Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

HẠNH PHÚC



Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 6 Thường Niên, Năm C)
   Hôm nay Thiên Chúa quy tụ chúng ta và nói với chúng ta hai điều quan trọng, đó là Thiên Chúa muốn chúng ta hạnh phúc, và để được hạnh phúc, chúng ta chỉ cần tín thác vào Ngài. Ngôn sứ Giêrêmi, tác giả của thánh vịnh thứ nhất cũng như Đức Giêsu đã nói về hạnh phúc như nhau : Giêrêmi thì quả quyết : hạnh phúc không thể có, nếu ta “đặt niềm tin ở người đời, lấy sức phàm nhân mà nương tựa” (Gr 17,5), nhưng hạnh phúc chỉ có khi “đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương tựa”. Người hạnh phúc ấy “như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái” (Gr 17,7-9).
   Đức Giêsu thì loan báo hạnh phúc là một thực thể, một sự thật đang xẩy ra, vì Nước Thiên Chúa đang ở giữa mọi người, nhờ Ngài đã mang Tin Mừng đến (Lc 4, 18).
   Hiến chương Nước Trời Ngài ban cũng chính là Hiến Chương Hạnh Phúc vì một lý do duy nhất : Nước Trời là vương quốc hạnh phúc của Thiên Chúa. Hiến chương này phù hợp với chương trình cứu thế của Đức Giêsu đã được chính Ngài công bố trong hội đường ở Nadarét : “Thần Khí Chúa ngự xuống trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn. Người sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18-19), bởi cả hai cùng nhắm chung một đối tượng là những người nghèo đói, thiếu thốn, bị thiệt thòi, bị hàm oan, phải khóc lóc, nói chung là những người đau khổ.
   Như thế, với Hiến Chương Hạnh Phúc, Đức Giêsu đã minh nhiên cho mọi người thấy sứ mệnh của Ngài là đem hạnh phúc cho hết mọi người, mà trong cuộc sống không ai là người không khổ đau cách này cách khác. Và như Giêrêmia, hạnh phúc ấy bắt nguồn từ Thiên Chúa, hệ tại ở lòng tín thác nơi Thiên Chúa. 
   Như thế, hạnh phúc đích thực của người nghèo khó sẽ không là của cải vật chất, nhưng là Nước Thiên Chúa ; hạnh phúc của người đói khát sẽ là lương thực của Thiên Chúa làm cho no thỏa ; hạnh phúc của người đang phải khóc lóc sẽ được vui cười trong Thiên Chúa là niềm vui ; và hạnh phúc của những ai bị sỉ vả, oán ghét, bách hại vì Nước Trời sẽ là Nước Trời hạnh phúc (x. Lc 6, 20-23).
   Tóm lại, Thiên Chúa không dựng nên con người để con người phải đau khổ, nhưng như người cha xót thương con cái mình phải khổ đau vì hậu quả của tội lỗi, Thiên Chúa mong đem lại hạnh phúc là chính Chúa cho con người đau khổ, bằng mở ra cho con người con đường hạnh phúc thật, và mời gọi mỗi người hãy lên đường đến với Ngài. 
  Như chữ đầu tiên của sách thánh vịnh đã được bắt đầu bằng “Hạnh Phúc thay” (Tv 1,1), và kết thúc bằng : “Hỡi toàn thể chúng sinh, ca tụng Chúa đi nào ! Ha-lê -lui- a !” (Tv 150, 6), chúng ta hãy biến cuộc đời này thành hành trình đi tìm Hạnh Phúc mà đích tới chính là được ca tụng Thiên Chúa, nguồn Hạnh Phúc vô cùng của ta.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 5 Thường Niên, Năm C


Sứ Vụ và Hồng Ân (Lc 5, 1-11)
    Tuy không phải là khánh nhật Ơn Gọi, nhưng các bài đọc và Tin Mừng trong Chúa Nhật thứ năm thường niên đều quy chiếu về Ơn gọi, đặc biệt là thái độ đón nhận ơn gọi của người được gọi.


