Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Hãy RA KHƠI



Hãy RA KHƠI 
Giữa dòng đời, bên dòng người, trên dòng sinh mệnh, có người gọi anh chị và tôi “Hãy Ra Khơi”!
Người ấy tên Giêsu, quê Nadarét.
Gọi chúng ta Ra Khơi, Ngài mời chúng ta đi theo Ngài, ở với Ngài, vì không bao giờ Ngài bỏ chúng ta Ra Khơi một mình, mà thiếu Ngài trên thuyền.
RA KHƠI với Đức Giêsu trước hết là RA KHỎI những gì mình gắn bó, ham muốn, thèm thuồng, tìm kiếm :  Cái Tôi danh- lợi- thú. Ra Khơi như thế là ra khỏi mình, ra khỏi đời mình, ra khỏi không gian tù túng của mình, ra khỏi nhà mình, ra khỏi khu xóm mình, ra khỏi những thành kiến, định kiến, thiên kiến của mình, nhất là ra khỏi pháo đài ích kỷ, trục lợi, hưởng thụ của mình để đến với người khác.
Ra Khơi với Đức Giêsu còn là ra khỏi vũng lầy kiêu căng, hố sâu tự mãn, hang động giả hình để thả đời mình nhẹ trôi trong đại dương Lòng Thương Xót.
RA KHƠI  với  Đức Giêsu là RA XA tận chân trời góc biển, ra xa đến vùng ngoại biên tít tắp, không bờ bến, ở đó chỉ có thể  tìm “an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu”[1], bởi ở vùng xa nước độc, hoang sơ, mọi rợ này, sẽ chẳng có ai hiểu được mình để có thể yêu mến, ủi an.
RA KHƠI với Đức Giêsu là RA SÂU tận thăm thẳm hiểm nguy, đe dọa, ở đó chỉ còn một mầu đen rùng rợn của nước và cơn giận khủng khiếp của sóng dữ bạc đầu.
RA KHƠI với  Đức Giêsu là RA ĐI đến một nơi không biết trước, nên không chuẩn bị, định hình, tính toán được gì. Ra đi như thế không khác gì “đường đi không đến”, bởi nào có biết sẽ đi đâu, ngoài đi theo một Con Người.
Như thế, Ra Khơi không dễ chút nào, vì phải từ bỏ rất nhiều; không hấp dẫn chút nào, vì phải thiệt thòi không ít; không ngon lành chút nào, vì thường phải ngậm đắng nuốt cay, nên Ra Khơi đòi nhiều hy sinh, đòi hy sinh nhiều. Nhưng đứng trước hy sinh quên mình, hy sinh bỏ mình, hy sinh mất mình, hy sinh thiệt mạng,  là người, hỏi ai không run sợ?
Không sợ sao được khi phải bỏ quên địa vị, danh dự, uy tín để  Ra Khơi làm đầy tớ, nô bộc cho anh em mình, vì  “Tôi đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mt 20,28). Không sợ sao được khi phải từ bỏ quyền lực, thế lực, uy lực, kể cả vũ lực để Ra Khơi “vâng phục và vâng phục cho đến chết” (Pl 2, 8). Không sợ sao được khi phải tự đánh mất mình, tự thí mạng sống mình để Ra Khơi cho người khác “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).Không sợ sao được khi phải giã từ tháng ngày ăn chơi, buông thả để lặng lẽ, bé nhỏ Ra Khơi “vác thánh giá mình” và thánh giá  người khác.
Vì thế, mời gọi chúng ta Ra Khơi, Đức Giêsu cũng kêu gọi chúng ta “Đừng Sợ”, bởi Ngài biết tất cả chúng ta đều sợ hy sinh, đều do dự, ngao ngán, run rẩy trước mất mát, thiệt thòi. Và để chúng ta đừng sợ, Ngài luôn có mặt trên con thuyền Ra Khơi và khẳng định : “Thầy đây, chúng con đừng sợ!” (Mt 14, 27), và “Thầy ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Ra Khơi như thế chính là cuộc Vượt Qua không ngơi nghỉ: vượt qua cái tôi khép kín, ích kỷ để đến với tha nhân; vượt qua ganh ghét, hận thù để tìm về yêu thương, tha thứ; vượt qua cuộc sống vô thường, tạm bợ, hữu hạn, để vào đời sống vĩnh hằng, vô hạn; vượt qua tội lỗi đến với ân sủng; vượt qua đất nô lệ đi vào đất Thiên Chúa hứa; vượt qua tự nhiên  đến với siêu nhiên; vượt qua thế giới hữu hình đến với thế giới vô hình; và đích điểm của cuộc Vượt Qua - Ra Khơi là được gặp chính Thiên Chúa, Hạnh Phúc của mọi hạnh phúc, Nguồn Vui của mọi niềm vui, Nguồn Sống của mọi sự sống.
Qủa thực, Ra Khơi vất vả và nguy hiểm, vì đòi Ra Khỏi, Ra Xa, Ra Sâu, Ra Đi, và đòi Vượt Qua không ngơi nghỉ, không sợ hãi. Nhưng lạ lùng thay! Không ít người đã theo Đức Giêsu  ra  khơi, vì “Ngài nhẹ như giọt sương đem yêu thương đến với trần đời, và ngọt như nắng mới gieo thắm tươi lên từng ngày tháng”[2]; không ít con tim đã căng buồm ra khơi với Đức Giêsu, vì “Ngài đẹp như mùa xuân trời hồng ân ngát xanh tuyệt vời, toả ngàn nơi sắc hương tràn đầy”[3]; không ít bàn chân đã mạo hiểm ra khơi với Đức Giêsu, vì “Ngài về trao niềm vui cho đôi môi tiếng hát rộn ràng, buông ánh sáng xóa tan đêm dài mờ tối”[4]; không ít cuộc đời đã liều lĩnh bồng bềnh ra khơi với Đức Giêsu, vì “Ngài là biển khơi chẳng cạn vơi xót thương mặn nồng”[5]. Và như không ít những người đã theo Đức Giêsu ra khơi, chúng ta cũng có đủ lý do để lên đường ra khơi với Ngài.Vấn đề là chúng ta có nhận ra mênh mông của tình Ngài qua bao la của đại dương, khôn lường của ơn Ngài qua thăm thẳm của đáy sâu biển cả, tuyệt đối của lòng Ngài xót thương qua tít tắp cao vời của trời xanh khôn ví ? 
Vâng, chính Đức Giêsu đã mời gọi chúng ta Ra Khơi với Ngài, như đã kêu gọi các tông đồ bên biển hồ Galilê năm xưa :  “Hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người” (Mt 4, 19), “Hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới” (Lc 5,4), “Hãy cùng Tôi qua bờ bên kia” (Mc 4,35), Hãy cùng tôi căng buồm Ra Khơi.
Được Đức Giêsu kêu gọi Ra Khơi với Ngài, anh chị và tôi sẽ bỏ mọi sự mà theo Ngài như Simôn, Anrê, Giacôbê và Gioan (Mt 4, 18-22; Lc 5,11) hay sẽ ngần ngại, do dự, xin phép về suy nghĩ, hoặc “buồn rầu bỏ đi”, như người thanh niên giầu có, nhiều của cải trong Tin Mừng ( x. Mt 19,16-22)? 
 Jorathe Nắng Tím


[1] KINH HÒA BÌNH, Thánh Phanxicô Assisi
[2] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu
[3] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu
[4] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu
[5] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

MARIA, MẸ ĐẦY ƠN PHÚC !


