Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

MẸ VỀ DẶN TÔI

     Đêm qua tôi lại mơ gặp mẹ về từ thiên đàng. Từ ngày mẹ qua đời, tôi là đứa con duy nhất thường xuyên được gặp mẹ trong giấc mơ, và lần nào mẹ về, tôi cũng kể cho cả nhà nghe, nghe riết nhàm tai, đến nỗi chẳng ai còn tò mò, thú vị khi nghe tôi kể chuyện mẹ hiện về.  Suốt nhiều năm, lần nào về, mẹ cũng chỉ nhỏen miệng cười âu yếm nhìn một chút rồi biến đi, nhưng lần sau cùng này, mẹ đứng lâu dặn dò tôi đủ chuyện.
1.     Mẹ dặn tôi : Thiên Chúa làm từ không mà có, và từ có thành tuyệt vời, nên con hãy tự hào vì được Thiên Chúa tạo dựng.
      Mẹ dặn rất ngắn, nhưng tôi hiểu ngay tuy là tro bụi, nhưng là hạt bụi biết bay, nhúm tro được nâng lên tuyệt đỉnh của sự tuyệt vời nhờ được sinh ra trong tình yêu vô cùng của Thiên Chúa. Cái chết không trả ta về tro bụi, nhưng đưa ta về đỉnh cao của tình yêu tạo dựng, vì  hơi thở của Thiên Chúa mới chính là tác nhân tạo dựng nên con người. Hơi thở của sự sống là Thiên Chúa cho bụi tro thành hình con người sống, và một khi đã mang hơi thở của chính sự sống, con người không thể chết, nhưng mang lấy sự sống đời đời từ hơi thở đời đời của Thiên Chúa hằng sống. Vấn đề là hạt bụi ấy đã đón nhận sự sống từ hơi thở Thiên Chúa như thế nào ?
2.     Mẹ dặn tôi: không có gì bị tan biến đi trong hiện tại đời đời của Thiên Chúa, nên con phải chăm chút giá trị của từng tư tưởng, lời nói, việc làm của đời sống.
   Mẹ mở cho tôi thấy không gì là vô ích cho phần rỗi của tôi, vì Thiên Chúa đón nhận tất cả, từ những thao thức, ước mơ nhỏ bé đến những việc làm âm thầm, dấu kín. Tất cả đều là giá trị và là bảo đảm vững chắc bước chân vào hạnh phúc đời sau.
3.     Mẹ dặn tôi : Có rất nhiều điều phải hối hận, tiếc nuối, chuộc tội sau khi lià đời  và điều nặng nề, nguy hiểm nhất cần phải tránh, đó là vu vạ, cáo gian làm tổn thương uy tín, danh dự của người khác.
      Mẹ tôi là người hiền lành, kính sợ Thiên Chúa và xa lánh tội lỗi. Mẹ luôn căn dặn chúng tôi khi còn sống : Thà chết còn hơn phạm tội con ạ… Nay mẹ về dặn dò  đừng vu khống oan uổng cho ai, tôi nghĩ chắc tội này phải nặng nề và nguy cơ phạm tội dễ dàng, gần kề lắm.. Hay mẹ thấy rõ ngày nay người ta không còn ý thức đạo đức và coi chuyện tố cáo người khác là chuyện bình thường, rất thường, nên mới lo lắng căn dặn. Phần tôi, tôi cũng thấy xã hội hôm nay bất an từ  tâm hồn đến xã hội, bất ổn từ trong đạo ra ngoài đời, hầu hết vì  vô cớ nghi ngờ,  mơ hồ chụp mũ, hàm hồ  quyết đoán và vô trách nhiệm tố giác, với  dã tâm lên án, triệt hạ nhau. Một xã hội coi tố cáo là bổn phận, tố giác là vinh dự, tố khổ là nghiã vụ thì ai  sẽ không là  nạn nhân bất hạnh của xã hội ấy ?
4.     Mẹ dặn tôi : Thiên Chúa chỉ phán xét chúng ta về lòng thương xót, vì Ngài là Thiên Chúa của lòng thương xót, nhưng số phận của kẻ có lòng xót thương như Ngài luôn bạc bẽo, đáng thương, bị khinh mạn, vùi giập,  coi thường.
      Chuyện phải có lòng thương xót để được cứu rỗi thì ít nhiều tôi đã rõ, như Tin Mừng thánh Mátthêu chương 25, 31-46 đã mô tả, nhưng chuyện sống lòng thương xót, loan báo lòng thương xót , mà bị thiên hạ chửi bới, mạ lỵ, xua đuổi khỏi cộng đoàn, truất quyền, lột lon, lấy chức, thì qủa là mới và khó quan niệm với tôi, vì cứ sự thường, người có lòng thương kẻ khác sẽ được xã hội yêu mến,  tuyên dương, thiên hạ trân trọng, nào ngờ, mẹ dặn tôi điều hoàn toàn ngược lại. Nhưng khi suy nghĩ thêm dưới ánh sáng của Tin Mừng, tôi mới thấy mẹ có lý, vì ai thương xót người khác bằng Đức Giêsu, dung mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót, nhưng ai đã bị vu khống, hành hạ, lên án và đối xử tàn tệ bằng Ngài ? Qủa thực, số phận của chứng nhân lòng thương xót không luôn là số đỏ, vận may.  
