Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2020

CON: NỢ HAY PHÚC?


Viết về con cái ở bất cứ tuổi nào, người ta cũng cảm thấy có một điều gì không ổn: không ổn vì những khẳng quyết không hẳn sẽ là định lý, quy luật; không ổn vì những “vô thường” có thể làm thay đổi mọi dự đoán, phỏng định; không ổn vì xác xuất thành công - thất bại trồi sụt, lên xuống theo từng thời vụ. Vì lý do này mà câu hỏi khó nghe “con là nợ hay phúc?” ít nhiều đã một lần làm cha mẹ chùng lòng suy nghĩ.
Có những đứa con ngoan ngoãn, thông minh mang lại vinh dự cho gia đình và không làm cha mẹ phải qúa lo âu, vất vả. Nhưng cũng không thiếu những cha mẹ phải khốn đốn, ô nhục vì con. Hình ảnh những người mẹ lặn lội thăm nuôi con bị giam trong các  trại giáo huấn trẻ vị thành niên, những người cha  nét mặt chai sạn, sầu buồn, thất vọng nhìn con trước “vành móng ngựa” ở toà án; rồi những cảnh con đâm cha, giết mẹ, con chiếm đất, chiếm nhà… Tất cả đã đặt cha mẹ trước nỗi buồn man mác khi nghĩ đến tương lai của con mình.
Nhiều người mẹ tay ôm con thơ mà lòng dạ đã xa xôi về một ngày con không còn ngoan hiền, vâng lời mẹ. Ẵm bé trên tay mà tâm tư cha đã thoáng buồn khi nghĩ ngày mai khi con lớn không biết có còn diễm phúc chuyện trò với con… Và bất chợt ý nghĩ con sẽ hết là con, nhưng sẽ là nợ cha mẹ phải trả…
Trả cho Trời, cho người, cho con hay cho ai khác thì không biết, nhưng ý tưởng con là nợ đã là ý tưởng thường gặp trong các gia đình. Trước những gánh nặng bổn phận và khả năng có giới hạn, cha mẹ dường như muốn đầu hàng, đảo ngũ khỏi đời làm mẹ cha vì không còn cam nổi những đắng cay do con cái mang lại.Những cuộc đầu hàng sớm là phá thai, bỏ con, bán con. Những cuộc tháo lui trễ là từ con, xa lánh con.
Trước những cha mẹ coi con là nợ, chúng ta chỉ biết cảm thông và tìm cách nâng đỡ, vì có thể tình cảnh đó cũng có thể xẩy đến với ta khi con cái hoang đàng, sa đoạ đến mức không còn chịu nổi. Cảm thông những người cha không còn quyền làm cha trên con mình khi con ngang ngược, bất hiếu. Nâng đỡ những người mẹ không còn được là mẹ trong đời của những đứa con quên cội nguồn.  Ở vào hoàn cảnh đau thương của những cha mẹ bất hạnh, ta mới thấm thiá khổ đau của đời làm cha làm mẹ.
Khi đề cập đến chuyện: con có thể là nợ, món nợ cha mẹ đã vay từ thưở nào, có khi từ nhiều kiếp trước nhưng nay phải trả, chúng ta muốn căn dặn nhau một điều: đó là không nên qúa kỳ vọng ở con, cũng đừng quá trông cậy ở con. Không quá kỳ vọng cũng như không qúa bám víu vào con, cha mẹ sẽ tránh cho mình những thất vọng vô ích làm khổ chính mình. Sinh con, nuôi con, dậy con như bổn phận cũng có thể được hiểu là trả cho  đời một món nợ thiêng liêng. Vấn đề là cha mẹ sẽ trả món “nợ đời” ấy với thái độ nào? Thái độ hằn học, bất đắc dĩ hay thái độ vui vẻ, lương thiện, công bằng ?
Thực ra, coi con cái là món nợ là điều không cha mẹ nào muốn, và khi bất đắc dĩ phải nghĩ điều này, cha mẹ biết mình đã chọn điều “chẳng muốn và cũng chẳng nên chọn”; nhưng vì bị gài vào thế “chẳng đặng đừng” nên đành phải liều nghĩ một cách rất tiêu cực như thế để tâm hồn được phần nào nguôi ngoai trước những căng thẳng, nặng nề tưởng không gì có thể cất nhẹ được. Tư tưởng của nhà Phật về nợ cũng đóng góp làm vơi đi phần nào sầu khổ trong tâm hồn những cha mẹ không còn chút niềm vui và hy vọng ở con cái.
Nhưng chúng ta không dừng ở đây, không đầu hàng định mệnh cách qúa dễ dàng nhưng với niềm tin vào ơn gọi làm người của con cái, tin vào ơn gọi được cộng tác với Trời trong công trình cho loài người sinh sôi nẩy nở, chúng ta  nhìn con cái với đôi mắt của tình yêu tích cực, tình yêu  hy sinh, tình yêu hồi sinh để con cái sẽ không là món nợ, nhưng là ơn phúc.    
Với đôi mắt tình yêu tích cực, con cái sẽ là cây phúc được trồng trên đất lành, đất  tốt của tình yêu cha mẹ. Với đôi mắt của tình yêu hy sinh, con cái sẽ là nguồn phúc chảy trong trái tim và cuộc đời cha mẹ. Với đôi mắt của tình yêu hồi sinh, cha mẹ cho con cái ơn phúc được yêu thương, cứu chữa. Bởi thế nào đi nữa, “duyên phận” giữa cha mẹ và con cái là duyên Trời định, nên vĩnh viễn không thể tách rời.
Cây phúc, nguồn phúc, hạnh phúc ấy không tự nhiên mà có, không bỗng nhiên hiện diện, cũng không sinh sản, lớn lên như cây cỏ trong thiên nhiên; nhưng đòi được tình yêu cưu mang, hy sinh nuôi dưỡng, kiên nhẫn giáo dục. Cây phúc vì thế sẽ chết non, héo tàn khi tình yêu không là nước tưới hằng ngày, không là khí trời cho cây tươi tốt; nguồn phúc ấy cũng sẽ khô cạn nếu hy sinh không như nước từ trái tim cha mẹ  đổ  về; và hạnh phúc được hồi sinh nơi con cái cũng sẽ bất hạnh chết  rũ nếu bóng con không còn được tình mẹ cha dõi bước.  
Tình mẹ cha là tình của biển cả vì chỉ biển cả mới hiểu phần nào cái bao la của tình cha mẹ. Tình ấy bao la vì tình ấy không tính toán, so đo, không kèo nài trả giá. Tình ấy bao la vì tình ấy không bị giới hạn bởi bất cứ một thứ biên giới nào; đến ngay cả sự chết cũng bất lực và phải dừng lại trước tình vĩnh cửu và toàn năng ấy. Cũng vì bao la, vĩ đại mà tình mẹ cha mang hết  tội lụy, yếu đuối, thiếu sót, lỗi lầm, dại dột, ngu ngơ, khờ khạo  của đời con; bởi chỉ có đại dương của tình cha mẹ mới dám đón những rủi ro, xác xuất trồi sụt bất thường của tình yêu nơi con cái mình và cũng chỉ trong liều lĩnh hy sinh, gan lì chịu đựng, tình mẹ cha mới thực là tình tuyệt vời, thiên thu.

CÙNG MẸ RA KHƠI

Mừng Lễ ĐỨC MẸ Hồn Xác Về Trời

Mừng Mẹ hồn xác về trời, cũng là ngày Hãy Ra Khơi tròn 2 tuổi. Hai tuổi chập chững loan báo Tin Mừng trên đường phố, hai năm lẫm chẫm từng bước nắm chặt tay Mẹ cùng Giáo Hội làm chứng Đức Giêsu giữa đời, hai năm theo Mẹ lên thuyền Ra Khơi lưới cá người, hai năm được Mẹ dậy yêu thương, tha thứ, hai năm học với Mẹ tinh thần qủang đại, khiêm hạ dám xóa mình để có thể chung vai sát cánh  cùng anh chị em phục vụ Nước Trời.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con cùng sứ thần Gabrien và Giáo Hội kính chào Mẹ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu, Con lòng Mẹ đầy phúc lạ.

