Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

HUẤN LUYỆN CON TỰ LẬP


Một trong những niềm vui lớn của cha mẹ và của cả nhà là những lúc bé chập chững đi. Cả gia đình bao quanh bé, người vỗ tay tán thưởng, người hò hét khích lệ. Ai cũng đóng góp niềm vui để giúp bé bước thêm một bước. Ai cũng góp chung hy vọng cho bước chân của bé mỗi ngày thêm vững hơn. Và hạnh phúc của mọi người là thấy bé bước đi một mình.
Đi được một mình là ước mơ của cha mẹ và mọi người khi em bé tập đi. Đó cũng là hình ảnh của ước mơ lớn nhất, và sau cùng của cuộc đời làm cha mẹ khi mong cho con chóng lớn và tự lập được trong đời. Tự lập là tự mình đứng vững trên đôi chân mình. Tự lập là tự mình bước đi bằng đôi chân mình. Tự lập là không còn cần tay vịn, người khác dắt đi, hay phải bồng ẵm.
Vì thế, nỗi lo âu của cha mẹ có con cái tàn tật là không biết sau này khi mình không còn có mặt trên cõi đời này nữa, thì ai sẽ là người lo cho con, vì con không thể một mình bước đi trên đường đời, và không thể tự lập trong cuộc sống . Nỗi khổ ấy sẽ đeo đẳng những cha mẹ này cho đến chết…Với những cha mẹ bình thường khác, chuẩn bị cho con cuộc sống tự lập là mục đích của giáo dục và đích tới của  ước mơ.
Người ta có thể chuẩn bị cho con nhiều thứ như nhà cửa, tiền bạc, nghề nghiệp… Có những đứa con được cha mẹ chuẩn bị cả chồng, vợ tương lai. Tục “tảo hôn”: lấy chồng, cưới vợ cho con khi tuổi còn qúa nhỏ đã nói lên điều này. Tất cả chuẩn bị cho ngày con đứng một mình, “ra riêng”, tự xoay xở.
Nhưng những chuẩn bị đó tuy quan trọng nhưng không thay thế những  chuẩn bị tâm lý quan trọng hàng ngàn lần hơn. Đó là chuẩn bị cho con tinh thần trách nhiệm để biết nhận trách nhiệm trước gia đình, xã hội khi tự trách nhiệm đời mình và trách nhiệm trên những người thuộc về mình. Trách nhiệm là ấn dấu của người trưởng thành. Người không trách nhiệm không thể là người trưởng thành, vì trưởng thành là đứng được một mình, tự quản, tự quyết, tự lập. Trách nhiệm đời mình là biết mình là ai, có vai trò nào trong cuộc đời và đâu là ý nghiã, mục đích của cuộc sống? Trách nhiệm là tự mình trả lời về mọi chọn lựa, việc làm của mình và tự mình gánh vác những hậu qủa của lựa chọn và hành động đó. Người có trách nhiệm không lệ thuộc người khác, mặc dù luôn cần người khác tương trợ. Người có trách nhiệm không đổ lỗi cho người khác, mặc dù luôn cần cộng tác với mọi người. Người có trách nhiệm không dựa vào người khác, mặc dù luôn tin tưởng, tín nhiệm ở mọi người. Người có trách nhiệm không lợi dụng người khác, mặc dù luôn nhận người khác là thầy, là bạn.
Đào tạo cho con sau này trỏ thành người có trách nhiệm là tập cho con bước đi trên đôi chân của  chính mình, chứ không để con mãi bước trên đôi chân của cha mẹ. Có nhiều cha mẹ giầu có nghĩ rằng: chẳng việc gì con cái phải tự lo, tự lập, vì chúng đã sẵn có gia sản kếch sù mình để lại và có sống đến đời cháu chắt, của cải ấy vẫn còn. Những cha mẹ ấy lại một lần nữa lầm lẫn sự trưởng thành của con người chỉ hệ tại ở khả năng vật chất. Họ đã quên hay không biết rằng: sự trưởng thành  hệ tại ở tinh thần tự lập; nói đúng hơn là tình trạng “ tự lập của tinh thần”. Ngôn ngữ tâm lý của tình trạng tự lập tinh thần thường được phiên dịch là  tinh thần trách nhiệm. Bởi cả hai đi đôi với nhau: không thể tự lập, nếu thiếu trách nhiệm; cũng như không thể trách nhiệm, nếu còn lệ thuộc, chịu sự bảo hộ của người khác.
Như em bé cố gắng tập đi từ một tuổi, cha mẹ cũng tập cho con tự lập từ bé bằng những cố gắng nho nhỏ  của cả hai bên: cha mẹ và em bé:
a.   Cha mẹ cố gắng ghìm mình đừng làm hết mọi việc cho con, vì quá thương con, nhưng để em tập đương đầu với những khó khăn mà em có thể tự mình giải quyết. Can thiệp bất cứ lúc nào khi con cần là không giúp con tập tự mình giải quyết những khó khăn sau này. Thói quen ỷ lại sẽ lớn dần và sau này khi đã lớn, em  sẽ không tự lập và tự trách nhiệm được.
b.   Có những rủi ro mà cha mẹ phải để con tự mình đối phó để con biết động não, biết huy động ý chí để vượt qua. Ngăn chặn và tránh cho con mọi rủi ro trong cuộc đời là điều không thể có. Vì không thể có, nên cha mẹ phải tập cho con ngay từ nhỏ lòng can đảm để  dám đối diện với rủi ro.
c.     Chấp nhận mất thời giờ khi để  con tự làm một số việc trong khả năng của con, nghiã là không vì sợ mất thời giờ của mình mà làm hết mọi việc thay con.
d.   Trao cho con công tác và tin vào khả năng thực hiện tốt công tác của con.
e.    Để con hoàn thành một mình từ đầu đến cuối công việc của con và chỉ cho con ý kiến khi được hỏi.
f.     Dậy con biết vui vẻ chấp nhận thành qủa cũng như hậu qủa không như ý của mọi công việc do mình chọn và thực hiện.
Với những hướng dẫn mang tính thực hành trên, cha mẹ sẽ dần dần giúp con tự lập, khởi đầu trong những việc nhỏ và chọn lựa dễ, sau sẽ lớn hơn, khó hơn, hầu giúp em không bỡ ngỡ, sợ sệt khi phải một mình chọn lựa và quyết định sau này trong đời sống.
Phương châm của giáo dục là : không có gì không cần được chuẩn bị, tập tành. Tự lập là bước rất quan trọng để đạt tới trưởng thành, nên càng cần được chu đáo chuẩn bị và chuyên chăm tập tành. Cha mẹ thương con, không chỉ thương cho ăn cho mặc, mà con cho con khả năng tự lập, tự trách nhiệm cuộc đời mình.
Và hạnh phúc đích thực của con cái, như em bé đang tập đi là đứng vững một mình và đi được một mình giữa tiếng reo hò vui mừng, sung sướng của cha mẹ và  mọi người.         

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC SỨ VỤ

 

Rất nhiều người Công Giáo rơi vào tâm trạng bối rối, không biết phải làm gì và bắt đầu từ đâu, mặc dù ý thức rất rõ và xác tín rất vững chỗ đứng Kitô hữu của mình. Có thể vì chưa gặp được ở Giáo Hội bầu khí gia đình, chưa được các Đấng Bậc và anh em trong gia đình Giáo Hội  nhiệt tình đón nhận và ân cần hướng dẫn, đồng hành; hoặc do những gương mù gương xấu trong Giáo Hội làm hốt hoảng, hoang mang. Tình trạng này là nguyên nhân gần đưa đến thái độ bàng quan, lối sống vật vờ, thờ ơ, không tha thiết đến sứ mệnh của người Kitô hữu, cũng chẳng trăn trở, thao thức, quan tâm đến công việc chung, hay những khó khăn, thách đố của Giáo Hội trong sứ vụ loan báo Đức Giêsu cho thế giới hôm nay.

Gần gũi chia sẻ với nhau, chúng ta thương nhau hơn là trách móc, vì hầu hết chúng ta đều muốn đóng góp xây dựng, mở mang Nước Chúa; đều sẵn sàng hy sinh phục vụ; đều có khả năng và nhiệt tâm cống hiến cho việc nhà Chúa. Nhưng sở dĩ  không có nhiều cơ hội “thi thố”, vì chúng ta chưa chuẩn bị cho mình hành trang cần thiết, mà thường chỉ được huy động cho từng công việc riêng lẻ, từng phong trào nhất thời, và chưa được đào tạo để trở thành những Kitô hữu thực sự trưởng thành có đủ điều kiện, đức tính nhân bản và siêu nhiên để gánh vác trách nhiệm của người giáo dân trong Giáo Hội.   

