Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020
HUẤN LUYỆN CON TỰ LẬP
Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020
NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC SỨ VỤ
Rất
nhiều người Công Giáo rơi vào tâm trạng bối rối, không biết phải làm gì và bắt đầu
từ đâu, mặc dù ý thức rất rõ và xác tín rất vững chỗ đứng Kitô hữu của mình. Có
thể vì chưa gặp được ở Giáo Hội bầu khí gia đình, chưa được các Đấng Bậc và anh
em trong gia đình Giáo Hội nhiệt tình đón
nhận và ân cần hướng dẫn, đồng hành; hoặc do những gương mù gương xấu trong Giáo
Hội làm hốt hoảng, hoang mang. Tình trạng này là nguyên nhân gần đưa đến thái độ
bàng quan, lối sống vật vờ, thờ ơ, không tha thiết đến sứ mệnh của người Kitô hữu,
cũng chẳng trăn trở, thao thức, quan tâm đến công việc chung, hay những khó khăn,
thách đố của Giáo Hội trong sứ vụ loan báo Đức Giêsu cho thế giới hôm nay.
Gần
gũi chia sẻ với nhau, chúng ta thương nhau hơn là trách móc, vì hầu hết chúng
ta đều muốn đóng góp xây dựng, mở mang Nước Chúa; đều sẵn sàng hy sinh phục vụ;
đều có khả năng và nhiệt tâm cống hiến cho việc nhà Chúa. Nhưng sở dĩ không có nhiều cơ hội “thi thố”, vì chúng ta
chưa chuẩn bị cho mình hành trang cần thiết, mà thường chỉ được huy động cho từng
công việc riêng lẻ, từng phong trào nhất thời, và chưa được đào tạo để trở thành
những Kitô hữu thực sự trưởng thành có đủ điều kiện, đức tính nhân bản và siêu
nhiên để gánh vác trách nhiệm của người giáo dân trong Giáo Hội.
Trước nhu cầu phải có một hành trang cần thiết, người
viết mạo muội đóng góp một vài suy tư:
Hiến
Chế “Vui Mừng và Hy Vọng” của Công Đồng Vaticanô II minh định và không ngừng xác
quyết: Giáo Hội được mời gọi bằng hết sức lực của mình thực hiện ba đòi hỏi
quan trọng là loan báo Tin Mừng, Cầu Nguyện và Đối Thoại để giật sập những bức
tường ngăn cách con nguời với con người, và con người với Thiên Chúa, bởi trong
chương trình đời đời của Thiên Chúa, toàn thể nhân loại được kêu gọi quy tụ để làm
thành một dân mới của Thiên Chúa (x. Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân 13), bởi chỉ
trong sự hiệp nhất được chúc phúc này, con người mới thực sự hạnh phúc vì được
chữa lành, nuôi dưỡng, và củng cố ngày thêm vững mạnh.
1.
Loan Báo Tin Mừng:
Đòi
hỏi thứ nhất và quan trọng nhất là loan báo Tin Mừng. Tin Mừng là Đức Giêsu, Ngôi
Lời nhập thể, Đấng “là Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6), nên bao lâu Lời Chúa
chưa được loan báo, lắng nghe và đón nhận
như sự sống và ánh sáng của đời mình, bấy lâu chúng ta còn chơi vơi, lạc lõng,
yếu nhược, vì bỏ quên Lời Chúa, không người Kitô hữu nào có thể vững bước trên đường theo Chúa phục vụ anh em.
Ở
đây, chúng ta đừng quên một điều rất quan trọng, đó là người tín hữu không chỉ
loan báo, nhưng đồng thời phải lắng nghe, và đón nhận Lời Thiên Chúa. Bổn phận
loan báo đi đôi với nghiã vụ lắng nghe, đón nhận, vì cả hai đều quan trọng như
nhau. Nhưng loan báo và đón nhân Lời Chúa thế nào?
Thưa,
loan báo và đón nhận Lời Chúa “không như
lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy”
(1 Tx 2, 13). Không như lời người phàm, nên khi loan báo cũng như khi lắng
nghe, đón nhận, chúng ta chỉ loan báo và lắng nghe lời nào thuộc về Thiên Chúa,
lời nào của Thiên Chúa, vì “Lời đó tác động nơi anh em là những tín hữu” (1 Tx
2,14), như thánh Phaolô đã khẳng định.
Sở
dĩ chúng ta chỉ quan tâm loan báo và lắng nghe, đón nhận Lời Chúa, vì Lời ấy
ban sự sống đích thực, ban ơn sủng dồi dào, nên khi Lời được loan báo, thì chắc
chắn Lời hằng sống ấy ban sự sống; và khi lắng nghe, đón nhận Lời Thiên Chúa,
nguồn mạch mọi ơn sủng, thì ơn sủng tuôn đổ dồi dào, để chúng ta được thánh hoá,
đổi mới, đón nhận ơn bình an.
Xác
định được điều này, chúng ta không còn sợ hãi, hoang mang khi có người thay vì
giảng lời Chúa như sứ vụ đòi hỏi lại chỉ
nói lời của phàm nhân, bởi chúng ta biết lời nào mình cần quan tâm lắng nghe, và
lời nào không nên để lọt tai, bởi chính Lời Thiên Chúa ban ơn phân định cho những
ai hết lòng yêu mến lắng nghe Lời Ngài.
Nhiều
người trong chúng ta, trong đó có người viết thường chiều theo khuynh hướng “khoán
trắng” việc loan báo Tin Mừng cho các Đấng Bậc, và thanh thản, thụ động giữ đạo
cho riêng mình, làm như đạo là một kho báu phải giữ kín, bảo mật để không phải
chia sẻ cho ai, mà quên rằng sứ vụ quan trọng người tín hữu nhận được khi gia
nhập Giáo Hội là loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu cho muôn dân, nên bỏ quên
loan báo Tin Mừng chính là không chu toàn sứ vụ đuợc Thiên Chúa trao phó.
2. Cầu
Nguyện:
Đi
đạo không phải đi theo một chủ thuyết, một chương trình, một ý thức hệ, như người
ta đi theo đảng để được là đảng viên, nhưng đi đạo là đi theo một con người Thiên
Chúa, đi theo một Thiên Chúa làm người: Đức Giêsu Kitô. Tin Mừng đã làm chứng điều
này khi Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ,
hay bất cứ ai đi theo Ngài, Ngài luôn bảo họ: “Hãy theo tôi!” (Lc
5,27), mà không nói: Hãy theo chương trình của tôi, môn phái của tôi, hay kế hoạch
của tôi.