   1/ Thái độ khiêm tốn vì thấy mình bất xứng:
   Bài đọc một, ngôn sứ Isai đã nói về tình trạng bất xứng của mình khi Thiên Chúa tuyển chọn ông : “Khốn thân tôi, tôi chết mất ! Vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6, 4).
   Tông đồ dân ngoại Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côrintô đã không ngại nói về mình: “Tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa” ( 1 Cr 15, 9).
   Tin Mừng Luca thì kể lại một đêm dài vất vả mà không bắt được con cá nào của Simôn Phêrô và mấy anh em ngư phủ chuyên nghiệp. Đức Giêsu đến gặp họ và bảo: “Hãy chèo ra chỗ sâu mà thả lưới bắt cá” ( Lc 5, 4), và khi “bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới”, “Phêrô đã sấp mình dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ có tội” ( Lc 4, 6. 8).
   Cả ba con người được gọi đều cùng một tâm tình khiêm tốn khi thấy mình hoàn toàn bất xứng. Cả ba đều tự khám phá giới hạn của mình: tội lỗi, thiếu khả năng. Và qua các vị, chúng ta có thể khẳng định: điều kiện thứ nhất và quan trọng ở người được Thiên Chúa gọi, đó là ý thức tình trạng bất xứng của mình để có được tâm tình khiêm tốn trước hồng ân Ơn Gọi.


   2/ Tin tưởng ở sứ vụ và hồng ân:
   Người được Thiên Chúa kêu gọi biết mình bất xứng, nhưng không dựa trên tình trạng bất xứng mà thoái thác, trốn chạy lời mời gọi  của Thiên Chúa, nhưng đáp trả bằng tín thác tuyệt đối vào Đấng chọn mình và tin tưởng sứ vụ sẽ được ơn Ngài phù trợ.
    Isai đã thưa với Thiên Chúa: “Này con đây, xin hãy sai con đi” ( Is 6, 8), sau khi Thiên Chúa lấy than hồng mà chạm vào miệng ông, để ông “được tha tội và xá tội” ( Is 6, 6). Phaolô cũng đã hân hoan đón nhận sứ vụ tông đồ dân ngoại, vì “nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu” ( 1 Cr 15, 10). Riêng Phêrô thì tin vào lời Đức Giêsu: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Và chỉ vì lời ấy của Đức Giêsu, Phêrô “đã bỏ mọi sự mà theo Người” ( Lc 5, 10 -11).
   Và cũng ba người biết mình tội lỗi, không có khả năng nhưng được gọi này đã tín thác theo tiếng gọi của Thiên Chúa, và lên đường đi theo Ngài, thi hành sứ vụ được trao. Ở bất cứ thời nào, ở đâu, những người được Thiên Chúa gọi đều là những con người bất toàn, có giới hạn, yếu đuối. Và một khi đã dấn thân đi theo phục vụ Thiên Chúa, họ đều nhận ra ơn Chúa thực sự bao phủ họ, và không ơn Chúa, họ sẽ gục ngã và không thể chu toàn sứ vụ được trao.
   Như thế, sẽ không có sứ vụ nếu vắng bóng hồng ân, và không có hồng ân, nếu không có Đấng kêu gọi và sai đi. Người được gọi vì thế sẽ chẳng có lý do để tự hào, tự mãn; càng không có cơ sở để kiêu căng cho mình là hoàn hảo, xứng đáng, “chuẩn không cần chỉnh” trước sứ vụ, bởi “không có Thầy, chúng con chẳng làm được gì” ( Ga 15, 5), và nếu không có ơn phù trợ ở nơi danh Chúa sẽ không có người được sai đi. 