5.     Mẹ dặn tôi : không xét đoán ai, nhất là phần rỗi của họ, bởi chỉ một mình Thiên Chúa thấu suốt tâm can mỗi người.
   Mẹ tôi khi còn sống có tinh thần cởi mở đối với các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Mẹ vẫn nói với đám con hay gây sự với  đám trẻ xóm Chùa : "Thiên Chúa yêu thương hết mọi người và lo liệu cứu rỗi mọi người". Nay ở thiên đàng, mẹ hiểu hơn điều mẹ đã xác tín khi còn sống, nên mới về căn dặn. Tôi tin điều mẹ dặn là cần thiết để tôn trọng chân lý Thiên Chúa gửi gắm trong các tôn giáo, và thiện tâm thiện chí của người anh em khác đạo. Với khát khao tìm chân lý, với ước muốn gặp gỡ Thiên Chúa, người anh em khác đạo  tuy không thuộc Giáo Hội hữu hình, nhưng một cách mầu nhiệm đã ở trong trái tim của Thiên Chúa giầu lòng xót thương.       
6.     Mẹ dặn tôi bé nhỏ bao nhiêu có thể, và hết sức cẩn trọng để không bị tha hoá bởi quyền lực.  
   Còn sống, mẹ là người tín hữu bé nhỏ của xứ đạo, người mẹ hiền lành của anh chị em chúng tôi. Tuy suốt đời không có chức phận gì, nhưng mẹ lại rất nhậy bén với chuyện tha hoá bởi quyền lực. Nhiều gương của nhiều người không còn là mình khi có quyền cao chức trọng, nhiều người không còn biết mình là ai, đến từ đâu, do những bàn tay nào nâng niu, xây dựng, cất nhắc thỉnh thoảng cũng được mẹ nhắc nhở, nhưng khi đó, vì còn nhỏ, chẳng ai trong chúng tôi để tâm, lưu ý. Nay mẹ về căn dặn, tôi chắc quyền lực không còn là chuyện thường, nhưng phải cảnh giác để không trở thành những kẻ dị hợm, lố bịch, khi bị quyền lực biến dạng, biến tướng.
7.     Mẹ dặn tôi : Hãy luôn tín thác vào lòng từ bi, nhân hậu của Thiên Chúa và cho tôi biết luyện tội là nơi chan chứa niềm hy vọng :
   Tuy không được học nhiều, nhưng mẹ có tầm nhìn xa và rộng. Bằng chứng là mẹ không thích chúng tôi đo đạc lòng thương xót, đong đếm đức công bình của Thiên Chúa, vì mẹ phân biệt chính xác tính tương đối của con người và tuyệt đối của Thiên Chúa. Với mẹ, chỉ có một điều đáng nói, đáng làm là biết ơn và cảm tạ Chúa, vì Ngài nhân lành và đường lối thánh thiện của Ngài vượt xa thăm thẳm lòng trí con người. Lần hiện về sau cùng, mẹ cho tôi biết : luyện tội là nơi đầy tràn hy vọng, hy vọng được thanh tẩy xứng đáng để ra trước mặt Thiên Chúa, là Đấng linh hồn trông ngóng, khát mong.
8.     Mẹ dặn tôi : Điều làm Thiên Chúa vui hơn cả, và đáng được Thiên Chúa thứ tha hết tội lỗi là cầu nguyện cho kẻ  vu khống, bách hại, làm khổ mình.
     Ngày xưa mẹ dậy chúng tôi yêu thương kẻ thù, và ép chúng tôi phải đi bước trước đến làm hoà với kẻ thù, thân thiện với kẻ thù. Tôi còn nhớ, chẳng đứa nào trong các con mẹ đã làm được những điều qúa khó khăn này. Bây giờ thì tôi hiểu việc yêu thương kẻ thù thuộc ý chí, nghiã là Thiên Chúa không bắt tôi phải yêu thương kẻ thù một cách tự nhiên, như tình cảm tự nhiên bộc lộ, bởi đã thù rồi làm sao tự nhiên được ? Nhưng Ngài đòi buộc phải vượt qua tự nhiên để "có lòng muốn" yêu thương họ, "muốn" cầu nguyện cho họ. Ý chí tôi điều khiển tôi yêu thương kẻ thù, nên tôi có thể không vồn vã, gần gũi, tin tưởng, thân thiện với kẻ thù, mà vẫn "có lòng" yêu thương họ, "có lòng" nghĩ tốt cho họ và cầu nguyện cho họ. Có lòng đây đòi ý chí kiên cường để không thù ghét, oán hận, tìm tiêu diệt kẻ thù theo tình cảm tự nhiên, như tính tự nhiên hướng dẫn, đòi hỏi. Nói cách khác, tình yêu kẻ thù không còn thuộc phạm vi tự nhiên , nhưng thuộc ý chí, thuộc khả năng "muốn cách mãnh liệt và kiên định". Muốn như thế là ép mình yêu kẻ thù, chỉ vì Chúa muốn tôi yêu thương họ, chứ để tự nhiên thì qủa thực tôi không yêu được người có tên là "kẻ thủ, vì kẻ thù là người làm tôi sợ, đe dọa, hãm hại, làm tổn thương tôi".  