Mẹ đầy ơn phúc vì Mẹ tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với Mẹ (x. Lc 1,45). Vì tin Mẹ đã  tín thác và can đảm đáp lại đề nghị của thiên sứ bằng lời Xin Vâng khiêm hạ: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói (Lc 1,38); vì tin, Mẹ đã không mảy may nghi ngờ quyền năng của Thiên Chúa, bởi đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được (Lc 1,37); vì tin, Mẹ đã  chấp hành lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Augúttô, khi rời Nadarét về Bêlem dù  ngày sinh đã cận kề, ở đó Mẹ đã sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt trong máng cỏ, vì không tìm được chỗ trong nhà trọ (Lc 2,7); vì tin, Mẹ đã một mình giữ lấy trong lòng lời tiên tri như lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn của cụ già Simêon về Hài Nhi Giêsu, Con Mẹ (x. Lc 2,34-35).

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ đã khiêm nhường, tự hạ, sống trọn ơn gọi nữ tỳ của Thiên Chúa, và suốt đời Mẹ đã là Lời Kinh Tán Tụng  Ngợi Khen trong niềm vui của phận nữ tỳ hèn mọn được Thiên Chúa đoái thương nhìn tới, với hạnh phúc tràn đầy của người được Chúa thương xót, vì kính sợ Ngài (x. Lc 1,46-50).

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ đã tuyệt đối tin tưởng ở Thiên Chúa quan phòng, Đấng cho kẻ nghèo đói của ăn đầy dư, và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường (x. Lc 1,52-53), khi nhận ra đời mình là Hồng Ân, và không ngừng dâng lời cảm tạ, vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! (Lc 1,49).

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ không rời xa Thiên Chúa dù một giây ngắn ngủi suốt cuộc đời, nhưng toàn tâm, toàn ý, toàn thân thuộc về Thiên Chúa. Từ khi là bào thai trong lòng mẹ thánh Anna đến ngày được Thiên Chúa cho cả hồn xác về trời, Mẹ luôn có Thiên Chúa ở cùng, như lời chào của sứ thần Gabrien ngày truyền tin. Có Chúa ở cùng, khi Mẹ mang thai Đức Giêsu; có Chúa ở cùng suốt ba mươi năm nuôi dưỡng, dậy dỗ Đức Giêsu ở Nadaét; có Chúa ở cùng ba năm dong duổi với Con trên đường truyền giáo; có Chúa ở cùng trên từng bước Đường Khổ Nạn; có Chúa ở cùng dưới chân Thánh Giá trên đồi Canvê chiều tử nạn; có Chúa ở cùng khi ôm xác con loang máu; có Chúa ở cùng ngày Con sống lại từ cõi chết; có Chúa ở cùng khi Thánh Thần hiện xuống; có Chúa ở cùng giữa các tông đồ, môn đệ; có Chúa ở cùng giữa cộng đoàn tín hữu cầu nguyện, bẻ bánh, làm chứng Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại; có Chúa ở cùng trong Giáo Hội được sai đi loan báo Tin Mừng; có Chúa ở cùng như Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội, Mẹ các Tín Hữu, Mẹ Nhân Loại; có Chúa ở cùng như Đấng bênh đỡ, bầu chữa, chở che kẻ có tội; có Chúa ở cùng như Mẹ hiền giờ con cái hấp hối lâm chung để bênh đỡ, chuyển cầu, đáp lời van xin: Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử  

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ luôn hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ(Lc 1,46), và đời Mẹ là đời vui trong Chúa, vì Thiên Chúa là Nguồn Vui Ơn Cứu Độ. Trong Thiên Chúa, Mẹ hớn hở reo mừng, vì Thiên Chúa hằng trung tín luôn giữ Lời Hứa và nhớ lại lòng thương xót của Ngài dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời (Lc 1,55), bởi chỉ  người tin ở Lời Hứa  của Thiên Chúa giầu lòng xót thương, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung » mới có bình an và niềm vui sâu lắng, đích thực, viên mãn.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con xin mãi được Cùng Mẹ Ra Khơi, như suốt hai năm qua, chúng con đã không bao giờ quên sự hiện diện từ ái của Mẹ trên thuyền Ra Khơi loan báo Tin Mừng, vì Ra Khơi không thế thiếu Mẹ, như Đức Giêsu đã không thể nhập thể, thập thế nếu thiếu cung lòng và trái tim yêu mến, khiêm hạ của Mẹ; các Tông Đồ không thể an tâm, vững chí vượt qua thử thách nếu không có Mẹ ở giữa các ngài; các tín hữu không thể trung thành trước cám dỗ, thách đố, nếu không có Mẹ đồng hành chỉ bảo,nâng đỡ, ủi an.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con khấn xin Mẹ tiếp tục chèo chống cánh thuyền Ra Khơi nhỏ bé của các con Mẹ, và hãy luôn là Ngôi Sao sáng  không chỉ soi lối cho con lúc vượt biển thế gian, mà còn soi đường chỉ lối cho thuyền ra sâu, sa xa đến với anh em chưa nghe Tin Mừng, chưa biết Thiên Chúa yêu thương và cứu độ họ.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con ngước trông và dõi theo bóng Mẹ đang tiến lên như rạng đông, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, oai hùng như đạo binh xếp hàng vào trận để xin Mẹ gìn giữ Giáo Hội Việt Nam, cùng hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ, Tu Sĩ, Giáo Dân giữa bao cạm bẫy hiểm nguy của Hoả Ngục mà chỉ một mình Mẹ biết rõ những gì  Giáo Hội cần, những việc Giáo Hội phải làm  trong từng tình huống, ở từng giai đọan như Mẹ đã cảm thương, thấu hiểu hoàn cảnh bế tắc, và kín đáo xin Đức Giêsu, Con Mẹ can thiệp làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon, để niềm vui của đôi tân hôn và gia đình hai họ được trọn vẹn, khi bất ngờ hết rượu giữa tiệc cưới ở làng Cana năm xưa (x. Ga 2,1-11).

Mừng Mẹ hồn xác về trời, xin Mẹ cho chúng con luôn được ở với Mẹ, bám chặt lấy Mẹ như Tông Đồ Gioan xưa để không bao giờ xa Đức Giêsu, Con Mẹ, không dại dột chối Đức Giêsu như Phêrô, bán Đức Giêsu như Giuđa, phỉ báng, hành hạ, lên án, đóng đinh Đức Giêsu như chính chúng con, vì không có Mẹ ở bên khuyên răn, can ngăn, chỉ bảo.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con xác tín và tuyên xưng đức tin tông truyền và lòng trung thành, yêu mến phục vụ Giáo Hội của Đức Giêsu, mà Mẹ hằng gắn bó, có mặt hộ phù, để trái tim chúng con luôn rộng mở không chỉ đối với những anh chị em cùng được sai đi, cùng lên thuyền với Đức Giêsu, Giáo Hội và Mẹ Ra Khơi loan báo Tin Mừng, mà còn đối với tất cả mọi người, bất phân chủng tộc, chính kiến, giai tầng xã hội đang trên đường đi tìm Nước Trời, với tâm hồn qủang đại, thiện chí trướcTin Mừng Cứu Độ.

Và sau hết, lậy Mẹ mến yêu, Nữ Vương các Giáo Hữu Việt Nam, xin cầu bầu cùng Chúa và ban ơn Bình An cho các gia đình, giáo xứ, giáo phận và toàn thể dân tộc, quê hương, đất nước chúng con ngày càng gặp nhiều khó khăn, thử thách đủ loại, đủ phía, vì chỉ có Mẹ mới làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy ở chốn khách đầy, thung lũng nước mắt, biển đời sóng gió hiểm nguy này. 