   3/ Sứ vụ được trao là phục vụ:
   Thiên Chúa không gọi người Ngài muốn để họ được người khác hay cộng đoàn phục vụ, hầu hạ, phục dịch, ngược lại, để họ phục vụ người khác, phục vụ cộng đoàn, như chính Đức Giêsu đã “đến để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mt 20, 28) .
   Vì thế, không có ơn gọi nào khác ngoài ơn gọi phục vụ, và không có sứ vụ nào khác ngoài sứ vụ làm tôi tớ, như ý muốn của Đức Giêsu khi Ngài rửa chân các môn đệ của Ngài: “Anh em gọi Thầy”  là “Thày”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” ( Ga 13,13-15). Rửa chân người khác là việc làm của tôi tớ, kẻ hầu người hạ, đời nào chủ lại đi rửa chân cho ai bao giờ ? 
   Xin Chúa ban cho mọi người Kitô hữu ý thức tính mỏng dòn, và tình trạng bất xứng của mình trước hồng ân được Chúa gọi và sai đi phục vụ, để dù ở trong chức vụ, phẩm trật nào, sẽ không quên sứ vụ duy nhất được trao phó là phục vụ. Chỉ với phục vụ, ơn gọi và sứ vụ của người Kitô hữu mới có giá trị và mang ý nghĩa cứu độ, vì thực thi đúng điều Chúa muốn khi được kêu gọi và sai đi.
Jorathe Nắng Tím


BÀI THƠ THAY LỜI CHÚC XUÂN (Tác giả NHƯ NHIÊN)


Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

NĂM MỚI – VƯỢT QUA


   Giây phút đón giao thừa, không ai bảo ai, nhưng muôn người như một hồi hộp, nôn nao, nóng lòng đếm ngược từng giây, đợi chờ phút giao niên, giây phút từ năm cũ vượt qua năm mới, giây phút vượt qua của thời gian, cũng là giây phút vượt qua của lòng người, và đời người.

   1/ Giao thừa : Giây phút vượt qua của thời gian :
   Thời gian cần cho lịch sử, bởi không có thời gian làm sao có lịch sử, và con người cần lịch sử, bởi lịch sử như giòng sông , trên đó, con người xuất hiện, hiện diện, và tan biến. Nhờ giòng sông lịch sử, con người nhận ra dấu vết hiện hữu của mình; nhờ giòng lịch sử, con người định được thâm niên, tuổi tác, ngày chào đời, giờ tạ thế. Và giòng thời gian tưởng cứ mãi vô tình trôi về vô tận, mà không đoái hoài đến cột mốc, bờ ranh, nhưng thực ra, thời gian cũng phải theo định luật của vượt qua, khi vượt từ thời gian của năm cũ qua thời gian của năm mới, nhờ ngưỡng cửa Giao Thừa.

    2/ Giao Thừa : Giây phút vượt qua của lòng người:
    Không lúc nào, người ta biểu lộ ước mơ vượt qua bằng giây phút giao thừa. Người ta muốn vượt qua từ năm cũ sang năm mới, vượt qua từ thiếu sót sang hoàn hảo, vượt qua từ xấu sang tốt, vượt qua từ dang dở sang trọn vẹn, vượt qua từ thất bại sang thành công, vượt qua từ xui xẻo sang may mắn, vượt qua từ bệnh tật sang khỏe mạnh, vượt qua từ yếu đuối sang kiêu hùng, vượt qua từ nghèo đói sang dư dả, vượt qua từ không tiền sang có tiền, vượt qua từ thân nợ nần sang vị thế chủ nhân, vượt qua từ thất vọng sang hy vọng, vượt qua từ khánh kiệt sang phát tài, vượt qua từ thấp hèn sang cao cả, vượt qua từ chết sang sống, vượt qua từ khó khăn sang hạnh thông quan lộ.
    Vì là chuyến vượt qua chất đầy hy vọng, mang nhiều kỳ vọng, ôm ấp trọn ước mơ, nên giao thừa được coi như biến cố có sức đổi đời, sự kiện mang tính quyết định số phận tương lai. Chinh vì thế, đón giao thừa không còn là việc nhỏ, nhưng là việc trọng đại, ảnh hưởng không chỉ trên đời sống của một người, mà tương lai của cả gia đình, gia tộc, đất nước.
    Cũng vì ước mơ “vượt qua” thôi thúc mãnh liệt, mà người ta đón giao thừa như đón một nhân vật thiêng liêng, một thần linh hơn là đón một mấu chốt của thời gian, một giao điểm giữa năm cũ và năm mới. Với tất cả tâm hồn, người ta đón giao thừa bằng việc sửa sang, dọn dẹp tươm tất, và trang trí rực rỡ, sang trọng nhà cửa bên trong bên ngoài. Quần áo, trang sức thì khỏi bàn: ai cũng tươi tắn, mặn mà, đẹp trai, xinh gái. Người ta cũng vượt qua rất nhiều để không cau có, bẳn gắt, khó chịu, nhưng vui vẻ, tươi cười, ngay cả với người không ưa, hay đối thủ ở phút giây giao thừa, hầu tránh tai ương, xui xẻo cho năm mới.
    Cả đến những hành vi hung dữ, ngang ngược như thói quen ngày thường, ở phút giây giao thừa cũng phải được dằn lòng vượt qua và thay bằng tử tế, hiền lành.
    Như thế, giao thừa đã trở thành cơ hội mọi người tập vượt qua bằng vượt qua rất nhiều điều cần phải vượt qua như không nóng giận, chửi thề, nguyền rủa, đánh đấm. Sở dĩ vượt qua được những tật xấu mà ngày thường khó vượt qua vì người ta sợ giây phút vượt qua linh thiêng của giao thừa sẽ kéo theo những điều xấu của năm cũ qua năm mới, những điều xấu mà đa số đều nghĩ chỉ có phút giao thừa kỳ bí mới có sức tháo gỡ, thay đổi.