Vâng từ nay muôn đời sẽ khen Mẹ là người đầy ơn phúc, như Mẹ đã khiêm tốn đón nhận diễm phúc này trong kinh Magnificat của Mẹ ngày nào : 
   “ Linh hồn con ngợi khen Chúa, và lòng trí con vui mừng trong Chúa , Đấng Cứu Độ con. Vì Chúa đã thương đến phận thấp hèn tôi tớ Chúa. Vì vậy từ nay muôn đời sẽ khen con diễm phúc”.
1. Mẹ diễm phúc vì Mẹ được Thiên Chúa sủng ái yêu thương.
Thiên Chúa yêu thương mới làm cho Mẹ trở thành người nữ đầy ơn phúc hơn hết mọi phụ nữ. Thiên Chúa thương Mẹ không phải vì Mẹ có sắc đẹp  “chim sa cá lặn”, nhưng thương Mẹ vì Mẹ hiền lành, nhu mì, khiêm tốn, và luôn nhận mình là phận nữ tỳ hèn mọn. Mẹ không kiêu ngạo như Luciphe muốn bằng Thiên Chúa, cũng không tà lanh, muốn biết mọi sự Thiên Chúa biết như Evà, càng không lấn lướt, loi choi tìm kiếm quyền cao chức trọng,  hay gian xảo, chua ngoa đấu đá tranh giành chỗ đứng, chỗ ngồi. Mẹ hiền nên được Chúa thương, Mẹ khiêm nhường, nên Chúa yêu mẹ, vì Thiên Chúa chỉ yêu thương được những ai khiêm tốn, hiền lành và chống lại kẻ kiêu căng, hung dữ.
Tuy Mẹ hiền, nhưng không ù lì ; khiêm tốn  nhưng không căng thẳng, trầm trọng, khó gần. Khác với họ, Mẹ hiền nhưng Mẹ vui ;  khiêm tốn nhưng lạc quan, tràn đầy hy vọng. Bằng chứng là ngay lời kinh khởi sự, Mẹ đã  khấp khởi vui mừng, hớn hở hoan ca, tưng bừng trào dâng cảm xúc (Lc 1,46-48).
Mẹ vui mừng khôn tả, vì tâm hồn Mẹ tràn đầy hạnh phúc, nguồn hạnh phúc đặc biệt không dành cho kẻ kiêu căng, ngạo mạn coi thường Thiên Chúa và vô ơn với Ngài, nhưng chỉ dành cho những ai bé nhỏ, nhận ra Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ họ ; chỉ tràn ngập những con tim hèn mọn, thiếu thốn luôn trông cậy vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Đấng Cứu Độ giầu lòng xót thương. 
Mẹ vui mừng khôn xiết, vì nhận ra Thiên Chúa luôn đoái thương những kẻ cô thân, yếu thế, nghèo khó, tội lụy, và nhận mình là nữ tỳ hèn mọn, đứng trong hàng ngũ những kẻ bé mọn, Mẹ đã khấp khởi hát to : “Đấng Toàn Năng đã làm cho con biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh chí tôn”!. Danh Chúa chí thánh vì Người là Đấng giầu lòng xót thương luôn thương xót những thân phận yếu duối, hèn mọn. Thiên Chúa thật là Đấng Chí Tôn, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, “chậm bất bình và rất đỗi khoan dung” (Lc 1,48-49).
Mẹ vui sướng, hân hoan, vì nhận ra Thiên Chúa luôn bênh vực, nâng đỡ những ai kính sợ Ngài và đường lối muôn đời không thay đổi của Ngài vẫn mãi : “giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng ; hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiê nhường. Kẻ đói khó, Chúa ban của đầy dư, người giầu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1, 50-53). 
Qủa thực, “Mẹ là người nữ có phúc lạ hơn mọi người nữ”, vì hơn tất cả mọi người, Mẹ đã nhận ra chân lý rất quan trọng ngay  ngaỳ Truyền Tin , đó là Thiên Chúa luôn yêu thương kẻ hiền lành, khiêm tốn, và tất cả những ai muốn thuộc về Ngài, được Ngài yêu thương đều phải khiêm tốn, hiền lành, như Đức Giêsu, Con Mẹ sẽ dậy các môn đệ và những ai muốn đi theo : “Anh em hãy hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng”.
2. Mẹ diễm phúc vì Mẹ tin vào Lời Thiên Chúa hứa :
 Tin khó, vì tin là tin vào một điều gì đó chỉ xẩy ra ở tương lai, tin vào một người mình chưa thấy, chưa tự tay sờ được. Nói cách khác, không ai cần tin một người, một việc, một sự kiện họ đã thấy, đã nghe, đã sờ mó, cảm nhận được, nên tin là tin vào Lời Hứa, và Lời hứa sẽ chỉ thực hiện ở  ngày mai, ở tương lai xa hay gần. Vì thế, Đức Tin luôn đi với Lời Hứa, Lời Thiên Chúa hứa.
   Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

III. VÌ YÊU, THIÊN CHÚA TỰ NGUYỆN TRỞ NÊN CON NGƯỜI YẾU ĐUỐI

Không ai bắt Thiên Chúa phải mang lấy yếu đuối của con người, và vinh quang Thiên Chúa của Ngài cũng chẳng đòi điều kiện phải yếu đuối, nhưng là Thiên Chúa Tình yêu, Ngài muốn yêu con người một cách khác con người yêu, với một tình yêu tuyệt đối, tận cùng, đến cùng ; nghiã là trở nên như người mình yêu. Trở nên như người mình yêu là tột đỉnh  của tình yêu, khi hai người muốn giống nhau trong mọi sự. Kinh nghiệm yêu cho chúng ta biết : yêu ai, chúng ta thần tượng họ và muốn trở nên giống họ từ ý nghĩ, ước mơ, thao thức đến nếp sống, hành động. Yêu ai, ta học ở họ từ dáng đi, dáng đứng đến lời nói, việc làm, vì tình yêu thôi thúc hai người trở nên một.

Thiên Chúa trong Đức Giêsu là Thiên Chúa muốn nên giống con người để không tình nào ở con người vượt được tình Thiên Chúa, không sáng kiến yêu thương nào tuyệt chiêu hơn sáng kiến của trái tim Thiên Chúa, không hành động yêu thương nào ở con người tuyệt vời hơn những dấn thân liều lĩnh vì yêu con người của Thiên Chúa, không mức độ tình yêu nhân loại nào sâu thẳm, cao vời hơn "bao la, vời vợi, khôn ví" của tình Thiên Chúa dành cho con người.

 Nên giống con người vì yêu con người, Thiên Chúa đã chấp nhận trở nên giống con người ngay  trong yếu đuối của con người, để con người được cứu độ từ trong yếu đuối. Đó là lý do Thiên Chúa đã vui lòng mang hết yếu đuối của con người để không còn gì khác với con người, đã tự nguyện ôm trọn yếu đuối của con người để con người không còn có thể "làm mặt lạ" với Thiên Chúa, và Thiên Chúa sẽ không còn xa xôi với con người. Trái lại, trở nên con người yếu đuối như hết mọi con người yếu đuối, Đức Giêsu Thiên Chúa đã tự đồng hoá mình với những con người yếu đuối, yếu nhược, yếu thế, yều hèn  nhất.  Ở trong chính yếu đuối của con người từ sinh ra cho đến chết, Đức Giêsu đã là người yếu đuối nhất trong các con cái yếu đuối của loài người.

Chấp nhận làm con người "yếu đuối" như em bé chẳng tự mình làm được gì, "yếu thế" đến nỗi chẳng bảo vệ được mình trước chiến dịch bôi nhọ  của đám Biệt Phái, Luật Sĩ giả hình, "yếu sức"  nên đành để môn đệ Giuđa đem bán, "yếu cơ" đến độ không giữ nổi mười hai môn đệ thân tín, để tất cả, trừ Gioan hớt hải, sợ hãi trốn chạy, bỏ rơi khi lâm nạn, "yếu kém" kinh tế đến độ "không có chỗ gối đầu" sau những ngày nắng cháy, dong duổi truyền giáo, "yếu xìu" đến độ không một lời biện hộ trước toà án, "yếu gan" nên chẳng dám xuống khỏi thập tự trước thách thức của đám đông "Nếu là Con Thiên Chúa hãy tự cứu mình,  xuống khỏi thập giá đi" (Mc 15,29-30),  "yếu nhược" đến độ chỉ còn đủ sức thều thào "Lậy Cha, sao Cha bỏ con?" ở giờ hấp hối (Mc 15,34).

Như thế, Thiên Chúa của người theo Đức Giêsu không là thiên chúa  của các tôn giáo khác, bởi không thiên chúa nào đã yếu đuối, đã làm người yếu đuối, đã chấp nhận sống cảnh đời yếu đuối, đã chịu nhận thân phận yếu đuối, ngoài Thiên Chúa của Đức Giêsu. Tôn giáo nào cũng có thiên chúa của mình, và các thiên chúa ấy đều giống nhau ở các đặc tính tòan năng, dũng mạnh, nghiêm khắc, oai nghiêm, thưởng phạt. Tôn giáo nào cũng tránh cho thiên chúa của mình những yếu đuối, sai sót, khiếm khuyết của con người bằng cách tách xa con người khỏi thiên chúa. Vì thế, các thiên chúa đó thường ở tít trên cao, rất xa con người, ngự ở một nơi con người không thể biết và không thể đến gần. Các thiên chúa ấy tự tạo một khoảng cách diệu vợi với con người và không chủ trương thiết lập tương quan thân tình, nghiã thiết với con người như Thiên Chúa của Đức Giêsu.  
        