Điều
này cho chúng ta thấy: Đạo là tương quan tình nghiã giữa mỗi người với Đức Giêsu;
là gặp gỡ thiết thân giữa Thiên Chúa và mỗi con người; là sự hiệp nhất trọn vẹn
của mỗi người trong Đức Giêsu như cành nho
gắn liền với cây nho, như giọt nước hoà
tan trong ly rượu.
Tin
Mừng Gioan ghi lại rất rõ lời Đức Giêsu: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở
lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái,
vì không có Thầy anh em chẳng làm được gì” (Ga 15,5).
Cành
phải gắn liền và hiệp nhất với cây để được sống và sinh hoa trái là hình ảnh Đức
Giêsu dùng để chỉ sự kết hiệp mật thiết giữa người tín hữu và Ngài. Ngài còn nhấn
mạnh “phải ở lại trong Thầy” để khẳng định người tín hữu trọn vẹn thuộc về Ngài khi ở với Ngài, và được
trở thành “chính Ngài”, được “đồng hình đồng dạng với Ngài” khi Ngài ở lại
trong họ, như thánh Phaolô đã viết: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, nhưng
là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), và cầu nguyện chính là phương thế Thiên
Chúa ban cho con người để con người được trực tiếp liên lạc, giao lưu, hiệp thông,
kết hợp mật thiết nên một với Thiên Chúa.
Đức
Giêsu đã làm gương cầu nguyện khi liên lỷ cầu nguyện với Chúa Cha trong mọi tâm
trạng, ở mọi tình huống, bất cứ nơi nào. Ngài cầu nguyện trên núi, dưới thuyền;
cầu nguyện một mình trong đêm khuya, rừng vắng hay công khai, lớn tiếng trước
đám đông ; cầu nguyện lúc vui mừng, phấn khởi và cả khi bị phản bội,
bỏ rơi, ô nhục hấp hối trên Thánh Giá. Ngài dậy các môn đệ cầu nguyện, không chỉ
nội dung mà cả cách cầu nguyện khiêm hạ, kín đáo, không nhiều lời (x. Mt 6,5-13).
Ngài còn lưu ý các môn đệ: “không cầu nguyện, các ông không thể vượt qua
cám dỗ, cũng không chiến thắng được ma qủy (x.Mt 17,21 ; 26,41), nhất
là đảm bảo trăm phần trăm hiệu qủa của cầu nguyện: “Anh em cứ xin thì sẽ được,
cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa sẽ mở ra. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì
sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Có người nào trong anh em, khi con mình
xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho con rắn? Vậy,
nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành,
phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho
những kẻ kêu xin Người sao?” (Mt 7,7-11).
Cũng
cần lưu ý: ngoài việc cầu nguyện riêng tư, cá nhân, chúng ta cầu nguyện với toàn
thể Giáo Hội bằng sống đời sống bí tích, thực thi các việc đạo đức được Giáo Hội
hướng dẫn, động viên, đặc biệt tham dự Thánh Lễ là đỉnh cao của cầu nguyện.
3. Đối
Thoại:
Trong
Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, Công Đồng đặc biệt nhấn mạnh sứ vụ Đối Thoại của
người Kitô hữu với mọi người, bởi đối thoại là bước đầu của con đường nhân ái,
là ngưỡng cửa đi vào ngôi nhà bình an của cộng đồng nhân loại. Thiếu đối thoại,
rất nhiều mâu thuẫn phát sinh trong cộng đoàn; không đối thoại, tương quan dễ căng
thẳng trong xã hội; khi đối thoại bị bế tắc, mọi giao lưu, hiệp thông, hiệp nhất
sẽ theo nhau sụp đổ, tan vỡ; từ chối đối
thoại, nhiều oan sai, oan nghiệt sẽ xẩy ra, nhiều hiểu lầm xuất hiện làm rạn nứt
liên đới.
Vì
thế, khả năng đối thoại với mọi người, bất luận họ là ai, dù không đồng quan điểm,
chính kiến là ưu tiên trong việc đào tạo những Kitô hữu trưởng thành, bởi người
Kitô hữu cần ý thức càng hiệp thông với
người chung quanh, họ càng được hiệp nhất với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là
trung tâm hiệp nhất toàn thể nhân loại, và để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta
phải bắt đầu bằng đi vào đối thoại với người khác.
Để
đối thoại với tinh thần tìm về hiệp thông, hiệp nhất của Kitô giáo, chúng ta phải
cầu xin ơn Chúa Thánh Thần, Đấng làm phong phú và vững chắc sự hiệp nhất bằng
chính những khác biệt, biến xa lạ thành gần gũi
như đã làm cho nhiều người thuộc các ngôn ngữ khác nhau nghe được các tông
đồ nói tiếng bản xứ của mình, khi các vị rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh đã
sống lại sau ngày lễ Hiện Xuống. Sách Công Vụ các Tông Đồ kể lại sự kinh
ngạc của những người này, khi họ sửng sốt nói với nhau: “Những người đang nói đó
không phiả là người Galilê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng
mẹ đẻ của chúng ta? Chúng ta đây, có người là dân Pácthia, Mêđi, Êlam, Mêxôpôtamia,
Giuđê, Cáppađôkia, Pôntô và Axia, có người là dân Phyghia, Pamphilia, Ai Cập và
những vùng Lybia giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người
Do Thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơrêta hay người Ả Rập, vậy mà
chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của
Thiên Chúa!” (Cv 2,7-12).
Thực
vậy, nói và lắng nghe không dễ; yêu thương, hiệp thông, hiệp nhất còn ngàn lần
khó hơn, nên ở bước đầu của con đường yêu thương, hiệp thông, hiệp nhất với mọi
người là đối thoại, chúng ta rất cần ơn Chúa, vì không ơn Chúa, chúng ta sẽ không
biết đối thoại thế nào như Đức Ái đòi hỏi, đối thoại làm sao cho sứ vụ của người
Kitô hữu được thực hiện tốt đẹp nnhư ý Chúa muốn.
Xin
Chúa thương cho mỗi người chúng ta ơn phân định để biết và thực thi sứ vụ được
trao phó: chứng tá của Tin Mừng Tình Yêu giữa thế giới hôm nay.