Jorathe Nắng Tím    


Thứ Ba, 4 tháng 8, 2020

THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG KHÔNG LÀM SỢ

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 Thường Niên, Năm A

Một chân lý vô cùng quan trọng là Thiên Chúa của Đức Giêsu không bao giờ làm sợ, vì Ngài là Tình Yêu (1 Ga 4,8), “điều Chúa phán là lời chúc bình an” (Tv 84,9), và ở Ngài “tín nghiã ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghiã mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao” (Tv 84,11-12). 

Chân lý ấy đã thực hiện nơi ngôn sứ Êlia, khi ông bị truy lùng bởi Giêraben đã  đến được núi Hôrép sau bốn mươi đêm ngày trốn chạy vất vả, ở đây, ông đã được gặp Thiên Chúa và Ngài đã không chỉ an ủi, nâng đỡ ông mà còn tỏ cho ông và dân Ngài biết: Thiên Chúa của họ là Thiên Chúa không làm sợ hãi như “ngẫu thần” mà thiên hạ tin thờ, nhưng yêu thương, nhân hậu và đến với con người trong cơn gió nhẹ nhẹ của bình an khi phán với ông: “Kià Đức Chúa đang đi qua. Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận  động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa là tiếng gió hiu hiu” (1 V 19,11-13).

Tin Mừng Mátthêu thì thuật lại sự kiện Đức Giêsu đi trên mặt nước vào khoảng canh tư đến với các môn đệ đang hoảng sợ trên thuyền “khi thuyền đã xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”(Mt 14,24).

Đến với các ông đang hoảng hốt vì thuyền sắp chìm, cũng như khuyến khích Phêrô cứ đến với Ngài khi bước đi trên mặt nước, Đức Giêsu đã tỏ uy quyền của Ngài trên sự dữ và trấn an các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” (Mt 14,27).

“Đừng sợ!” là tâm tình Đức Giêsu gửi trao chúng ta trong mọi hoàn cảnh đắng đót, tình huống thất vọng; là lời chúc bình an phục sinh của Ngài cho chúng ta giữa những thử thách tưởng không thể vượt qua; là lời hứa cứu độ của Ngài cho chúng ta, những tội nhân biết ngước trông lên và cầu khẩn Ngài thương xót, như Ngài đã “ban bình an” cho các môn đệ của Ngài sau khi sống lại (x. Ga 20, 19; Lc 24,37). 

Vâng, con thuyền chòng chành tưởng như sắp chìm vì bị sóng đánh và ngược gió là thuyền đời của mỗi người và là thuyền Giáo Hội. Như thánh Phaolô đã chia sẻ: “Có Đức Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối, và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng rằng: lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi” (Rm 9,1-2), chúng ta cũng đau khổ, ưu phiền như ngài, và  Giáo Hội cũng không ngừng bị thử thách đủ cách, đủ mức độ. Nhưng có Thiên Chúa là Đấng không bao giờ làm sợ, nhưng luôn có mặt chở che, bênh đỡ, ban bình an như Ngài đã từng can thiệp trong đời sống cá nhân và đời sống Giáo Hội, chúng ta có đủ lý chứng và nền tảng để tin vào Lời Hứa của Đức Giêsu, Thiên Chúa: “Thầy đây, đừng sợ !” (Mt 14,27) vì “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Jorathe Nắng Tím  


Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020

MẶC CẢM OEDIPE


Vấn đề tính dục ở em bé là đề tài được bàn đến nhiều từ sau nghiên cứu của Sigmund Freud, nhà phân tâm học người Đức. Sigmund Freud cho rằng ngay từ 4 tuổi, em bé đã biểu lộ một cách vô thức khả năng tính dục của mình và ông cắt nghiã khả năng này qua “mặc cảm Oedipe” lấy từ truyện thần thoại hy lạp của Sophocle. 
Câu chuyện như sau: Oedipe là một cậu bé bị cha mẹ bỏ từ lúc mới sinh. Người ta tiên đoán cậu là người chuyên gieo bất hạnh và sẽ giết cha để cưới mẹ mình. Lớn lên, Oedipe bỏ gia đình cha mẹ nuôi và trên đường, Oedipe gặp  người đàn ông tên Jocaste và giết người này. Oedipe không biết người đàn ông này là cha ruột mình.  Sau đó, Oedipe lấy mẹ ruột làm vợ mà cũng không hay biết. Đến khi biết rõ sự thật, Oedipe đã tự đâm mù hai mắt.
Câu chuyện thần thoại trên được Sigmund Freud cắt nghiã như hành động vô thức của con người trong tiến trình phát triển tính dục và đưa đến kết luận: bé gái  rất thích “quyến rũ” cha, không thích mẹ và ngược lại, bé trai  luôn “phải lòng” mẹ , ghét cha.  
Theo lý thuyết này: một cách vô thức, em bé ngay từ 4 tuổi đã biểu lộ khuynh hướng tính dục đối với chính cha mẹ mình: con trai thì thương mẹ, ghét cha,; con gái thương cha, không thích mẹ. Quan sát bé gái thích được ba chiều và thích hôn miệng ba; cũng như bé trai thích sờ vú mẹ và mong được mẹ  âu yếm, nhiều nhà phân tâm cho rằng: tính dục phát triển rất sớm nơi em bé và ảnh hưởng toàn bộ nhân cách của em sau này.
Nhiều người ủng hộ những phân tích của Sigmund Freud. Một khi ủng hộ, người ta sẽ đồng ý với ông về sự có mặt cùng một lúc của hai tình cảm đối nghịch: thương yêu và hận thù  nơi đứa bé đối với cha, mẹ mình. Nhưng cũng có nhiều người không hoàn toàn đồng ý với những phân tích của ông và cho đó là giải thích gượng ép về sự hình thành tính dục nơi em bé. Với những người không đồng ý với ông, sự gắn bó đặc biệt và những cử chỉ mang tính cách “tính dục ” nơi bé gái đối với cha, và bé trai đối với mẹ là do tính tò mò, muốn khám phá giới tính nơi người khác phái. Cũng như thái độ căng thẳng, không thiện cảm  của bé gái đối với mẹ, hoặc của bé trai đối với ba có thể đã do một bất công nào đó do cha hoặc mẹ đã gây ra. Chủ trương này còn cho rằng:  sở dĩ có những thái độ trái chiều là vì em bé đang cần hình thành trong em những  khuôn mẫu lý tưởng của nam  và nữ.
Dù đồng ý hay không đồng ý, dù thiên về Sigmund Freud hay đả phá ông, cha mẹ vẫn có thể chính mình quan sát diễn tiến của quá trình hình thành khả năng tính dục nơi con mình. Ở những nước phương tây, cha mẹ đặc biệt quan tâm đến phương diện tính dục của con cái và nhất trí những phương án hướng dẫn rất thực tế, thức thời:
a.   Không chọc quê hay trách móc bé, nếu bé có những cử chỉ quyến rũ    quá tình tứ với cha, hoặc mẹ; nhưng cắt nghiã cho bé biết: tình yêu giữa cha và mẹ không giống như tình yêu giữa cha mẹ và bé. Mỗi người có chỗ đứng của mình trong gia đình.
b.   Cắt nghiã cho bé sự khác biệt giới tính và cho bé biết: cha mẹ rất hãnh diện vì bé và tin chắc bé sẽ có người yêu sau này như ba có mẹ, như mẹ có ba.
c.    Tuyệt đối không la rầy, giận dỗi bé nếu bé không tỏ ra quấn quýt mẹ mà chỉ theo sát ba trong trường hợp bé là nữ, hoặc ngược lại nếu bé là nam.   
Để giúp em bé  trong  việc phát triển tính dục, cha mẹ cần  bén nhậy để nhận ra những biến đổi tính dục nơi con và kịp thời hướng dẫn. Những cử chỉ mang tính “tình dục” tuy vô thức, nhưng ảnh hưởng nhiều trên nhân cách và đời sống tính dục của em, nhất là khi em bước vào tuổi dậy thì. Những thói quen không được hướng dẫn ở tuổi thơ sẽ tạo thành những nếp “ phản ứng tình cảm” hằn sâu trong tiềm thức tạo nên những chấn động tâm lý bất bình thường sau này khi em bé ra khỏi tuổi thơ, bước vào tuổi niên thiếu. Có thể Sigmund Freud đã phần nào cường điệu ảnh hưởng của vô thức tính dục nơi em bé, nhưng ông đã có công phân tích và đem ra ánh sáng hiện tượng  tính dục ở tuổi thơ, một vấn đề mà đến bây giờ nhiều người vẫn  cho là  cấm kỵ, không nên bàn tới.
Nghề làm cha mẹ đòi biết tiên liệu: tiên liệu mọi rủi ro có thể xẩy ra trên đường con đi, tiên liệu mọi khó khăn, nguy hiểm đang chờ chân con bước tới. Tính dục cũng nằm trong danh sách những rủi ro, khó khăn, nguy hiểm đó. Và để tiên liệu đúng, không gì hay hơn là nhận diện chính xác vấn đề, những vấn đề có thể phát sinh rất sớm trong đời sống của con cái, như mặc cảm Oedipe trong tiến trình phát triển của tính dục.
Ước mong các cha mẹ ý thức vai trò quan trọng của tính dục trong hạnh phúc của con cái và hướng dẫn con cái một cách khôn ngoan để gia đình nào cũng là một gia đình hạnh phúc với cha mẹ và những đứa con hạnh phúc.    