    3/ Giao thừa : giây phút vượt qua của đời người:
    Vượt qua đời người, vì giao thừa vượt từ trẻ qua già, vượt từ xa đến gần, vượt từ triền núi đi lên bên này qua triền núi đi xuống bên kia, nghĩa là sau giây phút vượt qua của giao thừa, tuổi đời sẽ già hơn, tuổi sống sẽ ngắn hơn, đường đời sẽ rút vắn lại, vì quỹ thời gian sống sẽ hao hụt theo bước chân của thời gian. Như thế, nếu vượt qua của lòng người ăm ắp ước mơ, thì vượt qua của đời người mở ra một thực tế không đẹp như mơ. Không đẹp vì thêm tuổi thêm già, tuổi già lại yếu đau, đưa con người gần hơn đến mộ phần.
Nhưng có thực lòng người đi nghịch hướng của thời gian và đời người ?
    Nếu thời gian chuyển vận theo quy trình một vòng tròn vô tận, thì đúng, nhưng thời gian không vô tận, mà có khởi điểm và đích tới, nghĩa là có đầu và cuối, khởi thuỷ và chung cục, nên tiến trình của thời gian đi theo một đường thẳng và Thiên Chúa là Đấng làm chủ toàn thể thời gian. Ngài ban thời gian cho con người và cùng thời gian, con người được mời gọi đi về Chân - Thiện - Mỹ tuyệt đối là chính Ngài.
    Như thế, thời gian của Thiên Chúa thì vô tận, và là hiện tại vô cùng trước mặt Ngài, nhưng với con người thì thời gian hữu hạn, bằng chứng là con người bị giới hạn bởi thời gian được cắt ra nhiều khoảng khắc làm thành quá khứ, hiện tại, tương lai, đồng thời đời sống mỗi người đều được định đoạt ngắn dài khác nhau bởi một thời điểm sinh ra và một thời điểm lìa đời.
     Cùng một quy trình với thời gian, con người cũng phải vượt qua những mấu chốt như thời gian phải vượt qua từ năm cũ qua năm mới, từ quá khứ qua hiện tại, rồi từ hiện tại qua tương lai, hướng về điểm hẹn cuối cùng là Thiên Chúa của Chân -Thiện - Mỹ tuyệt đối. Nói cách khác, dù muốn hay không, con người không ra khỏi thời gian, nhưng lệ thuộc thời gian, nên phải theo thời gian mà vượt qua không chỉ mỗi năm lúc giao thừa, mà vượt qua từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, không ngơi nghỉ, bởi giòng thời gian thì không ngừng trôi, và đời người không thể dậm chân tại chỗ.