Jorathe
Nắng Tím
Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020
NHÀ THỜ
Tôn
giáo nào cũng có nơi quy tụ tín đồ để cử hành nghi lễ phụng tự. Hội thánh công
giáo có nhà thờ. Trước phong trào xây dựng nhà thờ, nhiều người đặt vấn đề: nhà
thờ bằng gạch đá bên ngoài có thực sự cần thiết không?
Để trả lời câu hỏi
trên, chúng ta cùng nhau truy tìm nguồn gốc, ý nghiã của nhà thờ:
1. Nhà
Thờ được xây dựng từ Giao Ước Thiên Chúa đã ký kết với dân Ngài:
Nhà
Thờ không là sáng kiến của con người, nhưng trước hết Nhà Thờ là hình ảnh Giao Ước,
biểu hiện Giao Ước như vua Salômôn đã khẳng định trong lời cầu nguyện trước Thiên
Chúa trong Đền Thờ mới được xây dựng: Vua Salômôn đứng trước bàn thờ của Đức Chúa,
trước toàn thể cộng đồng Ítraen, giơ hai tay lên trời và thưa: “Lậy Đức Chúa là
Thiên Chúa Ítraen, chốn trời cao cũng như nơi đất thấp, chẳng có thần nào giống
như Ngài. Ngài vẫn giữ giao ước và tình thương đối với các tôi tớ Ngài, khi họ
hết lòng bước đi trước nhan thánh Ngài” (1 V 8,22-23).
Vua
Salômôn đã không chỉ cầu nguyện một mình trước Thiên Chúa, nhưng trước cả toàn
dân, vì ở đây, trước bàn thờ, trong Đền Thờ của Thiên Chúa có Giao Ước giữa Thiên
Chúa và Dân Ngài. Chính Giao Ước là lý do sư có mặt và tồn tại của Đền Thờ;
Giao Ước là nền móng của Nhà Thiên Chúa giữa Dân Ngài.
2.
Nhà Thờ là Nhà của
Thiên Chúa ở giữa con người:
“Giao
Ước và tình thương của Thiên Chúa” cho phép dân Ngài xác tín Thiên Chúa cư ngụ
dưới đất với họ, như Salômôn đã cầu nguyện: “trời cao thăm thẳm còn không chứa
nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây!… Xin Ngài để mắt nhìn đến ngôi nhà
này đêm ngày, nhìn đến nơi này; xin Ngài lắng nghe lời nguyện tôi tớ Ngài dâng ở
nơi đây” (1 V 8,27.29).
Là
nhà cầu nguyện, vì ở đây có Thiên Chúa ngự, như Đức Giêsu đã khẳng định: “Nhà
Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện” (Mt 21,13); đồng thời là nơi Thiên Chúa cứu
giúp, chữa lành như “có những kẻ mù loà, què quặt đến với Đức Giêsu trong Đền
Thờ, và Người đã chữa lành họ” (Mt 21,14).
Là
nhà của Thiên Chúa, Nhà thờ còn là mái ấm bình an, bến bờ hạnh phúc mà “cả tấm
thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng” (Tv 83,3), vì “cung điện Ngài
xiết bao khả ái” (Tv 83,2-3), và “phúc thay người ở trong thánh điện”, vì “một
ngày được ở trong khuôn viên nhà Chúa qúy hơn ngàn ngày” (Tv 83,5.11).
Là
Nhà của Thiên Chúa giữa con người, Nhà Thờ là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người để
ban tình yêu, ơn tha thứ của Ngài, như người thu thuế khiêm hạ lên Đền Thờ nài
xin: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, và ông đã được trở nên
công chính “khi trở xuống mà về nhà” (Lc
18,13-14).
Thực
vậy, Nhà Thờ chính là Nhà của Thiên Chúa ở cùng nhân loại, và là thiên đàng như
thánh Gioan Tông Đồ đã thị kiến: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, và biển cũng
không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên
Chúa mà xuống sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là
nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân
của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa - ở - cùng - họ. Thiên Chúa sẽ lau
sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau
khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,1-4).
3. Nhà
Thờ là nơi quy tụ, quây quần toàn thể gia đình Thiên Chúa:
Dân
Chúa là một gia đình và Nhà Thờ là nơi gia đình của Thiên Chúa quây quần, xum họp
quanh Thiên Chúa là Cha nhân hậu hằng yêu thương, chăm sóc con cái mình. Gia đình
ấy gồm “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dậy, luôn luôn hiệp thông
với nhau, siêng năng cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Gia đình ấy hợp nhất, đồng tâm nhất trí với
nhau, sống đơn sơ vui vẻ, và tình nghiã trong hạnh phúc được ca ngợi Thiên Chúa
(Cv 2,46).
Như
thế, Nhà Thờ là nơi có tình huynh đệ, ở đó mọi người yêu thương, phục vụ nhau
như anh em có cùng Cha trên trời. Hơn thế nữa, Nhà Thờ còn hướng đến và mong chờ
những anh em chưa về nhà trong buổi hội ngộ, chưa có mặt ở buổi đoàn tụ vì một
lý do nào đó, bởi “Thiên Chúa hằng cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được
cứu độ” (Cv 2,47).
Qủa
thực, Nhà Thờ không chỉ là nơi Thiên Chúa có mặt với tình yêu thương của Ngài,
mà còn mà nơi mọi người thuộc gia đình Thiên Chúa thực thi đức ái, tình huynh đệ,
tương trợ giữa nhau, đồng thời là nơi phát xuất mọi hoạt động truyền giáo, mọi
công cuộc ra đi loan báo Tin Mừng, mọi chuyến ra ngoài, ra xa, ra xâu đến với
muôn dân. Do dó, Nhà Thờ không bao giờ “bế môn toả cảng, nội bất xuất, ngoại bất
nhập”, cửa đóng then cài, khép kín, kỳ thị, khai trừ, loại bỏ, nhưng phải trở
thành “chuồng chiên” của Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành. Ngài là “cửa cho chiên ra
vào”: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp
được đồng cỏ” (Ga 10,7.9).