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

CON CÁI VÀ TIỀN BẠC


Con cái nghe cha mẹ nói về tiền, thấy cha mẹ cầm tiền, tiêu tiền. Còn qúa nhỏ để có thể biết tiền là gì và giá trị của tiền, nhưng em đã mang máng hiểu: mọi người cần có tiền. Và từ đó, em muốn tìm xem đâu là mãnh lực của tiền.
Em bé nhận ra nhiều sự thật về tiền ngay khi 4, 5 tuổi:
1.   Tiền có mặt khắp nơi: Tiền không còn là mầu nhiệm hay điều cấm kỵ, nhưng tiền gần gũi,  quen thuộc. Ở nhà với mẹ, em thấy mẹ móc túi lấy tiền cho ba, cho anh chị. Đi chơi với ba, em thấy ba lấy tiền trả taxi. Vào siêu thị với chị, em thấy chị trả tiền khi mua quần áo. Tiền ở khắp nơi và chỗ mua bán nào người lớn cũng phải dùng đến  tiền. Ý niệm về tiền len lỏi vào trong em qua tính “toàn năng và hiện diện khắp nơi” của nó.  
2.   Em nhận ra: bất cứ thứ gì cũng có giá và hầu như mọi thứ đều được mua bằng tiền.
Em bé biết tiền qua người lớn và chỉ có thể nhận định về tiền  đến mức này. Bằng chứng là đi chợ với mẹ, em đòi đủ thứ, muốn đủ thứ vì tưởng rằng em muốn mua gì cũng được. Nếu mẹ nói với em không có tiền, em sẽ tỉnh bơ đề nghị mẹ đút  thẻ vào máy rút tiền tự động để lấy tiền. Em làm như cứ cần tiền là đút cạc vào máy và tiền sẽ nhẩy ra vô tận.
Bình thường trước 5 tuổi, em bé không biết  tiền là gì. Em coi tiền như đồ chơi và không mấy quan tâm. Từ 6 đến 8 tuổi, em quan sát ích dụng của tiền và ý niệm về tiền bắt đầu nhen  nhúm, thành hình trong em. Trên 8 tuổi, em biết tiền cần thiết và muốn có tiền riêng. Đây là giai đoạn quan trọng cha mẹ cần giáo dục con về giá trị của tiền và thái độ phải có đối với tiền.
Để tránh hai thái cực đều mang lại hậu qủa tai hại, đó là qúa say mê tiền đến ki cóp, thu gom bần tiện và phung phí, không biết tiết kiệm,  cha mẹ phải khôn khéo cắt nghiã cho con  những câu hỏi về tiền như: Tiền từ đâu có? Tiền để làm gì? Tiền có mua được tất cả không?    
a.   Tiền từ đâu có?: Em bé thấy mẹ đút cạc vào máy và lập tức tiền chạy ra, thế là em nghĩ: muốn có tiền chỉ việc đút cạc vào máy. Em không có ý niệm về nhà băng, máy rút tiền tự động và nhất là không  biết: để có tiền, cha mẹ đã phải đổ mồ hôi làm việc cực nhọc. Em cần được giải thích: tiền từ việc làm của cha mẹ. Hiểu được như vậy, em sẽ biết trọng giá trị của đồng tiền, vì biết tiền là  lương bổng của những ngày làm việc vất vả. Từ ý thức giá trị tiền là hoa trái của lao động, em sẽ  tập thói quen không coi  thường tiền bạc và sau này khi lớn lên sẽ không bừa bãi, phung phí  tiền bạc.

b.   Có tiền để làm gì? Một cách cụ thể, hãy cắt nghiã cho em: cần có tiền thuê nhà, tiền điện nước, tiền đi chợ mua đồ ăn, tiền sắm sửa đồ đạc, tiền may  quần áo, tiền đi học, tiền đi xe, tiền cho em ăn quà,  tiền cho em nhổ răng, tiền giúp người nghèo, tiền góp  qũy bác ái, từ thiện… Nói tóm lại, cần có tiền để giải quyết những nhu cầu của  đời sống hàng ngày và bảo đảm an sinh,  hạnh phúc của gia đình, cũng như để chia sẻ với những người thiếu thốn. Tuy còn bé, nhưng  con cái rất tò mò muốn biết tiền để làm gì, và tại sao phải đi làm kiếm tiền?  Cha mẹ cần thong thả cắt nghiã cho con, và nhờ thế, con sẽ biết cảm thông hơn với cha mẹ bằng cách không đòi hỏi  tiền bạc cách vô lý.


c.    Tiền có mua được tất cả không? Vì thấy mọi chuyện đều cần có tiền, mọi nhu cầu đều cần tiền để giải quyết, em bé sẽ lầm tưởng: chỉ cần có tiền sẽ mua được tất cả, như con trai một đại gia kia trong phim “Cầu vồng tình yêu” đã thẳng thừng tuyên bố: “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng “rất nhiều tiền”.” Như thế, chẳng có gì mà tiền không mua được.
Đây là nguy hiểm hơn cả nguy hiểm khi con cái ngay từ nhỏ đã bị ám ảnh bởi mãnh lực tưởng như tuyệt đối của tiền. Bị ám ảnh bởi sức mạnh vô song của tiền, con cái khi lớn lên sẽ chỉ biết tiền, ngoài ra không biết gì nữa kể cả lương tâm, đạo đức. 
Nhận định sai lầm về giá trị của tiền sẽ làm con cái trở nên nô lệ của tiền và cuộc đời sau này của chúng sẽ chỉ là cuộc chạy đua với đồng tiền và cuộc sống sẽ chỉ là những  bon chen, tranh giành với người khác để kiếm tiền, kiếm thật nhiều tiền...Và thế giới sẽ biến thành bãi chiến trường, sàn đấu giữa những con người  đã chọn tiền làm  lẽ sống. 
Nhận diện sai về  tiền cũng làm con cái dễ mù quáng trước tiền và sẵn sàng bán rẻ danh dự, phẩm cách vì tiền. Biết bao người trẻ đang lao vào cơn lốc kinh hoàng của đồng tiền và số phận của họ đã không hạnh thông, may mắn vì cái bạc của tiền.

