.
Tôi không hơn bạn trong tình yêu, bằng chứng là tôi đã nhiều phen thất điên bát đảo vì tình, lận đận lao đao vì yêu. Chỉ có Đức Kitô, đấng là Tình Yêu mới là thầy dậy xứng đáng của tình yêu.
Trong suốt cuộc đời và giáo huấn, Đức Kitô không mệt mỏi loan báo Tin Mừng Tình Yêu. Ngài yêu tha thiết mọi người và kêu gọi mọi người thương nhau. Ngài biết điều này không dễ, nhưng không phải không thể thực hiện. Khi chết cho tình yêu, Ngài muốn minh chứng tình của Ngài là Tình tuyệt đối, không giới hạn, lớn hơn sự chết và thực hiện được. Mục đích của Ngài là mời gọi chúng ta cùng Ngài thực hiện Tin Mừng Tình Yêu.Để đạt được mục đích này, qua các môn đệ, Ngài đề nghị chúng ta một thái độ.
Tin Mừng theo Thánh Gioan (13,1-35) kể lại, thái độ yêu thương phải có mà chính Đức Kitô trước khi lìa trần đã ân cần căn dặn các môn đệ: thái độ phục vụ nhau trong khiêm tốn. Khi cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ, Đức Kitô muốn các ông động lòng vì thái độ khiêm tốn, rung cảm vì việc làm phục vụ của Ngài. Nói về yêu thương đã nhiều, giảng về yêu thương khiông ít; nhưng đợi đến giây phút chót trước khi từ giã lên đường tử nạn, Đức Kitô mới đặt các ông trước một thái độ phải có để thực hiện Yêu thương: khiêm tốn phục vụ.
Quả thực, ta có thể nói về yêu thương hằng giờ, viết về yêu thương từng tập; nhưng yêu thương sẽ chẳng bao giờ nhập cuộc, cũng sẽ không nhập thể, nhập thế nếu thiếu một thái độ cụ thể như điểm khởi hành, như bãi đáp cho những cánh trực thăng tình yêu huyền thoại. Tình yêu có cánh nên thích bay bổng, mênh mông ngoài đời. Bay ngoài đời sẽ thoải mái, nhẹ nhàng, dễ thở, khoan khoái hơn bay vào đời, bay nhào vào khu dân sinh nghèo nàn, đáp thẳng giữa đám dân thiếu học, giữa những gia đình nhiều tranh chấp, đố kỵ. Tình yêu bay bổng vẫn luôn là ước mơ của nhiều người vì tình yêu ấy có mộng mơ của thơ, có du dương của nhạc, có vần điệu của văn chương. Chính vì thế, nhiều khi tình yêu chỉ được nói đến, viết đến nhưng lại không được thực hiện trong cuộc sống.
Cũng như người muốn trở thành thầy dòng chiêm niệm nhưng lại ngại cầu nguyện, người muốn lái xe nhưng sợ ngồi xe, người thích làm bác sỹ nhưng không chịu thực tập ở bệnh viện vì sợ bệnh nhân; người ca tụng tình yêu, người muốn yêu nhưng không bắt đầu bằng chọn một thái độ yêu cũng giống như thế. Khi không chọn thái độ khiêm tốn phục vụ, tình yêu sẽ mãi là tình của ánh trăng trên mặt nước, rất thi vị, mộng mơ nhưng sẽ mãi hão huyền, viển vông, dễ vỡ.
Để tình yêu bám được vào da thịt, ăn sâu trong lòng đời, lớn lên trong lòng người, sinh hoa kết trái cho đời, nó phải đi từ khiêm tốn, phục vụ. Đây là bằng chứng hùng hồn và duy nhất để nhận ra ở đâu có tình yêu; đây là mã số cần thiết để tìm ra địa chỉ của tình yêu. Không thể có chìa khóa nào khác ngoài chìa khóa “phục vụ, khiêm tốn" để mở cửa kho tàng tình yêu.
Đức Kitô hiểu rõ, thiếu khiêm tốn tình yêu sẽ biến thể thành hung hãn, thiếu phục vụ tình yêu sẽ đổi mặt thành độc tài, thống trị. Khiêm tốn, phục vụ không những là khởi điểm của hành trình tình yêu, là điều kiện cho hành trình tình yêu đặt chân lên đất người; nó còn là thước đo mức độ yêu thương, là dưỡng chất nuôi dưỡng tình yêu.
Thái độ ấy, chọn lựa phục vụ, khiêm tốn ấy không dễ. Nó là cả một hành trình sống, đòi hỏi hy sinh và quên mình. Không dễ khiêm tốn vì khiêm tốn dễ bị thua người, dễ bị người bắt nạt, “chơi cha”. Phục vụ lại càng khó vì ai cũng muốn mình được người khác phục vụ, nên phục vụ ai thường dễ bị xem là nô lệ của người đó. Thái độ ấy còn đòi hỏi một từ bỏ quả cảm: bỏ mình. Bỏ cha mẹ, gia đình, của cải đã quá khó, nay phải bỏ mình, xem ra ngao ngán, khó khăn bội phần. Thế nhưng Đức Kitô đã dậy ta như vậy, đã bảo ta phải có thái độ này khi yêu, dù là yêu ai đi nữa, thái độ khiêm tốn, phục vụ vẫn là thái độ căn bản, không thể thiếu.
Trong đời sống, với những kinh nghiệm yêu, ta thấy tình yêu hay lên xuống, trồi sụt. Vì thế, khi thiếu nền tảng vững chắc, tình yêu sẽ không tránh được có ngày phá rào rong chơi rồi mất dạng. Nền tảng lôi kéo tình yêu ở lại là phục vụ nhau trong khiêm tốn. Người yêu ta dù bê bối đến đâu đi nữa, cũng không thể chai đá mãi trước thái độ khiêm tốn phục vụ của ta. Chính thái độ này sẽ cảm hóa, đánh thức trái tim đang ngủ vùi của họ; vì yêu ai trong phục vụ là yêu chính họ. Nhận ra mình được yêu thực sự, họ sẽ khám phá ra hạnh phúc được yêu và tìm ra lý tưởng phải thực hiện là yêu lại hết mình.
Chiều nay, Đức Kitô ghé nhà bạn. Trước bữa ăn, bạn thấy Ngài dọn bàn, cẩn thận lau từng đôi đũa, xếp từng chiếc ly. Sau bữa ăn, Ngài đon đả dành phần rửa chén. Bạn không muốn Ngài làm những việc nhỏ mọn ấy vì biết Ngài là Thiên Chúa; nhưng Ngài chỉ cười và thì thầm với bạn: “Niềm vui của Thầy là phục vụ; con có muốn chia sẻ niềm vui yêu thương đó với Thầy không? “ Tôi nghĩ, bạn khó có thể trả lời không, vì tim bạn đã tràn đầy Tình yêu Ngài. Tôi cũng muốn được cùng bạn chia sẻ niềm vui ấy.