9.     Mẹ dặn tôi : phải yêu Giáo Hội và trung thành với Giáo Hội, dù có lúc bị chính Giáo Hội hiểu lầm, làm khổ.
     Mẹ tôi là con người trung tín, nên không có chuyện thay lòng đổi dạ ; chẳng thế mà khi nghe trong xóm có người bỏ đạo, mẹ tôi đã  hốt hoảng, mất tinh thần cả năm. Hôm nay, về dặn dò, mẹ  không quên nhắc tôi phải yêu mến và trung thành với Giáo Hội, dù có lúc sẽ phải khổ đau vì chính Giáo Hội. Tôi cũng rất sợ mình yếu đuối, khó trung thành khi bị Giáo Hội là mẹ mình ruồng rẫy, xua đuổi. Nói đúng ra thì chẳng người con nào không sợ bị mẹ từ bỏ, nhưng với lời mẹ dặn, tôi cố gắng yêu mến Mẹ Giáo Hội, như bao nhiêu người con đã chịu đựng mẹ mình, khi mẹ lẩm cẩm, bẳn gắt, bực bội, khó chịu đến vô lý ở tuổi già đau yếu.
       Vì nghĩ mẹ tôi cũng như mẹ bạn, nên mạo muội chia sẻ với bạn những điều mẹ tôi dặn trong giấc mơ. Tôi còn trộm nghĩ,  nếu mẹ bạn có hiện về thì bà cụ cũng sẽ dặn dò bạn những điều mẹ tôi vừa mới căn dặn tôi. Những điều này tuy không xa lạ, nhưng trong bối cảnh của tháng các Linh Hồn, một cách nào đó, xin được xem như điểm nhấn để chúng ta cùng suy nghĩ  về đời sống đạo,  bởi đạo là con đường, con đường thỉnh thoảng vẫn cần những bảng chỉ dẫn để người đi không lạc đường, lầm lối, nên  ước mong những điều mẹ tôi dặn riêng tôi không  trở nên vô ích, vô dụng cho những người có cùng tâm tình làm con và cùng thiện chí làm người Kitô hữu như tâm tình và thiện chí tôi đang có lúc này.
     Cám ơn bạn đã cho phép tôi chia sẻ và chúng ta cùng cầu nguyện cho cha mẹ  chúng ta đã qua đời. Xin cho các ngài được an nghỉ trong Thiên Chúa là "Đấng giầu lòng thương xót, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung". 
Jorathe Nắng Tìm

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 32 TNB

Kinh Sư và  Bà Góa!

Có thể nói : hai nhân vật, đúng hơn là hai tầng lớp trong xã hội được Đức Giêsu nêu lên và làm nổi bật trong đọan Tin Mừng Máccô (13,38- 44) mà Giáo Hội chọn cho Chúa Nhật 32 hôm nay là Kinh Sư và Bà Góa. Chúng ta cùng chia sẻ và suy niệm điều Đức Giêsu muốn nói với chúng ta qua hai nhân vật này.
Chúng ta thừa biết : Kinh Sư là những người lãnh đạo trong xã hội tôn giáo thời Đức Giêsu. Gọi là xã hội tôn giáo, vì xã hội Do Thái được hướng dẫn và điều hành bởi tôn giáo Do Thái và Luật Môsê ảnh hưởng sâu đậm trong mọi lãnh vực sinh hoạt của người Do Thái. Do Thái giáo không chỉ bao trùm xã hội Do Thái ở thời Đức Giêsu, mà ngay hôm nay, tôn giáo ở quốc gia Do Thái cũng vẫn giữ vai trò trọng yếu và có tầm ảnh hưởng rất sâu rộng. Nói một cách dễ hiểu hơn : tâm thức của người Do Thái là tâm thức tôn giáo, và tâm thức này mang yếu tố quyết định mọi sinh hoạt xã hội, chính trị.
 Chính trong xã hội tôn giáo này, những người lãnh đạo tôn giáo giữ vai trò rất quan trọng và có nhiều quyền quyết định trên đời sống người khác. Ở vào vị thế ngất ngưởng quyền lực, tất nhiên họ được mọi người, kể cả những người không ưa thích, kính phục phải nể sợ, trọng vọng, phục dịch.
  Hình ảnh về Kinh Sư trong Tin Mừng thì không thiếu, nhưng hầu hết đều là những hình ảnh tiêu cực như trong Tin Mừng Mátthêu chương 23 : Họ nói mà không làm, dậy người khác mà không giữ (x. Mt 23,2-3); “họ bó gánh nặng mà chất lên vai người ta, mà chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào ; họ làm việc cốt để thiên hạ thấy” (Mt 23,4- 5) ; họ diêm dúa, khoe khoang : “đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài ; họ ưa ngồi chỗ cao nhất trong đám tiệc, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là Thầy” (Mt 23, 5-7). “Khốn cho các ngươi, hỡi các Kinh Sư và Pharisêu giả hình ! Các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào !” (Mt 23,13) “Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù quáng !” (Mt 23,16) “Các ngươi lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà” (Mt 23,24). “Các ngươi rửa sạch bên ngoài chén diã, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ” (Mt 23, 25); “bên ngoài  thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác !”(Mt 23, 28), “các ngươi đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ” (Mt 23, 31).