Con cái chúng ta cần được giáo dục về giá trị “tương đối” của tiền ngay từ bé và phải được dậy cách xử dụng tiền ngay khi còn ở với cha mẹ. Cha mẹ có thể tập cho con dùng tiền bằng cách:

a.   Cho con một chút tiền bỏ túi khi con lên 9, 10 tuổi. Không cho nhiều, nhưng với chút tiền này, em sẽ tập xử dụng đồng tiền, tiết kiệm tiền với mục đích trở thành nguời chủ  khôn ngoan của đồng tiền sau này. Với chút tiền bỏ túi, em có tự do mua cho mình những gì em thích và có phương tiện giúp đỡ  người khác. Tập cho con dùng tiền một cách chính đáng là bổn phận của  cha mẹ khôn ngoan biết nhìn trước tương lai của con khi con sẽ một mình với gia đình riêng, đời sống riêng, sinh hoạt riêng; ở đó tiền đóng một vai trò quan trọng.
Khi con xin tiền bỏ túi là lúc con bắt đầu muốn có trách nhiệm trên đời mình. Vì thế, cha mẹ đừng từ chối lời xin chính đáng này để con có cơ hội tập sống có trách nhiệm trên chính đời mình.

b.   Đừng sợ phải nói “không” với con cái khi không thể thoả mản những đòi hỏi vật chất của chúng. Thí dụ: khi em bé cứ đòi mua hết đồ chơi này đến đồ chơi khác, cha mẹ nên  bình tĩnh và ôn tồn  nói với con: Ba không đủ tiền để mua tất cả những thứ này cho con; vì thế mình phải chọn lựa cái gì con thích nhất.  Từ chối không có nghiã là không còn thương yêu; cũng như chấp thuận chưa hẳn là dấu chứng của tình yêu. Cha mẹ đừng quên: những nụ hôn âu yếm, những lời khích lệ, động viên đem lại cho con niềm vui được yêu thương nhiều hơn  cho tiền, mua đồ chơi.
            
c.    Có thể tập cho con biết: đồng tiền do mồ hôi khó nhọc bằng cách đề nghị con thỉnh thoảng, nhất là trong kỳ nghỉ hè làm những việc  không thuộc sinh hoạt thường ngày của gia đình và trả cho con chút tiền lương tượng trưng  như phụ ba mẹ dọn nhà kho, cắt cỏ ngoài vườn…

d.   Tôn trọng quyền xử dụng tiền bỏ túi của con, vì thuộc quyền sở hữu chính đáng của chúng. Nếu cha mẹ không tôn trọng, cha mẹ đã không giúp con trưởng thành trong ý thức tự trách nhiệm  trên những gì thuộc về chúng.
Tóm lại, tiền bạc là phương tiện cần thiết trong sinh hoạt đời sống con người. Là phương tiện trao đổi để đáp ứng nhu cầu vật chất nên ai cũng cần tiền để sống. Em bé cần được giáo dục về tiền để khi lớn, em sẽ không ngỡ ngàng, vụng về khi phải tự mình xử dụng tiền. Vì tính bề ngoài “toàn năng”, tiền làm sáng danh phận, tương lai nhưng cũng  có thể làm lu mờ nhiều thứ, từ mắt đến lương tâm; tiền tạo dựng cơ nghiệp, vị thế xã hội, nhưng cũng sẵn sàng làm sụp đổ nhiều sự, từ con người,  gia đình đến đất nước; tiền cho con người sống hạnh phúc, xứng hợp nhân vị, nhưng cũng làm chết nhiều cuộc đời bất kể cuộc đời của người nghèo, người giầu, người cô thế, người có  chức tước, phẩm hàm.Tiền có thể là tôi tớ trung tín, nhưng cũng có thể tiếm vị để lên ngôi “ông chủ tàn ác”. Tự bản chất, tiền không xấu, không tốt; xấu tốt là do người xử dụng tiền.
Giáo dục tuổi thơ không loại trừ giáo dục về tiền để em bé ý thức về khả năng xây dựng cũng như mãnh lực tàn phá của tiền. Ý thức đúng đắn về tiền sẽ giúp em lớn lên trong lương thiện trước tiền bạc và khôn ngoan trong cách xử dụng. Ngày nay, lương tâm nhân loại không còn trong sáng và phán đoán của  nhiều người không còn lành mạnh trước đồng tiền. Người ta không còn cảm thấy “lương tâm cắn rứt” khi chiếm đoạt tiền bạc của người khác, thâm lạm công qũy, tham ô, lừa đảo. Tiền đã ở đỉnh cao của thang giá trị cuộc đời và người ta chỉ còn mê man tìm kiếm, bốc hốt, tôn thờ. Tiền trở thành thượng đế toàn năng và trí thông minh của con người thời đại chỉ đến được mức coi đồng tiền là tất cả vì  logic thực dụng  của họ là tất cả đều mua được bằng tiền.
Khi thế giới rơi vào thảm trạng tôn thờ tiền bạc thì con người tức khắc xuống cấp làm nô lệ của đồng tiền. Và theo bạn, thế giới con người sẽ đi vể đâu và con người sẽ hạnh phúc hay bất hạnh khi tiền là tất cả và tất cả sẽ không là gì, nếu không có tiền, kể cả tình nghiã ? 
Hỏi tức là trả lời và tương lai của con chúng ta là bài toán mà chúng ta phải tìm lời giải ngay từ hôm nay, tại nơi này.

CHO DƯ ĐẦY MỘT CÁCH NHƯNG KHÔNG

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18, Thường Niên, Năm A     

Ước gì chúng ta nhận ra ơn Chúa, vì Chúa thật là Đấng nhân ái, nhân hậu: “nhân ái với mọi người, và nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 144,9), để “muôn loài ngước mắt trông lên Chúa, và chính Ngài đúng bữa cho ăn. Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thỏa thuê” (Tv 144,15-16).  

Ngôn sứ Isai đã mô tả Thiên Chúa ban ơn một cách dồi dào và nhưng không, khi ơn Chúa không khoanh vùng, cấm vận, phân biệt, kỳ thị, khước từ, chối bỏ một ai, nhưng được ban hào sảng, quảng đại và nhưng không, vô điều kiện cho mọi người, nhất là những người nghèo khó không có tiền để mua, không có gì để trả: “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào” (Is 55,1).

Như thế, không chỉ những của ăn cho “chắc dạ no lòng”, mà cả những thức ăn, thức uống được xếp vào mặt hàng cao qúy, sang trọng như sữa và rượu cũng được Thiên Chúa ban dư tràn. Tất cả đều được ban nhưng không và chan chứa, dư đầy để dân Ngài được no nê, vui thoả: “Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị”(Is 55,2).

Tin  Mừng Matthêu làm chứng điều này, khi “Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ” (Mt 14,14).Và đám đông ấy khao khát lắng nghe Ngài giảng dậy đã không chịu tan hàng dù trời đã về chiều, đến nỗi các “môn đệ lại gần và thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn” (Mt 14,15).

Trước lời đề nghị của các môn đệ, Đức Giêsu đã:

1.   Không trốn chạy vấn đề:

Vấn đề trước mắt là đám đông đói, và giải pháp dễ dàng, gọn đẹp nhất được các môn đệ đưa ra là giải tán để ai nấy tự lo cho mình, vì qủa thực lấy đâu ra bánh mà cho đám đông hàng nhiều ngàn người ăn giữa một “nơi hoang vắng riêng biệt”.  Và Đức Giêsu đã làm các môn đệ giật mình khi nói với các ông: “Họ không cần đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn” (Mt 14,16), mà không theo ý các ông giải tán đám đông là giải pháp nhanh chóng, dễ dàng và rảnh tay hơn cả.