Đức
Giêsu đã không là Cửa đóng kín, khoá chặt để chiên bị nhốt như tù vì không “ra
vào” được, nhưng là Cửa chuồng chiên để chiên “ra và vào” như những đứa con tự
do, những đứa con trưởng thành có trách nhiệm và được trao ban sứ vụ. Nhà Thờ chính là chuồng chiên của Đức
Giêsu, ở đó đoàn chiên thoải mái “ra vào”: vào cầu nguyện, vào gặp gỡ nhau và cùng
nhau gặp gỡ Thiên Chúa để rồi ra đi loan báo Tin Mừng, ra xa đến với muôn dân,
ra sâu “lưới cá người”, bởi sứ vụ của người tín hữu là cánh tay nối dài của Đức
Giêsu để thực hiện ước mơ, sứ mạng cứu thế của Ngài: “Tôi còn có những chiên khác
không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ
chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16).
Qủa
thực, nếu Nhà Thờ không đáp ứng những đòi hỏi vừa kể, như Thánh Ý Chúa Cha được
xác quyết qua miệng Đức Giêsu thì việc xây dựng những ngôi Nhà Thờ nguy nga, tráng
lệ tốn kém nhiều công sức, tiền bạc sẽ là một gương xấu gây bức xúc, bất mãn ở
nhiều người. Rơi vào trường hợp này khi Nhà Thờ không được xây dựng làm nơi Thiên
Chúa ngự, nơi hẹn hò của Thiên Chúa và con người, nơi ơn phúc của Thiên Chúa được
tuôn đổ trên mọi người, bất kể ai, nhưng bị phong toả, cấm vận bởi một số người
ỷ quyền, dựa thế, và dùng Nhà Thờ như phương
tiện làm vinh danh cá nhân, biểu dương thế lực phe nhóm, ghi dấu triều đại cai
trị; khi Nhà Thờ không còn là Nhà của
Thiên Chúa giữa con người, và Thiên Chúa
bị biến thành bình phong, lá chắn, thỏi bùa để ai đó lợi dụng củng cố thanh danh, vị thế của
bản thân, và loại trừ anh em, khước từ người khác; khi Nhà Thờ thoái hoá thành nơi làm tiền, cơ sở kinh tài,
điểm hẹn kinh doanh, chốn trao đổi hàng
hoá, của cải thế gian, như Đức Giêsu đã nổi nóng khi “đuổi tất cả những người đang
mua bán trong Đền Thờ” Giêrusalem, và bảo họ: “Đã có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ được
gọi là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành hang trộm cướp” (Mt
21,13); khi Nhà Thờ trở thành gánh nặng qúa mức trên vai những người tín hữu
nghèo khó, túng bấn không có gì nuôi sống mình và con cái, mà vẫn phải nai lưng
đóng góp để xây những Nhà Thờ hoành tráng nhất nước, nhất vùng, nhất châu lục,
nhất địa cầu ; khi Nhà Thờ qúa lớn,
nhưng chỗ dành cho những người bé mọn, không thế lực, không tiếng nói lại qúa
nhỏ, có khi chẳng có ; khi Nhà Thờ biến thành nơi cho người có của, có ảnh
hưởng, có thế giá khoe khoang, vung vít; khi Nhà Thờ trở thành “sở hữu” của một
số người có chức phận, có “công trạng”, ở đó họ tha hồ thao túng, mượn Nhà Chúa
ra oai thần lực, “xưng hùng xưng bá”, miệt thị, tẩy chay người không cùng phe cánh,
người thấp cổ bé miệng, vô danh tiểu tốt; khi Nhà Thờ không còn là Chuồng Chiên
của Mục Tử nhân lành là Đức Giêsu, nhưng biến thành “trại tập trung” của người
chăn thuê, kẻ trộm cướp (x Ga 10,1.12-13); khi Nhà Thờ không ấm áp bầu khí gia đình,
nhưng nồng nặc thị phi, giành giật, đấu đá, ganh ghét, hận thù; khi Nhà Thờ lạnh
lẽo tình nghiã anh em có cùng một Cha trên trời, vì kiêu căng, đố kỵ, hiềm khích,
đấu tranh quyền lực; khi Nhà Thờ rặt những trái tim kiêu hãnh chỉ đến Nhà Thờ để khoe danh, khoe của, khoe công trạng như
người Pharisêu trong Tin Mừng Luca (x.
Lc 18, 9-14).
Tóm
lại, Nhà Thờ phải được mọi người Kitô hữu gìn giữ để mãi là Nhà của Thiên Chúa,
người Cha nhân hậu luôn rộng mở trái tim và vòng tay ôm ấp con cái mình, dù con
ấy có yếu đuối, gầy gò, tồi tệ đến đâu, như người con hoang đàng được cha già
ra đầu ngõ ngóng từng ngày và khi trở về đã được cha tha thứ, yêu thương, cưng
chiều (x. Lc 15); Nhà Thờ phải được củng cố, xây dựng để mãi là Mái Ấm Gia Đình,
ở đó, tất cả “các tín hữu hợp nhất với nhau… đồng tâm nhất trí”, yêu thương, tương
trợ đến nỗi người ngoài nhìn vào phải trầm trồ khen ngợi: “Kià xem họ yêu thương
nhau biết bao!”, bởi Nhà Thờ là nhà của Thiên Chúa Tình Yêu, nhà của các con cái
được Cha trên trời yêu thương và yêu thương nhau như Cha trên trời; bởi Nhà Thờ
là Nhà sinh ra và đào tạo những chứng nhân của Tin Mừng Tình Yêu nhờ các bí tích
được ban trong Nhà Thờ; bởi Nhà Thờ là tổng hành dinh của mọi kế hoạch, công trình
“được sai đi loan báo Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người để yêu thương, cứu độ nhân
loại”; bởi Nhà Thờ là nơi mọi người nhận ơn hoà giải với Thiên Chúa, để được hoà
giải với nhau và với chính mình ; bởi Nhà Thờ là Hiệp Thông, Hiệp Nhất của
các chi thể trong một Thân Thể duy nhất là Đức Giêsu; bởi Nhà Thờ là Nhà của lòng
thương xót, ơn cứu độ cho hết mọi tội nhân có lòng thống hối trở về.