Trước nhu cầu phải có một hành trang cần thiết, người viết mạo muội đóng góp một vài suy tư:

Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng” của Công Đồng Vaticanô II minh định và không ngừng xác quyết: Giáo Hội được mời gọi bằng hết sức lực của mình thực hiện ba đòi hỏi quan trọng là loan báo Tin Mừng, Cầu Nguyện và Đối Thoại để giật sập những bức tường ngăn cách con nguời với con người, và con người với Thiên Chúa, bởi trong chương trình đời đời của Thiên Chúa, toàn thể nhân loại được kêu gọi quy tụ để làm thành một dân mới của Thiên Chúa (x. Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân 13), bởi chỉ trong sự hiệp nhất được chúc phúc này, con người mới thực sự hạnh phúc vì được chữa lành, nuôi dưỡng, và củng cố ngày thêm vững mạnh.

1.   Loan Báo Tin Mừng:

Đòi hỏi thứ nhất và quan trọng nhất là loan báo Tin Mừng. Tin Mừng là Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, Đấng “là Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6), nên bao lâu Lời Chúa chưa được  loan báo, lắng nghe và đón nhận như sự sống và ánh sáng của đời mình, bấy lâu chúng ta còn chơi vơi, lạc lõng, yếu nhược, vì bỏ quên Lời Chúa, không người Kitô hữu nào có thể vững bước  trên đường theo Chúa phục vụ anh em.

Ở đây, chúng ta đừng quên một điều rất quan trọng, đó là người tín hữu không chỉ loan báo, nhưng đồng thời phải lắng nghe, và đón nhận Lời Thiên Chúa. Bổn phận loan báo đi đôi với nghiã vụ lắng nghe, đón nhận, vì cả hai đều quan trọng như nhau. Nhưng loan báo và đón nhân Lời Chúa thế nào?

Thưa, loan báo và đón nhận Lời Chúa “không như  lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy” (1 Tx 2, 13). Không như lời người phàm, nên khi loan báo cũng như khi lắng nghe, đón nhận, chúng ta chỉ loan báo và lắng nghe lời nào thuộc về Thiên Chúa, lời nào của Thiên Chúa, vì “Lời đó tác động nơi anh em là những tín hữu” (1 Tx 2,14), như thánh Phaolô đã khẳng định.

Sở dĩ chúng ta chỉ quan tâm loan báo và lắng nghe, đón nhận Lời Chúa, vì Lời ấy ban sự sống đích thực, ban ơn sủng dồi dào, nên khi Lời được loan báo, thì chắc chắn Lời hằng sống ấy ban sự sống; và khi lắng nghe, đón nhận Lời Thiên Chúa, nguồn mạch mọi ơn sủng, thì ơn sủng tuôn đổ dồi dào, để chúng ta được thánh hoá, đổi mới, đón nhận ơn bình an.

Xác định được điều này, chúng ta không còn sợ hãi, hoang mang khi có người thay vì giảng lời Chúa như sứ vụ đòi hỏi  lại chỉ nói lời của phàm nhân, bởi chúng ta biết lời nào mình cần quan tâm lắng nghe, và lời nào không nên để lọt tai, bởi chính Lời Thiên Chúa ban ơn phân định cho những ai hết lòng yêu mến lắng nghe Lời Ngài.

Nhiều người trong chúng ta, trong đó có người viết thường chiều theo khuynh hướng “khoán trắng” việc loan báo Tin Mừng cho các Đấng Bậc, và thanh thản, thụ động giữ đạo cho riêng mình, làm như đạo là một kho báu phải giữ kín, bảo mật để không phải chia sẻ cho ai, mà quên rằng sứ vụ quan trọng người tín hữu nhận được khi gia nhập Giáo Hội là loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu cho muôn dân, nên bỏ quên loan báo Tin Mừng chính là không chu toàn sứ vụ đuợc Thiên Chúa trao phó.

2.   Cầu Nguyện:

Đi đạo không phải đi theo một chủ thuyết, một chương trình, một ý thức hệ, như người ta đi theo đảng để được là đảng viên, nhưng đi đạo là đi theo một con người Thiên Chúa, đi theo một Thiên Chúa làm người: Đức Giêsu Kitô. Tin Mừng đã làm chứng điều này khi Đức Giêsu  kêu gọi các môn đệ, hay bất cứ ai đi theo Ngài, Ngài luôn bảo họ: “Hãy theo tôi!” (Lc 5,27), mà không nói: Hãy theo chương trình của tôi, môn phái của tôi, hay kế hoạch của tôi. 

Điều này cho chúng ta thấy: Đạo là tương quan tình nghiã giữa mỗi người với Đức Giêsu; là gặp gỡ thiết thân giữa Thiên Chúa và mỗi con người; là sự hiệp nhất trọn vẹn của mỗi người trong Đức Giêsu như cành  nho gắn liền với cây nho, như giọt nước  hoà tan trong ly rượu.

Tin Mừng Gioan ghi lại rất rõ lời Đức Giêsu: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy anh em chẳng làm được gì” (Ga 15,5).  

Cành phải gắn liền và hiệp nhất với cây để được sống và sinh hoa trái là hình ảnh Đức Giêsu dùng để chỉ sự kết hiệp mật thiết giữa người tín hữu và Ngài. Ngài còn nhấn mạnh “phải ở lại trong Thầy” để khẳng định người tín hữu  trọn vẹn thuộc về Ngài khi ở với Ngài, và được trở thành “chính Ngài”, được “đồng hình đồng dạng với Ngài” khi Ngài ở lại trong họ, như thánh Phaolô đã viết: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), và cầu nguyện chính là phương thế Thiên Chúa ban cho con người để con người được trực tiếp liên lạc, giao lưu, hiệp thông, kết hợp mật thiết nên một với Thiên Chúa.  

Đức Giêsu đã làm gương cầu nguyện khi liên lỷ cầu nguyện với Chúa Cha trong mọi tâm trạng, ở mọi tình huống, bất cứ nơi nào. Ngài cầu nguyện trên núi, dưới thuyền; cầu nguyện một mình trong đêm khuya, rừng vắng hay công khai, lớn tiếng trước đám đông ; cầu nguyện lúc vui mừng, phấn khởi  và cả khi bị phản bội, bỏ rơi, ô nhục hấp hối trên Thánh Giá. Ngài dậy các môn đệ cầu nguyện, không chỉ nội dung mà cả cách cầu nguyện khiêm hạ, kín đáo, không nhiều lời (x. Mt 6,5-13). Ngài còn lưu ý các môn đệ: “không cầu nguyện, các ông không thể  vượt qua  cám dỗ, cũng không chiến thắng được ma qủy (x.Mt 17,21 ; 26,41), nhất là đảm bảo trăm phần trăm hiệu qủa của cầu nguyện: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa sẽ mở ra. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho con rắn? Vậy, nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Mt 7,7-11).

Cũng cần lưu ý: ngoài việc cầu nguyện riêng tư, cá nhân, chúng ta cầu nguyện với toàn thể Giáo Hội bằng sống đời sống bí tích, thực thi các việc đạo đức được Giáo Hội hướng dẫn, động viên, đặc biệt tham dự Thánh Lễ là đỉnh cao của cầu nguyện.

3.   Đối Thoại:

Trong Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, Công Đồng đặc biệt nhấn mạnh sứ vụ Đối Thoại của người Kitô hữu với mọi người, bởi đối thoại là bước đầu của con đường nhân ái, là ngưỡng cửa đi vào ngôi nhà bình an của cộng đồng nhân loại. Thiếu đối thoại, rất nhiều mâu thuẫn phát sinh trong cộng đoàn; không đối thoại, tương quan dễ căng thẳng trong xã hội; khi đối thoại bị bế tắc, mọi giao lưu, hiệp thông, hiệp nhất sẽ  theo nhau sụp đổ, tan vỡ; từ chối đối thoại, nhiều oan sai, oan nghiệt sẽ xẩy ra, nhiều hiểu lầm xuất hiện làm rạn nứt liên đới.