   Một khi đã chấp nhận vượt qua là đòi hỏi của kiếp người, chúng ta cần xác định lý do của đòi hỏi này :
  a. Điểm tới sau cùng của thời gian đối với mỗi người là sự chết:

   Thời gian không vô tận, nhưng có điểm tới, chỗ ngừng. Một khi biết quỹ thời gian của đời ta không vô tận, nhưng sẽ ngừng ở một điểm, chúng ta sẽ không buông xuôi , thả trôi đời mình cách vô trách nhiệm trên giòng sông thời gian, nhưng sẽ cùng thời gian vượt qua giòng đời.

    b. Vượt qua sự chết, chúng ta phải đối diện vời Đấng là Chân - Thiện -Mỹ tuyệt đối.
    Chính vì Đấng này, mà chúng ta liên lỷ theo thời gian vượt qua : vượt qua gian dối đến với sự thật, vượt qua cái ác đến với cái tốt, vượt qua cái xấu đến với cái đẹp. Và hành trang “mang theo được và được mang theo” của chúng ta qua bên kia ranh giới của thời gian chính là sự thật chúng ta là, những điều tốt đẹp chúng ta sống, và những việc phúc đức chúng ta làm. Và để thực hiện những điều này, chúng ta phải vượt qua rất nhiều, và cái phải vượt qua thứ nhất cũng là cái khó vượt qua nhất chính là “cái tôi” kiêu căng, lười biếng, ích kỷ , hưởng thụ, tham lam.
    Đón giao thừa, mừng năm mới, chúng ta xin Chúa nghị lực và tình yêu để có thể vượt qua những gì của con người cũ, để mặc lấy con người mới trong Đức Giêsu Thiên Chúa, với ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần.

  Jorathe Nắng Tím


Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 4 Thường Niên, Năm C (Đồng Hương)


    Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật cảnh Đức Giêsu về quê Nadarét, như chúng ta đang khấp khởi chuẩn bị về quê ăn tết. Bởi ai cũng có một quê hương, Đức Giêsu cũng có như chúng ta một quê cha đất tổ, ở đó Ngài đã lớn lên, trưởng thành. Hôm nay về thăm lại quê làng, tâm trạng Ngài chắc không khỏi háo hức, bồn chồn như chúng ta về quê ngày Tết.