Chỉ
trong tinh thần ấy, chỉ với ý nghiã ấy, chỉ hướng đến mục tiêu ấy, Nhà Thờ mới thực sự là Nhà thờ phượng Thiên Chúa, vì có
Thiên Chúa hiện diện giữa con cái Ngài, có Thiên Chúa được vinh danh, cảm tạ bởi
con cái Ngài, khi con cái Ngài tuân giữ lời Ngài dậy: “Hãy yêu thương nhau như
Thầy yêu thương chúng con” (Ga 13,34). Không có tình yêu, Nhà Thờ chỉ là một công
trình của phàm nhân, mà không có ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa; thiếu tình yêu,
Nhà Thờ chỉ là một ngôi nhà bằng gạch đá
vô cảm, mà không có sức sống của Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa
Con; thiếu tình yêu, Nhà Thờ chỉ còn là thây ma, xác chết, vì không có máu nuôi
Thân Thể mầu nhiệm; thiếu tình yêu, Nhà Thờ mất hoàn toàn giá trị và ý nghiã “Nhà
của Thiên Chúa ở giữa nhân loại”, “Mái Ấm Gia đình của Thiên Chúa”; không có tình
yêu hiệp thông, hiệp nhất giữa các tín hữu, Nhà Thờ không là “hình ảnh của Giêrusalem
trên trời” như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Do Thái, khi qủa
quyết: chúng ta đã được ở trong nhà Thiên Chúa ngay từ bây giờ: “Anh em đã đến
núi Xion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số
muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa những con đầu lòng
của Thiên Chúa, là những kẻ được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa,
Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn
thiện. Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu
Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben” (Dt 12,22-24).
Vâng,
chúng ta có Nhà Thờ là Nhà, và “thành đô của Thiên Chúa” ở giữa chúng ta để chúng
ta được đến với Ngài, gặp gỡ Ngài, nên bổn phận của mỗi người Kitô hữu là xây dựng,
bảo vệ Nhà Thờ, nơi Thiên Chúa ngự, nơi chúng ta tụ họp quây quần bên Thiên Chúa
là Cha nhân hậu, và chúng ta là anh em với nhau. Nhưng chỉ có thể thực hiện được
mục tiêu trên, nếu tâm hồn mỗi người tín hữu
khao khát được biến đổi để trở thành “Đền Thờ của Thiên Chúa” như thánh
Phaolô đã kêu gọi: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa,
và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3,16).
Khi
viết những giòng này thì phong trào đập phá các tượng thánh, và đốt nhà thờ đang
bùng lên dữ dội không chỉ ở các nước theo thể chế vô thần, mà ngay tại những nước
có nền văn hoá Kitô giáo. Người ta không còn e ngại giấu diếm ý đồ đánh phá, tiêu
diệt Kitô giáo, nhưng công khai thực hiện bằng những lời nói, hành vi chống phá một cách “qúa quắt, điên rồ”
như lời Đức Cha Barron, Giám Mục phụ tá
tổng giáo phận Los Angeles, Hoa Kỳ ngày 3 tháng 8/2020 mới đây, sau tuyên bố được
coi là thô bỉ, ngu xuẩn và man rợ của bà dân biểu Alexandrai Ocasio - Cortez của
đảng Dân Chủ, đơn vị New York, khi bà chỉ trích và đề nghi tháo gỡ bức tượng của
thánh Đamien, tông đồ người cùi tại Molokai trong điện Capitol. Vị thánh của người cùi này tên thật là Joseph
de Veusterin, người Bỉ đã bỏ quê hương và suốt cuộc đời hy sinh phục vụ những
người anh em cùi ở một nơi xa xôi, hầu như bị cô lập khỏi “thế giới loài người”,
mà bà dân biểu này đã không biết gì tiểu sử, cuộc đời bác ái gương mẫu của Ngài,
để rồi phát biểu một cách thiếu hiểu biết, vô trách nhiệm và bất công, khi lên án ngài là biểu tượng của “chế
độ gia trưởng và một nền văn hoá da trắng thượng đẳng”. Thật không còn gì
ngược ngạo và phi lý hơn!
Ước
gì mỗi người chúng ta ý thức bổn phận xây dựng, bảo vệ Nhà Thờ bên ngoài bằng gạch đá là nơi Thiên
Chúa ngự và quy tụ con cái Ngài cách “hữu hình” bằng những đóng góp thiết thực
với thao thức được là những viên đá sống động góp phần làm đẹp Nhà Thiên Chúa
giữa nhân loại, đồng thời tô điểm cho thật đẹp mỗi ngày Nhà Thờ bên trong là “Đền
Thờ của Chúa Thánh Thần” trong tâm hồn chúng ta.
Jorathe
Nắng Tím
Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020
KHÔNG LẼ CHÚNG TA THUA CÂY CỎ, LÁ HOA?
Chắc
hẳn những ngày cách ly Covid, nhiều người trước đây không có giờ ra vườn, nhưng
nay đã quen với thú điền viên, và khám phá nhiều điều kỳ diệu ở cây cỏ, lá hoa.
Và tôi là một trong số những người đó.
Bên
cạnh cỏ cây, tôi khám phá nhiều điều thú vị và qua những thú vị được khám phá,
tôi nhận ra Thiên Chúa thực là người cha yêu thương và ân cần quan tâm đến từng
tạo vật rất bé nhỏ của Ngài. Ngài ban cho cây cỏ mầu xanh của sự sống, và trăm
sắc mầu tuyệt đẹp khác mà con người khó có thể bắt chước trăm phần trăm; Ngài ban
mưa, nắng, gió cho cỏ cây, hoa lá đâm chồi, trổ lá, đơm bông; Ngài cho con người
rung động trước cỏ hoa, cây trái, và chia sẻ với con người niềm vui săn sóc chúng, làm cho cỏ cây xanh tươi, xum
xuê hoa trái, như đã ký thác cho nguyên tổ bổn phận trông nom vạn vật.
Vì
thế, thiên nhiên mang hình ảnh của Thiên Chúa yêu thương, quan tâm, quan phòng;
thiên nhiên nâng tâm hồn con người lên với Đấng đã dựng nên đất trời và muôn vật
hữu hình, vô hình ; thiên nhiên là những lối ngõ, nhịp cầu đưa con người đến
Thiên Chúa, bởi thiên nhiên là công trình từ tay Thiên Chúa, mang hình ảnh và nói lên lòng thương xót quan tâm của
Ngài.