   Tin Mừng Máccô hôm nay sau khi chấm phá vài nét về Kinh Sư như : “ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi..., chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc” (Mc 13,38-39), đã đặt trọng tâm vào việc các Kinh Sư chiếm đoạt tài sản của những ngườI được xem là nhỏ bé, yếu đuối, nghèo khổ nhất trong xã hội, đó là các bà goá.
Câu 40 của đọan Tin Mừng đã nặng lời vạch trần và lên án việc làm bất công, bất chính của Kinh Sư : “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người  ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” (Mc 12,40).
 Câu 40  được tiếp nối như lời giải thích mức độ nặng nề của việc chiếm đoạt tài sản cỏn con, ít ỏi của người nghèo khổ, bằng vẽ lên chân dung của bà góa nghèo và tấm lòng quảng đại của bà: “Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ... Có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, giá trị một phần tư đồng xu Rôma. Đức Giêsu liền gọi các môn đệ và nói : Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Qủa vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi mình”. (Mc 12, 41-44).
 Đức Giêsu đã xác định rất rõ : bà góa nghèo, vì có những bà góa giầu, do thừa hưởng tài sản của chồng đã qua đời. Bà góa nghèo này đại diện cho giai cấp thấp hèn trong xã hội của bất cứ thời nào và ở đâu. Goá bụa là thân phận đáng buồn của phụ nữ, khi mất chồng, bởi mất chồng thì nương tựa vào ai, đơn thân đơn chiếc, tự mình xoay sở để tồn tại. Cảnh góa bụa còn kéo theo nhiều phức tạp, khó khăn, khốn khổ trong gia đình cũng như ngoài xã hội và số phận của người goá bụa thường vất vả, hẩm hiu, mà cảnh nghèo là điều làm họ tội nghiệp hơn cả.
 Đức Giêsu đã can đảm nói cho mọi người biết có những Kinh Sư giả hình: “nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh lâu giờ” (Mc 12,40). Vạch trần sự thật không mấy tốt đẹp của giai cấp lãnh đạo ở thời nào và ở đâu cũng là một liều lĩnh dễ mất mạng. Ở đây Đức Giêsu đã chấp nhận tất cả rủi ro có thể đến với Ngài, để cảnh báo các môn đệ và đám đông đi theo Ngài cơn cám dỗ của tham lam của cải và thói giả hình trong việc thờ phượng :

1.  Thói tham lam của cải:
Lòng tham của con người thì không đáy, nên bất cứ ai, ở bất cứ địa vị, vai trò nào đều bị cám dỗ làm giầu. Và khi cơn cám dỗ làm giầu nổi sóng, thì người ta không còn biết ai là người có thể rút tiả tiền bạc, và ai là người phải chừa ra, không nên lợi dụng. Bằng chứng là Kinh Sư trong Tin Mừng Máccô hôm nay, tuy là người có của, có danh, được cơ chế lo ăn lo mặc, và mọi người trọng vọng, nể sợ, nhưng vẫn tìm nuốt tài sản của những bà goá nghèo kiết xác, túng bấn mạt rệp. Họ không thương hại cả những người nghèo không còn gì để sống, những bà goá nghèo đơn thân, cơ cực với hiện tại bấp bênh, và tương lai  mù mịt.
 Hình ảnh người nắm giữ quyền lực tận thượng tầng của cơ chế  nhẫn tâm vơ vét, chiếm đoạt đến đồng tiền cuối cùng ki cóp để sống qua ngày của người nghèo “tận số” ít nhiều cũng làm sôi lên trong chúng ta cảm xúc giận dữ trước bất công. Cũng chính những bất công này phá hoại tất cả mọi tương quan giữa người với người và tạo nên cảnh hỗn loạn dẫn đến tình trạng bành trướng đến chóng mặt của bạo lực trong xã hội loài người. 
Cùng với việc cảnh báo thói tham lam của cải, và tội chiếm đoạt tài sản của người nghèo nơi Kinh Sư, Đức Giêsu đã tuyên dương lòng quảng đại của người đàn bà goá bụa nghèo khó. Với Ngài, bà goá nghèo đã cho nhiều hơn tất cả mọi người, vì bà đã cho chính bản thân mình.
Cho đi là việc làm khó, vì đòi quên mình, hiến mình, như bà goá nghèo đã quên cái túng thiếu cùng cực của mình, mà dâng vào Đền Thờ hai đồng tiền kẽm bé nhỏ, “nhưng là tất cả tài sản và tất cả những gì bà có để nuôi  sống mình” (Mc 12,44). Đức Giêsu cũng muốn nói lên một sự thật trong đời sống, đó là người nghèo thường quảng đại hơn người giầu. Họ dễ cho đi, vì dễ quên mình, bởi không bị  của cải, tiền bạc trói buộc, bao vây.

2.  Thói giả hình trong phụng tự :
Đức Giêsu nhiều lần trong Tin Mừng đã tỏ ra ngao ngán thói giả hình. Tin Mừng hôm nay cũng nhắc đến nỗi ngao ngán ấy, nhưng đi xa hơn, khi Ngài cứng rắn lên án thói giả hình trong việc thờ phượng : “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ” (Mc 12, 40).