Vì thế, khả năng đối thoại với mọi người, bất luận họ là ai, dù không đồng quan điểm, chính kiến là ưu tiên trong việc đào tạo những Kitô hữu trưởng thành, bởi người Kitô hữu cần  ý thức càng hiệp thông với người chung quanh, họ càng được hiệp nhất với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là trung tâm hiệp nhất toàn thể nhân loại, và để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta phải bắt đầu bằng đi vào đối thoại với người khác.

Để đối thoại với tinh thần tìm về hiệp thông, hiệp nhất của Kitô giáo, chúng ta phải cầu xin ơn Chúa Thánh Thần, Đấng làm phong phú và vững chắc sự hiệp nhất bằng chính những khác biệt, biến xa lạ thành gần gũi  như đã làm cho nhiều người thuộc các ngôn ngữ khác nhau nghe được các tông đồ nói tiếng bản xứ của mình, khi các vị rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại sau ngày lễ Hiện Xuống. Sách Công Vụ các Tông Đồ kể lại sự kinh ngạc của những người này, khi họ sửng sốt nói với nhau: “Những người đang nói đó không phiả là người Galilê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta? Chúng ta đây, có người là dân Pácthia, Mêđi, Êlam, Mêxôpôtamia, Giuđê, Cáppađôkia, Pôntô và Axia, có người là dân Phyghia, Pamphilia, Ai Cập và những vùng Lybia giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người Do Thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơrêta hay người Ả Rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!” (Cv 2,7-12).

Thực vậy, nói và lắng nghe không dễ; yêu thương, hiệp thông, hiệp nhất còn ngàn lần khó hơn, nên ở bước đầu của con đường yêu thương, hiệp thông, hiệp nhất với mọi người là đối thoại, chúng ta rất cần ơn Chúa, vì không ơn Chúa, chúng ta sẽ không biết đối thoại thế nào như Đức Ái đòi hỏi, đối thoại làm sao cho sứ vụ của người Kitô hữu được thực hiện tốt đẹp nnhư ý Chúa muốn.

Xin Chúa thương cho mỗi người chúng ta ơn phân định để biết và thực thi sứ vụ được trao phó: chứng tá của Tin Mừng Tình Yêu giữa thế giới hôm nay.

Jorathe Nắng Tím 

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

NHÀ THỜ

 

Tôn giáo nào cũng có nơi quy tụ tín đồ để cử hành nghi lễ phụng tự. Hội thánh công giáo có nhà thờ. Trước phong trào xây dựng nhà thờ, nhiều người đặt vấn đề: nhà thờ bằng gạch đá bên ngoài có thực sự cần thiết không?

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta cùng nhau truy tìm nguồn gốc, ý nghiã của nhà thờ:

1.   Nhà Thờ được xây dựng từ Giao Ước Thiên Chúa đã ký kết với dân Ngài:

Nhà Thờ không là sáng kiến của con người, nhưng trước hết Nhà Thờ là hình ảnh Giao Ước, biểu hiện Giao Ước như vua Salômôn đã khẳng định trong lời cầu nguyện trước Thiên Chúa trong Đền Thờ mới được xây dựng: Vua Salômôn đứng trước bàn thờ của Đức Chúa, trước toàn thể cộng đồng Ítraen, giơ hai tay lên trời và thưa: “Lậy Đức Chúa là Thiên Chúa Ítraen, chốn trời cao cũng như nơi đất thấp, chẳng có thần nào giống như Ngài. Ngài vẫn giữ giao ước và tình thương đối với các tôi tớ Ngài, khi họ hết lòng bước đi trước nhan thánh Ngài” (1 V 8,22-23).

Vua Salômôn đã không chỉ cầu nguyện một mình trước Thiên Chúa, nhưng trước cả toàn dân, vì ở đây, trước bàn thờ, trong Đền Thờ của Thiên Chúa có Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài. Chính Giao Ước là lý do sư có mặt và tồn tại của Đền Thờ; Giao Ước là nền móng của Nhà Thiên Chúa giữa Dân Ngài.

2.   Nhà Thờ là Nhà của Thiên Chúa ở giữa con người:

“Giao Ước và tình thương của Thiên Chúa” cho phép dân Ngài xác tín Thiên Chúa cư ngụ dưới đất với họ, như Salômôn đã cầu nguyện: “trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây!… Xin Ngài để mắt nhìn đến ngôi nhà này đêm ngày, nhìn đến nơi này; xin Ngài lắng nghe lời nguyện tôi tớ Ngài dâng ở nơi đây” (1 V 8,27.29).  

Là nhà cầu nguyện, vì ở đây có Thiên Chúa ngự, như Đức Giêsu đã khẳng định: “Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện” (Mt 21,13); đồng thời là nơi Thiên Chúa cứu giúp, chữa lành như “có những kẻ mù loà, què quặt đến với Đức Giêsu trong Đền Thờ, và Người đã chữa lành họ” (Mt 21,14).

Là nhà của Thiên Chúa, Nhà thờ còn là mái ấm bình an, bến bờ hạnh phúc mà “cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà  hớn hở reo mừng” (Tv 83,3), vì “cung điện Ngài xiết bao khả ái” (Tv 83,2-3), và “phúc thay người ở trong thánh điện”, vì “một ngày được ở trong khuôn viên nhà Chúa qúy hơn ngàn ngày” (Tv 83,5.11).

Là Nhà của Thiên Chúa giữa con người, Nhà Thờ là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người để ban tình yêu, ơn tha thứ của Ngài, như người thu thuế khiêm hạ lên Đền Thờ nài xin: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, và ông đã được trở nên công chính “khi trở  xuống mà về nhà” (Lc 18,13-14).    

Thực vậy, Nhà Thờ chính là Nhà của Thiên Chúa ở cùng nhân loại, và là thiên đàng như thánh Gioan Tông Đồ đã thị kiến: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi  tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa - ở - cùng - họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,1-4).

3.   Nhà Thờ là nơi quy tụ, quây quần toàn thể gia đình Thiên Chúa:

Dân Chúa là một gia đình và Nhà Thờ là nơi gia đình của Thiên Chúa quây quần, xum họp quanh Thiên Chúa là Cha nhân hậu hằng yêu thương, chăm sóc con cái mình. Gia đình ấy gồm “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dậy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42).  Gia đình ấy hợp nhất, đồng tâm nhất trí với nhau, sống đơn sơ vui vẻ, và tình nghiã trong hạnh phúc được ca ngợi Thiên Chúa (Cv 2,46).

Như thế, Nhà Thờ là nơi có tình huynh đệ, ở đó mọi người yêu thương, phục vụ nhau như anh em có cùng Cha trên trời. Hơn thế nữa, Nhà Thờ còn hướng đến và mong chờ những anh em chưa về nhà trong buổi hội ngộ, chưa có mặt ở buổi đoàn tụ vì một lý do nào đó, bởi “Thiên Chúa hằng cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,47).

Qủa thực, Nhà Thờ không chỉ là nơi Thiên Chúa có mặt với tình yêu thương của Ngài, mà còn mà nơi mọi người thuộc gia đình Thiên Chúa thực thi đức ái, tình huynh đệ, tương trợ giữa nhau, đồng thời là nơi phát xuất mọi hoạt động truyền giáo, mọi công cuộc ra đi loan báo Tin Mừng, mọi chuyến ra ngoài, ra xa, ra xâu đến với muôn dân. Do dó, Nhà Thờ không bao giờ “bế môn toả cảng, nội bất xuất, ngoại bất nhập”, cửa đóng then cài, khép kín, kỳ thị, khai trừ, loại bỏ, nhưng phải trở thành “chuồng chiên” của Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành. Ngài là “cửa cho chiên ra vào”: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10,7.9).

Đức Giêsu đã không là Cửa đóng kín, khoá chặt để chiên bị nhốt như tù vì không “ra vào” được, nhưng là Cửa chuồng chiên để chiên “ra và vào” như những đứa con tự do, những đứa con trưởng thành có trách nhiệm và được trao ban  sứ vụ. Nhà Thờ chính là chuồng chiên của Đức Giêsu, ở đó đoàn chiên thoải mái “ra vào”: vào cầu nguyện, vào gặp gỡ nhau và cùng nhau gặp gỡ Thiên Chúa để rồi ra đi loan báo Tin Mừng, ra xa đến với muôn dân, ra sâu “lưới cá người”, bởi sứ vụ của người tín hữu là cánh tay nối dài của Đức Giêsu để thực hiện ước mơ, sứ mạng cứu thế của Ngài: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16).