1.       Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa có tấm lòng người mẹ
Yêu con người nên Thiên Chúa không muốn là một Thiên Chúa vô cảm, bất động trong toàn năng lạnh lùng, vô tình của mình ; không muốn là Thiên Chúa tự đủ cho mình, và không cần con người để chia sẻ, trao ban; không muốn là Thiên Chúa đơn độc : không cần ai, không cần gì ; không muốn là một Thiên Chúa ích kỷ, độc ác, cứng cỏi, nhưng là một Thiên Chúa hay chạnh lòng, luôn khắc khoải, chậm bất bình, rất khoan dung với con cái loài người, là thụ tạo tuyệt vời được đựng nên từ tình yêu tuyệt đối, đời đời ; một Thiên Chúa đã đành lòng mất hết quyền toàn trị, quyền thanh tra toàn phần, quyền kiểm soát toàn thể của mình khi dựng nên những con người tự do giống mình, vì yêu thương. Đó là lý do, con người luôn có khả thể trả lời : đồng ý hay không đồng ý, thuận hay nghịch, trung thành hay phản bội, đi theo hay từ bỏ trước lời mời của Thiên Chúa. Chính món quà tự do nhận từ tay Thiên Chúa là biểu trưng của tình Thiên Chúa bao la, cũng như lòng trân trọng của Thiên Chúa dành riêng cho con người. Thiên Chúa đến với con người và chờ đợi con người đón nhận Ngài như người mẹ yêu thương, chứ không là quan toà nghiêm khắc ; một người mẹ hiền, hơn tên phù thủy "toàn năng", và một Thiên Chúa thương con người vô cùng và đến cùng.

2. Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa đã qùy trước mặt con người, là thụ tạo của Ngài.
Người ta chỉ qùy trước mặt người sinh ra mình, hoặc người cứu sống mình, vì qùy trước mặt ai là muốn biểu lộ lòng trân trọng, yêu mến tột cùng sâu thẳm, đầy tràn. Vì thế, khi Đức Giêsu qùy rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,4-9), chúng ta gặp được về phiá con người giá trị cao cả của con người, và về phiá Thiên Chúa là lòng trân trọng, yêu mến của Ngài dành cho con người. Thiên Chúa yêu con người, nên chẳng ngại qùy rửa chân con người. Tình yêu mạnh hơn sự chết, mà Thiên Chúa đã dám chấp nhận chết vì yêu, nên thấm tháp gì chuyện qùy xuống rửa chân, lau chân, hôn chân con người Ngài yêu.
Phêrô bị sốc khi đến lượt ông. Đó là cái sốc của con người trước mầu nhiệm sâu thẳm của tình Thiên Chúa thương con người. Chỉ suy nghĩ một mầu nhiệm  Thiên Chúa qùy rửa chân con người thôi, chúng ta đã đủ run rẩy sấp mình thờ lậy tình yêu vô cùng của Thiên Chúa thương mỗi người chúng ta. 

3. Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa hiến chính mạng sống mình để con người được sống :
Yêu ai là muốn người ấy sống, sống dồi dào, sống hạnh phúc, sống mãi. Không ai nguyền rủa "chết đi cho rồi" người mình đang tha thiết yêu. Chỉ kẻ thù mới nguyền rủa  và tìm cách tiêu diệt. Bạn hữu, người yêu, gia đình, ai cũng mong người thuộc về mình sống lâu, sống mãi.

Con người phải chết, do hậu qủa của tội lỗi. Cái chết thân xác cũng là cái chết linh hồn, nếu Đức Giêsu không chết thay để chuộc cái tội "đời đời phải chết". Nếu Đức Giêsu không chết để xoá cái án chết đời đời của con người tội lỗi, thì không ai sẽ được ơn cứu độ, tức được sự sống đời đời.

Chúng ta nghe nhiều về chuyện "chuộc tội", nhưng không chắc chúng ta hiểu được sự nặng nề của tội lỗi và kinh khủng của án chết đời đời dành cho người có tội. Người có tội, tức tất cả chúng ta, sẽ không được sống hạnh phúc đời đời trong Nước Trời, sau khi chết ; nếu tội của chúng ta không được tẩy sạch trong máu của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Lý do rất dễ hiểu : vì tội chúng ta trực tiếp xúc phạm Thiên Chúa, trực tiếp làm tổn thương Thiên Chúa, trực tiếp chống lại Thiên Chúa, do ý chí bị băng hoại, tự do bị mua chuộc, nên chỉ có máu của Thiên Chúa mới rửa sạch được, nước mắt của Thiên Chúa mời thanh tẩy được, mồ hôi của Thiên Chúa mới tẩy xoá được. Công cuộc cứu độ của Đức Giêsu vì thế cần thiết, do công bình của Thiên Chúa đòi hỏi, bởi tình yêu đời đời của Thiên Chúa thúc bách, và vì con người mãi mãi là thụ tạo được Thiên Chúa đặc biệt dấu yêu. 
           
Qua cái chết của Đức Giêsu Thiên Chúa làm người, loài người được thanh tẩy, tội nhân là con người được cứu sống, ơn cứu độ đổ tràn trề trên toàn thể con cái loài người. Vấn đề còn lại là con người cũng vẫn với tự do của mình có sẵn sàng  đến kín múc, lãnh nhận hồng ân cứu độ hay không ?

4.Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa ngàn đời trung tín :
Trung tín của Thiên Chúa Tình Yêu không chỉ là trung tín với "người yêu" tín trung, nhưng còn trung tín cả với "người yêu" không trung thành, nhưng bội bạc.

Tiên tri Hôsê là hình ảnh sống động của Thiên Chúa yêu thương dân Ngài là Gomer, vợ ông. Gomer bất trung, ngoại tình, phản bội, nhưng  Hôsê vẫn yêu thương, đi tìm  Gomer về nhà theo lệnh của Thiên Chúa : "Thiên Chúa phán với tôi : Một lần nữa, ngươi hãy cứ đi yêu người vợ đang có tình nhân, và đang ngoại tình, cũng như Thiên Chúa yêu thương Ítraen, trong khi chúng quay lưng đi thờ các thần khác..". Thế là tôi đã bỏ ra mười lăm đồng bạc, ba mươi thùng luá mạch để mua nàng về. Tôi bảo nàng : "Trong một thời gian dài, mình cứ ở yên cho tôi, không được đi khách, cũng không được theo người đàn ông nào khác, phần tôi, tôi cũng xử với nàng như vậy" (Hs 3, 1-3).

Thiên Chúa thương con người, dù con người vô tình, hờ hững, ngay cả con người phản bội , bất trung, Ngài vẫn một lòng xót thương và thấp thỏm đợi con người trở về. Tình Thiên Chúa là tình đơn phương, tình mù loà, không tính toán, một thứ tình mầu nhiệm mà loài người không thể hiểu. Vì yêu Gomer, Hôsê đã năn nỉ Gomer trở về, và hứa hẹn sẽ cùng nàng đến một nơi vắng vẻ chỉ có hai người để âu yếm, tâm sự (Hs 2,6). Thiên Chúa cũng sẵn sàng qùy xuống nài xin con người trở về với Ngài là Tình Yêu cứu độ, cũng vì lòng xót thương con người vô bờ bến.