Thực
vậy chỉ riêng những cánh hoa rất mong manh như đóa hồng, nhưng nét đẹp và sức
quyến rũ không gì có thể ngăn cản được cảm hứng dào dạt của con người đã đủ nói
lên tình thương của Thiên Chúa không ngừng gìn giữ, bao bọc thụ tạo của Ngài. Chính
Đức Giêsu đã mời chúng ta: “Hãy
ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm
lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua
Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy”
(Mt 6,28-29); chỉ riêng sức sống tiềm ẩn trong hạt giống nhỏ tí teo nếu được
gieo vào đất tốt sẽ “sinh hoa kết qủa”
gấp trăm (x.Mt 13,18-23) cũng đã nói lên kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa; chỉ
riêng việc “cây tốt không thể sinh qủa xấu,
cũng như cây xấu không thể sinh qủa tốt”
(Mt 7,18) cũng đã là bài học hữu ích Thiên Chúa muốn dậy con người qua thiên
nhiên: “Cứ xem họ sinh hoa qủa nào, thì biết
họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?”
(Mt 7,16).
Gần
gũi thế giới của cây cỏ, chúng ta còn khám phá những loại cây cần nhiều nước,
loại khác cần ít hơn, có hoa say nắng gay gắt, dữ dội, có thứ chỉ thích nắng ấm,
dịu dàng, nhưng tất cả đều cần nắng,tìm kiếm nắng, hướng về Mặt Trời. Có những
cây bị khuất nắng cố nhoài mình ra tìm nắng đến nỗi biến dạng thành những cây
cong nhìn rất thảm hại; có những hàng cúc bị cớm nắng đồng loạt ngả mình theo
hướng mặt trời làm thành một hàng thẳng “nghiêng”
đến tội nghiệp; đám cà chua bị những tầu lá chuối to đùng che nắng lách mình khỏi vùng âm u đang cố rướn xa tìm
nắng ấm vừa thấy thương vừa buồn cười.
Thế
mới biết vạn vật luôn hướng về Đấng đã dựng nên và hằng ngày chăm nom, săn sóc
chúng, như cây cỏ luôn hướng về Mặt Trời, vì Nắng Ấm của Mặt Trời đem lại cho
chúng sức sống, niềm vui. Tâm hồn con người cũng vậy: luôn hướng về Thiên Chúa
mà con người mang hình ảnh ngay từ khi được tạo dựng. Thánh Augustinô, nhà thần
học của tình yêu đã cảm nghiệm và khẳng định: tâm hồn chúng ta chỉ thực sự được
hạnh phúc khi ở trong Thiên Chúa, vì ngoài Thiên Chúa, Đấng chúng ta luôn hướng
về như hoa lá, cỏ cây luôn hướng về Mặt Trời, không người nào có thể thoả mãn
khát vọng tuyệt đối trong chúng ta, cũng như không giá trị nào cho tâm hồn
chúng ta no thoả bình an, hạnh phúc.
Như
thế, để có được bình an đích thực, tâm hồn cần Thiên Chúa như cây cỏ cần nắng ấm
của mặt trời. Có Thiên Chúa ở cùng, chúng ta sẽ chẳng còn kinh hãi gì, cũng chẳng
sợ hãi ai, vì nếu có phải sợ, “anh
em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục”,
và “đừng sợ những kẻ giết thân xác mà
không giết được linh hồn”
(Mt 10,28). Có Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc, chúng ta sẽ không qúa lo cho mạng sống: “lấy
gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc.”
(Mt 6,25), vì Thiên Chúa là Cha nhân hậu thương chúng ta hơn chúng ta tưởng,
như chính Đức Giêsu đã qủa quyết: “Hãy
xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha
trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng qúy giá hơn chúng sao?”
(Mt 6,26). Vấn đề còn lại của chúng ta chính là khát khao Thiên Chúa, hướng về
Thiên Chúa, “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức
công chính của Ngài” (Mt 6,33), như cây cỏ, hoa lá hướng
tìm Nắng Mặt Trời, còn mọi sự khác, Ngài sẽ lo liệu cho. Và qủa thực, chưa
có người nào cảm thấy bất hạnh khi “bỏ
mọi sự để đi tìm và phụng sự Thiên Chúa”
cho dù ngươii khác nhìn vào cho họ là những người kém may mắn vì không thực tế,
thiếu khôn ngoan khi chỉ mơ ước những sự trên trời; chưa có ai đến cuối đời lại
tiếc nuối, hối hận, bất mãn, bực bội vì đã hết tình, hết mình phục vụ Tin Mừng,
dù dưới mắt người đời, họ là những người gặp nhiều sóng gió; cũng chẳng tìm được
một tâm hồn tận hiến nào không hạnh phúc, bình an vì đã chọn Chúa làm Lẽ Sống,
Gia Nghiệp, dù thế gian bảo họ là những người chịu nhiều thiệt thòi, thua lỗ.
Để
rồi, mỗi sáng ra vườn thăm cây cỏ, lá hoa, tôi lại tự hỏi: không lẽ mình thua bụi
hồng, khóm trúc khi cứ mãi thu mình trong bóng tối tội lỗi và trốn chạy ánh
sáng thánh thiện; không lẽ con người thua cả cây cỏ, lá hoa khi chúng luôn hướng
về Đấng đã tạo dựng nên chúng và biết “làm
nở mặt”, tôn vinh Đấng ban mưa, nắng,
gió cho chúng tươi tốt, đơm hoa kết trái
xum xuê, rực rỡ làm đẹp vũ trụ, làm vui lòng người? Và rồi mỗi lần ân cần chăm
sóc cỏ cây, hoa lá, tôi lại thì thầm cùng chúng ngợi khen, chúc tụng Thiên
Chúa, Đấng hằng thương yêu, chăm sóc mọi loài Chúa đã dựng nên.
Jorathe
Nắng Tím
Thứ Năm, 6 tháng 8, 2020
CON: NỢ HAY PHÚC?
CÙNG MẸ RA KHƠI
Mừng Lễ ĐỨC MẸ Hồn Xác Về Trời
Mừng
Mẹ hồn xác về trời, cũng là ngày “Hãy
Ra Khơi” tròn 2 tuổi. Hai tuổi chập chững
loan báo Tin Mừng trên đường phố, hai năm lẫm chẫm từng bước nắm chặt tay Mẹ cùng
Giáo Hội làm chứng Đức Giêsu giữa đời, hai năm theo Mẹ lên thuyền Ra Khơi “lưới
cá người”, hai năm được Mẹ dậy yêu thương,
tha thứ, hai năm học với Mẹ tinh thần qủang đại, khiêm hạ dám xóa mình để có thể
chung vai sát cánh cùng anh chị em phục
vụ Nước Trời.