Qủa thực, giai cấp Kinh Sư đã bị Đức Giêsu nhiều lần nặng lời lên án và hầu như lần nào Đức Giêsu cũng nhấn mạnh thói giả hình của họ. Theo Ngài, giả hình sẽ làm con người xa Thiên Chúa và xa anh em mình, bởi tương quan từ đó sẽ hoàn toàn xây trên gian dối, khi không còn gì là thật, là đúng, là chính xác. Và một khi tương quan không thật, người ta không thể tiếp tục giao lưu, liên đới với nhau, vì  bất cứ gian dối nào cũng sẽ dẫn đến đổ vỡ, tai họa.
Ở đây, điều làm Đức Giêsu bực bội và lên án, đó là Kinh Sư đã giả hình ngay  khi làm việc thờ phượng Thiên Chúa, trá hình ngay trước mặt Thiên Chúa là Đấng thông biết mọi sự và thấu suốt mọi cõi lòng. Người giả hình quên rằng Thiên Chúa không có mặt nơi gian dối, cũng như không hiện diện trong tâm hồn kẻ  giả hình, vì Thiên Chúa là Sự Thật và gian dối thuộc về ma qủy.
Chia sẻ Tin Mừng với tâm hồn cởi mở để đón nhận ý Chúa và ơn Chúa,  công việc đầu tiên chúng ta phải làm là nhìn mình trong nhân vật Chúa cảnh cáo, như Kinh Sư ở đây, để biết mình còn nhiều yếu đuối, ngạo mạn, gian tham, bất công, bất chính ; còn nặng trí trá giả hình, đóng kịch, hoá trang ngay trong khi phụng sự Chúa, để thay đổi tư duy, và cải thiện lối sống. Đừng quên rằng : Đức Giêsu lên án Kinh Sư giả hình cũng là trách móc chúng ta chưa đủ chân thành với Chúa và anh em, nên việc chúng ta phải làm là can đảm soi mình trong gương “người khác” để khiêm tốn sửa đổi, khẩn khoản lòng xót thương, và nài xin ơn thứ tha, hơn là dựa hơi Đức Giêsu ném đá người khác ; diễn dịch lời quở trách của Đức Giêsu để miệt thị, khinh bỉ anh em ; đồng hoá các Đấng Bậc trong Giáo Hội với Kinh Sư để soi mói, bôi bác, coi thường, bất hợp tác.
Với tâm tình của người có tội cần lòng thương xót và ơn tha thứ, chúng ta cầu nguyện cho nhau, cho mọi thành phần Dân Chúa ý thức và sống Yêu Thương - Hiệp Thông - Tương Trợ như các chi thể của một Thân Thể duy nhất.
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 31 TNB : Mc 12, 28-34

                         
   Do Thái giáo là đạo có rất nhiều lề luật, nhiều đến độ đi đâu, ở đâu, tín đồ cũng bị luật xâm xoi, xét nét; làm gì cũng bị luật trói buộc, đe loi, ngăm nghe trừng phạt. Người Do Thái giáo nói về luật như thực thể thần thiêng và chu chắm giữ từng đòi hỏi rất chi tiết của mọi điều luật. Chính vì tinh thần vị luật và trong bầu khí nặng nề, ngột ngạt vị luật này, câu hỏi đã được đặt ra cho Đức Giêsu hôm nay trong Tin Mừng Máccô : “Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?” (Mc 12, 28).
   Nhiều người đã muốn hỏi Đức Giêsu câu hỏi này, vì tận thâm tâm, tất cả đều mong đợi một cải cách để đời sống đạo nhẹ nhàng, dễ thở hơn; để gánh lề luật từ nay sẽ bớt trì nặng đôi vai, nên khi  nghe viên ký lục đặt câu hỏi, ai nấy đều vui mừng, thở phào nhẹ nhõm.
     Trả lời trước đám đông, Đức Giêsu đã rất vắn gọn trình bầy Luật mới của Ngài:  “Giới răn thứ nhất là : Hãy lắng tai nghe, hỡi Israel, Chúa Thiên Chúa của chúng ta   Chúa độc nhất và ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết trí khôn ngươi và hết cả sức lực ngươi. Thứ đến là ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình. Hẳn không có giới răn nào khác lớn hơn các điều ấy”  (Mc 12, 29-31).     
    Đức Giêsu đã chính thức công bố đạo mới của Ngài là Đạo yêu thương : Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất và thương mến anh em đồng loại như chính mình.
1.    Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất:
  Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng độc nhất, là Đấng Cứu Độ độc nhất, là Đấng Quan Phòng độc nhất luôn gìn giữ, chăm nom các thụ tạo của Ngài, trong số đó, con người là thụ tạo được Thiên Chúa dấu yêu đặc biệt.
    Tính độc nhất nơi Thiên Chúa nói lên Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tất cả chúng ta đến từ Ngài, thuộc về Ngài, quy chiếu về Ngài, và sẽ trở lại với Ngài. “Thuộc về Thiên Chúa” là căn tính và  hạnh phúc của con người. Thuộc về một Đấng toàn năng, chúng ta còn sợ ai, sợ gì ? Thuộc về một Đấng yêu thương, chúng ta còn lo lắng chi, xao xuyến  nỗi gì ? Thuộc về một Đấng nắm toàn quyền sinh tử của mọi thụ tạo, chúng ta còn băn khoăn, hoang mang gì trước tương lai ?