Trước tình yêu vô điều kiện, kiên nhẫn đợi chờ và trung tín đến cùng của Thiên Chúa, nhiều người  trong chúng ta tỏ thái độ bực bội, khó chịu như các môn đệ đã càm ràm khi thấy Đức Giêsu tâm sự lâu giờ với người đàn bà Samaria ngoại giáo bên giếng Giacóp (Ga 4,7-27), hay như những vị khách  cùng bàn với Đức Giêsu tại nhà ông Simon đã nhíu  mày, nhăn mặt khi Đức Giêsu để người phụ nữ mang tiếng lăng loàn rửa chân bằng dầu thơm, lấy tóc lau và tha thiết hôn chân Ngài (Mt 26,6-13).  Như các môn đệ và những khách được mời, chúng ta khó chịu vì tình yêu của Thiên Chúa không hợp với suy nghĩ của ta, không đi theo quy trình luận lý của ta, không đáp ứng điều ta mong đợi, mà điều ta mong đợi, quy trình ta muốn, ý nghĩ ta chuẩn định là yêu thế nào cho dễ coi, yêu vừa vừa thôi,  yêu có giới hạn, yêu dè chừng, yêu thận trọng, yêu người  thương ta, yêu kẻ biết điều, yêu người  ta có thể nhờ cậy được sau này … Chẳng thế mà người con lớn đã giận dỗi không vào nhà để chung vui với cha khi em mình trở về sau nhiều năm tháng bỏ nhà đi hoang. Anh lớn không chấp nhận tình yêu hải hà, không biên giới của cha khi cha tha thứ tất cả lầm lỗi của cậu em hoang đàng, trả lại tất cả vinh dự, quyền lợi làm con cho em. Anh lớn phần vì ghen tương do trái tim ích kỷ, nhỏ hẹp, phần vì không hiểu tình cha bao la, vĩ đại thế nào (Lc 15, 25-32).

Khi trách móc Thiên Chúa qúa dễ dãi, chiều chuộng người tội lỗi trở về, chúng ta  đang tự nhận mình là những người xứng đáng, đạo đức, vượt xa người khác trên đường thánh thiện, nhưng ta nên tự hỏi :  Thiên Chúa có cần những người thánh thiện, đạo đức thiếu lòng quảng đại, bao dung như chúng ta không ? Khi bực bội, cau mày, trợn mắt nhìn người tội lỗi được Chúa xót thương cứu vớt ở giờ chót, chúng ta đang đóng cửa thiên đàng cho chính chúng ta, vì làm sao biết trước được ở giờ phút thử thách kinh hoàng khi sắp lià đời ấy, chúng ta còn đứng vững?  

Tóm lại, sự trung tín đến cùng của Tình Yêu Thiên Chúa không chỉ mang ý  nghiã :  Thiên Chúa ở đó đợi chờ, mà Thiên Chúa còn hối hả lên đường đi tìm kiếm, như người mục tử đầy lòng xót thương bỏ cả đàn chiên chín mươi chín con ở lại để đi tìm một con chiên yếu đuối lạc đàn (Lc 15,4-7).

5. Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa bé nhỏ trong Tình yêu :
Mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa là sự bé nhỏ trong tình yêu. Thiên Chúa có thể yêu con người một cách lớn lao, hoành tráng, huy hoàng, vĩ đại, nhưng không hiểu tại sao Thiên Chúa lại chọn những bé nhỏ để tỏ tình với con người, dùng những hoàn cảnh ẩn dật, nghèo khó để gần con người, chọn những tình huống éo le, khó khăn để cứu con người. Ngài là Thiên Chúa toàn năng, nhưng đã chọn hình hài bé thơ bất lực ; Ngài là Thiên Chúa uy hùng, nhưng đã đơn sơ ngồi bệt xuống đất lấy ngón tay vẽ nguyệch ngoạc  cốt để khỏi phải nhìn, phải nói với người đàn bà ngoại tình đang run rẩy, sợ hãi, tủi nhục, và đang gập mình lẩn tránh cái nhìn, và tiếng nói của đám đông có mặt ; Ngài là Thiên Chúa có quyền xét xử, nhưng đã chỉ tế nhị  nhắn nhủ duy nhất một câu : "Thầy không ném đá con đâu. Thôi  con về bình an, và đừng phạm tội nữa" với tội nhân xứng đáng hình phạt ném đá đến chết (Ga 8, 2-11).

Đức Giêsu Thiên Chúa suốt cuộc đời dương thế đã chỉ mặc khải một Thiên Chúa là tình yêu, rất bé nhỏ trong tình yêu, rất kín đáo, tế nhị trong tình yêu, rất khiêm tốn, nhẹ nhàng, mộc mạc trong tình yêu ; một Thiên Chúa không chút hoành tráng, kiêu sa, ngông nghênh, kiêu hãnh ; một Thiên Chúa với danh hiệu "Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội nhân loại", của lễ chuộc tội đời, máu thịt làm lương thực nuôi dân.

Vì thế, nếu đi tìm ở Đức Giêsu một thiên chúa  oai phong, uy dũng, dữ dằn, nghiêm nghị  thì  chúng ta trăm phần trăm sẽ vỡ mộng, vì không đúng điạ chỉ hộ khẩu của Thiên Chúa mà Đức Giêsu giới thiệu ; nếu tìm một thiên chúa quan toà nóng nẩy, "bắt lầm hơn để sót", xử trước tính sau thì qủa thực, chúng ta sẽ thất vọng vì Đức Giêsu không mặc khải một thiên chúa như vậy.

Thiên Chúa của Đức Giêsu, nói cách khác chính Đức Giêsu là Thiên Chúa rất khiêm nhường, bé nhỏ, "Ngài đến trên lưng lừa con, hiền lành và khiêm nhường"(Mt 21,5) ; "Đức Giêsu Kitô  vốn  dĩ là Thiên Chúa mà không nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Pl 2,6-8).

Thánh Phaolô đã như xuất thần trước mầu nhiệm yếu đuối của Đức Giêsu khi viết những giòng trên cho giáo đòan Philipphê. Ngài đã không sợ làm sốc những tín hữu đầu tiên khi trình bầy một Thiên Chúa tự nguyện trở nên nô lệ, nên tội nhân chịu  đóng đinh trên thập tự.  Nhập Thể trong tiếng Hy Lạp là « ékénôsen », nghiã là tự cởi bỏ, tự hạ thấp, tự làm trống rỗng. Đây chính là  ý nghiã đích thực của mầu nhiệm Thiên Chúa làm người,  mầu nhiệm Thiên Chúa tự  trút bỏ mọi vinh quang của Thiên Chúa, tự tháo cởi mọi hào quang thiên đàng, để được mất hút trong con người là thụ tạo của mình. Là Thiên Chúa, Đức Giêsu đã không giữ riêng cho mình bản thể Thiên Chúa, nhưng chan hoà bản thể đó cho con người, khi chấp nhận làm người "Homo factus est" trong cung lòng một người mẹ. Ngài cũng không giữ cho mình sự gì, nhưng xóa mình triệt để, bỏ mình hoàn toàn đến nỗi nhiều người đã mắc cở, hổ thẹn không dám nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa của mình.

Không dám nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa của mình là tâm trạng "tôn giáo" của số đông hôm nay trong đó có thể có chúng ta đã như Phêrô không chấp nhận Thầy và  Thiên Chúa của mình lên Giêrusalem để đi vào cuộc tử nạn (Mt 16,23), như Giuđa tiếp tay đối phương bắt Thầy (Mt 26,47), vì không thể tin Thiên Chúa mà phải thất bại, như hầu hết các môn đệ đã bỏ chạy khi Thầy bị bắt (Mt 26,56), vì không thể tin Thiên Chúa lại có thể bất lực trước bạo lực của con người, như người tử tội chịu đóng đinh bên trái đã lên tiếng ngạo mạn, khích bác, vì buồn cười trước một Thiên Chúa chịu đóng đinh như mình (Mt 27,43- 44), như những người đồng hương Nadarét đã chỉ nhận Đức Giêsu "là con ông Giuse và bà Maria" chứ không dám nghĩ Ngài là Thiên Chúa, như các luật sĩ, Biệt Phái và đám đông đã nhiệt liệt ủng hộ án tử hình Đức Giêsu, vì không còn thể chịu đựng  "tên phạm thượng Giêsu, con gã thợ mộc Giuse" cứ oang oang xưng mình là Con Thiên Chúa (Lc 4,22-24).

Khi rao giảng Tin Mừng, có mấy ai trong chúng ta dám nhấn mạnh sự yếu đuối của Thiên Chúa, trong khi Đức Giêsu yếu đuối thật ? Có mấy người thực tâm chân nhận sự yếu đuối của Thiên Chúa trong công cuộc cứu độ loài người, trong khi Đức Giêsu đã dùng Thánh Giá mà chuộc tội loài người ? 

Thực vậy,  đề cập đến sự yếu đuối của Thiên Chúa đến bây giờ vẫn là một điều cấm kỵ với một số không nhỏ người tín hữu,  vì qủa thực, "Thiên Chúa yếu đuối".  là điều khó chấp nhận đối với con người. Thế mà Đức Giêsu đã là Thiên Chúa yếu đuối đó.
Quý độc giả vui lòng đọc chương kế tiếp!   