TINH THẦN CỦA GIỚI LUẬT MỚI

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 6 Thường Niên, Năm A
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã nhiều lần tỏ ra bất chấp lề luật, như khi chữa người bị bại tay trong ngày Sabát, điều mà Luật Môsê cấm không được làm trong ngày dành cho Thiên Chúa. Tin Mừng Matthêu đã kể lại chi tiết : Đức Giêsu đi vào hội đường của người Do Thái, tại đây, có người bị bại một tay. Người ta hỏi Đức Giêsu rằng : “Có được phép chữa bệnh ngày sabát không ?”. Họ hỏi thế là để tố cáo Người. Người đáp : “Ai trong các ông có một con chiên độc nhất bị sa hố ngày sabát, lại không nắm lấy nó và kéo lên sao ? Mà người thì qúy hơn chiên biết mấy ! Vì thế, ngày sabát được phép làm điều lành”. Rồi Đức Giêsu bảo người bại tay : “Anh giơ tay ra ! Người ấy giơ tay ra và tay liền trở lại bình thường lành mạnh như tay kia” (Mt 11,10-13). Tin Mừng Máccô còn ghi thêm qủa quyết vững chắc của Đức Giêsu : “Ngày sabát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn ngày sabát” (Mc 2,27).    
Nhưng cũng trong Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu lại hết lời bênh vực Lề Luật : “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các Ngôn Sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Ngài còn đi xa hơn : “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” (Mt 5, 21-22).
Chúng ta cần ghi nhận những điều quan trọng  Đức Giêsu muốn nói với chúng ta :
1.   Đức Giêsu không mâu thuẫn trong giáo lý và Giới Luật mới Yêu Thương của Ngài :
Trong cả hai đọan Tin Mừng xem ra như đối nghịch, mâu thuẫn, Đức Giêsu đều nhấn mạnh giới luật Yêu Thương : đoạn Tin Mừng chữa người bại tay trong ngày Sabát là ngày Luật Môsê cấm làm việc, Đức Giêsu đã tuyên bố : ngày Sabát được làm ra cho con người, và ưu tiên ở đây là thực hiện đức ái đối với người bị bại tay đang cần được cứu chữa. Nói cách khác, bất cứ lề luật nào, bất kỳ khoản luật nào của bộ luật sẽ chỉ có giá trị khi quy chiếu về tình yêu phục vụ, bởi theo Đức Giêsu : lề luật được làm ra là để phục vụ hạnh phúc của con người, chứ con người không làm nô lệ cho lề luật.
Cũng trong ý hướng duy nhất đó, Đức Giêsu đi đến tận nguồn cội, cốt lõi của giới luật mới Tình Yêu, khi đòi buộc chúng ta phải quan tâm, lưu ý đến cả những chi tiết của tình yêu, những việc nhỏ trong giới luật Tình yêu, những chi tiết và việc nhỏ mà luật Môsê không để ý, cũng không đề cập đến, nhưng trong thực tế lại là nguyên nhân làm người khác bị tổn thương, đau khổ nhiều và thường xuyên như giận dỗi anh em, mắng nhiếc anh em là đồ ngu ngốc, chửi rủa anh em là đồ phản đạo (x. Mt 5,22).
2.   Tính cách luôn tích cực của Giới Luật mới Yêu Thương :
Lề Luật Môsê chỉ dừng lại ở Công Bình, với nguyên tắc : “Mắt đền mắt, răng đền răng” (x. Mt 5,38), cũng như “chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà” (Mt 5,21), nghiã là nếu anh giết người thì anh sẽ bị ra toà, và quan toà sẽ nhân danh luật “máu đòi máu, mạng đền mạng” để bắt anh phải chết, nhưng Luật cũ Môsê không đi xa hơn, không vươn cao hơn, không chủ động tích cực, để có thể vượt ngưỡng Công Bình bước vào Bác Ái, mà thực hiện đòi hỏi của Đức Ái sâu thẳm và nền tảng như “khi sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5, 23-24). Cũng như “nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm” (Mt 5,39-41).
Qủa thực, chuyện “bỏ của lễ lại đó trước bàn thờ mà đi làm hoà với anh em”, đi xin lỗi người mình xúc phạm, làm buồn lòng, chuyện người ta tát má phải lại chừa thêm má trái, ai xin áo ngoài, cho cả áo trong, ai đòi dẫn đi một cây số, sẽ không ngại đi hết cây số thứ hai với họ, thì chỉ có Giới Luật mới Yêu Thương của Đức Giêsu mới đề cập và đòi buộc, chỉ có người đi theo Đức Giêsu mới dám dấn thân thực hiện, và chỉ với ơn của Thánh Thần Tình Yêu, người tín hữu của Đức Giêsu mới có thể sống trọn vẹn tinh thần của  giới luật yêu thương.
3.   Tinh Thần của Lề Luật :
Một điều rất quan trọng khác Đức Giêsu muốn nói trong đọan Tin Mừng này là : chân trời của Lề Luật phải được mở ra cho tương quan giữa con người với con người. Điều này có nghiã : tất cả khoản luật trong luật Môsê phải được hướng đến Giới Luật mới của Tân Ước, tức Luật Yêu Thương giữa con người với con người của Đức Giêsu, mà chân trời của Giới Luật này là hạnh phúc của con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ, và nhờ đó, tất cả mọi người hoà giải được với nhau và  sống với nhau trong tình yêu, khi tuân giữ giới luật của chính Thiên Chúa ban cho con người : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Lề Luật từ nay không còn là những khoản luật lạnh lùng mà con người phải chu toàn một cách máy móc, trong trạng thái đầy lo âu, sợ sệt như sẽ bị trừng phạt, nếu sai phạm, thiếu sót, nhưng là tinh thần phân định để sống Luật Yêu Thương  của Thiên Chúa là Tình Yêu dưới cái nhìn của Thiên Chúa và Lời  Ngài. Tinh thần phân định này là ơn sủng của Thần Khí, như thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô đã viết : “Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” (1 Cr 2, 10). Chính tinh thần phân định đượcThần Khí ban đã giúp chúng ta sống Lề Luật một cách trọn hảo, và đẹp lòng Thiên Chúa.
Sau cùng, Lề Luật từ nay không chỉ là những tội danh được gọi tên như giết người, ngoại tình… nhưng là sống tinh thần hoà giải của lề luật, sống sự thật của tâm hồn, sống trung thành với Lời hằng sống, và như thế Lề Luật luôn mang tính giải phóng, thăng tiến, xây dựng con người dưới bầu trời yêu thương, quan phòng của Thiên Chúa.
Vâng, Đức Giêsu không phá hủy Lề Luật Môsê của Cựu Ước, vì Luật này đã được làm nên cho Dân riêng của Thiên Chúa, với mục đích chuẩn bị cho Giới Luật mới Yêu Thương của Đức Giêsu sẽ được công bố trong Tân Ước, cũng như Ngài không xóa bỏ lời các ngôn sứ, bởi các ngôn sứ đã được sai đến để loan báo công cuộc Nhập Thể và Cứu Độ của Con Thiên Chúa trong thời kỳ mới, ở đó Thiên Chúa lấy chính máu của Con duy nhất mình mà ký Giao Ước mới với nhân loại.
    Thực vậy, Đức Giêsu không hủy bỏ, nhưng kiện toàn, và làm cho nên hoàn hảo bằng ban cho Luật cũ một tinh thần mới của Thần Khí, Thần Khí của Thiên Chúa là Tình Yêu, để từ nay chỉ còn một Giới Luật mới là “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Jorathe Nắng Tím  