Qủa thực, nếu Nhà Thờ không đáp ứng những đòi hỏi vừa kể, như Thánh Ý Chúa Cha được xác quyết qua miệng Đức Giêsu thì việc xây dựng những ngôi Nhà Thờ nguy nga, tráng lệ tốn kém nhiều công sức, tiền bạc sẽ là một gương xấu gây bức xúc, bất mãn ở nhiều người. Rơi vào trường hợp này khi Nhà Thờ không được xây dựng làm nơi Thiên Chúa ngự, nơi hẹn hò của Thiên Chúa và con người, nơi ơn phúc của Thiên Chúa được tuôn đổ trên mọi người, bất kể ai, nhưng bị phong toả, cấm vận bởi một số người ỷ quyền, dựa thế, và dùng Nhà Thờ như  phương tiện làm vinh danh cá nhân, biểu dương thế lực phe nhóm, ghi dấu triều đại cai trị; khi Nhà Thờ  không còn là Nhà của Thiên Chúa giữa con người, và  Thiên Chúa bị biến thành bình phong, lá chắn, thỏi bùa để  ai đó lợi dụng củng cố thanh danh, vị thế của bản thân, và loại trừ anh em, khước  từ  người khác; khi Nhà Thờ  thoái hoá thành nơi làm tiền, cơ sở kinh tài, điểm hẹn kinh doanh,  chốn trao đổi hàng hoá, của cải thế gian, như Đức Giêsu đã nổi nóng khi “đuổi tất cả những người đang mua bán trong Đền Thờ” Giêrusalem, và bảo họ: “Đã có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành hang trộm cướp” (Mt 21,13); khi Nhà Thờ trở thành gánh nặng qúa mức trên vai những người tín hữu nghèo khó, túng bấn không có gì nuôi sống mình và con cái, mà vẫn phải nai lưng đóng góp để xây những Nhà Thờ hoành tráng nhất nước, nhất vùng, nhất châu lục, nhất địa cầu ; khi Nhà Thờ qúa  lớn, nhưng chỗ dành cho những người bé mọn, không thế lực, không tiếng nói lại qúa nhỏ, có khi chẳng có ; khi Nhà Thờ biến thành nơi cho người có của, có ảnh hưởng, có thế giá khoe khoang, vung vít; khi Nhà Thờ trở thành “sở hữu” của một số người có chức phận, có “công trạng”, ở đó họ tha hồ thao túng, mượn Nhà Chúa ra oai thần lực, “xưng hùng xưng bá”, miệt thị, tẩy chay người không cùng phe cánh, người thấp cổ bé miệng, vô danh tiểu tốt; khi Nhà Thờ không còn là Chuồng Chiên của Mục Tử nhân lành là Đức Giêsu, nhưng biến thành “trại tập trung” của người chăn thuê, kẻ trộm cướp (x Ga 10,1.12-13); khi Nhà Thờ không ấm áp bầu khí gia đình, nhưng nồng nặc thị phi, giành giật, đấu đá, ganh ghét, hận thù; khi Nhà Thờ lạnh lẽo tình nghiã anh em có cùng một Cha trên trời, vì kiêu căng, đố kỵ, hiềm khích, đấu tranh quyền lực; khi Nhà Thờ rặt những trái tim kiêu hãnh chỉ đến Nhà Thờ  để khoe danh, khoe của, khoe công trạng như người Pharisêu trong Tin Mừng  Luca (x. Lc 18, 9-14).    

Tóm lại, Nhà Thờ phải được mọi người Kitô hữu gìn giữ để mãi là Nhà của Thiên Chúa, người Cha nhân hậu luôn rộng mở trái tim và vòng tay ôm ấp con cái mình, dù con ấy có yếu đuối, gầy gò, tồi tệ đến đâu, như người con hoang đàng được cha già ra đầu ngõ ngóng từng ngày và khi trở về đã được cha tha thứ, yêu thương, cưng chiều (x. Lc 15); Nhà Thờ phải được củng cố, xây dựng để mãi là Mái Ấm Gia Đình, ở đó, tất cả “các tín hữu hợp nhất với nhau… đồng tâm nhất trí”, yêu thương, tương trợ đến nỗi người ngoài nhìn vào phải trầm trồ khen ngợi: “Kià xem họ yêu thương nhau biết bao!”, bởi Nhà Thờ là nhà của Thiên Chúa Tình Yêu, nhà của các con cái được Cha trên trời yêu thương và yêu thương nhau như Cha trên trời; bởi Nhà Thờ là Nhà sinh ra và đào tạo những chứng nhân của Tin Mừng Tình Yêu nhờ các bí tích được ban trong Nhà Thờ; bởi Nhà Thờ là tổng hành dinh của mọi kế hoạch, công trình “được sai đi loan báo Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người để yêu thương, cứu độ nhân loại”; bởi Nhà Thờ là nơi mọi người nhận ơn hoà giải với Thiên Chúa, để được hoà giải với nhau và với chính mình ; bởi Nhà Thờ là Hiệp Thông, Hiệp Nhất của các chi thể trong một Thân Thể duy nhất là Đức Giêsu; bởi Nhà Thờ là Nhà của lòng thương xót, ơn cứu độ cho hết mọi tội nhân có lòng thống hối trở về.   

Chỉ trong tinh thần ấy, chỉ với ý nghiã ấy, chỉ hướng đến mục tiêu ấy, Nhà Thờ mới  thực sự là Nhà thờ phượng Thiên Chúa, vì có Thiên Chúa hiện diện giữa con cái Ngài, có Thiên Chúa được vinh danh, cảm tạ bởi con cái Ngài, khi con cái Ngài tuân giữ lời Ngài dậy: “Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con” (Ga 13,34). Không có tình yêu, Nhà Thờ chỉ là một công trình của phàm nhân, mà không có ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa; thiếu tình yêu, Nhà Thờ chỉ  là một ngôi nhà bằng gạch đá vô cảm, mà không có sức sống của Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con; thiếu tình yêu, Nhà Thờ chỉ còn là thây ma, xác chết, vì không có máu nuôi Thân Thể mầu nhiệm; thiếu tình yêu, Nhà Thờ mất hoàn toàn giá trị và ý nghiã “Nhà của Thiên Chúa ở giữa nhân loại”, “Mái Ấm Gia đình của Thiên Chúa”; không có tình yêu hiệp thông, hiệp nhất giữa các tín hữu, Nhà Thờ không là “hình ảnh của Giêrusalem trên trời” như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Do Thái, khi qủa quyết: chúng ta đã được ở trong nhà Thiên Chúa ngay từ bây giờ: “Anh em đã đến núi Xion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa những con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện. Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben” (Dt 12,22-24).  

Vâng, chúng ta có Nhà Thờ là Nhà, và “thành đô của Thiên Chúa” ở giữa chúng ta để chúng ta được đến với Ngài, gặp gỡ Ngài, nên bổn phận của mỗi người Kitô hữu là xây dựng, bảo vệ Nhà Thờ, nơi Thiên Chúa ngự, nơi chúng ta tụ họp quây quần bên Thiên Chúa là Cha nhân hậu, và chúng ta là anh em với nhau. Nhưng chỉ có thể thực hiện được mục tiêu trên, nếu tâm hồn mỗi người tín hữu  khao khát được biến đổi để trở thành “Đền Thờ của Thiên Chúa” như thánh Phaolô đã kêu gọi: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3,16).

Khi viết những giòng này thì phong trào đập phá các tượng thánh, và đốt nhà thờ đang bùng lên dữ dội không chỉ ở các nước theo thể chế vô thần, mà ngay tại những nước có nền văn hoá Kitô giáo. Người ta không còn e ngại giấu diếm ý đồ đánh phá, tiêu diệt Kitô giáo, nhưng công khai thực hiện bằng những lời nói,  hành vi chống phá một cách “qúa quắt, điên rồ” như lời  Đức Cha Barron, Giám Mục phụ tá tổng giáo phận Los Angeles, Hoa Kỳ ngày 3 tháng 8/2020 mới đây, sau tuyên bố được coi là thô bỉ, ngu xuẩn và man rợ của bà dân biểu Alexandrai Ocasio - Cortez của đảng Dân Chủ, đơn vị New York, khi bà chỉ trích và đề nghi tháo gỡ bức tượng của thánh Đamien, tông đồ người cùi tại Molokai trong điện Capitol.  Vị thánh của người cùi này tên thật là Joseph de Veusterin, người Bỉ đã bỏ quê hương và suốt cuộc đời hy sinh phục vụ những người anh em cùi ở một nơi xa xôi, hầu như bị cô lập khỏi “thế giới loài người”, mà bà dân biểu này đã không biết gì tiểu sử, cuộc đời bác ái gương mẫu của Ngài, để rồi phát biểu một cách thiếu hiểu biết, vô trách nhiệm và  bất công, khi lên án ngài là biểu tượng của “chế độ gia trưởng và một nền văn hoá da trắng thượng đẳng”. Thật không còn gì ngược ngạo và phi lý hơn! 