2.    Muốn các môn đệ Ngài là những trợ tá của Ơn Chúa:

Không trốn chạy vấn đề, không tránh né khó khăn, không xóa bỏ trách nhiệm bác ái trước nhu cầu chính đáng của ngưới khác, Đức Giêsu đã công khai yêu cầu các môn đệ nhập cuộc, dấn thân vào việc lo cho đám đông ăn, khi nói với các ông như một lệnh truyền: “Chính anh em hãy lo cho họ ăn”. Ngài  giúp các ông nhận ra vai trò cộng tác vào ơn Chúa, vai trò trợ tá phân phát ơn Chúa của mình khi bảo các ông đem lại cho Ngài những gì các ông có. Và tất cả những gì các ông kiếm được trước nhu cầu lương thực của nhiều ngàn người chỉ “vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá” (Mt 14,17).

Thật ít oi những gì các môn đệ mang lại cho Ngài, khi được yêu cầu lo cho đám đông ăn, nhưng với những “ít oi, nhỏ bé” đó, Đức Giêsu đã  làm phép lạ “hoá bánh ra nhiều” nuôi cả đám đông “có tới năm ngàn đàn ông không kể đàn bà và trẻ con” (Mt 14,21).

Qủa thực, từ hoàn cảnh thiếu thốn, đói khát của đám đông và tâm trạng lo âu của các môn đệ, Đức Giêsu đã biến thành bầu khí vui tươi, hạnh phúc khi tất cả được no đủ, và các môn đệ được sung sướng hả hê vì không ngờ Thầy đã làm phép lạ cả thể để mọi người được ăn no và phấn khởi tin Thầy là Đấng Thiên Sai.

Với chúng ta, cuộc sống cũng có những lúc thiếu thốn, cơ cùng cả vật chất lẫn tinh thần và ngoài Chúa ra, chúng ta chẳng còn biết trông vậy vào ai khác.

Xin Chúa dậy chúng ta tin vào lòng nhân ái, nhân hậu của Chúa, Đấng ban ơn dư đầy và nhưng không cho những ai “tìm Người khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người còn ở kề bên” (Is 55,6), vì khi đã nhận ra ơn Chúa từng giây phút bao phủ cuộc đời, chúng ta sẽ như thánh Phaolô xác tín và tuyên xưng: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,39).

Jorathe Nắng Tím 


Thứ Hai, 27 tháng 7, 2020

CON TÔI KỲ CỤC, KHÓ THƯƠNG!


Không cha mẹ nào không  mong con mình là “số một”: đẹp số một, thông minh số một, ngoan số một, dễ thương số một… nhưng cũng có những “số một” không cha mẹ nào dành về cho mình, đó là con quậy  phá “số một”, kỳ cục số một, khó thương số một.
Khi sinh con, người mẹ nào cũng mong con mãi là thiên thần bé nhỏ của mẹ, mãi bé bỏng để mẹ bồng ẵm và mãi ngoan ngoãn để mẹ thương. Nhưng con càng lớn, cha mẹ càng thấy giấc mơ “con tôi số một” ngày càng phôi pha, nhạt mờ. Em bé không còn dễ thương, nhưng quậy phá mệt nghỉ. Em bé hết hiền lành, nhưng ngang tàng, kỳ cục đến khó thương.
Em bắt đầu để lộ những cá tính “khó chịu, khó thương” như  hay cãi lời, lười biếng hung bạo,  giận dỗi. Tuy mới 6, 7 tuổi, nhưng em không còn muốn bị cha mẹ kiểm soát mà luôn tìm cách thoát  khỏi bàn tay của cha mẹ bằng những sáng kiến quái đản. Em trở thành một đứa con khó dậy, rắn mắt, lì lợm và cha mẹ bắt đầu than thở, mệt mỏi, ngao ngán vì em.
Thực ra, ngay ở tuổi thơ, em bé đã kỳ cục, khó thương vì em đang đi vào hành trình tạo nhân cách. Những “khó thương, kỳ cục” của em không hẳn do em kỳ cục, khó thương từ “bao kiếp trước”, nhưng  do những thay đổi tâm sinh lý và những thay đổi này rất cần thiết để nhân cách của em  được tạo hình.
Trước những ngỗ nghịch  kỳ cục của em, cha mẹ cần  phân biệt:
a.   Có thể do thiếu kinh nghiệm, thiếu nhận thức: Em làm một việc mà không biết  hoặc chưa biết hậu qủa của việc sắp làm. Thì dụ: lấy buá đập đầu đạn nhặt được trong vườn.
b.    Biểu lộ tình cảm phản kháng, chống lại quy định của cha mẹ.
c.    Biểu lộ sự bất hợp tác với cha mẹ, nhất là khi cha mẹ cứ luôn miệng nhắc nhở, khiển trách. Thí dụ: em bé đóng mạnh cửa phòng khi mẹ không ngừng nhắc em dọn giuờng gọn gàng, sạch sẽ.
d.   Biểu lộ tình cảm tức giận trước bất công.
e.    Biểu lộ tính quật cường vì bị đán áp, xử ép.
f.     Biểu lộ khao khát được ở một mình, thư giãn khi bị cha mẹ hối thúc, áp lực phải làm cho xong một việc gì, hay phải đạt cho bằng được mục tiêu nào đó. Đây là tình trạng thường gặp trong phạm vi học đường, khi các em bị cha mẹ tạo áp lực phải học cho giỏi, cho nhiều để đạt danh hiệu này, thành tích kia…  
g.   Biểu lộ tình cảm sợ hãi trước một người hay một đe doạ nào đó. Thí dụ: em bé hay nổi khùng chửi tục vì sợ mấy đứa “bạn” đầu gấu sáng nào cũng rình rập đòi chi tiền, đóng hụi chết. Hoặc  em sợ cô giáo la  vì bài làm chưa xong; sợ gia đình không có gì ăn vì ba thất nghiệp; lo  những  ngày sắp tới sẽ không có ai nuôi em, lo cho em, vì cha mẹ hay xích mích, ẩu đả và đang đòi đưa nhau ra tòa ly dị.
Đối diện với những đứa con ngỗ nghịch khi tuổi còn thơ, cha mẹ nên làm một cuộc đối thoại với con để biết con nghĩ gì, muốn gì, cần gì; đồng thời giải đáp cho con mức độ đúng sai của những gì con nghĩ, và khả năng đáp ứng của cha mẹ đối với nhu cầu tinh thần và vật chất của con. Đừng nghĩ: vì còn nhỏ, nên em bé không biết gì, không cần gì; trái lại phải  nhìn em như một người có tư duy và ý chí tuy chưa trưởng thành nhưng đủ để hiểu biết và biết mình muốn gì. Thiếu sót chung của cha mẹ là coi thường những năm tháng tuổi thơ “đã biết tư duy và chọn lựa” của con và chỉ chú trọng đến những tình cảm âu yếm, chiều chuộng …
Đại loại những câu như:
·      Con có thấy được ba mẹ yêu con  không?
·      Con có cần thiết phải làm như vậy không?
·      Nếu con nói với ba mẹ thì sự việc đã khác…
·      Ba mẹ muốn để con tự lựa chon
·      Có thật con chủ ý  hay vô tình? Nhưng ngay cả con chủ ý làm, ba mẹ vẫn thương  con.
Có nhiều cách nói sẽ thuyết phục con hơn là cáu giận khi con làm cha mẹ không vừa ý. Đối với trẻ em, hình phạt không thay thế đối thoại, vì chỉ đối thoại mới cho em thấy giới hạn của mình khi em nhận ra nơi cha mẹ tính chừng mực, nhẹ nhàng,  nhưng cứng rắn. Nhiều cha mẹ không biết đối thoại hay từ chối đối thoại với con cái. Tương quan cha mẹ - con cái nhiều khi chỉ là “ ra lệnh và thi hành lệnh”. Người ra lệnh là cha mẹ và người thi hành là con cái. Vì thế có nhiều ấm ức, bực bội nơi cả hai bên: cha mẹ bực bội vì lệnh không được nghiêm túc thi hành, con cái ấm ức vì lệnh mang tính đàn áp, bất công.Và phần lớn những khó thương của con cái đã phát sinh  từ những “tai nạn” tương quan đáng buồn này.
Tóm lại, con cái dù khó thương hay dễ thương cũng là con của cha, con của mẹ, nên bổn phận hàng đầu của cha mẹ là yêu thương. Cha mẹ có quyền sinh con, nhưng không có quyền sinh tính. Mỗi đứa con là một “con người độc nhất vô nhị”, một mầu nhiệm, một kỳ công, một tương lai khác tất cả các tương lai khác. Nhà Phật gọi là “Duyên” để giải thích những hội ngộ của người này với người kia trong cuộc đời. Cha mẹ - con cái, ở một khiá cạnh nào đó cũng là  cuộc hội ngộ do có “Duyên” với nhau. Giáo lý công giáo gọi là sự quan phòng của Thiên Chúa khi mời gọi cha mẹ cộng tác vời Ngài trong việc tạo dựng những con người mới. Vì có duyên và được quan phòng nên cha mẹ hãy đón nhận con cái với tất cả tình yêu, dù chúng là những đứa con quậy phá, khó thương. Duyên nhà Chùa hay quan phòng nhà Chúa đều nói lên sự can thiệp của Bề Trên trong sự có mặt của con cái. Và nếu duyên đã định, quan phòng đã sắp xếp thì ngay cả những đứa con đã trót mang tiếng quậy phá, khó thương ấy  cũng sẽ được thay đổi nên tốt, hiền hậu, dễ thương hơn nhờ Ơn Trên và nhờ tình mẹ bao la, tình cha hải hà bao bọc, dìu dắt.