YÊN LẶNG TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ


Trong các đoạn Tin Mừng, tôi thích nhất câu chuyện Đức Kitô và người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bị các ký lục và nhóm biệt phái áp giải đến hỏi ý kiến của Đức Kitô (Ga 8,3-11).
Tôi không biết bằng cách nào họ đã chụp được chị “nguyên con, ngon lành và trọn ổ” như vậy. Chị bị bể mánh thảm thương chưa từng thấy. Cứ tưởng tượng cảnh chị bị bắt tại trận đang ăn nằm với người tình mà tội cho chị. Tôi mường tượng những cặp mắt phẫn nộ, quyền lực của các ông cảnh sát tôn giáo đang bóc trần thân thể vốn đã trần truồng, co rúm vì sợ hãi, thẹn thùng của chị. Tôi nghe đâu đó những tiếng hét mạ lỵ, lên án, khinh khi. Các ông đang nhân danh luật pháp, nhân danh Thiên Chúa Giavê để lột da, xẻ thịt một người đàn bà yếu đuối, rất yếu vì tình, rất đuối vì bẽ bàng. Tôi cũng hình dung những nụ cười cao ngạo, đắc chí của một số người trong họ đang lớn tiếng khoe khoang công trạng trước khuôn mặt mếu máo đẫm lệ của chị. Và tôi thực sự hãi hùng trước cảnh tượng những chức sắc trong đạo đang nhân danh Thiên Chúa để bảo vệ luật Chúa bằng phân thây xẻ thịt một người đàn bà yếu đuối, đáng thương hơn đáng trách.
Chị bị bắt quả tang nên không biện minh lấp liếm được gì. Người ta thành công vì đã nắm được chị “nguyên con” đang làm tình, với đầy đủ nhân chứng, vật chứng. Và con đường phải tới của chị là bản án bị ném đá. Nhưng tại sao họ lại đưa chị đến gặp Đức Kitô, trong khi quyền đang ở trong tay họ? Đức Kitô có là gì đâu để có thể can thiệp trong vụ này?
Đúng thế, họ có toàn quyền; nhưng khi đưa người đàn bà đến gặp Đức Kitô, họ muốn đặt chính Ngài vào bẫy của họ; vì từ lâu Ngài đã chỉ loan báo Tin Mừng cứu độ, thứ Tin Mừng đi ngược luật lệ của cha ông, thứ Tin Mừng bênh vực những người có tội, phường đói rách, đám phung hủi, cánh “chị em ta, gái đứng đường”, thứ Tin Mừng kỳ lạ kêu gọi bình đẳng nam nữ, xây dựng bác ái, thứ tha. Đặt Đức Kitô vào bẫy, họ đã nắm chắc trăm phần thắng; bởi theo họ, Ngài sẽ không thể bênh vực người đàn bà ngoại tình bị túm quả tang này, nếu không phủ nhận luật Maisen. Họ tin tưởng phần thắng sẽ về họ với kết quả kẻ dâm phụ bị ném đá và ông Giêsu, người tự nhận là Đấng Cứu Thế, sẽ bị ê mặt vì không bênh vực đuợc giáo lý mới của ông. Câu hỏi hóc búa như chiếc bẫy cực kỳ nguy hiểm đã được họ giăng sẳn: “Theo luật Maisen thì mụ này phải bị ném đá chết, còn ông, ông nghĩ sao?”.
Trước ác ý và âm mưu của họ, Đức Kitô đã không cãi cọ, đấu lý. Ngài không nói gì, cũng chẳng nhìn ai, lại càng không châm chọc, khiêu khích. Ngài bình thản ngồi xuống, nguệch ngoạc mấy chữ trên cát, chữ gì thì không ai biết, có khi cũng chẳng thành chữ mà chỉ là những nét ngoằn ngoèo, vô nghiã. Không nhìn họ, Ngài cũng chẳng nhìn người đàn bà ngoại tình đang ôm mặt thẹn thùng, chua xót. Để cho họ huyênh hoang, ngạo nghễ hồi lâu, Ngài mới ngước mắt nhìn họ và nghiêm nghị đề nghị: “ Ai trong các người vô tội, hãy ném đá chị ta đi ”. Nghe chưa hết câu, các ông đã giật mình tìm lối thoát, chuồn êm vì có ông nào vô tội đâu, nhất là tội lợi dụng thân xác đàn bà, tội ngoại tình, tội ngồi bia ôm, tội đi chơi điếm…
Kết quả hoàn toàn trái ngược âm mưu và kế hoạch dự liệu. Đức Kitô đã cứu sống một người tội lỗi. Không chỉ cứu sống đời chị, Ngài còn truyền sang tim chị một giòng máu mới tinh nguyên, nồng nàn: giòng máu yêu thương từ trái tim Ngài.
Tôi yêu cung cách tế nhị, nhân bản và rất tình của Đức Kitô.
Trong tình yêu, trước yếu đuối của người khác, Đức Kitô đã dùng thinh lặng, thinh lặng của ngôn ngữ và ánh mắt. Thái độ yên lặng không đưa mắt nhìn láo lien, soi mói, không nói gì trước người tình yếu đuối tội lỗi là thái độ yêu thương sâu thẳm, tuyệt vời và cao thượng. Nói với nhau là điều tốt, nhưng trong những trường hợp nhiêu khê, bẽ bàng, thì yên lặng lại trở thành ngôn từ, tâm sự cần thiết và tha thiết nhất.
Không nói gì, nhưng Ngài đã nói quá nhiều. Nói với các ông ký lục và biệt phái về thân phận yếu đuối, tội lỗi của các ông; không phải để lên án hay dùng tội của các ông mà chạy tội cho người đàn bà bị các ông tố cáo, nhưng để giúp các ông nhận ra sự thực của chính đời mình. Nhờ nhận ra sự thực này, các ông sẽ khiêm tốn hơn và từ tâm hơn. Không nói nhiều với các ông, Đức Kitô muốn tỏ cho các ông thấy Ngài rất trân trọng công tác bảo vệ luật pháp của các ông và tôn trọng chính các ông nữa và Ngài cũng muốn các ông cần nhìn xa hơn, đừng để con người bị chà đạp, nghiền nát, tiêu diệt bởi chính luật lệ đã được đặt ra để bảo vệ con người. Luật lệ được làm cho con người, đó là điều Đức Kitô muốn và không bao giờ con người được phép tự biến thành nạn nhân của luật lệ. Con người phải là mục đích của luật lệ và khi cần, tất cả mọi khoản ngoại lệ của luật đều phải được sáng tạo và xử dụng để bảo vệ tối đa con người. Ở đây, Đức Kitô đã tự mình tìm một luật trừ ở giờ chót để bảo vệ người đàn bà ngoại téinh bị bắt qủa tang.
Không nói gì, nhưng Ngài đã nói tất cả với người đàn bà ngoại tình. Chị không dám nhìn Chúa vì sợ, vì nghe Ngài là một đại tiên tri, là Đấng Cứu Thế. Chị càng không dám lên tiếng nài nỉ, van lơn Ngài vì không ai cho chị nói vì chị là tội nhân; không ai nghe chị vì chị không còn nhân phẩm; không ai giải quyết cho chị vì luật lệ đã ghi chú đầy đủ biện pháp và chi tiết xử lý. Nhưng chị đã suy đoán sai thái độ và tâm tình của Đức Kitô và chị chỉ hiểu hết khi Ngài hỏi: “Những người tố cáo con đâu cả rồi? Không ai ném đá con sao? Thầy cũng vậy” và Ngài ân cần căn dặn: “Con đi bình an và đừng phạm tội nữa ”.
 Không nói nhiều, Đức Kitô đã tỏ ra một tình yêu rất sâu xa đối với chị. Ngài biết, chị ngại nói về tội mình, ngại khai lý lịch đời mình, ngại lặp lại một lần nữa câu chuyện ngoại tình rất xấu hổ. Cảnh tượng nhốn nháo truy lùng, bắt bớ, hạch hỏi của các ông cảnh sát tôn giáo vừa xảy ra đã quá kinh hoàng và làm chị còn run rẩy. Sự yên lặng của Đức Kitô đã gỡ chị ra khỏi bói rối, nhấc chị ra khỏi cơn bàng hoàng và ban cho chị sự bình an thật. Chị sững sờ chiêm ngắm người vừa cứu chị, chị chẳng nghe hết những điều Ngài nói vì mải say mê Ngài. Đức Kitô hiểu nỗi đau của chị và muốn xoa dịu, băng bó vết thương lòng ấy bằng yên lặng chia sẻ, yên lặng cảm thông, yên lặng nâng đỡ, yên lặng đồng hành, yên lặng trao ban. Trong yên lặng, tình yêu được chữa lành, chăm sóc. Yên lặng trong tình yêu cũng cần như giấc ngủ mỗi đêm. Nó cho tình yêu chiều sâu và tính bén nhậy, tinh tế.
Yêu như Đức Kitô, ta phải tập yên lặng khi tình yêu đòi hỏi. Khuynh hướng bình thường là biện bạch, trình bày, cắt nghĩa, nhưng có những lúc và những hoàn cảnh ở đó ta càng nói, càng không hiểu nhau; càng lý luận, ta càng sớm xa nhau; càng thao thao bất tuyệt, tình yêu càng xuống cấp; càng hỏi han tìm tòi, càng cầy sâu vết thương trong nhau. Bởi nỗi khổ và giới hạn của con người là không thể hiểu hết nhau, không thể khám phá trọn vẹn vũ trụ của nhau, không thể sống thay nhau nên không thiếu những tai nạn trong tình yêu như hiểu lầm nhau, hiểu sai ý nhau, hiểu chưa thấu hay hiểu hoàn toàn ngược, chưa kể đến những hoàn cảnh bi đát ở đó ta hoàn toàn không hiểu gì về nhau. Sự yên lặng lúc đó sẽ là điều kiện cần thiết để cứu sống tình yêu.
Hỡi Đức Kitô dấu yêu của những mảnh đời tội lỗi! Nếu Chúa đã bất chấp luật lệ để cứu người đàn bà tội lỗi khỏi chết dưới làn mưa đá; nếu Chúa đã can đảm đương đầu với cả thành trì luật pháp kiên cố để tránh tai ương cho một phụ nữ nhỏ bé, vô danh, dâm đãng tội lụy; nếu Chúa đã công khai đặt vấn đề trong sạch với những người quyền thế để bênh vực người đàn bà vô tích sự trước mặt xã hội; nếu Chúa đã nhắm mắt không nhìn vào bộ luật của cha ông vì yêu thương một con người hư hỏng thì Lạy Chúa, con đây, con có tất cả các điu kiện trên: tội lỗi, vô tích sự, dâm đãng, vô danh để đựợc Chúa cứu vớt. Xin cho con tin tưởng vào Tình yêu Chúa và trở thành niềm tin tưởng cho những người con yêu.