Ước gì mỗi người chúng ta ý thức bổn phận xây dựng, bảo vệ  Nhà Thờ bên ngoài bằng gạch đá là nơi Thiên Chúa ngự và quy tụ con cái Ngài cách “hữu hình” bằng những đóng góp thiết thực với thao thức được là những viên đá sống động góp phần làm đẹp Nhà Thiên Chúa giữa nhân loại, đồng thời tô điểm cho thật đẹp mỗi ngày Nhà Thờ bên trong là “Đền Thờ của Chúa Thánh Thần” trong tâm hồn chúng ta.

Jorathe Nắng Tím      

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

KHÔNG LẼ CHÚNG TA THUA CÂY CỎ, LÁ HOA?

Chắc hẳn những ngày cách ly Covid, nhiều người trước đây không có giờ ra vườn, nhưng nay đã quen với thú điền viên, và khám phá nhiều điều kỳ diệu ở cây cỏ, lá hoa. Và tôi là một trong số những người đó.

Bên cạnh cỏ cây, tôi khám phá nhiều điều thú vị và qua những thú vị được khám phá, tôi nhận ra Thiên Chúa thực là người cha yêu thương và ân cần quan tâm đến từng tạo vật rất bé nhỏ của Ngài. Ngài ban cho cây cỏ mầu xanh của sự sống, và trăm sắc mầu tuyệt đẹp khác mà con người khó có thể bắt chước trăm phần trăm; Ngài ban mưa, nắng, gió cho cỏ cây, hoa lá đâm chồi, trổ lá, đơm bông; Ngài cho con người rung động trước cỏ hoa, cây trái, và chia sẻ với con người niềm vui  săn sóc chúng, làm cho cỏ cây xanh tươi, xum xuê hoa trái, như đã ký thác cho nguyên tổ bổn phận trông nom vạn vật.

Vì thế, thiên nhiên mang hình ảnh của Thiên Chúa yêu thương, quan tâm, quan phòng; thiên nhiên nâng tâm hồn con người lên với Đấng đã dựng nên đất trời và muôn vật hữu hình, vô hình ; thiên nhiên là những lối ngõ, nhịp cầu đưa con người đến Thiên Chúa, bởi thiên nhiên là công trình từ tay Thiên Chúa, mang hình ảnh và  nói lên lòng thương xót quan tâm của Ngài. 

Thực vậy chỉ riêng những cánh hoa rất mong manh như đóa hồng, nhưng nét đẹp và sức quyến rũ không gì có thể ngăn cản được cảm hứng dào dạt của con người đã đủ nói lên tình thương của Thiên Chúa không ngừng gìn giữ, bao bọc thụ tạo của Ngài. Chính Đức Giêsu đã mời chúng ta: “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6,28-29); chỉ riêng sức sống tiềm ẩn trong hạt giống nhỏ tí teo nếu được gieo vào đất tốt sẽ “sinh hoa kết qủa” gấp trăm (x.Mt 13,18-23) cũng đã nói lên kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa; chỉ riêng việc “cây tốt không thể sinh qủa xấu, cũng như cây xấu không thể sinh qủa tốt” (Mt 7,18) cũng đã là bài học hữu ích Thiên Chúa muốn dậy con người qua thiên nhiên: “Cứ xem họ sinh hoa qủa nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?” (Mt 7,16).    

Gần gũi thế giới của cây cỏ, chúng ta còn khám phá những loại cây cần nhiều nước, loại khác cần ít hơn, có hoa say nắng gay gắt, dữ dội, có thứ chỉ thích nắng ấm, dịu dàng, nhưng tất cả đều cần nắng,tìm kiếm nắng, hướng về Mặt Trời. Có những cây bị khuất nắng cố nhoài mình ra tìm nắng đến nỗi biến dạng thành những cây cong nhìn rất thảm hại; có những hàng cúc bị cớm nắng đồng loạt ngả mình theo hướng mặt trời làm thành một hàng thẳng “nghiêng” đến tội nghiệp; đám cà chua bị những tầu lá chuối to đùng che nắng  lách mình khỏi vùng âm u đang cố rướn xa tìm nắng ấm vừa thấy thương vừa buồn cười.

Thế mới biết vạn vật luôn hướng về Đấng đã dựng nên và hằng ngày chăm nom, săn sóc chúng, như cây cỏ luôn hướng về Mặt Trời, vì Nắng Ấm của Mặt Trời đem lại cho chúng sức sống, niềm vui. Tâm hồn con người cũng vậy: luôn hướng về Thiên Chúa mà con người mang hình ảnh ngay từ khi được tạo dựng. Thánh Augustinô, nhà thần học của tình yêu đã cảm nghiệm và khẳng định: tâm hồn chúng ta chỉ thực sự được hạnh phúc khi ở trong Thiên Chúa, vì ngoài Thiên Chúa, Đấng chúng ta luôn hướng về như hoa lá, cỏ cây luôn hướng về Mặt Trời, không người nào có thể thoả mãn khát vọng tuyệt đối trong chúng ta, cũng như không giá trị nào cho tâm hồn chúng ta no thoả bình an, hạnh phúc.

Như thế, để có được bình an đích thực, tâm hồn cần Thiên Chúa như cây cỏ cần nắng ấm của mặt trời. Có Thiên Chúa ở cùng, chúng ta sẽ chẳng còn kinh hãi gì, cũng chẳng sợ hãi ai, vì nếu có phải sợ, “anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục”, và “đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn” (Mt 10,28). Có Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc, chúng ta sẽ không qúa lo  cho mạng sống: “lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc.” (Mt 6,25), vì Thiên Chúa là Cha nhân hậu thương chúng ta hơn chúng ta tưởng, như chính Đức Giêsu đã qủa quyết: “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng qúy giá hơn chúng sao?” (Mt 6,26). Vấn đề còn lại của chúng ta chính là khát khao Thiên Chúa, hướng về Thiên Chúa, “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài” (Mt 6,33), như cây cỏ, hoa lá hướng tìm Nắng Mặt Trời, còn mọi sự khác, Ngài sẽ lo liệu cho. Và qủa thực, chưa có người nào cảm thấy bất hạnh khi “bỏ mọi sự để đi tìm và phụng sự Thiên Chúa” cho dù ngươii khác nhìn vào cho họ là những người kém may mắn vì không thực tế, thiếu khôn ngoan khi chỉ mơ ước những sự trên trời; chưa có ai đến cuối đời lại tiếc nuối, hối hận, bất mãn, bực bội vì đã hết tình, hết mình phục vụ Tin Mừng, dù dưới mắt người đời, họ là những người gặp nhiều sóng gió; cũng chẳng tìm được một tâm hồn tận hiến nào không hạnh phúc, bình an vì đã chọn Chúa làm Lẽ Sống, Gia Nghiệp, dù thế gian bảo họ là những người chịu nhiều thiệt thòi, thua lỗ.   

Để rồi, mỗi sáng ra vườn thăm cây cỏ, lá hoa, tôi lại tự hỏi: không lẽ mình thua bụi hồng, khóm trúc khi cứ mãi thu mình trong bóng tối tội lỗi và trốn chạy ánh sáng thánh thiện; không lẽ con người thua cả cây cỏ, lá hoa khi chúng luôn hướng về Đấng đã tạo dựng nên chúng và biết “làm nở mặt”, tôn vinh Đấng ban mưa, nắng, gió  cho chúng tươi tốt, đơm hoa kết trái xum xuê, rực rỡ làm đẹp vũ trụ, làm vui lòng người? Và rồi mỗi lần ân cần chăm sóc cỏ cây, hoa lá, tôi lại thì thầm cùng chúng ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa, Đấng hằng thương yêu, chăm sóc mọi loài Chúa đã dựng nên.

Jorathe Nắng Tím


Thứ Năm, 6 tháng 8, 2020

CON: NỢ HAY PHÚC?