    Sở dĩ chúng ta chưa “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa, chưa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Chúa; chưa  yêu mến Chúa hết mình, yêu mến Chúa bằng cả đời sống, yêu mến Chúa bằng hết con người, là vì chúng ta chưa xác tín: Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.
     Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng tạo dựng độc nhất, nên chúng ta vẫn chờ ở đâu đó một sức mạnh dự phòng, để giúp chúng ta, nếu Thiên Chúa chơi không đẹp , khi không nghe lời ta cầu xin. Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng cứu độ độc nhất, nên chúng ta vẫn giấu giếm ở ngõ ngách nào đó trong cuộc sống một hình bóng thần linh khác với Thiên Chúa độc nhất, để hy vọng được cứu mạng, nếu chẳng may Thiên Chúa nổi giận bỏ rơi ta. Vì không dám đặt để trọn vẹn niềm tin nơi Thiên Chúa là Tình Yêu độc nhất tuyệt đối, nên phiá sau con tim, ta vẫn giữ những dáng dấp khác Thiên Chúa, với chút hy vọng sẽ được ủi an, vỗ về ngày Chúa nổi cơn lôi đình xua đuổi ta xa khỏi mặt Ngài. 
    Tóm lại, trong tương quan với Thiên Chúa, ta vẫn muốn đi nước đôi, vừa thân thiết với Thiên Chúa độc nhất, vừa thân thiện với những đối tượng không thân thiết, thân thiện với Thiên Chúa. Và tâm hồn ta sẽ ở trong tình trạng bị giằng co, căng thẳng, mâu thuẫn, cho đến khi ta thực sự và quyết tâm thuộc trọn về Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.
   Như thế, điều kiện để có thể yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực, nghiã là yêu một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất của đời ta từng giây phút của cuộc sống, yêu Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói, việc làm , yêu Thiên Chúa mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, tình huống, thì tiên vàn chúng ta phải xác tín Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  tuyên xưng:  ngoài Ngài ra, không còn một thiên chúa nào khác.    
2.    Thương mến anh em đồng loại như chính mình:
  Giới răn thứ hai chỉ là mặt sau của giới răn thứ nhất: Yêu mến Thiên Chúa, bởi một khi đã “toàn tâm toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa độc nhất rồi, chúng ta sẽ tự động nhận ra hạnh phúc được thương mến anh em đồng loại như mình, bởi chính tình yêu Thiên Chúa thúc bách, lôi cuốn, hướng dẫn chúng ta đến với anh em, đi vào trái tim người khác bằng chính con đường tình yêu của Chúa.
   Như chúng ta biết, định luật tự nhiên và căn bản của tình yêu là thông ban hạnh phúc của mình cho người khác, do căn tính của tình yêu là : ước mơ và làm cho người khác được hạnh phúc. Vì thế, khi đã thuộc trọn về Thiên Chúa là Tình Yêu rồi, khi đã hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Thiên Chúa rồi, chúng ta không thể không thương mến anh em mình, bởi Tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa thúc bách chúng ta trao ban hạnh phúc mình đang có trong tình yêu với Thiên Chúa cho mọi người chung quanh, bởi mọi người đều là đối tượng của một Tình Yêu độc nhất tuyệt đối là Thiên Chúa. 
   Kinh nghiệm còn cho chúng ta thấy: tình yêu rất năng động  và không bao giờ chịu ngưng nghỉ. Chẳng thế mà khi đã thực sự yêu ai, ta yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu bất chấp mọi chống đối, rào cản, hoàn cảnh khó khăn. Tình yêu dâng hiến cho Thiên Chúa cũng vậy, sẽ không nằm yên hưởng thụ, không đóng cửa gài then, nhưng bung ra xa, mở rộng mãi, phóng  tới những đối tượng mới, những đối tượng không chỉ của tình yêu trong ta, mà còn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa . Nói cách khác, khi đã yêu Thiên Chúa rồi, ta không thể không yêu anh em đồng loại, vì lúc đó, ta không còn yêu anh em bằng tình yêu nhỏ bé, bất toàn của mình, nhưng bằng tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, Đấng sẽ  dìu ta đến gặp tha nhân, bởi Ngài cũng yêu thương họ như yêu thương chúng ta.
    Hơn thế nữa, khi yêu ai, ta muốn họ hạnh phúc, bằng  làm vui lòng họ, nên ta sẽ qúy người họ yêu, thương người họ mến. Vì thế, sẽ không ngạc nhiên khi người yêu mến Thiên Chúa sẽ mến thương anh em mình, bởi đó là ý muốn của Thiên Chúa, bởi đó là điều làm vui lòng Thiên Chúa hơn cả. Sở dĩ Ngài muốn chúng ta yêu anh em đồng loại như chính mình, vì Ngài đã tạo dựng mọi người,  yêu thương mọi người, muốn cứu độ  mọi người, trao ban hạnh phúc cho mọi người , bằng cớ là Ngài đã chết cho mọi người được sống, cũng như làm mưa nắng trên cả người lành, kẻ dữ, không loại bỏ, ruồng rẫy một ai.   