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

NGÔN NGỮ TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ


Khi bắt đầu yêu ai, ta làm tất cả để họ yêu ta. Nếu một mình làm không xong, ta nhờ bạn bè, gia đình sắp xếp, đẩy đưa thêm. Công việc quả không dễ, nhất là khi đối tượng lại đẹp, có nhiều khả năng và thuận lợi hơn ta.
Một trong số những chiến thuật thường được số đông xử dụng là nói về mình, nói về những cái mình có, cốt để tạo một niềm tin, đưa ra một bảo đảm với hy vọng đối tượng sẽ yêu ta, theo ta, sống với ta vì thấy ta cũng có “cửa”, có “số má”.
Khi nói về mình ta phải liệu lời cho khéo, cho hay, cho thuận tai. Để được như vậy, tiên vàn phải tránh những khuyết điểm, những thiếu thốn và phải che đậy những điểm tiêu cực, phải xoá bớt những vết nhăn, vết nám, vết sần sùi trên thân xác, gia thế, cuộc đời.
Đức Kitô cũng bắt đầu biểu lộ tình của Ngài bằng nói, bằng tâm sự; nhưng nội dung và cách vào chuyện của ngài có phần khác chúng ta.
Hôm ấy Ngài đi vào một làng thuộc miền Samaria. Trong khi các môn đệ đi mua bán ngoài chợ, Đức Kitô lân la lại gần bờ giếng và chuyện trò với một người đàn bà đang kín nước. Ngài vào đề bằng cách xin chị ta cho Ngài chút nước. Xin ai điều gì tức là cần đến họ. Cần đến người khác vì mình còn thiếu, chưa đủ. Đức Kitô đang khát và Ngài cần có nuớc để đỡ khát. Tuy ở ngay bờ giếng nhưng Ngài không có gầu, không có dây kéo nước trong khi giếng quá sâu. Để có nước, Ngài phải cần đến người đàn bà đang kín nước vì chị đang có tất cả mọi phương tiện và điều kiện.
Khi khiêm tốn ngỏ lời: "Chị ơi, cho tôi xin tí nước", Đức Kitô đã tế nhị nhập đề câu chuyện giữa Ngài và người đàn bà đang nhiều ray rứt vì đã qua năm đời chồng. Và từ đó Ngài đã đi vào đời chị.
Hơn ai hết, Ngài có quyền và có khả năng đi thẳng vào đề cho chị ta biết "Tôi là Đấng Thiên Chúa sai đến"; Ngài cũng không bị ngăn cấm để làm một "phép lạ nho nhỏ"; hoặc ít nhất Ngài cũng có thể "huỵch toẹt" cho chị ta biết Ngài là một tiên tri biết tất cả bí ẩn của đời chị.
Quả thật nếu là ta trong trường hợp này, chắc chắn ta đã lên lớp, thuyết trình một hồi lâu về "lý lịch huy hoàng, thân thế tuyệt vời, thành tích hoành tráng" của đời ta và người đàn bà kia chỉ còn biết phục lăn, tấm tắc khen ngợi và theo ta suốt đời.
 Ngỏ lời xin nước, Đức Kitô đã muốn đi vào đời chị, vào đời mỗi người bằng chia sẻ chân thành về nhu cầu của chính mình. Là Thiên Chúa, Ngài không cần ta, nhưng vì là "Thiên Chúa làm người" nên Ngài muốn trở thành như chúng ta với tất cả mọi nhu cầu của một con người, một đời người, từ nhu cầu sinh tồn như ăn uống, ngủ nghỉ, nhu cầu tình cảm cần yêu và được yêu đến những nhu cầu thiêng liêng như đi tìm Tuyệt đối nên Ngài cần ta và xin ta.
 Như đã chia sẻ ở trên, nhìn vào nhu cầu của người mình yêu là yêu họ thật, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Tình yêu thật còn đòi hỏi một điều kiện bên cạnh là nói với người yêu những nhu cầu của mình. Có như thế ta mới có thể giữ mãi được nét đẹp của tình nhân loại. Bởi khó có thể cảm thông với người khác nếu tôi chẳng có nhu cầu gì để trông chờ, chẳng có gì tìm kiếm, đợi chờ nơi người tôi yêu. Bởi không thể chia sẻ bình đẳng nếu tôi chỉ cho đi mà không bao giờ nhận lãnh. Không có nhu cầu trong cuộc sống hay không đợi chờ gì nơi người mình yêu, ta sẽ quên đi thân phận bất toàn của đời mình và sẽ kiêu ngạo tự phong mình làm thủ lãnh trong tình yêu, độc tài trong đời sống trong khi tình yêu lại không bao giờ chấp nhận chung sống với khuynh đảo, chung chăn với đàn áp kiểu chồng chúa vợ tôi, gia trưởng độc tài.
 Nhìn thẳng vào nhu cầu của người yêu và khiêm tốn nói về nhu cầu của mình, tình yêu sẽ giữ được thăng bằng cần thiết nhờ thao thức dâng hiến, xây dựng đối tượng cùng với lòng khiêm hạ cần được nâng đỡ của chủ thể. Và khi đó, yêu sẽ là cho đi hết mình và yêu cũng là đón nhận hết tình. Hai người yêu nhau cùng thấy nhu cầu của nhau để chính những nhu cầu đó sẽ được đáp ứng bởi nhau, nhờ nhau và cho nhau. Tình yêu quân bình và đích thực trong ý nghĩa này sẽ biến cái tôi, cái anh thành "nhau", một cái "nhau" tròn đầy, viên mãn bởi "tình yêu nhau" này có sức mạnh thăng tiến và kiện toàn cả hai người yêu nhau.
 Đức Kitô đã xin nước uống, người phụ nữ đã không từ chối lời xin chân tình khiêm tốn của Ngài. Tình yêu chớm nở trong hồn chị khi chị ân cần mời Ngài uống nước. Chị đâu ngờ rằng, ngay khi ngỏ lời xin chị nước, Đức Kitô đã nhìn vào nhu cầu của đời chị. Ngài lân la đến chuyện trò với chị là vì chị, vì thương chị, vì muốn chia sẻ tâm sự hằn sâu, trĩu nặng của chị. Gầu nước chị cho đã giải quyết nhu cầu uống của Ngài, đã làm dịu cơn khát rát bỏng trong cổ họng Ngài. Nhưng cùng một lúc, trái tim Ngài đã cho chị một thứ nước khác mầu nhiệm, trường cửu hơn: nước hằng sống. Chính nước này từ tình yêu cảm thông chia sẻ trong tim Ngài đã đem chị ra khỏi mọi lo âu, mặc cảm từ lâu vốn rối bời, cắn rứt tâm can, đời sống chị. Nhờ Ngài, chị trút được nhiều gánh nặng, gánh nặng mặc cảm tôn giáo, khi Đức Kitô căn dặn chị: "Đã đến lúc không còn thờ Thiên Chúa hoặc trên núi này hoặc trong thành thánh kia; nhưng tôn thờ Ngài trong tâm hồn và chân lý" (Ga 4,23 ); thứ đến là gánh nặng luân lý khi Ngài giải tỏa ẩn ức về cuộc đời nhiều chồng của chị. Nhưng điều quan trọng mà Ngài đã làm nơi chị là yêu thương chị. Ngài đã cho chị biết tình yêu không có biên giới, và không một lề luật, định chế nào có quyền hay có thể cấm cản sự sống của tình yêu. Chính chị đã ngạc nhiên hỏi Ngài: "Tại sao ông là người Do Thái lại đến xin tôi nước, trong khi tôi là người Samaria? Ông không biết giữa chúng ta có một mối thù truyền kiếp lâu đời sau?” (Ga 4,9 ).
 Với Đức Kitô, không có mối thù nào có thể đứng vững trước thổn thức của trái tim và ngài đã minh chứng điều đó bằng tìm đến yêu thương chị.
 Lạy Đức Kitô, con xin gửi ghắm tình con trong tim Chúa. Xin cho tình con luôn là tình người để luôn sống với nhu cầu của đời người. Như Chúa, con học can đảm chia sẻ nhu cầu của người và khiêm tốn nói lên nhu cầu của chính con. Bởi trong tình yêu không có "ân nhân người chịu ơn " mà chỉ có một thứ tình duy nhất và trong tình yêu này, con cần yêu và muốn được yêu. Xin cho tình con luôn "người " như tình Chúa, tình của một "Thiên Chúa làm người” đã yêu con.