Viết về con cái ở bất cứ tuổi nào, người ta cũng cảm thấy có một điều gì không ổn: không ổn vì những khẳng quyết không hẳn sẽ là định lý, quy luật; không ổn vì những “vô thường” có thể làm thay đổi mọi dự đoán, phỏng định; không ổn vì xác xuất thành công - thất bại trồi sụt, lên xuống theo từng thời vụ. Vì lý do này mà câu hỏi khó nghe “con là nợ hay phúc?” ít nhiều đã một lần làm cha mẹ chùng lòng suy nghĩ.
Có những đứa con ngoan ngoãn, thông minh mang lại vinh dự cho gia đình và không làm cha mẹ phải qúa lo âu, vất vả. Nhưng cũng không thiếu những cha mẹ phải khốn đốn, ô nhục vì con. Hình ảnh những người mẹ lặn lội thăm nuôi con bị giam trong các  trại giáo huấn trẻ vị thành niên, những người cha  nét mặt chai sạn, sầu buồn, thất vọng nhìn con trước “vành móng ngựa” ở toà án; rồi những cảnh con đâm cha, giết mẹ, con chiếm đất, chiếm nhà… Tất cả đã đặt cha mẹ trước nỗi buồn man mác khi nghĩ đến tương lai của con mình.
Nhiều người mẹ tay ôm con thơ mà lòng dạ đã xa xôi về một ngày con không còn ngoan hiền, vâng lời mẹ. Ẵm bé trên tay mà tâm tư cha đã thoáng buồn khi nghĩ ngày mai khi con lớn không biết có còn diễm phúc chuyện trò với con… Và bất chợt ý nghĩ con sẽ hết là con, nhưng sẽ là nợ cha mẹ phải trả…
Trả cho Trời, cho người, cho con hay cho ai khác thì không biết, nhưng ý tưởng con là nợ đã là ý tưởng thường gặp trong các gia đình. Trước những gánh nặng bổn phận và khả năng có giới hạn, cha mẹ dường như muốn đầu hàng, đảo ngũ khỏi đời làm mẹ cha vì không còn cam nổi những đắng cay do con cái mang lại.Những cuộc đầu hàng sớm là phá thai, bỏ con, bán con. Những cuộc tháo lui trễ là từ con, xa lánh con.
Trước những cha mẹ coi con là nợ, chúng ta chỉ biết cảm thông và tìm cách nâng đỡ, vì có thể tình cảnh đó cũng có thể xẩy đến với ta khi con cái hoang đàng, sa đoạ đến mức không còn chịu nổi. Cảm thông những người cha không còn quyền làm cha trên con mình khi con ngang ngược, bất hiếu. Nâng đỡ những người mẹ không còn được là mẹ trong đời của những đứa con quên cội nguồn.  Ở vào hoàn cảnh đau thương của những cha mẹ bất hạnh, ta mới thấm thiá khổ đau của đời làm cha làm mẹ.
Khi đề cập đến chuyện: con có thể là nợ, món nợ cha mẹ đã vay từ thưở nào, có khi từ nhiều kiếp trước nhưng nay phải trả, chúng ta muốn căn dặn nhau một điều: đó là không nên qúa kỳ vọng ở con, cũng đừng quá trông cậy ở con. Không quá kỳ vọng cũng như không qúa bám víu vào con, cha mẹ sẽ tránh cho mình những thất vọng vô ích làm khổ chính mình. Sinh con, nuôi con, dậy con như bổn phận cũng có thể được hiểu là trả cho  đời một món nợ thiêng liêng. Vấn đề là cha mẹ sẽ trả món “nợ đời” ấy với thái độ nào? Thái độ hằn học, bất đắc dĩ hay thái độ vui vẻ, lương thiện, công bằng ?
Thực ra, coi con cái là món nợ là điều không cha mẹ nào muốn, và khi bất đắc dĩ phải nghĩ điều này, cha mẹ biết mình đã chọn điều “chẳng muốn và cũng chẳng nên chọn”; nhưng vì bị gài vào thế “chẳng đặng đừng” nên đành phải liều nghĩ một cách rất tiêu cực như thế để tâm hồn được phần nào nguôi ngoai trước những căng thẳng, nặng nề tưởng không gì có thể cất nhẹ được. Tư tưởng của nhà Phật về nợ cũng đóng góp làm vơi đi phần nào sầu khổ trong tâm hồn những cha mẹ không còn chút niềm vui và hy vọng ở con cái.
Nhưng chúng ta không dừng ở đây, không đầu hàng định mệnh cách qúa dễ dàng nhưng với niềm tin vào ơn gọi làm người của con cái, tin vào ơn gọi được cộng tác với Trời trong công trình cho loài người sinh sôi nẩy nở, chúng ta  nhìn con cái với đôi mắt của tình yêu tích cực, tình yêu  hy sinh, tình yêu hồi sinh để con cái sẽ không là món nợ, nhưng là ơn phúc.    
Với đôi mắt tình yêu tích cực, con cái sẽ là cây phúc được trồng trên đất lành, đất  tốt của tình yêu cha mẹ. Với đôi mắt của tình yêu hy sinh, con cái sẽ là nguồn phúc chảy trong trái tim và cuộc đời cha mẹ. Với đôi mắt của tình yêu hồi sinh, cha mẹ cho con cái ơn phúc được yêu thương, cứu chữa. Bởi thế nào đi nữa, “duyên phận” giữa cha mẹ và con cái là duyên Trời định, nên vĩnh viễn không thể tách rời.
Cây phúc, nguồn phúc, hạnh phúc ấy không tự nhiên mà có, không bỗng nhiên hiện diện, cũng không sinh sản, lớn lên như cây cỏ trong thiên nhiên; nhưng đòi được tình yêu cưu mang, hy sinh nuôi dưỡng, kiên nhẫn giáo dục. Cây phúc vì thế sẽ chết non, héo tàn khi tình yêu không là nước tưới hằng ngày, không là khí trời cho cây tươi tốt; nguồn phúc ấy cũng sẽ khô cạn nếu hy sinh không như nước từ trái tim cha mẹ  đổ  về; và hạnh phúc được hồi sinh nơi con cái cũng sẽ bất hạnh chết  rũ nếu bóng con không còn được tình mẹ cha dõi bước.  
Tình mẹ cha là tình của biển cả vì chỉ biển cả mới hiểu phần nào cái bao la của tình cha mẹ. Tình ấy bao la vì tình ấy không tính toán, so đo, không kèo nài trả giá. Tình ấy bao la vì tình ấy không bị giới hạn bởi bất cứ một thứ biên giới nào; đến ngay cả sự chết cũng bất lực và phải dừng lại trước tình vĩnh cửu và toàn năng ấy. Cũng vì bao la, vĩ đại mà tình mẹ cha mang hết  tội lụy, yếu đuối, thiếu sót, lỗi lầm, dại dột, ngu ngơ, khờ khạo  của đời con; bởi chỉ có đại dương của tình cha mẹ mới dám đón những rủi ro, xác xuất trồi sụt bất thường của tình yêu nơi con cái mình và cũng chỉ trong liều lĩnh hy sinh, gan lì chịu đựng, tình mẹ cha mới thực là tình tuyệt vời, thiên thu.

CÙNG MẸ RA KHƠI

Mừng Lễ ĐỨC MẸ Hồn Xác Về Trời

Mừng Mẹ hồn xác về trời, cũng là ngày “Hãy Ra Khơi” tròn 2 tuổi. Hai tuổi chập chững loan báo Tin Mừng trên đường phố, hai năm lẫm chẫm từng bước nắm chặt tay Mẹ cùng Giáo Hội làm chứng Đức Giêsu giữa đời, hai năm theo Mẹ lên thuyền Ra Khơi “lưới cá người”, hai năm được Mẹ dậy yêu thương, tha thứ, hai năm học với Mẹ tinh thần qủang đại, khiêm hạ dám xóa mình để có thể chung vai sát cánh  cùng anh chị em phục vụ Nước Trời.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con cùng sứ thần Gabrien và Giáo Hội kính chào “Mẹ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu, Con lòng Mẹ đầy phúc lạ”.