    Tin Mừng Luca kể chi tiết chuyến về thăm quê lần này của Đức Giêsu: Ngài đã vào hội đường và trước mặt đồng hương đã công bố chương trình mục vụ của mình, mà toàn phần được trích từ sách của ngôn sứ Isai: “Thần Khí Chúa trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Ngài sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18-19).
    Phản ứng tức thời, và tự nhiên của mọi người là “tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” ( Lc 4, 22). Nhưng ngay sau đó, họ không còn quan tâm đến nội dung bài giảng của Ngài nữa, mà quay nhìn nhau thắc mắc : “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?” ( Lc 4, 22). Và đoạn cuối của chuyến về thăm quê lần này là “mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực” ( Lc 4, 28-29).
     Tại sao lại có chuyện thay đổi đột ngột và đau lòng như vậy ?
    Trước hết, đồng hương của Đức Giêsu đã không thể nghĩ Đấng Thiên Sai mà toàn dân trông ngóng lại có thể là anh Giêsu, con trai ông Giuse nghèo, không hề “có máu mặt hay nổi đình đám” trong làng; còn bà Maria, mẹ của anh thì càng “vô danh tiểu tốt”, lặng lẽ, âm thầm. Chính vì nghèo và không có gì nổi bật mà đồng hương, dù ngưỡng mộ “lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” cũng trân tráo đổi mặt chống đối.
Thế mới biết con người thường đánh giá nhau qua những gì thấy được bên ngoài, như gia thế, của cải, chức tước, dáng bộ quyền quý, sang trọng, mà quên hẳn giá trị bên trong, thầm kín, nội tâm.
     Đồng hương còn một lý do sâu sa khác dẫn đến thái độ phẫn nộ, xua đuổi Đức Giêsu, người con của quê hương Nadarét là vì Đức Giêsu đã gián tiếp từ chối làm phép lạ như đã làm ở Caphanaum, khi Ngài lật tẩy ý nghĩ của họ : “Hẳn các ông muốn nói với tôi: Thày lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm ở Caphanaum, ông cũng hãy làm tại đây, quê hương ông xem nào !” ( Lc 4, 23). Đây chính là que diêm châm ngòi cơn phẫn nộ của hầu hết đồng hương của Đức Giếu hôm ấy.
     Quả thực, họ muốn Đức Giêsu, vì cùng quê, nên phải thuộc về họ, làm theo ý họ, đi theo đường lối họ đề ra, nhất là phải thi thố tài năng chữa bệnh, đuổi quỷ, cho người chết sống lại ngay tại quê hương, trước mặt họ, để làm “nở này nở mặt” đồng hương, làng nước, theo kiểu “một người làm quan, cả họ được nhờ”.
     Nhưng then chốt của vấn đề chính là thiếu Đức Ái nơi đồng hương Nadaret. Vì thiếu Đức Ái, họ đã không biểu lộ tình đồng hương thân thương, không ân tình đón tiếp người anh em Giêsu của mình, vì thế họ đã không nhận ra ân huệ của Thiên Chúa mà họ đang có nơi Đức Giêsu. Cũng vì thiếu Đức Ái, họ đã kiêu căng, tự đắc, ghen tương, nóng giận, hung dữ khi phỉ báng, xua đuổi, tìm cách hãm hại Đức Giê su, người con tuyệt vời của quê hương Nadaret. 
    Trong thư gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đã trình bầy bản chất của Đức Ái và theo Ngài : “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13, 13).
     Ước mong mỗi lần về thăm quê, chúng ta nhận được tình cảm ấm áp của những người con cùng quê cha đất mẹ, và yêu thương gửi lại quê làng tình người con xa xứ. 
     Trong Đức Giêsu, chúng ta cùng cầu xin cho quê hương, làng xóm được bình an, và đồng hương, thân thuộc biết yêu thương, tương trợ là giây liên kết mọi người trong tình Chúa, tình người, tình đồng hương ngàn đời trân quý.
Jorathe Nắng Tím


Thứ Năm, 24 tháng 1, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG Chúa Nhật 3 TN, năm C (Lc 1,1-4;4,14-21.)


SỨ MẠNG CỦA ĐỨC GIÊSU

    Điều Tin Mừng làm chúng ta bất ngờ hôm nay chính là Đức Giêsu đã công bố sứ mạng cứu thế của Ngài trong hội đường ở Nadaret, quê hương Ngài, để cũng từ quê hương không “là chùm khế ngọt” này, Ngài bị đồng hương “lôi ra khỏi thành...kéo lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực thẳm” (Lc 4, 29).


Tin Mừng làm nổi bật ba điểm trong sứ mạng của Đức Giêsu:

  1/ Ngài được quyền năng Thần Khí thúc đẩy (Lc 4, 14):
     Đức Giêsu đã đến trong thế gian để thực hiện thánh ý Chúa Cha. Ngài không tự mình mà đến, nhưng được sai đến bởi Thiên Chúa là Tình Yêu để yêu thương nhân loại đến cùng. Vì thế, sứ mạng cứu thế của Ngài cũng đã được hướng dẫn, thúc đẩy bởi Thánh Thần Là Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nói cách khác, sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu là công trình chung của cả Ba Ngôi Thiên Chúa với sự cộng tác tích cực của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