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 19 - 20 - 21 TNB


               Suy Niệm  TIN MỪNG CHÚA NHẬT 19 -  20 - 21 Thường Niên Năm B : Gioan (6, 24-69)
       Từ Chúa Nhật 17  đến Chúa Nhật 21 thường niên, cộng đoàn phụng vụ nghe Tin Mừng Gioan chương 6 nói về phép lạ Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều và mặc khải chính Ngài là Bánh Hằng Sống nuôi muôn dân. Nghe điều này, đám đông đã tranh luận sôi nổi, bực bội, công khai chống đối Ngài, và ngay các môn đệ cũng cho là “chướng tai qúa”, nghe không vô (Ga 6,60) và trình thuật được kết thúc bằng việc Phêrô tuyên xưng đức tin giữa bầu khí và khung cảnh của đám đông nghi nan,  bất bình và không tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Bánh Bởi Trời.
        Như thế, trọng tâm của trình thuật bánh hằng sống của chương 6 Tin Mừng Gioan là Đức Giêsu  mặc khải về mình : “ Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ ”, nhưng không ai tin, như Ngài đã khẳng định : “Nhưng tôi bảo thật các ông: các ông đã thấy tôi mà không tin” (Ga 6, 34-35):

1.      Con người sợ đói :
     Nỗi lo lớn nhất và dai dẳng bám chặt kiếp người hơn cả là lo đói. Lo gì thì cũng có lúc, có thời, nhưng lo đói thì tuổi nào cũng phải lo, thời nào cũng phải sợ, hoàn cảnh nào cũng phải đặt lên hàng đầu, đẳng cấp, thứ bậc  nào cũng phải dành ưu tiên trên các ưu tiên. Có ai đã không cần ăn? Mấy ai được may mắn thoát khỏi nỗi lo đói ?Bạn đừng nghĩ  người giầu  không lo đói. Không có đâu.  Họ mới là người sợ đói. Vì sợ đói nên ngày đêm lo tích trữ của cải để cả đời được no. Trẻ già cũng chung một nỗi lo: người trẻ lo ăn để sống, người già lo ăn để khỏi chết đói, đến cả tử tội trước giờ thi hành án cũng  được ăn no, để khỏi chết thành ma đói.
      Lo ăn ám ảnh con người từng giây phút, vì đói là cực hình, và nhìn người mình yêu thương quằn qụai trong cơn đói còn cay đắng, xót xa ngàn lần hơn. Đói không chỉ làm khổ, mà còn làm nhục con người. Không học, không thành công, không sự nghiệp, không nhan sắc, không gia thế, không uy tín, không địa vị, tuy thua kém, thiệt thòi, nhưng không nhục nhã bằng không cơm ăn, không lương thực hằng ngày. Người đói thì bao giờ cũng đói rét, đói khát, đói rách, đói khổ, và có cái gì đáng sợ hơn trong đời người đã không đi kèm với đói ?
     Chính vì sợ đói, lo đói mà miếng ăn, của ăn trở nên nhu cầu thiết yếu số một. Người ta đã chẳng ví von : “có thực mới vực được đạo” đó sao ? Qủa thực, làm gì, theo ai, tính toán cơ đồ hoành tráng, huy hoàng, hứa hẹn đến đâu thì cũng phải có ăn. Không bảo đảm được miếng cơm thì chẳng có chuyện gì đáng nói; không đáp ứng được nhu cầu của bao tử thì đừng mơ bất cứ chuyện nhỏ to nào, vì bụng đói thì mờ con mắt; bụng đói thì không còn gì vĩ đại hơn, ý nghiã hơn, giá trị hơn, cao đẹp hơn nắm cơm, miếng bánh.
     Cũng chính vì sợ đói, lo đói mà ai cũng lo kiếm ăn, dự phòng của ăn cho tương lai, nên khi thiếu ăn, không có gì ăn, người ta cũng sẽ đủ liều để mánh mung, ăn cắp, cướp giật, chiếm đoạt lương thực của người khác.
    Hôm ấy Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều và mọi người được ăn no nê.  Ý nghĩ của đám đông hôm ấy là khỏi lo đói, lo ăn từ đây, vì như cha ông họ ngày xưa trong sa mạc trên đường về Đất Hứa đã được Thiên Chúa nuôi bằng man -na từ trời, nay có Đức Giêsu, họ nghĩ cũng sẽ được nuôi  bằng “bánh phép lạ” Ngài làm hằng ngày, nên xin với Đức Giêsu : “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy” (Ga 6, 34). Cũng chính vì nghĩ rằng đã nắm được nguồn lương thực rất an toàn là Đức Giêsu, Đấng sẽ làm phép lạ hoá bánh nuôi họ ăn mãi mãi, nên đám đông đã rơi vào tình trạng bực bội, chống đối, không tin.

2.      Đức Giêsu mời gọi mọi người tin ở Ngài:
“Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến”(Ga 6,29)

    Khi nghe Đức Giêsu tuyên bố : “Chính tôi là bánh trường sinh . Ai đến với tôi sẽ không hề phải đói”, đám đông đã vui mừng khôn tả, vì tưởng không còn phải lo kiếm ăn và chẳng bao giờ sợ đói. Nhưng tình hình ngày càng trở nên căng thẳng, khi Đức Giêsu đưa họ vào con đường đức tin, ở đó, những gì họ nghĩ đã không là những gì Đức Giêsu đề nghị.

   Tin vào Đức Giêsu là điều kiện tiên quyết để nhận được hồng ân Thiên Chúa hứa ban. Những người đang hy vọng được ăn no mãi mãi, và không bao giờ phải đói là những người  khao khát nhận được hồng ân không bao giờ phải đói nữa, như họ đã xin Đức Giêsu cho họ thứ bánh trường sinh Ngài vừa nói (Ga 6, 34), nhưng họ không thể tin Ngài là bánh  trường sinh ấy (Ga 6, 36), không muốn tin Ngài là Đấng từ trời xuống để làm theo ý Đấng đã sai Ngài là  quy tụ tất cả những ai tin ở  Ngài và cho họ sống muôn đời (Ga 6, 37- 40).

      Đám đông người Do Thái hôm ấy, tuy đã được ăn bánh no nê trước đó, đã không tin Đức Giêsu vì những điều Ngài nói rất khó nghe, khó hiểu, nếu không nói là vô lý, bất khả thi. Họ chỉ muốn Ngài thực hiện mãi một điều là cứ  làm phép lạ hoá bánh nuôi họ, bởi điều này không buộc họ phải tin, vì họ đã thấy có bánh hóa ra nhiều thật, nhiều đến nỗi còn dư  mười hai thúng đầy (Ga 6,13). Họ cũng chỉ nhìn thấy ở Đức Giêsu một con người bình thường, “ cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả “ (Ga 6, 42). Họ càng không hiểu và không  chấp nhận  mối liên hệ mật thiết giữa Đức Giêsu, con người mà họ cho là bình thường, con trai ông Giuse, quê ở Nadarét như mọi người bình thường khác, với Thiên Chúa của Ápraham, Isa-ác và Giacóp, tổ tiên họ. Vì thế mà lời Đức Giêsu qủa quyết: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy”( Ga 6, 44), và cũng chẳng có ai thấy Chúa Cha, ngoài tôi, “Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến” (Ga 6, 46) đã làm họ thực sự choáng và ghép Ngài vào tội lộng ngôn, phạm thượng. Và giọt nước đã tràn ly khi Đức Giêsu nói với họ : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51), cũng như “ Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi , thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy được sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống ” (Ga 6,55)
      Qủa thực, ăn thịt một người, và thân xác của một người trở thành của ăn cho mọi người  là điều không thể quan niệm được, nên ngay cả  môn đệ của Đức Giêsu cũng phải ngao ngán thốt lên: “Lời này chướng tai qúa ! Ai mà nghe nổi ? ” (Ga 6,60).

a.       Tin là ân sủng của Thánh Thần:
      Vì mặc khải vượt qúa những gì thuộc tự nhiên, nên đòi đến đức tin, một ân huệ Thiên Chúa ban, để con người có thể đón nhận chân lý siêu nhiên thuộc về Thiên Chúa. Khi đề nghị đám đông tin, Đức Giêsu mời gọi tất cả mọi người vượt qua ranh giới tự nhiên để đi vào vùng siêu nhiên nhờ đức tin; vượt qua những gì  thuộc đối tượng của giác quan, và nhờ Thần Khí để đến với chính Ngài.
   Như thế, đức tin không còn thuộc quyền con người, tuy đòi sự cộng tác tích cực, và phần đóng góp của con người là sẵn sàng đón nhận, nhưng tin trước hết và trên hết là hồng ân đến từ Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã nói với các môn đệ đang  xầm xì về những lời bị coi là chướng tai, qúa sốc của Ngài: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao ? Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì.. “ (Ga 6, 61-62). Và liền sau đó, Ngài nhấn mạnh : “Vì thế, Thầy bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (Ga 6, 65).