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2020

KHO BÁU NƯỚC TRỜI


Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 17 Thường Niên, Năm A
Sống là lựa chọn, bởi con người không thể sống mà không lựa chọn, khi đứng trước nhiều khả thể, nhiều đối tượng, nhiều phương hướng, và chọn lựa chính là khả năng quyết định hạnh phúc hay bất hạnh của đời mình.
Chàng và Nàng trong chương trình tivi “Bạn muốn hẹn hò” luôn được MC Quyền Linh, Cát Tường hoặc Nam Thư đặt câu hỏi: “Thế nào là mẫu người vợ hay chồng lý tưởng của bạn?” và ai nấy đều say sưa mô tả mẫu người lý tưởng của mình như một kho tàng qúy báu phải tìm cho kỳ được.
Nhưng không phải ai cũng có khả năng biết và đánh giá cái gì hay, cái gì dở, người nào xấu, người nào tốt. Bằng chứng là bao nhiêu hôn nhân đã đổ vỡ, bao nhiêu cuộc sống chung đã đứt gánh giữa đường đời, và người trong cuộc chỉ còn biết thẫn thờ thở than: Tôi lầm! Nếu biết thế, tôi đã không cưới nàng! Biết vậy, tôi đã chẳng nhận lời cầu hôn!
Nếu hành trình cuộc đời ít nhiều đã cho chúng ta kinh nghiệm xương máu của những lần chọn sai, lựa lầm, quyết định không đúng, thì  hành trình đức tin cũng đòi chúng ta phải khôn ngoan để biết đâu là kho tàng qúy giá phải chọn, và đường nào là đường tốt  nhất phải đi.
Sách Các Vua đã kể lại câu chuyện vua Salômôn được thị kiến Thiên Chúa trong giấc mộng, khi Ngài nói với ông: “Ngươi cứ xin đi, Ta sẽ ban cho ”(1 V 3,5). Ngài muốn ban cho vua điều qúy giá nhất vua muốn xin, và sẵn sàng ban cho vua kho tàng vua muốn có. Và vua đã thân thưa cùng Chúa: “Xin ban cho tôi tớ Chúa đây một tâm hồn biết lắng nghe, để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái” (1 V 3,9), vì vua biết trách nhiệm làm vua của dân Chúa sẽ rất nặng nề, và “Chúa hài lòng vì vua Salômôn đã xin điều đó” (1 V 3,10). 
Với một tâm hồn biết lắng nghe, vua sẽ lắng nghe dân và lắng nghe Thiên Chúa. Nhờ thế vua sẽ nhận ra điều phải trái, để hoàn thành tốt đẹp sứ vụ cai trị dân như ý Chúa muốn. Và triều đại của vua Salômôn đã là triều đại huy hoàng, vì “Thiên Chúa đã cho vua được dồi dào khôn ngoan, thông thạo, và một trái tim bao la như cát ngoài bãi biển. Sự khôn ngoan của vua Salômôn trổi vượt hơn sự khôn ngoan của tất cả mọi người” (1 V 5,9-10).
Tin Mừng Mátthêu đã ghi lại dụ ngôn “kho báu và ngọc qúy” được kể từ miệng Đức Giêsu. Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu ca ngợi sự khôn ngoan của người kia khi “biết có kho báu chôn giấu trong ruộng”. Ông liền “chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13,44); cũng như người thương gia khôn ngoan đi tìm ngọc đẹp, khi “tìm được một viên ngọc qúy, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy” (Mt 13,45). Và Ngài kết luận: Nước Trời chính là kho báu, và viên ngọc qúy ấy .  
Như thế Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta biết kho tàng qúy báu mà chúng ta phải tìm kiếm và chiếm hữu cho kỳ được chính là trở nên giống Đức Giêsu, như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Rôma: “Vì những ai Thiên Chúa  đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29), để những người em này được nên công chính và được hưởng phúc vinh quang (x. Rm 8,30) .    
Và lậy Chúa, trên đường đời chúng con đi, xin ban cho tôi tớ Chúa ơn khôn ngoan để “hết lòng hết dạ kiếm tìm Người” (Tv 116,2).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2020