CÁI NHÌN TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ


Mắt để nhìn, nhưng có nhiều cách nhìn và mục đích khác nhau. Có cái nhìn đe dọa mục đích làm người khác sợ; có cái nhìn soi mói với mục đích khám phá, lột trần; có cái nhìn âu yếm để tỏ tình; có cái nhìn nhân hậu mang ý nghĩa thứ tha. Đại loại ta có thể xếp thành hai thứ nhìn: nhìn vì mình và nhìn vì người.
Nhìn vì mình là cái nhìn tìm lợi, cái nhìn có tính toán thủ đoạn, cái nhìn chiếm doạt, cưỡng bức người, cái nhìn khấu trừ quyền sống, giảm bớt quyền lợi của người, cái nhìn thu hẹp không gian có mặt của người. Cái nhìn ấy là cái nhìn có chiều đi và lập tức có chiều về: nhìn người để thu lợi về mình.
Cái nhìn vì mình là cái nhìn của người ích kỷ, người không có thói quen nhìn người khác vì người khác, không có khả năng vượt ra khỏi tầm "riêng tư, hạn hẹp". Họ nhìn gần vì chưa nhìn ra đã vội nhìn vào, chưa kịp mở đã vội khép và khi mí mắt họ khép cũng chính là lúc cửa lòng họ đóng lại.
Bên cạnh và ngược với cái nhìn vì mình là cái nhìn vì người. Cái nhìn theo đúng hướng đi, tầm mắt của nó: đến với người khác. Nhìn ai là muốn trao gửi nơi họ một điều gì; nhìn ai là muốn nói với họ một tâm tư, một ý nghĩ, một sứ điệp. Sứ điệp, ý nghĩ, tâm tư ấy chọn địa chỉ đến là người khác, không quay về người gửi như cái nhìn ích kỷ ở trên. Trong cái nhìn này, người khác là một chủ thể không bị đe dọa, triệt khấu nhưng nằm trên cùng một tương quan "người" với tất cả giá trị của con người.
Trong tình yêu, cái nhìn đóng một vai trò quan trọng. Hầu hết những cuộc tình đều thai nghén từ những cái nhìn, những làn mi, những thiết tha mời gọi, trao gửi của đôi mắt. Mắt ghi nhận những bẽn lẽn của tình yêu vừa chớm nở. Mắt chuyển vào tim những ngây thơ, diệu vợi của tình đầu trong trắng. Mắt gửi vào ký ức từng vết chân những cây số đầu của đường tình dịu ngọt. Mắt có giá, mắt được trân trọng, nâng niu, gìn giữ bởi mắt làm công việc đầu tiên và khó nhất của tình yêu, đó là tạo nhịp cầu. Nhờ đôi mắt, bến bờ của tình yêu ngắn lại. Cũng nhờ mắt, ta cho nhau nhiều hơn những gì ta có, nói với nhau nhiều hơn những gì ta muốn nói, thông cảm nhau hơn mức độ ta trông chờ.
Nhưng tình yêu đòi cái nhìn nào và đợi chờ đôi mắt nào? Tất không thể là những cái nhìn xua đuổi, khai trừ, thách thức, chiếm đoạt. Hẳn cũng không thể là đôi mắt cú vọ canh chừng, đe dọa. Càng không phải những tia mắt căm hờn muốn ăn tươi nuốt sống. Tình yêu đợi chờ một đôi mắt tình, một cái nhìn chất chứa yêu thương và yêu thương ấy chỉ có thể có trong những cái nhìn vì người khác.
Nhìn vì người là nhìn vì yêu người. Cái nhìn yêu người mà Đức Kitô đã nhìn là cái nhìn vào chính nhu cầu của họ. Khi nhìn vào nhu cầu của người khác, Đức Kitô đã biến cái nhìn của Ngài trở thành một quà tặng, một dâng hiến. Thấy nhu cầu của người mình yêu, nhìn vào nhu cầu của người mình yêu là yêu họ. Không yêu, cái nhìn sẽ không đủ tinh tế, bén nhạy để nhận ra nhu cầu của người tình, nhất là khi nhu cầu ấy lại là những nhu cầu tình cảm vốn rất thầm kín, tế nhị. Tình yêu cho cái nhìn một ánh sáng đặc biệt để cả những nếp gấp thầm kín nhất cũng phải lộ ra dưới cái nhìn. Nên khi yêu, đôi mắt sẽ rất sáng nhờ có tình, tầm nhìn sẽ rất xa nhờ có yêu thương. Đức Kitô đã nhìn con người bằng đôi mắt chất chứa tình này.
Khi bắt gặp cái nhìn khẩn khoản của mẹ Ngài trong tiệc cưới Cana (Ga 2,1-10), Đức Kitô đã hiểu ngay điều Ngài phải làm: cứu đôi tân hôn và gia đình hai họ ra khỏi cơn bế tắc vì không còn rượu. Làm phép lạ cho nước hóa thành rượu, Đức Kitô đã cùng mẹ Ngài nhìn thẳng vào nhu cầu cấp bách của hai họ, đã đọc hết nỗi lo sợ mất mặt của cô dâu chú rể, đã nhận ra cảnh huống lúng túng bất lực của ban tổ chức. Nhìn vào nhu cầu của họ và can thiệp cứu họ bằng phép lạ, Đức Kitô đã gửi đến đôi tân hôn, đến gia đình hai họ, đến từng người khách dự tiệc quà tặng lớn nhất, giá trị nhất: tình yêu của Ngài. Tình yêu ấy không khách sáo, bôi bác, không lớn tiếng ồn ào, không phô trương, đòi ghi sổ; nhưng thâm trầm, kín đáo, nhẹ nhàng, trân trọng.
Từ lúc nhìn vào nhu cầu của hai họ, Đức Kitô đã không nói gì, không tuyên bố hay đòi hỏi gì. Chỉ có những trao đổi thân thương giữa Ngài và mẹ Ngài, giữa mẹ Ngài và gia nhân, giữa trái tim Ngài và trái tim những người có mặt. Ánh mắt không nhiều lời nhưng nói hết, ánh mắt không có tài biện bạch, diễn giải nhưng biểu lộ được tất cả. Chính tình yêu đã biến đổi cái nhìn, đã đem đến cho đôi mắt sức mạnh canh tân và phục sinh. Cũng là đôi mắt, cũng những cái nhìn, nhưng đôi mắt mang cái nhìn của tình yêu thì hoàn toàn khác những đôi mắt sôi sục hận thù, chiếm đoạt.
Kinh nghiệm cho thấy, khi mới quen, người ta thích nhìn nhau, chiêm ngưỡng nhau; nhưng chỉ mới nhìn nhau, thấy nhau; còn nhu cầu của nhau chưa hẳn đã được nhìn ra. Càng sống lâu bên nhau, ta càng mất thói quen nhìn nhau, chưa nói đến tình trạng dửng dưng, nhắm mắt trước nhu cầu của nhau.
Yêu như Đức Kitô, với nghệ thuật yêu của chính Đức Kitô, ta phải tập nhìn nhau, nhìn vào chính nhu cầu của nhau mỗi ngày. Những nhu cầu ấy có thể dễ thấy nhưng cũng có thể rất khó nhận ra. Với những nhu cầu thầm kín, khó thấy, ta chỉ có thể nhận ra bằng đôi mắt của tình yêu. Thiếu đôi mắt tình này, ta sẽ chẳng thấy gì, kể cả thấy nhau.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