b.      Tin đòi  con người sẵn sàng vượt qua với Đức Giêsu:
    Tin Mừng không che dấu tình hình căng thẳng khi Đức Giêsu tuyên bố Ngài là bánh hằng sống,  và thịt, máu Ngài là của ăn nuôi sống mọi người. Sự căng thẳng ấy đã lên đến tột đỉnh khi “ nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6, 66).
    “Không còn đi theo Người nữa”, vì những môn đệ này đã dừng lại ở xác thịt, chứ không vượt qua để chạm đến Thần Khí (Ga 6, 53). “Không còn đi theo Người nữa”, vì của ăn cũng dừng chân ở những gì thấy được như cơm bánh,  rau củ qủa, cá thịt,  nước mắm, nước tương, coca, bia bọt, mà không vượt qua để chạm vào của ăn thiêng liêng nuôi dưỡng linh hồn. “Không còn đi theo Người nữa”, vì nhu cầu ăn uống chỉ dừng ở sự sống hay hư mất, mà Đức Giêsu gọi là “ chẳng có ích gì” (Ga 6, 63), mà không vượt qua để đạt đến sự sống đời đời.

     “Nhiều môn đệ đã không còn đi theo Người nữa”, vì con đường Ngài mời gọi đòi vượt qua rất nhiều và rất nhiều thứ, nên một khi không sẵn sàng vượt qua với Đức Giêsu, người môn đệ sẽ bỏ cuộc, chọn đứng lại ở ranh giới những gì cảm nhận được bằng giác quan, mà không để đức tin hướng dẫn, chỉ đạo. Tuy đức tin là hồng ân “nhưng không” từ Thiên Chúa, nhưng đức tin cần được đón nhận bằng thái độ sẵn sàng vượt qua với Đức Giêsu của mỗi người. Không có bước vượt qua với hy sinh từ bỏ những gì thấy được, nghe được, cảm được của thân xác, người môn đệ khó có thể đi đến cùng đường với Đức Giêsu dưới ánh sáng của hồng ân đức tin, bởi Lời Thiên Chúa thì hầu như luôn chướng tai, khó nghe, khó đồng ý, đồng thuận, như nhiều môn đệ và hầu hết đám đông Do Thái hôm đó đã tranh luận sôi nổi và không tin Ngài (Ga 6, 36. 52).

3.      Tin với đức tin của Phêrô đã tuyên xưng:
     Trình thuật về Bánh Hằng Sống với nhiều mâu thuẫn, đối kháng sôi nổi và từ chối tin Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến để trở nên của ăn, của uống, ban sự sống đời đời cho muôn dân đã được kết bằng lời tuyên xưng đức tin rất hùng hồn, cảm động, thánh thiện và đầy Thần Khí của Phêrô, tông đồ trưởng của Nhóm Mười Hai, Tảng Đá trên đó Đức Giêsu đã xây Hội Thánh của Ngài.
      Phêrô đã không tự mình tuyên xưng đức tin, nếu Đức Giêsu đã không nhắc  nhở, mời gọi bằng một câu hỏi rất xúc động, ân tình : “Còn anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ? ” (Ga 6, 67). Nghe hỏi mà cay đắng, nghe hỏi mà ngậm ngùi, xót xa. Cay đắng vì nhiều môn đệ đã bỏ đi; xót xa vì đám đông vừa mới được ăn no nê hôm trước nay đang xầm xì thắc mắc,  bực dọc hạch hỏi, ngạo mạn trách móc, lạnh lùng  quay gót,  nóng giận bỏ đi. Đám đông bỏ đi hầu hết, môn đệ bỏ đi cũng đã nhiều. Chỉ còn nhóm Mười Hai ngơ ngác, hoang mang, chưa hoàn hồn. Các ông chưa kịp định thần thì Đức Giêsu đã bất ngờ  hỏi, làm các ông them một phen lúng túng. Ông Phêrô vốn tính nóng nảy, nhanh nhẩu đáp: “ Thưa Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? Thầy có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).
     Ông đã không thay mặt anh em chọn ở lại với Đức Giêsu vì ngoài Ngài không còn ai để chọn; cũng không tiếp tục đi theo Ngài, vì hy vọng Ngài tiếp tục làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để các ông khỏi lo đói. Nhưng Phêrô đã đại diện anh em qủa quyết lý do ở lại và tiếp tục đi theo Đức Giêsu làm môn đệ Ngài:

a.       Vì tin Đức Giêsu có Lời ban sự sống:
   Tuy lời Ngài có khó nghe, chướng tai, nhưng ông tin đó là Lời ban sự sống vì là Lời của Thiên Chúa. Và vì là Lời của Thiên Chúa nói với con người, Lời ấy không thể như lời con người nói với nhau, nhưng là Lời chân lý, Lời  thánh hóa, Lời  bình an, Lời hạnh phúc, Lời tái sinh, Lời cứu độ. Nhờ tin, Phêrô nhận ra  sau những chướng tai, khó nghe sự sống đời đời và hạnh phúc đích thực của Lời từ miệng Đức Giêsu, nên ông cùng anh em tuyên xưng niềm yêu mến, tin tưởng nơi Đức Giêsu.

b.      Vì  tin Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa:
    Hầu hết những người có mặt hôm ấy, khi Đức Giêsu tuyên bố Ngài chính là Bánh Hằng Sống từ trời , và lương thực nuôi muôn dân chính là máu thịt Ngài, đều đã không tin Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Riêng Phêrô, ông đã  cùng anh em “ tin và nhận biết Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”.
     Nhận ra Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa thì chỉ có Thánh Thần mới cho ta biết được, nghiã là, không có ân sủng đức tin chiếu rọi, chúng ta không thể nhận ra con người Giêsu, con bác thợ mộc Giuse ở thôn làng Nadarét là Con Thiên Chúa, Đấng Thiên Chúa sai đến trong thế gian để cứu thế gian. Phêrô đã được Đức Giêsu chứng thực khi ông tuyên xưng đức tin : “ Này anh Simôn, con ông Giôna, anh thật có phúc, vì không phải phàm nhân đã mặc khải cho anh biết điều này, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” đã cho anh biết (Mt 16,17). Vì thế, lời tuyên xưng của Phêrô mang một giá trị tuyệt đối và là lời tuyên xưng đức tin của tất cả người Kitô hữu trung thành với Giáo Hội được Đức Giêsu xây trên tảng đá  Phêrô : “ Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).

      Như thế, bước vượt qua mà Thiên Chúa đòi hỏi ở mỗi người trên hành trình theo Chúa chính là Tin Đức Giêsu là Thiên Chúa. Tất cả hệ tại ở đức tin này, đức tin của Phêrô đã tuyên xưng, chứ không phải đức tin nào khác, hay đức tin của ai khác đã tuyên xưng đâu đó. Với đức tin của Phêrô đã tuyên xưng, chúng ta nhận ra Lời của Đức Giêsu là Lời ban sự sống đời đời, Máu Thịt của Đức Giêsu là lương thực ban sự sống vĩnh cửu, Tình yêu thương xót của Đức Giêsu cứu chữa mọi vết thương và xóa bỏ mọi tội lỗi, bởi chính Ngài đến từ Chúa Cha và hết thẩy những ai đến với Ngài đều được Chúa Cha lôi kéo và ban ơn (Ga 6,44.65).

      Xin cho mỗi người chúng ta biết đặt niềm tin của mình trong đức tin đã tuyên xưng của Phêrô, người mà Đức Giêsu đã chọn đứng đầu Hội Thánh, là đoàn thể những người tin và đi theo làm môn đệ Đức Giêsu, vì chỉ trên tảng đá đức tin của Phêrô, chúng ta mới thực sự nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Thánh của Thiên Chúa, Đấng được sai đến trong thế gian để cứu độ mọi người.    
     