     Vâng, Đức Giêsu đã đến trong thế giới, không  để loan báo khơi khơi một sứ điệp, và lập ra một tôn giáo mới với  giáo lý và lề luật nặng nề, gò bó;  nhưng vạch rõ con đường Tình Yêu  Chúa đã đến với con người và  hành trình Tình Yêu con người đến với Thiên Chúa. Trên con đường tình này, Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau cách sống động, cụ thể, trong mọi sinh hoạt của đời sống con người.
     Tóm lại, Thiên Chúa của Kitô giáo không  xa vời, huyền hoặc  nhưng  ở giữa con người để yêu thương. Tình yêu Thiên Chúa trong Đức Giêsu không còn là tình yêu chỉ để súyt xoa chiêm ngưỡng, nhưng là tình yêu  hiện diện, chia sẻ cứu sống về phiá Thiên Chúa, đồng thời về phiá con người, tình yêu ấy  làm rạo rực  tim người, làm phấn khởi đời người, và mang về hạnh phúc cho con người biết yêu mến Thiên Chúa và mến thương anh em mình.
    Tin Mừng là Lời Thiên Chúa, và Lời Thiên Chúa là chân lý vĩnh cửu, nên chúng ta sẽ không còn thắc mắc như những người Do Thái xưa : Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?  Bởi chỉ có một giới răn duy nhất dành cho những người đi theo Đức Giêsu, đó là yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  thể hiện tình yêu ấy bằng làm theo ý muốn duy nhất của Thiên Chúa, ý muốn vừa đẹp lòng Ngài, vừa đem lại hạnh phúc đời đời cho chúng ta là thương yêu anh em như chính  mình.

Jorathe Nắng Tím

CON CÁI THIÊN CHÚA


     Ngày 24 tháng 10 năm 2018, nước Mỹ giật mình khi hai em nữ sinh trung học cơ sở tuổi 13 và 14 lên kế hoạch giết 15 bạn học cùng lớp. Kế hoạch bị bại lộ ở phút chót, khi hai em đang trốn trong nhà vệ sinh và chuẩn bị lao vào lớp đâm chém. Cuộc điều tra cho biết: hai em gia nhập hội kín “Con Cái của Satan” và nghe tiếng thúc giục từ nhiều tháng phải giết đủ 15 người và uống máu của nạn nhân, như ý muốn của tướng qủy Satan đề nghị.  
    Những tổ chức, hiệp hội với mục đích phục vụ Satan và chống phá Giáo Hội của Đức Giêsu ngày càng nhiều. Hội viên gồm đủ thành phần, và hoạt động hầu như công khai, với những danh hiệu đại loại như : “Chiến Sĩ của Satan, Những người  xây dựng vương quốc Hoả Ngục, Đội Quân Thiện Nguyện, Thiện Chiến của Bóng Tối, Những tay Sát Thủ bất diệt...”.  Mục đích chung của những hiệp hội, tổ chức kín, hở này là đánh bật Đức Giêsu ra khỏi đời sống, sinh hoạt của con người, và quyết tâm khai tử Giáo Hội Công Giáo.
    Tại sao là Giáo Hội Công Giáo ? Vì Giáo Hội Công Giáo thực hiện đúng lệnh truyền và ý muốn của Đức Giêsu, khi tuyên xưng niềm tin của thánh Phêrô, Tông Đồ trưởng của Nhóm Mười Hai nơi Đức Giêsu Kitô : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), mà không đặt niềm tin nơi bất cứ ai, hay theo bất cứ niềm tin của người nào khác, nhưng chỉ là niềm tin của Phêrô đã được Đức Giêsu xác nhận : “Này anh Simôn, con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Đức Tin Công Giáo, vì thế, là đức tin tông truyền, nghiã là từ các thánh Tông Đồ, và mãi mãi cho đến tận thế, đức tin ấy cũng không đi ra ngoài Tông Truyền , nên  tinh tuyền, và đích thực.
   Một lý do khác, đó là Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội có phẩm trật, đứng đầu là Tông Đồ trưởng Phêrô, như ý muốn của Đức Giêsu : “Anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chià khóa Nước Trời” (Mt 16,18-19). Nhờ thế, giáo lý của Đức Giêsu không bị bóp méo, hay cắt nghiã lệch lạc, và Tin Mừng của Ngài không bị xuyên tạc, thêm bớt, diễn dịch, loại suy một cách bừa bãi, vô trách nhiệm.
   Những phương thức chống phá, tiêu diệt Giáo Hội Công Giáo thì vô số kể, từ những đòn vu cáo để có cớ bắt bớ, đàn áp đến những trò chụp mũ, thổi phồng, tung hoả mù, gieo rắc hiềm khích, hạ uy tín, bôi nhọ danh dự, phá đổ ảnh huởng, chặt đứt các mối tương giao, cấm vận các phương tiện truyền giáo. Tất cả những việc Satan và những người thuộc về Satan gây ra để làm hại Giáo Hội, thì Đức Giêsu đã cảnh báo các môn đệ của Ngài ngay khi Giáo Hội được thành lập, nên chúng ta không mấy ngạc nhiên: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước...Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,18.20) .
   Nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên, là chính những hội mang tên “Con Cái Thiên Chúa” lại có đường lối, chủ trương như các hội của “Con Cái Satan”, điển hình là hội “Con Cái của Thiên Chúa” do cựu mục sư Tin Lành David Brandt Berg (1918 - 1994) thành lập năm 1960 tại Huntington Beach, California, Mỹ. Hội này bắt các thành viên phải khinh ghét và từ bỏ gia đình mình; bắt các thành viên nữ phải dùng sắc đẹp và thân xác để truyền giáo. Hội gọi phương cách truyền giáo bằng bán thân này là “Flirty- Fishing”. Sau ngày 4/12/1973 mà Hội công bố là ngày tận thế, số hội viên giảm sút trầm trọng, từ 100.000 chỉ còn 4000 vào cuối năm 1974.
    Như thế, chúng ta phải cẩn trọng và đừng nhẹ dạ nghe theo những giáo phái với danh xưng tuy không xa lạ, không gây xốc, nhưng thực chất hoàn toàn đối nghịch với giáo lý đức tin của Hội Thánh.
     Đứng trước đám đông tự nhận mình là Con Cái của Satan, chúng ta phải biết mình là Con Cái Thiên Chúa và tuyên xưng danh hiệu cũng như danh dự này, bằng ý thức địa vị vô cùng cao qúy chúng ta đã nhận từ tình yêu của Cha chúng ta là Thiên Chúa :
1.      Chúng ta là con cái Thiên Chúa, vì chúng ta được tạo dựng giống Thiên Chúa:
   “Thiên Chúa phán: Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26).
    Con người giống Thiên Chúa vì được tạo dựng bởi Thiên Chúa, sinh ra từ ý muốn của Thiên Chúa, và nhận từ Thiên Chúa sự sống là Hơi Thở : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7).
   “Đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta ; và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà vạn vật được tạo thành, và nhờ Người mà chúng ta được hiện hữu” (1Cr 8,6).
2.      Chúng ta là con cái Thiên Chúa, vì thuộc về Thiên Chúa qua Giao Ước Yêu Thương:
     “Trời hãy nghe đây, đất lắng tai nào, vì Đức Chúa phán : Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn” (Is 1,2).
    “Ta đã nói : “Có cách nào để Ta đặt ngươi trong hàng con cái ? Ta sẽ ban cho ngươi một miền đất hoan lạc làm phần gia nghiệp cao qúy nhất giữa chư dân. Ta đã nói : Ngươi sẽ gọi ta “Cha ơi !” Và ngươi sẽ không lià xa Ta nữa” ( Gr 3,19).
3.      Chúng ta là con cái Thiên Chúa, nhờ Tin vào Đức Giêsu Kitô :
      “Thật vậy, nhờ Đức Tin, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô” (Gl 3,26). “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Cha ơi !” Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4, 6-7).
     Tin Thiên Chúa tức là đón nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, và “những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,12-13).
4.      Chúng ta là con cái Thiên Chúa khi sống giới luật yêu thương của Tin Mừng :       
a.       Yêu bằng một tình yêu lạ thường, triệt để :
     “Anh em đã nghe Luật dậy rằng : hãy yêu đồng loại và ghét kẻ thù, còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,43- 48).
b.      Xây dựng hoà bình  trong cuộc sống :                 
  “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9). 
    Những giòng trên ít nhiều cũng cho chúng ta thấy chỗ đứng làm con Thiên Chúa của mình. Thực vậy, Kinh Thánh đã qủa quyết, Đức Giêsu Kitô đã chứng thực và chúng ta có quyền vui mừng đón nhận vinh dự làm con Thiên Chúa.
     Có Chúa là Cha, chúng ta chẳng sợ gì ; có Chúa là Cha, chúng ta được sống hạnh phúc và chết bình an, bởi không danh dự nào lớn hơn danh dự được giống Thiên Chúa ; không bảo hiểm nào bảo đảm vững chắc hơn được nuôi nấng, bảo bọc bởi Thiên Chúa ; không kho tàng nào qúy giá hơn được thừa kế gia nghiệp của Thiên Chúa ; không hạnh phúc nào lớn hơn được yêu thương như Thiên Chúa yêu thương.
  Tối nay, ngoài đường phố, người ta hoá trang làm qủy dữ mừng ngày Halloween. Là con cái của Thiên Chúa Sự Sống, chúng ta nghĩ gì khi con em chúng ta tham gia lễ hội của thần chết ? Chúng ta có thể chấp nhận con cái của Thiên Chúa là con em chúng ta đầu quân trong hàng ngũ những người đi quảng cáo, “làm maketing” cho vương quốc của ma qủy, khi hoá trang làm qủy dữ đến gõ cửa từng nhà xin bánh kẹo ?
     Người viết đã trình bầy rất chi tiết về ngày Halloween với ý đồ rất thâm độc của những nhóm theo Satan trong tác phẩm “Xin Chớ Để Chúng Con Sa Chước Cám Dỗ”. Rất mong qúy bạn tìm đọc để hiểu rõ hơn cạm bẫy của Satan đang chiêu dụ con cái Thiên Chúa .
   Chúng ta cầu nguyện cho nhau và nhắc nhở nhau lời Đức Giêsu: “Ma qủy sàng chúng con như người ta sàng gạo” (Lc 22,31), để khỏi mất lòng tin và đừng nhẹ dạ đánh mất ơn làm con cái Thiên Chúa.
Jorathe Nắng Tím