Mẹ đầy ơn phúc vì “Mẹ tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với Mẹ” (x. Lc 1,45). Vì tin Mẹ đã  tín thác và can đảm đáp lại đề nghị của thiên sứ bằng lời Xin Vâng khiêm hạ: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38); vì tin, Mẹ đã không mảy may nghi ngờ quyền năng của Thiên Chúa, bởi “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37); vì tin, Mẹ đã  chấp hành lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Augúttô, khi rời Nadarét về Bêlem dù  ngày sinh đã cận kề, ở đó Mẹ đã “sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt trong máng cỏ”, “vì không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,7); vì tin, Mẹ đã một mình giữ lấy trong lòng lời tiên tri như “lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn” của cụ già Simêon về Hài Nhi Giêsu, Con Mẹ (x. Lc 2,34-35).

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ đã khiêm nhường, tự hạ, sống trọn ơn gọi “nữ tỳ của Thiên Chúa”, và suốt đời Mẹ đã là Lời Kinh Tán Tụng  Ngợi Khen trong niềm vui của “phận nữ tỳ hèn mọn được Thiên Chúa đoái thương nhìn tới”, với hạnh phúc tràn đầy của người được Chúa thương xót, vì kính sợ Ngài (x. Lc 1,46-50).

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ đã tuyệt đối tin tưởng ở Thiên Chúa quan phòng, Đấng “cho kẻ nghèo đói của ăn đầy dư, và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (x. Lc 1,52-53), khi nhận ra đời mình là Hồng Ân, và không ngừng dâng lời cảm tạ, vì “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!” (Lc 1,49).

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ không rời xa Thiên Chúa dù một giây ngắn ngủi suốt cuộc đời, nhưng “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” thuộc về Thiên Chúa. Từ khi là bào thai trong lòng mẹ thánh Anna đến ngày được Thiên Chúa cho cả hồn xác về trời, Mẹ luôn có Thiên Chúa ở cùng, như lời chào của sứ thần Gabrien ngày truyền tin. Có Chúa ở cùng, khi Mẹ mang thai Đức Giêsu; có Chúa ở cùng suốt ba mươi năm nuôi dưỡng, dậy dỗ Đức Giêsu ở Nadaét; có Chúa ở cùng ba năm dong duổi với Con trên đường truyền giáo; có Chúa ở cùng trên từng bước Đường Khổ Nạn; có Chúa ở cùng dưới chân Thánh Giá trên đồi Canvê chiều tử nạn; có Chúa ở cùng khi ôm xác con loang máu; có Chúa ở cùng ngày Con sống lại từ cõi chết; có Chúa ở cùng khi Thánh Thần hiện xuống; có Chúa ở cùng giữa các tông đồ, môn đệ; có Chúa ở cùng giữa cộng đoàn tín hữu cầu nguyện, bẻ bánh, làm chứng Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại; có Chúa ở cùng trong Giáo Hội được sai đi loan báo Tin Mừng; có Chúa ở cùng như Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội, Mẹ các Tín Hữu, Mẹ Nhân Loại; có Chúa ở cùng như Đấng bênh đỡ, bầu chữa, chở che kẻ có tội; có Chúa ở cùng như Mẹ hiền giờ con cái hấp hối lâm chung để bênh đỡ, chuyển cầu, đáp lời van xin: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”  

Mẹ đầy ơn phúc, vì Mẹ luôn “hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ” (Lc 1,46), và đời Mẹ là “đời vui trong Chúa”, vì Thiên Chúa là Nguồn Vui Ơn Cứu Độ. Trong Thiên Chúa, Mẹ hớn hở reo mừng, vì Thiên Chúa hằng trung tín luôn giữ Lời Hứa và “nhớ lại lòng thương xót của Ngài dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1,55), bởi chỉ  người tin ở Lời Hứa  của “Thiên Chúa giầu lòng xót thương, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung » mới có bình an và niềm vui sâu lắng, đích thực, viên mãn.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con xin mãi được Cùng Mẹ Ra Khơi, như suốt hai năm qua, chúng con đã không bao giờ quên sự hiện diện từ ái của Mẹ trên thuyền Ra Khơi loan báo Tin Mừng, vì Ra Khơi không thế thiếu Mẹ, như Đức Giêsu đã không thể nhập thể, thập thế nếu thiếu cung lòng và trái tim yêu mến, khiêm hạ của Mẹ; các Tông Đồ không thể an tâm, vững chí vượt qua thử thách nếu không có Mẹ ở giữa các ngài; các tín hữu không thể trung thành trước cám dỗ, thách đố, nếu không có Mẹ đồng hành chỉ bảo,nâng đỡ, ủi an.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con khấn xin Mẹ tiếp tục chèo chống cánh thuyền Ra Khơi nhỏ bé của các con Mẹ, và hãy luôn là Ngôi Sao sáng  không chỉ “soi lối cho con lúc vượt biển thế gian”, mà còn soi đường chỉ lối cho thuyền ra sâu, sa xa đến với anh em chưa nghe Tin Mừng, chưa biết Thiên Chúa yêu thương và cứu độ họ.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con ngước trông và dõi theo bóng Mẹ “đang tiến lên như rạng đông, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, oai hùng như đạo binh xếp hàng vào trận” để xin Mẹ gìn giữ Giáo Hội Việt Nam, cùng hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ, Tu Sĩ, Giáo Dân giữa bao cạm bẫy hiểm nguy của Hoả Ngục mà chỉ một mình Mẹ biết rõ những gì  Giáo Hội cần, những việc Giáo Hội phải làm  trong từng tình huống, ở từng giai đọan như Mẹ đã cảm thương, thấu hiểu hoàn cảnh bế tắc, và kín đáo xin Đức Giêsu, Con Mẹ can thiệp làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon, để niềm vui của đôi tân hôn và gia đình hai họ được trọn vẹn, khi bất ngờ hết rượu giữa tiệc cưới ở làng Cana năm xưa (x. Ga 2,1-11).

Mừng Mẹ hồn xác về trời, xin Mẹ cho chúng con luôn được ở với Mẹ, bám chặt lấy Mẹ như Tông Đồ Gioan xưa để không bao giờ xa Đức Giêsu, Con Mẹ, không dại dột chối Đức Giêsu như Phêrô, bán Đức Giêsu như Giuđa, phỉ báng, hành hạ, lên án, đóng đinh Đức Giêsu như chính chúng con, vì không có Mẹ ở bên khuyên răn, can ngăn, chỉ bảo.

Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con xác tín và tuyên xưng đức tin tông truyền và lòng trung thành, yêu mến phục vụ Giáo Hội của Đức Giêsu, mà Mẹ hằng gắn bó, có mặt hộ phù, để trái tim chúng con luôn rộng mở không chỉ đối với những anh chị em cùng được sai đi, cùng lên thuyền với Đức Giêsu, Giáo Hội và Mẹ Ra Khơi loan báo Tin Mừng, mà còn đối với tất cả mọi người, bất phân chủng tộc, chính kiến, giai tầng xã hội đang trên đường đi tìm Nước Trời, với tâm hồn qủang đại, thiện chí trướcTin Mừng Cứu Độ.

Và sau hết, lậy Mẹ mến yêu, Nữ Vương các Giáo Hữu Việt Nam, xin cầu bầu cùng Chúa và ban ơn Bình An cho các gia đình, giáo xứ, giáo phận và toàn thể dân tộc, quê hương, đất nước chúng con ngày càng gặp nhiều khó khăn, thử thách đủ loại, đủ phía, vì chỉ có Mẹ mới “làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy” ở chốn khách đầy, thung lũng nước mắt, biển đời sóng gió hiểm nguy này. 

Jorathe Nắng Tím    


Thứ Ba, 4 tháng 8, 2020

THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG KHÔNG LÀM SỢ

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 Thường Niên, Năm A

Một chân lý vô cùng quan trọng là Thiên Chúa của Đức Giêsu không bao giờ làm sợ, vì Ngài là Tình Yêu (1 Ga 4,8), “điều Chúa phán là lời chúc bình an” (Tv 84,9), và ở Ngài “tín nghiã ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghiã mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao” (Tv 84,11-12). 

Chân lý ấy đã thực hiện nơi ngôn sứ Êlia, khi ông bị truy lùng bởi Giêraben đã  đến được núi Hôrép sau bốn mươi đêm ngày trốn chạy vất vả, ở đây, ông đã được gặp Thiên Chúa và Ngài đã không chỉ an ủi, nâng đỡ ông mà còn tỏ cho ông và dân Ngài biết: Thiên Chúa của họ là Thiên Chúa không làm sợ hãi như “ngẫu thần” mà thiên hạ tin thờ, nhưng yêu thương, nhân hậu và đến với con người trong cơn gió nhẹ nhẹ của bình an khi phán với ông: “Kià Đức Chúa đang đi qua. Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận  động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa là tiếng gió hiu hiu” (1 V 19,11-13).