     Cũng xin cho hết mọi người được yêu mến bí tích Thánh Thể, là Mình Máu Đức Giêsu, lương thực ban sự sống đời đời, và nhờ Thánh Thể, chúng ta được sống với Đức Giêsu và trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài, để được như trái tim nóng bỏng kết hiệp của thánh tông đồ Phaolô : “ Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), là điểm đến của hành trình đức tin .
Jorathe Nắng Tím             

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

MẸ DẠY CON TIN

      Sắp đến  lễ Vu Lan, rằm tháng bẩy, ngày Báo Hiếu mẹ cha, ngày con cháu nhớ đến ông bà, cha mẹ. Như các bạn Phật tử và với tâm tình hiếu thảo qúy báu của  người  dân Việt, tôi chạnh lòng nhớ ba mẹ tôi đã nhiều năm khuất bóng.  
      Như qúy bạn, tôi nhớ nhiều lắm : nhớ những kỷ niệm yêu thương, những năm tháng vất vả, cơ cực, những khoảnh khắc lo sợ, căng thẳng muốn đứt gân máu, cả những ngày tháng xum vầy, đoàn tụ hạnh phúc  của gia đình, mà ba mẹ luôn là người yêu thương nhất, vất vả, cơ cực nhất, lo sợ, căng thẳng nhất và cũng hạnh phúc nhất. Nhưng riêng tôi, ngoài những nỗi nhớ, niềm thương, ký ức, hoài niệm với ba mẹ, tôi còn nhớ mẹ tôi đã dậy tôi tin.
   Mẹ tôi không được học nhiều, vì ông ngoại  chịu ảnh hưởng của Khổng Tử  trọng nam khinh nữ : “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, nhưng mẹ rất thông minh và có trí nhớ sắc sảo. Mẹ đọc vanh vách không thiếu một kinh, một dòng của sách giáo lý, một bài hát trong phụng vụ  và dậy chúng tôi cầu nguyện bằng hát thánh ca, đọc kinh, lần chuỗi . Nhưng ấn tượng mẹ khắc sâu trong tâm khảm tôi hơn cả, chính là gương sống đức tin của mẹ :
-  Mẹ dậy tôi kính sợ Chúa và luôn căn dặn : nghĩ gì, nói gì, làm gì, con cũng phải sợ Chúa buồn và hỏi xem : nếu Chúa có mặt ở đây, con sẽ làm gì ?
-  Mẹ dậy tôi ngợi khen Chúa và hướng dẫn tôi : con cứ đọc kinh, hát kinh, lần chuỗi để được cùng toàn thể Giáo Hội chúc tụng Chúa. 
-  Mẹ dậy tôi cầu nguyện với tâm tình của người thiếu thốn, nghèo khó và ân cần chỉ bảo : con đừng kiêu căng, vì Chúa không thích và người khác cũng không ưa.
-  Mẹ dậy tôi nhớ ơn Chúa  và nhắn nhủ : đừng vô ơn ai, nhất là ơn Chúa.
    Hôm nay mẹ không còn, nhưng gương sống đức tin của mẹ vẫn ở trong tôi. Tôi đã cố gắng từng ngày sống đức tin như mẹ dậy, cho đến một ngày, bất chợt  tôi nhận ra : mẹ tôi đã sống đức tin như Đức Mẹ, vì mẹ tôi có lòng yêu mến Đức Mẹ rất đặc biệt : mẹ lần chuỗi, cầu xin và bám chặt vào Đức Mẹ trong mọi hoàn cảnh, nên không nghi ngờ gì việc mẹ tôi đã chăm chỉ học tin nơi Đức Mẹ , như tiếng mẹ khẽ hát ngày xưa khi còn sống: “Trông lên Mẹ là gương mẫu của đời con”. 
    Vâng, Đức Maria đã là Mẹ của Đức Giêsu, nên là Mẹ của các bà mẹ, và của mọi tín hữu. Ngay giây phút  Thiên Chúa làm người, Đức Maria đã dậy Chúa Giêsu tin ; đã giáo dục đức tin của cậu Giêsu suốt ba mươi năm ở Nadarét ; đã hướng dẫn sinh hoạt đức tin của con trai mình với một chương trình huấn luyện căn bản được tỉ mỉ trình bầy trong kinh Tán Tụng - Magnificat :
    “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa va thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh chí tôn. Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giầu có, lại đuổi về tay trắng. Chúa độ trì Ítraen, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và con cháu đến muôn đời” ( Lc 1,46-55).
    Đức Maria đã dậy chúng ta tin bằng : 
1.  Nhớ lại bao nhiêu điều cao cả Thiên Chúa đã làm :
      Khởi đầu của hành trình đức tin, chính là nhớ lại hồng ân Thiên Chúa đã tuôn đổ trên mình, gia đình, Giáo hội, quê hương, thế giới. Nhớ lại là việc làm cần thiết của người tín hữu, bởi không nhớ lại ân sâu nghiã nặng đã nhận, làm sao có thể  nhớ ơn, biết ơn , trả ơn. Cũng chính vì không nhớ lại, mà Luciphe đã làm loạn chống lại Đấng đã yêu thương tạo dựng nên mình ; vì không nhớ lại, Ađam, Evà đã toa rập với ma qủy chống lệnh, và ly khai khỏi hàng ngũ con cái được cưng chiều của Thiên Chúa ; cũng vì không nhớ lại, Giuđa đã phản bội Đức Giêsu, người thầy đã yêu thương, tuyển chọn, cưu mang và đào tạo mình ; cũng vì không nhớ lại, chúng ta dễ bỏ Chúa, Đấng đã  xót thương và hiến mình cứu sống chúng ta.
        Thực ra khi ta nhớ lại lòng thương xót của Thiên Chúa, thể hiện qua bao nhiêu điều cao cả Chúa đã làm, chính là lúc ta xác tín Chúa là Đấng trung tín, không bao giờ lừa dối ai và luôn giữ trọn Lời Hứa. Khi nhớ lại bao điều cao cả Chúa làm, ta  nhận ra  điều này, đó là đức tin  sẽ chỉ là đức tin khi được xây trên Lời Hứa của Thiên Chúa, và chỉ có giá trị  khi ta tín thác vào lòng trung tín của Ngài và tuyệt đối tin tưởng : Thiên Chúa sẽ thực hiện Lời Ngài hứa. Và tin vào Lời Chúa hứa  được coi là cao điểm của đức tin, bởi chỉ có thể là người tín hữu đích thực, khi qủa cảm dấn thân, và triệt để lao mình vào cuộc mạo hiểm của Lời Thiên Chúa hứa.
     Qủa thực,  nếu Thiên Chúa là Thiên Chúa trung tín, luôn  thương xót, “độ trì Ítraen, tôi tớ của Người như Người đã hứa cùng cha ông chúng ta” (Lc 1, 54-55), và “Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và con cháu đến muôn đời” (Lc 1,55), thì người Kitô hữu cũng được mời gọi nhớ lại bao nhiêu điều cao cả  và lòng thương xót  của Thiên Chúa đã “trải qua từ đời nọ đến đời kia, trên những ai kính sợ Người” (Lc 1,49-51) ; nếu đức tin là gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, thì con người phải nhớ lại những điều kỳ diệu mà Đấng Toàn Năng đã làm cho mình, như  một đáp trả công bình và chính đáng việc Thiên Chúa đã nhớ lại lòng thương xót của Ngài (Lc 1,55).
      Tóm lại, việc nhớ lại là hành động cần thiết của đức tin, bởi đức tin chỉ thực sự là đức tin khi có Thiên Chúa nhớ đến Lời Hứa thương xót  con người, và con người nhớ lại lòng thương xót con người của Thiên Chúa.
2.    Kính sợ Thiên Chúa :
    Nếu khởi điểm của hành trình đức tin là nhớ lại, thì bước thứ hai của đức tin là kính sợ, bởi đứng trước những điều kỳ diệu, cao cả của Đấng Toàn Năng đã làm, thì bất cứ ai cũng đều phải kính sợ. Kính sợ là tâm tình hiếu thảo của thụ tạo trước Đấng Chủ Tạo, tình yêu của con dành cho cha mẹ, ân tình sâu đậm của môn sinh dành cho sư phụ.
      Sợ ở đây không có nghiã sợ hãi, sợ sệt, nhưng sợ mang ý nghiã tôn kính Đấng  toàn năng nhưng yêu thương ; quy phục Đấng toàn lực toàn quyền nhưng không tru diệt, tàn sát, mà bênh vực, cứu sống ; tôn thờ Đấng toàn thiện, toàn mỹ nhưng  gần gũi, an ủi, đỡ nâng.Ý nghiã kính sợ phát xuất từ  tình yêu con cái dành cho cha mẹ. Đó là thứ  tình yêu đặc biệt với lòng hiếu thảo, kính cẩn, tôn sùng, nên sợ ở đây đồng nghiã với ngưỡng mộ, suy tôn, muốn đến gần để chiêm ngắm,  muốn tìm về  để vui hưởng hạnh phúc được yêu thương,  chứ không là sợ hãi, lẩn tránh, tháo lui, trốn chạy.