Mừng
Mẹ hồn xác về trời, chúng con cùng sứ thần Gabrien và Giáo Hội kính chào “Mẹ
đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu,
Con lòng Mẹ đầy phúc lạ”.
Mẹ
đầy ơn phúc vì “Mẹ tin rằng Chúa sẽ thực hiện những
gì Người đã nói với Mẹ” (x. Lc 1,45). Vì tin Mẹ đã tín thác và can đảm đáp lại đề nghị của thiên
sứ bằng lời Xin Vâng khiêm hạ: “Vâng,
tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”
(Lc 1,38); vì tin, Mẹ đã không mảy may nghi ngờ quyền năng của Thiên Chúa, bởi “đối
với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”
(Lc 1,37); vì tin, Mẹ đã chấp hành lệnh
kiểm tra dân số của hoàng đế Augúttô, khi rời Nadarét về Bêlem dù ngày sinh đã cận kề, ở đó Mẹ đã “sinh
con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt trong máng cỏ”,
“vì không tìm được chỗ trong nhà trọ”
(Lc 2,7); vì tin, Mẹ đã một mình giữ lấy trong lòng lời tiên tri như “lưỡi
gươm sẽ đâm thâu tâm hồn”
của cụ già Simêon về Hài Nhi Giêsu, Con Mẹ (x. Lc 2,34-35).
Mẹ
đầy ơn phúc, vì Mẹ đã khiêm nhường, tự hạ, sống trọn ơn gọi “nữ
tỳ của Thiên Chúa”, và suốt đời Mẹ đã là Lời Kinh Tán
Tụng Ngợi Khen trong niềm vui của “phận
nữ tỳ hèn mọn được Thiên Chúa đoái thương nhìn tới”,
với hạnh phúc tràn đầy của người được Chúa thương xót, vì kính sợ Ngài (x. Lc
1,46-50).
Mẹ
đầy ơn phúc, vì Mẹ đã tuyệt đối tin tưởng ở Thiên Chúa quan phòng, Đấng “cho
kẻ nghèo đói của ăn đầy dư, và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”
(x. Lc 1,52-53), khi nhận ra đời mình là Hồng Ân, và không ngừng dâng lời cảm tạ,
vì “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết
bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!”
(Lc 1,49).
Mẹ
đầy ơn phúc, vì Mẹ không rời xa Thiên Chúa dù một giây ngắn ngủi suốt cuộc đời,
nhưng “toàn tâm, toàn ý, toàn thân”
thuộc về Thiên Chúa. Từ khi là bào thai trong lòng mẹ thánh Anna đến ngày được
Thiên Chúa cho cả hồn xác về trời, Mẹ luôn có Thiên Chúa ở cùng, như lời chào của
sứ thần Gabrien ngày truyền tin. Có Chúa ở cùng, khi Mẹ mang thai Đức Giêsu; có
Chúa ở cùng suốt ba mươi năm nuôi dưỡng, dậy dỗ Đức Giêsu ở Nadaét; có Chúa ở cùng
ba năm dong duổi với Con trên đường truyền giáo; có Chúa ở cùng trên từng bước Đường
Khổ Nạn; có Chúa ở cùng dưới chân Thánh Giá trên đồi Canvê chiều tử nạn; có Chúa
ở cùng khi ôm xác con loang máu; có Chúa ở cùng ngày Con sống lại từ cõi chết;
có Chúa ở cùng khi Thánh Thần hiện xuống; có Chúa ở cùng giữa các tông đồ, môn đệ;
có Chúa ở cùng giữa cộng đoàn tín hữu cầu nguyện, bẻ bánh, làm chứng Đức Giêsu
chịu đóng đinh đã sống lại; có Chúa ở cùng trong Giáo Hội được sai đi loan báo
Tin Mừng; có Chúa ở cùng như Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội, Mẹ các Tín Hữu, Mẹ Nhân
Loại; có Chúa ở cùng như Đấng bênh đỡ, bầu chữa, chở che kẻ có tội; có Chúa ở cùng
như Mẹ hiền giờ con cái hấp hối lâm chung để bênh đỡ, chuyển cầu, đáp lời van
xin: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời cầu
cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”
Mẹ
đầy ơn phúc, vì Mẹ luôn “hớn
hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ” (Lc
1,46), và đời Mẹ là “đời vui trong Chúa”,
vì Thiên Chúa là Nguồn Vui Ơn Cứu Độ. Trong Thiên Chúa, Mẹ hớn hở reo mừng, vì
Thiên Chúa hằng trung tín luôn giữ Lời Hứa và “nhớ
lại lòng thương xót của Ngài dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời”
(Lc 1,55), bởi chỉ người tin ở Lời Hứa của “Thiên
Chúa giầu lòng xót thương, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung » mới có bình
an và niềm vui sâu lắng,
đích
thực, viên mãn.
Mừng
Mẹ hồn xác về trời, chúng con xin mãi được Cùng Mẹ Ra Khơi, như suốt hai năm
qua, chúng con đã không bao giờ quên sự hiện diện từ ái của Mẹ trên thuyền Ra
Khơi loan báo Tin Mừng, vì Ra Khơi không thế thiếu Mẹ, như Đức Giêsu đã không thể
nhập thể, thập thế nếu thiếu cung lòng và trái tim yêu mến, khiêm hạ của Mẹ; các
Tông Đồ không thể an tâm, vững chí vượt qua thử thách nếu không có Mẹ ở giữa các
ngài; các tín hữu không thể trung thành trước cám dỗ, thách đố, nếu không có Mẹ
đồng hành chỉ bảo,nâng đỡ, ủi an.
Mừng
Mẹ hồn xác về trời, chúng con khấn xin Mẹ tiếp tục chèo chống cánh thuyền Ra Khơi
nhỏ bé của các con Mẹ, và hãy luôn là Ngôi Sao sáng không chỉ “soi
lối cho con lúc vượt biển thế gian”,
mà còn soi đường chỉ lối cho thuyền ra sâu, sa xa đến với anh em chưa nghe Tin
Mừng, chưa biết Thiên Chúa yêu thương và cứu độ họ.