NGÀY LỄ TÌNH NHÂN 14/02

Không còn ở cái tuổi làm Tình Nhân, có Nhân Tình, nếu hiểu tình nhân, nhân tình là những người trẻ đang yêu nhau thiết tha, đắm đuối. Nhưng nếu mở rộng  biên giới của ngày lễ Tình Nhân, khi hiểu Tình Nhân – Nhân Tình là những người có tình cho nhau, những cuộc đời tự nguyện gắn kết nên một trong tình yêu, bất luận tuổi tác, thì tôi cũng còn may mắn được đứng chung hàng ngũ những người đang xôn xao, rạo rực, rộn ràng đón ngày Valentine đang làm nức lòng nhiều người yêu nhau.
Không biết ai là người đầu tiên có sáng kiến về ngày lễ Tình Nhân, nhưng chắc chắn người ấy phải có một trái tim nhậy cảm, và một tâm hồn rất lãng mạn. Tuy thế, nếu thiếu những nhân tình lãng mạn và tình nhân  đa cảm như tôi với bạn đang náo nức, phấn khởi đây, thì chưa chắc  lễ Tình Nhân đã có được vị trí quan trọng và  ảnh hưởng rộng lớn như hôm nay.
Sở dĩ ngày lễ Tình Nhân giữ một vị thế quan trọng trong đời sống, vì ngày ấy, những người yêu nhau không chỉ nói với nhau những điều muốn nói, mà còn nói được với nhau những chuyện khó nói, ngại nói, chưa nói được. Có chuyện rất dễ nói khi yêu nhau, nhưng bên cạnh còn rất nhiều chuyện  khó nói, không thể nói ngoài một thời điểm hiếm hoi thuận lợi.
Trong những chuyện khó nói có chuyện quá khứ của những cuộc tình vắt vai đã rơi theo năm tháng cũ ; có chuyện tương lai tính tới thì khó khăn, tính lui thì tiếc xót, không đành, và dậm chân tại chỗ thì lầy lội, chẳng xong.
Chuyện ngại nói cũng có thể là những tâm sự dở dang không biết chốt lại thế nào cho gọn gàng, đẹp đẽ ; những tính toán ngang dọc rối bời mà càng cố thu dọn, càng bừa bộn thêm.
Cũng có thể chuyện không nói là bí mật của một con người, một đời người, mà một khi bị tiết lộ, thì chẳng còn gì có thể đứng vững.
Thế nên, tình yêu tình nhân dành cho nhân tình không hẳn luôn đơn sơ, ngây thơ, bé bỏng, mà có thể gai góc, gian nan, vất vả trăm chiều, nhiều nỗi ; trái tim tình nhân hướng đến nhân tình không hẳn luôn tròn trịa, kháu khỉnh, nhưng có thể đã mệt nhọc, mòn mỏi, rạn nứt, vì nhiều thách đố đã trải qua.  
Vâng, làm tình nhân yêu nhân tình, hay làm nhân tình yêu tình nhân là đi vào huyền nhiệm của đời nhau, ở đó, không phải tất cả đều lập tức lộ diện nguyên hình, phút chốc bầy ra nguyên trạng. Trái lại đó là hành trình đòi đôi chân kiên trì, từng bước vững chãi trong tình yêu tôn trọng nhau, con đường dài như cuộc đời đòi ý chí kiên cường trong tình yêu biết đối thoại, tương lai hun hút như đường vào tuyệt đối đòi đôi mắt sáng như sao để thấu suốt tình yêu mầu nhiệm, nhất là một trái tim kiên định dám đập đều nhịp với  trái tim của người tình.
Những người tình tuyệt vời, những nhân tình lý tưởng, những tình nhân muôn thưở đều có chung những kinh nghiệm vất vả trên hành trình tình yêu, những cảm nghiệm sâu sắc của tình yêu quên lợi riêng, quên ý riêng, quên cả đời riêng cho hạnh phúc của người mình yêu, bởi tình yêu đòi nhiều thứ lắm, nhất là lương thực hy sinh để tình yêu được sống, và lớn lên, nên có đổ mồ hôi trên đường lầy lội, có rách da, xẻ thịt, rướm máu đôi chân trên những dặm trường gai góc, sỏi đá, có cháy nắng cô đơn trong sa mạc tình buồn, người ta mới hiểu được giá trị của tình yêu trao ban khi là nhân tình, và tình yêu đón nhận khi là tình nhân.
Những người tình tuyệt vời, những nhân tình lý tưởng còn là những người dầy dạn trong thử thách của tình trường, khi hai người phải vượt qua đủ thứ mặc cảm, đủ loại cấm kị để nói được với nhau điều muốn nói, chia sẻ không ngại ngùng  với nhau tâm sự cần được sẻ chia, nhất là chấp nhận cùng nhau vượt núi, vượt rừng, vượt biển, vượt sông, kể cả vượt rào vì một tình yêu không thể xa nhau.
Ngày lễ Valentine còn là dịp để trao tặng nhau, bởi tình yêu luôn đòi trao ban và đón nhận, nên cả nhân tình và tình nhân đều phải là người biết Trao Ban và biết Đón Nhận. Chỉ trao ban thôi mà không đón nhận, tình yêu sẽ chết, vì có một bên kiêu căng, tự cho mình đã đủ, không cần gì ở người yêu khi từ chối đón nhận ; chỉ đón nhận thôi mà không trao ban, tình yêu cũng sẽ chết, vì có một bên ích kỷ, thụ hưởng, chỉ thủ lợi , thủ riêng cho mình, khi khước từ trao ban.  
Tình yêu đòi trao ban - đón nhận, và khi yêu nhau thật tình, hết tình, người ta không còn quan tâm đến giá trị vật chất của tặng vật, nhưng bất cứ tặng vật nào cũng đều mang một giá trị tuyệt đối, vì đó là biểu hiệu của tình yêu, mà tình yêu thì tuyệt đối tự bản chất.
Nhưng tặng vật dễ thương, qúy giá, cao cả, tuyệt vời nhất mà người ta muốn trao cho nhau, và khao khát nhận được ở nhau là chính con người của nhau. Trao tặng người yêu chính con người mình là cho đi tất cả, và chẳng giữ lại gì làm của riêng ; trao tặng người mình thương chính con người mình là hiến dâng trọn vẹn cuộc đời, cuộc sống với thao thức, ước mơ, khắc khoải, hy vọng, niềm vui, hạnh phúc, và cả lo lắng, buồn thương. Chỉ trao ban chính con người mình cho người mình yêu, thì tình yêu mới thực sự có ý nghiã và giá trị tuyệt đối của Tình Yêu, như trái tim khi yêu hằng khao khát, đợi chờ.  
Mừng ngày lễ Tình Nhân của những trái tim đang thổn thức, rạo rực vì yêu thương, người viết mến tặng các bạn đang yêu nhau ba ngọn nến rất đẹp :
·      Ngọn nến Sự Thật, tuy leo lét trước gió, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong tim các bạn, dù là cuồng phong thất bại, sợ hãi, hay gánh nặng của thời gian, bởi Sự Thật luôn giải phóng và nối kết.
·      Ngọn nến Thứ Tha, tuy kín đáo, âm thầm, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong đời sống yêu thương, dù hiện tại chống phá, dù tương lai đe doạ, bởi Thứ Tha là ánh sáng xua đuổi đêm tối trong cuộc đời những người yêu nhau.
·       Ngọn nến Hiền Lành, tuy bé bỏng, nhẹ nhàng, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong ân nghiã, ân tình, bởi Hiền Lành làm cho nhân tình, tình nhân vô cùng  dễ thương, dù đi giữa trời giông bão, hay dưới trời chói chan đổ lửa.
Ước mong các Nhân Tình, Tình Nhân đốt lên ba ngọn nến đẹp buổi tối Valentine lãng mạn, và cưu mang, sinh nở trong Hạnh Phúc những Tình Yêu tuyệt vời cho cuộc đời mãi đẹp, mãi đáng yêu ! 
  Jorathe Nắng Tím