THIÊN CHÚA KHIÊM HẠ ĐẾN VỚI NHỮNG NGƯỜI KHIÊM HẠ


Tin Mừng mặc khải một sự thật không thể chối cãi, nhưng lại là sự thật ít được con người đón nhận, đó là Thiên Chúa, mặc dù yêu thương và muốn cứu độ tất cả mọi người, nhưng Ngài chỉ đến với những con người khiêm hạ, cho dù người ấy tội lỗi, bất xứng, yếu đuối đến đâu. Và ngoài con đường khiêm hạ con người phải đi để gặp được Chúa, chúng ta không còn con đường nào khác.
Không còn con đường nào khác, vì Thiên Chúa chỉ thương yêu, chúc phúc và phù trợ những ai khiêm hạ. Còn những kẻ quyền thế lòng trí kiêu căng, Ngài dẹp tan, loại bỏ (x. Lc 1,51-52). Không còn tuyến đường nào khác, vì Đức Giêsu đã thẳng thừng lên án các kinh sư và Pharisêu kiêu căng và gọi họ là “đồ mãng xà, nòi rắn độc” (Mt 23,33), “quân giả hình, gian ác” (Mt 23,28), và qủa quyết số phận bị kết án, hoả ngục của họ (x. Mt 23,13.14.15). Không còn lộ trình nào khác, vì để gặp được Thiên Chúa, bất cứ ai cũng phải trở nên như con trẻ “hiền lành, khiêm nhường, phó thác”, “vì Nước Trời là của những ai giống như chúng” (Mt 19,14), khác với người kiêu căng  thủ đọan, ma  mãnh, ngang ngược, hung bạo, ích kỷ, thần tượng chính mình, và phủ nhận tha nhân. Không còn lối ngõ nào khác để đến với Chúa, vì Chúa không ở trong dinh thự, biệt phủ của kẻ kiêu căng, nhưng đồng bàn với những người tội lỗi khiêm hạ biết mình có tội (x. Mt 9,10-12), vào nhà những  người như Dakêu bị đời lên án bất chính nhưng có lòng khiêm hạ (x. Lc 19,1-10), vì “người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mt 9,12), và “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10). Không còn ngóc ngách nào khác để được đứng vào  hàng ngũ “những người được Chúa Cha chúc phúc” ở ngày chung thẩm trước Nhan Thiên Chúa, ngoài những con hẻm lầy lội trong xóm lao động có những người nghèo khổ, đau ốm, thất học khiêm hạ, những ngõ cụt tối tăm không đèn là nơi náu ẩn của cụ già neo đơn, người mẹ  cơ nhỡ, đám trẻ bụi đời không ngày mai, bởi Thiên Chúa đã “tự đồng hoá” mình “với những anh em bé nhỏ nhất” (x. Mt 25,31-46). Không còn phương tiện nào liên lạc được với Thiên Chúa ngoài Khiêm Hạ, vì Thiên Chúa không để tai lắng nghe tiếng nói của người kiêu ngạo, nhưng chỉ quan tâm lắng nghe và đoái nhận lời cầu xin của người thu thuế tội lỗi  khiêm hạ bên cạnh người Pharisêu “được tiếng là gương mẫu đạo hạnh” nhưng kiêu căng, tự phụ (x.Lc 18,9-14).
Thế nên con đường duy nhất, địa điểm duy nhất, phương tiện duy nhất, điều kiện duy nhất  tiên vàn  phải có để gặp được Đức Giêsu chính là biết mình tội lỗi, bất xứng, nhiều giới hạn để khiêm nhường và tự hạ trước Thiên Chúa và anh em. Chính Đức Giêsu không ngớt nhắc nhở các môn đệ và rao giảng cho đám đông tinh thần khiêm hạ, như đòi hỏi tiên quyết mà những ai muốn đi theo Ngài, muốn gặp Ngài, muốn ở lại với Ngài phải đáp ứng.
Khi kêu gọi “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14), Đức Giêsu muốn nói đến lòng Khiêm Hạ từ đó mở ra con đường đến với Ngài là “Sự Thật và là Sự Sống”. Cũng như khi đưa ra điều kiện: “Ai không vác thập giá mình mà theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27), Đức Giêsu tiếp tục nhấn mạnh đòi hỏi phải Khiêm Hạ, bởi người kiêu căng thích được mọi người răm rắp phục tùng, suy tôn, ca tụng, hầu hạ mình làm sao có thể từ bỏ tất cả, nhất là “cái tôi vĩ đại, cao ngất ngưởng” để theo Đức Giêsu trên đường Thánh Giá với cây thập tự sần sùi, nặng nề, ô nhục trên vai?    
Nhưng có một phần thưởng vô cùng lớn lao cho những tâm hồn khiêm hạ là chính Thiên Chúa tìm đến và đứng vào hàng ngũ Khiêm Hạ với họ.
Tin Mừng Mátthêu kể lại: Đức Giêsu đã tự ý “đến sông Giođan gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình” (Mt 3,13). Vì Gioan biết Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, Đấng mà ông đang loan báo cho mọi người để ai nấy chuẩn bị đón rước bằng ăn năn sám hối, biểu hiện qua việc chịu phép rửa, nên ông đã một mực can Người và nói: “chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!” (Mt 3,14). Nhưng Đức Giêsu vẫn xin Gioan làm phép rửa cho Ngài, như ông đang làm cho bao nhiêu người khiêm hạ ăn năn sám hối khác.
Thái độ khiêm hạ của Đức Giêsu khi tự ý đến và xin Gioan làm phép rửa, dù Ngài là Thiên Chúa thánh thiện, Chiên trong trắng, vô tội của Thiên Chúa đến để gánh tội và xóa tội trần gian đã làm ngạc nhiên Gioan, vì ông không thể ngờ Đấng Thánh của Thiên Chúa lại khiêm hạ đến độ tự nguyện đứng chung hàng ngũ với những người tội lỗi cần lòng xót thương đang khiêm hạ xin ông làm phép rửa sám hối. Hơn ai hết, ông biết Đức Giêsu là Thiên Chúa, như ông đã giới thiệu với đám đông khi qủa quyết: “Đấng đến sau tôi, và tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,27). “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng ấy sẽ rửa anh em trong Thánh Thần” (Ga 1,33). Gioan còn sửng sốt, kinh ngạc khi thấy Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra, và Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16-17). Và Gioan đã vui mừng thốt lên: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,34).
Qủa thực, điều làm Chúa Cha vui lòng chính là thái độ khiêm hạ thẳm sâu của Đức Giêsu khi tự ý đến với Gioan Tẩy Giả như người tội lỗi để nhận phép rửa sám hối từ tay Gioan là người dọn đường cho mình; là tâm tình khiêm hạ của người tôi tớ Thiên Chúa khi kín đáo, lặng thinh theo đoàn người lũ lượt khiêm hạ thống hối ăn năn để đón Nước Trời sắp đến; là chọn lựa khiêm hạ thân phận của tội nhân khi đứng chung hàng ngũ những người cần được thương xót, tha thứ. Và Đức Giêsu đã làm đẹp lòng Chúa Cha không vì những biểu dương vương quyền, uy lực, những nghi lễ ra mắt hoành tráng, uy nghi, những phẩm phục, vương trượng oai phong, huy hoàng, những tuyên ngôn hùng hồn, nẩy lửa như thiên hạ vẫn thi nhau thể hiện khi đến thời, gặp thời. Trái lại, Ngài đã đến im ắng, đã bắt đầu sứ vụ Cứu Thế cách nhẹ nhàng, đơn sơ, đã  khởi sự công cuộc loan báo Tin Mừng bằng tâm tình và cung cách  bình dị, tế nhị, kín đáo, bé nhỏ của một người tội lỗi khiêm hạ đi tìm lòng xót thương, ơn tha tội.
Vâng, nếu Đức Giêsu đã làm đẹp lòng Chúa Cha vì Ngài khiêm hạ, đã làm sững sờ, kinh ngạc Gioan Tẩy Giả vì khiêm hạ, Ngài cũng đang làm chúng ta xúc động, hạnh phúc vì sự khiêm hạ tận cùng của Ngài. Chúng ta không xúc động sao được trước một Thiên Chúa khiêm hạ đích thân đến với chúng ta khi chúng ta khiêm hạ đi tìm Ngài? Chúng ta dửng dưng sao được với một Thiên Chúa không bao giờ bỏ chúng ta đơn độc trên đường Khiêm Hạ đi tìm Ngài? Chúng ta rời xa sao được một Thiên Chúa tự ý đứng chung hàng với tội nhân, tự nguyện mang chung thân phận yếu đuối, tự mình đưa vai gánh hình phạt nặng nề của phạm nhân trọng tội là chúng ta? Chúng ta nhắm mắt làm ngơ sao được trước tình yêu khiêm hạ của một Thiên Chúa đã xuống sâu đến tận cùng của thân phận tro bụi, đã xuống thấp đến tận bàn chân dơ bẩn, đầy cáu ghét của con người tội lỗi để cứu cho kỳ được người con mà Ngài đã dựng nên và luôn thương xót?
Chúng ta chỉ còn biết đón nhận Hạnh Phúc của người được Thiên Chúa thương xót, thứ tha, bằng khiêm hạ cúi mình trước Thiên Chúa rất khiêm hạ, giầu lòng trắc ẩn, cảm thương như người đầy tớ mắc nợ ông chủ món nợ kếch xù mà không có gì để trả đã được ông chủ tha hết nợ (x. Mt 18,23-27), để thờ lậy và cảm tạ  Chúa, vị Mục Tử nhân lành ngày đêm  hớt hải, tất bật đi tìm cho kỳ được đám chiên lạc là chúng ta đang khiêm hạ nài xin Ngài thương cứu độ.  
Jorathe Nắng Tím