Tin Mừng Mátthêu thì thuật lại sự kiện Đức Giêsu đi trên mặt nước vào khoảng canh tư đến với các môn đệ đang hoảng sợ trên thuyền “khi thuyền đã xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”(Mt 14,24).

Đến với các ông đang hoảng hốt vì thuyền sắp chìm, cũng như khuyến khích Phêrô cứ đến với Ngài khi bước đi trên mặt nước, Đức Giêsu đã tỏ uy quyền của Ngài trên sự dữ và trấn an các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” (Mt 14,27).

“Đừng sợ!” là tâm tình Đức Giêsu gửi trao chúng ta trong mọi hoàn cảnh đắng đót, tình huống thất vọng; là lời chúc bình an phục sinh của Ngài cho chúng ta giữa những thử thách tưởng không thể vượt qua; là lời hứa cứu độ của Ngài cho chúng ta, những tội nhân biết ngước trông lên và cầu khẩn Ngài thương xót, như Ngài đã “ban bình an” cho các môn đệ của Ngài sau khi sống lại (x. Ga 20, 19; Lc 24,37). 

Vâng, con thuyền chòng chành tưởng như sắp chìm vì bị sóng đánh và ngược gió là thuyền đời của mỗi người và là thuyền Giáo Hội. Như thánh Phaolô đã chia sẻ: “Có Đức Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối, và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng rằng: lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi” (Rm 9,1-2), chúng ta cũng đau khổ, ưu phiền như ngài, và  Giáo Hội cũng không ngừng bị thử thách đủ cách, đủ mức độ. Nhưng có Thiên Chúa là Đấng không bao giờ làm sợ, nhưng luôn có mặt chở che, bênh đỡ, ban bình an như Ngài đã từng can thiệp trong đời sống cá nhân và đời sống Giáo Hội, chúng ta có đủ lý chứng và nền tảng để tin vào Lời Hứa của Đức Giêsu, Thiên Chúa: “Thầy đây, đừng sợ !” (Mt 14,27) vì “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Jorathe Nắng Tím  


Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020

MẶC CẢM OEDIPE


Vấn đề tính dục ở em bé là đề tài được bàn đến nhiều từ sau nghiên cứu của Sigmund Freud, nhà phân tâm học người Đức. Sigmund Freud cho rằng ngay từ 4 tuổi, em bé đã biểu lộ một cách vô thức khả năng tính dục của mình và ông cắt nghiã khả năng này qua “mặc cảm Oedipe” lấy từ truyện thần thoại hy lạp của Sophocle. 
Câu chuyện như sau: Oedipe là một cậu bé bị cha mẹ bỏ từ lúc mới sinh. Người ta tiên đoán cậu là người chuyên gieo bất hạnh và sẽ giết cha để cưới mẹ mình. Lớn lên, Oedipe bỏ gia đình cha mẹ nuôi và trên đường, Oedipe gặp  người đàn ông tên Jocaste và giết người này. Oedipe không biết người đàn ông này là cha ruột mình.  Sau đó, Oedipe lấy mẹ ruột làm vợ mà cũng không hay biết. Đến khi biết rõ sự thật, Oedipe đã tự đâm mù hai mắt.
Câu chuyện thần thoại trên được Sigmund Freud cắt nghiã như hành động vô thức của con người trong tiến trình phát triển tính dục và đưa đến kết luận: bé gái  rất thích “quyến rũ” cha, không thích mẹ và ngược lại, bé trai  luôn “phải lòng” mẹ , ghét cha.  
Theo lý thuyết này: một cách vô thức, em bé ngay từ 4 tuổi đã biểu lộ khuynh hướng tính dục đối với chính cha mẹ mình: con trai thì thương mẹ, ghét cha,; con gái thương cha, không thích mẹ. Quan sát bé gái thích được ba chiều và thích hôn miệng ba; cũng như bé trai thích sờ vú mẹ và mong được mẹ  âu yếm, nhiều nhà phân tâm cho rằng: tính dục phát triển rất sớm nơi em bé và ảnh hưởng toàn bộ nhân cách của em sau này.
Nhiều người ủng hộ những phân tích của Sigmund Freud. Một khi ủng hộ, người ta sẽ đồng ý với ông về sự có mặt cùng một lúc của hai tình cảm đối nghịch: thương yêu và hận thù  nơi đứa bé đối với cha, mẹ mình. Nhưng cũng có nhiều người không hoàn toàn đồng ý với những phân tích của ông và cho đó là giải thích gượng ép về sự hình thành tính dục nơi em bé. Với những người không đồng ý với ông, sự gắn bó đặc biệt và những cử chỉ mang tính cách “tính dục ” nơi bé gái đối với cha, và bé trai đối với mẹ là do tính tò mò, muốn khám phá giới tính nơi người khác phái. Cũng như thái độ căng thẳng, không thiện cảm  của bé gái đối với mẹ, hoặc của bé trai đối với ba có thể đã do một bất công nào đó do cha hoặc mẹ đã gây ra. Chủ trương này còn cho rằng:  sở dĩ có những thái độ trái chiều là vì em bé đang cần hình thành trong em những  khuôn mẫu lý tưởng của nam  và nữ.
Dù đồng ý hay không đồng ý, dù thiên về Sigmund Freud hay đả phá ông, cha mẹ vẫn có thể chính mình quan sát diễn tiến của quá trình hình thành khả năng tính dục nơi con mình. Ở những nước phương tây, cha mẹ đặc biệt quan tâm đến phương diện tính dục của con cái và nhất trí những phương án hướng dẫn rất thực tế, thức thời:
a.   Không chọc quê hay trách móc bé, nếu bé có những cử chỉ quyến rũ  và  quá tình tứ với cha, hoặc mẹ; nhưng cắt nghiã cho bé biết: tình yêu giữa cha và mẹ không giống như tình yêu giữa cha mẹ và bé. Mỗi người có chỗ đứng của mình trong gia đình.
b.   Cắt nghiã cho bé sự khác biệt giới tính và cho bé biết: cha mẹ rất hãnh diện vì bé và tin chắc bé sẽ có người yêu sau này như ba có mẹ, như mẹ có ba.
c.    Tuyệt đối không la rầy, giận dỗi bé nếu bé không tỏ ra quấn quýt mẹ mà chỉ theo sát ba trong trường hợp bé là nữ, hoặc ngược lại nếu bé là nam.   
Để giúp em bé  trong  việc phát triển tính dục, cha mẹ cần  bén nhậy để nhận ra những biến đổi tính dục nơi con và kịp thời hướng dẫn. Những cử chỉ mang tính “tình dục” tuy vô thức, nhưng ảnh hưởng nhiều trên nhân cách và đời sống tính dục của em, nhất là khi em bước vào tuổi dậy thì. Những thói quen không được hướng dẫn ở tuổi thơ sẽ tạo thành những nếp “ phản ứng tình cảm” hằn sâu trong tiềm thức tạo nên những chấn động tâm lý bất bình thường sau này khi em bé ra khỏi tuổi thơ, bước vào tuổi niên thiếu. Có thể Sigmund Freud đã phần nào cường điệu ảnh hưởng của vô thức tính dục nơi em bé, nhưng ông đã có công phân tích và đem ra ánh sáng hiện tượng  tính dục ở tuổi thơ, một vấn đề mà đến bây giờ nhiều người vẫn  cho là  cấm kỵ, không nên bàn tới.
Nghề làm cha mẹ đòi biết tiên liệu: tiên liệu mọi rủi ro có thể xẩy ra trên đường con đi, tiên liệu mọi khó khăn, nguy hiểm đang chờ chân con bước tới. Tính dục cũng nằm trong danh sách những rủi ro, khó khăn, nguy hiểm đó. Và để tiên liệu đúng, không gì hay hơn là nhận diện chính xác vấn đề, những vấn đề có thể phát sinh rất sớm trong đời sống của con cái, như mặc cảm Oedipe trong tiến trình phát triển của tính dục.
Ước mong các cha mẹ ý thức vai trò quan trọng của tính dục trong hạnh phúc của con cái và hướng dẫn con cái một cách khôn ngoan để gia đình nào cũng là một gia đình hạnh phúc với cha mẹ và những đứa con hạnh phúc.