ĐỨC KITÔ, TÌNH YÊU GÁNH TỘI


Nếu biết rõ sẽ có những ngày "mặt chày, mặt thớt", những bữa ăn "cơm không lành, canh không ngọt ", những đêm mất ngủ, lang thang ngoài đường phố sau một trận cãi vả, thì tôi nghĩ chẳng ai dám xâm mình cưới nhau. Nếu nhìn được tỏ tường, hết chiều sâu và trọng lượng của những nết xấu, lỗi lầm, tội lụy trong tương lai và suốt cuộc đời của người mình sắp kết hôn, tôi tưởng không mấy ai dám liều mạng ký vào giao ước hôn nhân. Tình trạng giới trẻ ngày nay không muốn, đúng hơn là không dám dấn thân cưới nhau, mà chỉ sống chung chờ thời, sống chung qua ngày là một trả lời có nhiều xác xuất đúng nhất truớc những băn khoăn, ngao ngán kể trên.
Biết rằng đường tình có muôn lối, nhưng xem ra trên thực tế lối nào cũng hứa hẹn nhiều bất ngờ không mấy vui. Không mấy vui khi thời gian kéo ta ra khỏi giấc mơ thần tượng; khi thần tượng mệt mỏi xuống khỏi tượng đài "huyền hoặc, mơ ước", kéo ta bổ nhào xuống bờ đường cát bụi. Ước mơ không là thực tế và thời gian luôn trả về thực tế những diện mạo rất phũ phàng.
Cái phũ phàng đáng ngại trong tình yêu là tội lỗi của người mình yêu. Khi mới yêu, ta có khuynh hướng chấp hết, xóa hết, muốn "tu sửa, tân trang" tất cả để có một trời mới, đất mới cho con đường tình rất mới của ta. Khi mới yêu, ta thích nhắm mắt hôn nhau, nhắm mắt thì thầm tâm sự; bởi nhắm mắt sẽ hạnh phúc, nhẹ nhàng, thanh thản, lâng lâng hơn; bởi nhắm mắt sẽ không thấy gì ngoài ước mơ, mộng đẹp. Nhắm mắt còn cho ta cảm tưởng ta đẹp, người yêu ta đẹp, thế giới đẹp, đường tình ta đi đẹp. Cái đẹp bao trùm, người đẹp chiếm ngự; ta chỉ còn một khả năng là chiếm hữu, tôn thờ. Nhưng đó chỉ là lý tưởng và ngôn ngữ của trái tim đang sôi xục. Khi củi tàn, than nguội, máu trong tim lạnh ngắt, ta sẽ không thể lặp lại cùng một ngôn ngữ, âm thanh "khuếch đại" ấy bởi sự xuất hiện của yếu đuối tội lụy nơi đối tượng.
Bản chất của tội lỗi là phá hoại, nên khi khám phá và trực diện với tội lỗi của người mình yêu, ta cảm thấy tình yêu ta dành cho họ bị phá hoại; hy vọng ta trông chờ nơi họ bị đổ vỡ; hạnh phúc ta ấp ủ trong họ bị đạp đổ; sức sống ta trao dâng cho họ bị hủy diệt. Tắt một lời, tội lỗi, yếu đuối nơi họ phá vỡ toàn bộ cơ đồ và sự nghiệp yêu thương ta nhọc công xây dựng. Ta thấy mình là chủ thể bị xúc phạm, ta xem mình là nạn nhân của phản bội, ta hận mình non nớt, dại khờ bị phỉnh gạt. Tội lỗi của người ta yêu bỗng dưng biến họ và ta thành thù nghịch và ta xa lạ dần, tránh né dần, khai trừ dần người ta yêu. Khoảng cách từ đó được nối dài, mở lớn; hố sâu ngăn cách bị đào sâu, đục khoét cho đến một lúc ta phải sững sờ thốt lên: "tôi hết chịu nổi; bởi xưa kia em không thế; bởi lúc trước anh không vậy; bởi tự nhiên anh sinh tật; bởi bỗng dưng em dở chứng..." Và như bệnh tật không báo trước, tội lỗi và yếu đuối cũng không định ngày, chọn tuổi. Nó đến bất chợt như kẻ trộm, âm thầm len lỏi phá hoại tất cả sự nghiệp của tình yêu; trong sự nghiệp này, nạn nhân trực tiếp là hai người yêu nhau.
Vì thế, khi chiêm ngắm tình yêu của Đức Kitô, tôi say mê đến điên cuồng hình ảnh "Đức Kitô, chiên gánh tội".
Trong Tin Mừng, Đức Kitô đã xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng qua hình ảnh "Chiên gánh tội". Gioan Tiền Hô đã long trọng giới thiệu Đức Kitô khi ông thấy Ngài: "Đây là chiên Thiên Chúa, đấng gánh tội nhân loại" (Ga 1,29).
Hình ảnh đầu tiên về Đức Kitô nhập thể, nhập thế là hình ảnh một con chiên trên vai mang hết tội lụy nặng nề của người khác. Hình ảnh này khiêm hạ, bé nhỏ và tội nghiệp. Hình ảnh này không hấp dẫn mấy người, không lôi kéo được ai. Nó khiêm hạ ở chỗ làm chiên hiền lành, không mưu mô như cáo, không dữ tợn như hổ, không hiểm độc như rắn. Chiên vốn hiền lành, nhịn nhục, đơn sơ. Nhờ đơn sơ, nhịn nhục, hiền lành, chiên luôn bé nhỏ, dễ thương. Cái dễ thương của một trái tim không nuôi thù hận, nét bé nhỏ của một tâm hồn không cao ngạo. Nó còn khiêm hạ ở chỗ cúi đầu cho thiên hạ trút tội trên lưng, trên cổ. Tội mình mình mang đã đành; nay mang cả tội người, tội thiên hạ mà vẫn hiền, vẫn ngoan, vẫn dễ thương, vẫn đằm thắm.
Bên cạnh nét khiêm hạ, chiên gợi lên niềm đau tội nghiệp. Không biết các thầy cả trong đạo cũ khi làm nghi thức đổ tội trên chiên và đuổi chiên chạy xa vào rừng, xa mạc, có cảm thương chiên không; chứ riêng tôi, tôi chạnh lòng trước hình ảnh chú chiên có cặp mắt trong, to tròn ngơ ngác bị đuổi vào xa mạc với gánh nặng tội lỗi người khác, bởi không ai trong sạch hơn nó để có đủ thong dong mà gánh tội đời. Bởi vai ai cũng chồng chất tội mình, nên chỉ những bờ vai trống vắng tội lỗi mới can đảm gánh vác tội người khác. Dưới mắt mọi người, chiên bị đồng hóa với tội lỗi bởi trên mình chiên tội lỗi đầy tràn; nhưng chỉ một mình chiên biết sự trong sạch của mình và sứ mạng anh hùng, qủa cảm, đầy hy sinh khi gánh tội người khác.