     Kính sợ Thiên Chúa vì thế là nền tảng của tình yêu con người dành cho Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên con người vì yêu thương con người và để con người thuộc về Thiên Chúa trong hạnh phúc đời đời và đích thực của Ngài. Điều đó muốn nói lên chân lý : con người được dựng nên cho Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa, nên cuộc sống của con người nằm trong bàn tay của Thiên Chúa. Do đó, người kính sợ Chúa là người đặt hy vọng nơi Chúa, phó thác trọn vẹn đời mình trong tình yêu quan phòng của Chúa. Và vì kính sợ Chúa, họ sẽ không lo lắng gì, không sợ hãi ai ; nhưng vì kính sợ Chúa, lòng họ sướng vui, tâm họ thư thái, hồn họ an bình.         
   Đức Maria đã tuyên xưng : “Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1, 50), và dậy chúng ta kính sợ Thiên Chúa, bởi không kính sợ Thiên Chúa, chúng ta sẽ đứng chung hàng ngũ  những kẻ kiêu căng đáng bị  “Thiên Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng và hạ bệ những ai quyền thế” (Lc 1,51-52), bởi chỉ kẻ không kính sợ Thiên Chúa mới có thể kiêu căng, cậy quyền, ỷ thế ; còn những người  biết kính sợ Chúa sẽ chẳng dám kiêu căng, nhưng đơn sơ, khiêm hạ trước Nhan Thánh Ngài, đồng thời khiêm nhu, đằm thắm, ân cần, hiền hậu với anh em.
3.    Tin với trái tim của người nghèo khó :
    Trái tim của người nghèo khó không chỉ là sự cởi bỏ vật chất, mà còn là sự khiêm tốn và cởi mở của tâm hồn. Trái tim nghèo khó ấy đòi lột bỏ tất cả những ham muốn không quy hướng về một mình Chúa. Trái tim nghèo khó còn ý thức mình có nhiều giới hạn và luôn cần Chúa, phụ thuộc vào Chúa. Đức Maria đã tin với trái tim của người nữ tỳ nghèo khó, hèn mọn, nên đã được Thiên Chúa “đoái thương nhìn tới và từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1, 48).
    Đức Maria là người nữ đầy ơn phúc, vượt trên hết mọi người nữ không chỉ vì Mẹ đã tin, nhưng hơn thế nữa, vì Mẹ đã tin với trái tim của người tôi tớ nghèo khó, hèn mọn.Vì nghèo khó, mà Chúa cho giầu có, no đủ : “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của cải đầy dư” (Lc 1,53); vì  hèn mọn,  mà “Chúa đã nâng cao” (Lc 1, 52); vì phận nữ tỳ bé nhỏ, mà “Chúa đã đoái thương nhìn tới” (Lc 1,48). 
    Thực vậy, Hiến Chương Nước Trời mà Đức Giêsu đã loan báo trên núi cho đám đông hôm nào là Lời Hứa Hạnh Phúc cho những tâm hồn bé nhỏ, những trái tim nghèo khó, những thân phận hèn mọn, vì chỉ những trái tim nghèo khó của cải, danh vọng mới có chỗ cho Nước Trời; chỉ những tâm hồn hiền lành, không bon chen, kèn cựa, gây hấn mới có thể rộng mở đón nhận Thiên Chúa làm gia nghiệp ; chỉ những cõi lòng đơn sơ, chất phác, yêu mến công bình và hoà bình mới nhận được phần thưởng của Thiên Chúa ; chỉ những thân phận  mọn hèn, không tự mãn, kiêu căng, nhưng rộng lòng thương xót anh em mình mới được Thiên Chúa xót thương; và chỉ những trái tim nghèo khó, trong sạch, không cồng kềnh những ham muốn bất chính mới được nhìn thấy Thiên Chúa (x. Mt 5,1-12).
     Tin với trái tim của người nghèo khó, tin với tâm hồn của tôi tớ hèn mọn như Đức Maria, chúng ta mới đón nhận được những gì Thiên Chúa hứa ban cho những kẻ tin ở Ngài.
4.    Tin với niềm hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa :
   Không thể có niềm tin, mà thiếu hy vọng, cũng như không thể hy vọng mà thiếu niềm tin. Tin và hy vọng luôn đi đôi với nhau, nên có tin, tức là có hy vọng, và có hy vọng là đã có tin. Khi Đức Maria dậy chúng ta nhớ lại những điều kỳ diệu, cao cả Thiên Chúa đã làm trong lịch sử nhân loại, hay lịch sử riêng của  mỗi người, Ngài cũng dậy chúng ta hướng đến tương lai với niềm hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa, Đấng đã hứa với tổ tiên và với chính chúng ta, bởi đức tin  đi vào lịch sử, hướng dẫn lịch sử và làm nên lịch sử cứu độ, vì thế mà đức tin là đời sống, luôn sống động, luôn sinh động, luôn hoạt động,  nên không có đức tin chết, đức tin bằng nhựa, đức tin robot, nhưng chỉ có con người đức tin, đời sống đức tin, sinh hoạt đức tin được thể hiện qua đức ái, như thánh Giacôbê đã khẳng định: “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,26).
   Và đức tin luôn sống động ấy được tồn tại và lớn lên nhờ niềm hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa. Tin đối với người môn đệ Đức Giêsu là tin vào Lời Hứa của Ngài, tin vào Lời Ngài đã hứa. Ngài hứa Nước Trời, hứa lòng thương xót, hứa niềm vui thiên đàng, hứa phần thưởng lớn lao, hứa vinh dự làm con Thiên Chúa, và hứa trao ban chính Ngài cho những ai đặt hy vọng vào lòng trung tín của Ngài (x. Mt 5,1-12).
    Như thế, không hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa, người Kitô hữu không thể được gọi là người tin ở Đức Giêsu, bởi niềm tin phải được thử thách bằng lòng trông cậy và Lời Hứa kêu mời, đồng thời đo lường lòng trông cậy ấy. Đức Maria là người nữ đầy ơn phúc, vì đã tuyệt đối trông cậy khi đặt trọn vẹn niềm hy vọng vào Lời Thiên Chúa hứa, khi cộng tác với Chúa Giêsu, bằng đặt để trọn vẹn  niềm hy vọng vào mọi chương trình của Lời Hứa và tuyệt đối tín thác vào lòng trung tín của Thiên Chúa.
     Tóm lại, Đức Maria dậy chúng ta tin, như các bà mẹ công giáo của chúng ta đã dậy chúng ta tin. Bài học đức tin ấy đã bao trùm toàn thể đời sống của chúng ta: với qúa khứ đã sống, chúng ta được mời gọi nhớ lại  hồng ân Thiên Chúa đã ban; với hiện tại đang sống, chúng ta thể hiện niềm tin bằng kính sợ Thiên Chúa với trái tim nghèo khó của người tôi tớ hèn mọn; với tương lai sẽ sống, chúng ta hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa và tín thác vào lòng trung tín xót thương của Ngài. Đức Tin như thế sẽ là  sự sống, ở trong cuộc sống, hướng dẫn đời sống. Chỉ có cách Tin của Đức Mẹ mới giúp chúng ta tin trong cuộc sống; chỉ có bài học Tin của Đức Maria mới làm cho đời sống chúng ta trở thành Kinh Tin Kính sống động.
   Tháng tám dương lịch có ngày Vu Lan nhắc con cháu lòng hiếu thảo; tháng tám cũng có lễ Đức Mẹ hồn xác về Trời nhủ người Kitô hữu trông lên Đức Mẹ là gương mẫu của đức tin.
    Uớc gì gương sống đức tin của Đức Mẹ, cũng như bài học Tin Đức Mẹ dậy sẽ làm “hớn hở, vui mừng thần trí” chúng con và dắt chúng con từng bước vui tươi, hạnh phúc trên hành trình đi theo Đức Giêsu, là “Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ” chúng con (x. Lc 1, 47).
Jorathe Nắng Tím