Mừng
Mẹ hồn xác về trời, chúng con ngước trông và dõi theo bóng Mẹ “đang
tiến lên như rạng đông, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, oai hùng như đạo
binh xếp hàng vào trận” để xin Mẹ gìn giữ Giáo Hội Việt
Nam, cùng hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ, Tu Sĩ, Giáo Dân giữa bao cạm bẫy hiểm nguy của
Hoả Ngục mà chỉ một mình Mẹ biết rõ những gì Giáo Hội cần, những việc Giáo Hội phải làm trong từng tình huống, ở từng giai đọan như Mẹ
đã cảm thương, thấu hiểu hoàn cảnh bế tắc, và kín đáo xin Đức Giêsu, Con Mẹ can
thiệp làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon, để niềm vui của đôi tân hôn và gia đình
hai họ được trọn vẹn, khi bất ngờ hết rượu giữa tiệc cưới ở làng Cana năm xưa
(x. Ga 2,1-11).
Mừng
Mẹ hồn xác về trời, xin Mẹ cho chúng con luôn được ở với Mẹ, bám chặt lấy Mẹ như
Tông Đồ Gioan xưa để không bao giờ xa Đức Giêsu, Con Mẹ, không dại dột chối Đức
Giêsu như Phêrô, bán Đức Giêsu như Giuđa, phỉ báng, hành hạ, lên án, đóng đinh Đức
Giêsu như chính chúng con, vì không có Mẹ ở bên khuyên răn, can ngăn, chỉ bảo.
Mừng
Mẹ hồn xác về trời, chúng con xác tín và tuyên xưng đức tin tông truyền và lòng
trung thành, yêu mến phục vụ Giáo Hội của Đức Giêsu, mà Mẹ hằng gắn bó, có mặt
hộ phù, để trái tim chúng con luôn rộng mở không chỉ đối với những anh chị em cùng
được sai đi, cùng lên thuyền với Đức Giêsu, Giáo Hội và Mẹ Ra Khơi loan báo Tin
Mừng, mà còn đối với tất cả mọi người, bất phân chủng tộc, chính kiến, giai tầng
xã hội đang trên đường đi tìm Nước Trời, với tâm hồn qủang đại, thiện chí trướcTin
Mừng Cứu Độ.
Và
sau hết, lậy Mẹ mến yêu, Nữ Vương các Giáo Hữu Việt Nam, xin cầu bầu cùng Chúa và
ban ơn Bình An cho các gia đình, giáo xứ, giáo phận và toàn thể dân tộc, quê hương,
đất nước chúng con ngày càng gặp nhiều khó khăn, thử thách đủ loại, đủ phía, vì
chỉ có Mẹ mới “làm cho chúng con được sống, được
vui, được cậy” ở chốn khách đầy, thung lũng nước
mắt, biển đời sóng gió hiểm nguy này.
Jorathe
Nắng Tím
Thứ Ba, 4 tháng 8, 2020
THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG KHÔNG LÀM SỢ
Suy
Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 Thường Niên, Năm A
Một
chân lý vô cùng quan trọng là Thiên Chúa
của Đức Giêsu không bao giờ làm sợ, vì Ngài là Tình Yêu (1 Ga 4,8), “điều
Chúa phán là lời chúc bình an” (Tv 84,9), và ở Ngài “tín nghiã ân tình nay hội
ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín
nghiã mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao” (Tv 84,11-12).
Chân lý ấy đã thực hiện nơi ngôn sứ Êlia, khi ông bị
truy lùng bởi Giêraben đã đến được núi
Hôrép sau bốn mươi đêm ngày trốn chạy vất vả, ở đây, ông đã được gặp Thiên Chúa
và Ngài đã không chỉ an ủi, nâng đỡ ông mà còn tỏ cho ông và dân Ngài biết:
Thiên Chúa của họ là Thiên Chúa không làm sợ hãi như “ngẫu thần” mà thiên hạ
tin thờ, nhưng yêu thương, nhân hậu và đến với con người trong cơn gió nhẹ nhẹ
của bình an khi phán với ông: “Kià Đức Chúa đang đi qua. Gió to bão lớn xẻ núi
non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió
bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa
cũng không ở trong lửa. Sau lửa là tiếng gió hiu hiu” (1 V 19,11-13).
Tin Mừng Mátthêu thì thuật lại sự kiện Đức Giêsu đi
trên mặt nước vào khoảng canh tư đến với các môn đệ đang hoảng sợ trên thuyền
“khi thuyền đã xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”(Mt 14,24).
Đến với các ông đang hoảng hốt vì thuyền sắp chìm,
cũng như khuyến khích Phêrô cứ đến với Ngài khi bước đi trên mặt nước, Đức
Giêsu đã tỏ uy quyền của Ngài trên sự dữ và trấn an các ông: “Cứ yên tâm, chính
Thầy đây, đừng sợ !” (Mt 14,27).
“Đừng sợ!” là tâm tình Đức Giêsu gửi trao chúng ta
trong mọi hoàn cảnh đắng đót, tình huống thất vọng; là lời chúc bình an phục
sinh của Ngài cho chúng ta giữa những thử thách tưởng không thể vượt qua; là lời
hứa cứu độ của Ngài cho chúng ta, những tội nhân biết ngước trông lên và cầu khẩn
Ngài thương xót, như Ngài đã “ban bình an” cho các môn đệ của Ngài sau khi sống
lại (x. Ga 20, 19; Lc 24,37).
Vâng, con thuyền chòng chành tưởng như sắp chìm vì bị
sóng đánh và ngược gió là thuyền đời của mỗi người và là thuyền Giáo Hội. Như
thánh Phaolô đã chia sẻ: “Có Đức Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi
không nói dối, và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng rằng:
lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi” (Rm 9,1-2), chúng ta cũng
đau khổ, ưu phiền như ngài, và Giáo Hội
cũng không ngừng bị thử thách đủ cách, đủ mức độ. Nhưng có Thiên Chúa là Đấng
không bao giờ làm sợ, nhưng luôn có mặt chở che, bênh đỡ, ban bình an như Ngài
đã từng can thiệp trong đời sống cá nhân và đời sống Giáo Hội, chúng ta có đủ
lý chứng và nền tảng để tin vào Lời Hứa của Đức Giêsu, Thiên Chúa: “Thầy đây, đừng
sợ !” (Mt 14,27) vì “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Jorathe Nắng Tím