Chọn hình ảnh "chiên gánh tội " trong lần đầu tiên ra mắt quần chúng, Đức Kitô dã không mị dân vì vốn dĩ dân đang chờ nơi Ngài một hình ảnh khác, huy hoàng, vinh dự hơn. Không những thế hình ảnh này đã có thể gây thất vọng, nản chí nơi nhiều người.
Khi vào đời, Đức Kitô đã khẳng định chỗ đứng của mình trong đời qua tên gọi "Emmanuel"- Thiên Chúa ở cùng chúng tôi; đồng thời khẳng định vai trò, sứ mạng của Ngài: cứu độ nhân loại bằng yêu thương. Chọn hình ảnh chiên gánh tội, Đức Kitô đã khẳng định thêm môt chân lý nữa: gánh tội người khác là đòi hỏi của tình yêu.
Nếu tình yêu có thể trọn vẹn và hoàn hảo, nếu tình yêu đạt được ý nghĩa tuyệt đối của nó mà không cần đến công việc "gánh tội người mình yêu" thì chắc chắn Đức Kitô đã không chọn hình ảnh "chiên Thiên Chúa" khổ sở này. Nếu yêu mà không phải rạp mình, còng vai vì nặng nề tội lụy, yếu đuối của nhau, thì hình ảnh "chiên Thiên Chúa" sẽ không có nghĩa và giá trị gì. Nhưng vấn đề đã được đặt khác khi chính Đức Kitô vui lòng đến trong đời như một chiên gánh tội, như một của lễ hy sinh, như một thân phận tràn đầy tội lụy. Tình yêu nơi "Thiên Chúa làm người" ấy chắc hẳn phải thâm sâu, tha thiết, tuyệt vời lắm mới có sức biến Ngài thành "người gánh tội" trong khi Ngài là Thiên Chúa và có quyền biểu lộ sự trong sạch tuyệt đối của Ngài.
Nhìn vào tình yêu này, ta thấy thiếu hẳn công lý và bình đẳng. Thiếu công lý bởi người vô tội phải mang tội người khác, người trong sạch phải trở thành ô uế, bị xua đuổi. Đức Kitô đã không tuân theo những lý lẽ của một công lý bình thường khi Ngài chịu nhận phận tội lụy của người khác làm chính thân phận mình. Ngài còn coi thường cả những nguyên tắc bình đẳng trong xã hội khi chịu thiệt thòi đến tận cùng trong tất cả lựa chọn của tình yêu.
Như vậy tình yêu nơi Đức Kitô, trước hết bắt đầu bằng trái tim vui lòng gánh hết tội người mình yêu. Tình yêu này không đổ tội, gán tội, bới tội, vạch tội. Tình yêu này cũng không nhân danh công lý để buộc tội, không nhân danh lề luật để xử tội, hành tội, trị tội. Nhưng tình yêu này lại hiền lành để nhắm mắt che tội, khiêm hạ khi xét tội, can đảm đưa vai gánh tội và nhân ái bao dung xóa tội. Tình yêu ấy chấp nhận chỗ thấp nhất để tình yêu có nền tảng vững chắc nhất là thứ tha; nhờ nền tảng này mà tình yêu không bị sụp đổ. Tình yêu ấy chọn cho mình gánh nặng để tình yêu trở nên nhẹ nhàng với đôi cánh hạnh phúc. Tình yêu ấy vui lòng cúi xuống thật sâu để không một xúc phạm nào có thể làm tình yêu lung lay, chao đảo.
Đức Kitô chọn tình yêu "gánh tội" này vì Ngài biết không một tình yêu nào có thể sống nếu gánh nặng của nó không được những người yêu nhau chia sẻ. Tình yêu có giá trị bởi có trọng lượng: trọng lượng của đời người, của đời riêng mỗi người trong cuộc với tất cả quá khứ, hiện tại, tương lai, với đầy đủ mọi ô nhục, vinh quang, những công đức, tội lỗi rất sâu và rất dài. Vì cái giá trị huyền nhiệm này mà nhiều khi sức người không kham nổi, phải cần đến sức Trời, tình Trời, ơn Trời. Nhờ Trời và nhờ sống tình yêu như Chúa Trời muốn "gánh vác yếu đuối của nhau", tình yêu mới có thể bước đều trên đường tình về vĩnh cửu.
Như anh, như chị, theo gương Đức Kitô, tôi cũng muốn bắt đầu và làm sống lại tình yêu bằng trở nên "chiên gánh tội" trong tình yêu cho nhau mỗi ngày.

ĐẾN GẶP ĐỨC KITÔ LÀ TÌNH YÊU

Có thể bạn đã gặp một tình yêu lý tưởng. Có thể bạn chỉ đi trên những con đường tình đầy hoa. Cũng có thể bạn chưa biết "yêu là đau khổ " bao giờ. Tôi thực tình mừng cho bạn.
 Phần tôi, không may mắn như bạn, nên tình nào đến cũng bềnh bồng, chao đảo.
 Viết để chia sẻ với bạn về tình yêu hôm nay, tôi thấy những điều tôi viết non nớt, thiếu sót và rời rạc quá. Chính vì thế, tôi mời bạn cùng tôi đến gặp và tham khảo với một người tự nhận là Tình yêu, sứ giả của Tình yêu, đã sống trọn vẹn một cuộc đời yêu thương và chết cho yêu thương. Con người ấy hẳn phải hơn tôi, hơn bạn trong hiểu biết và kinh nghiệm tình yêu. Đến với con người ấy, tôi với bạn hy vọng sẽ khám phá diện mạo và bản chất đích thực, tinh ròng nguyên chất của tình yêu, điều mà từ lâu tôi với bạn đều ước mong và vất vả kiếm tìm.
Trong niềm hân hoan của những người ham yêu, đang yêu và muốn được yêu, tôi với bạn cùng đi và thế nào chúng ta cũng sẽ gặp, vì người ấy cũng không mong gì hơn là được gặp chúng ta.