  2/ Đối tượng của sứ mạng là con người toàn diện:
    Khi khẳng định: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21), sau khi đã công bố lời ngôn sứ Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18-19), Đức Giê su đã cho cử tọa thấy rõ sứ mạng của Ngài là con người toàn diện, nghĩa là không chỉ con người siêu nhiên, nhưng còn là con người tự nhiên; không chỉ phần hồn của con người, mà còn phần xác của con người nữa.
    Ngài giải phóng những người nghèo thiếu ăn thiếu mặc, bị người đời khinh khi; giải phóng người mù loà vì đôi mắt thân xác không còn; giải phóng tù nhân mà xác thân bị tra tấn, hành hạ, gông cùm; và những ai bị áp bức mà dấu tủi nhục còn hằn sâu trên thân thể được Ngài trả lại tự do.
     Sứ mạng ấy nhắm con người toàn diện, vì con người gồm xác và hồn, nên không thể tách hồn khỏi xác. Thánh Giacôbê đã quảng diễn: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có Đức Tin mà không hành động theo Đức Tin, thì có ích lợi gì? Đức Tin có thể cứu người ấy được chăng ? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ : Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gc 2, 14-16). Sứ mạng loan báo Tin Mừng vì thế cũng không thể bỏ quên nhu cầu của thân xác con người.
    Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai đã nói về thân xác. Thánh nhân là người nói về thân xác nhiều nhất, 91 lần. Trong thư gửi giáo đoàn Côrintô, ngài nhấn mạnh phẩm giá của thân xác con người, vì “thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác” (1 Cr 6, 14), và “thân xác chúng ta chính là phần thân thể của Đức Kitô” (1 Cr 6, 15). Ngài còn quả quyết : “ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy ... và chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1Cr 12, 12-13).

  3/ Sứ mạng của Đức Giêsu đã được các ngôn sứ loan báo:
     Khi trích lời ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu đã nói lên vai trò của Cựu ước và sự gắn bó với truyền thống Itraen của Ngài, đồng thời cũng cho những người đang nghe Ngài biết : Chính Ngài là Đấng được xức dầu tấn phong và được Thiên Chúa sai đến để giải phóng nhân loại. Lời ngôn sứ lúc này là bảo chứng đáng tin cậy đối với cộng đoàn đang lắng nghe Ngài về sứ mạng cứu thế của Ngài.
    Công bố sứ mạng cứu thế, Đức Giêsu mời gọi chúng ta đi theo Ngài và cùng Ngài thực hiện sứ vụ yêu thương, phục vụ anh em mình.

Jorathe Nắng Tím


Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019

Hoài Nghi và Đức Tin

     Được sinh ra trong gia đình công giáo, lớn lên trong xứ đạo, và hồn nhiên giữ đạo theo truyền thống đến ngày phải xa nhà, xa xứ, bôn ba, phiêu bạt, tôi đã không có kinh nghiệm về tình trạng giằng co căng thẳng giữa hoài nghi và Đức tin nơi các anh em vô thần mà tôi quen biết, và sự biến đổi kỳ diệu khi anh em chọn theo Đức Giêsu.
    Hoài nghi là tính cách của con người. Vì có lý trí để nhận thức, tư duy và ý chí để chọn lựa, nên bất cứ sự gì, hiện tượng, hay biến cố nào đều được con người đặt thành vấn đề và  truy nguyên, phân định đúng sai, thật giả, giá trị nặng nhẹ. Ngay từ bình minh của loài người, tổ tiên chúng ta đã ngỡ ngàng trước thiên nhiên mà các ngài không hiểu gì về quy luật tuần hoàn. Và trước biến đổi của thời tiết, chuyển vận của hành tinh, vũ trụ, các ngài đã đi từ sừng sốt này sang sửng sốt khác, từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên kia, rồi vất vả vượt qua sợ hãi này đến sợ hãi kia, từ hoang mang này đến hoang mang nọ, do nhiều đe dọa, và vô số nghi nan.
     Do không hiểu, nên sợ hãi, nghi nan, mà tổ tiên chúng ta đã biến sức mạnh thiên nhiên thành những vị thần và suy phục, sùng bái. Đó là cách giải thích nguồn gốc tôn giáo được đa số đồng thuận, tuy không phải là giải thích đúng toàn phần, vì vô tình hay cố ý bỏ quên tôn giáo tính của con người.
    Ngoài những hoài nghi trước thiên nhiên, con người còn cảm thấy áp lực vô hình phải đối mặt với nghi vấn về sự có mặt của mình trong cuộc đời, vận mệnh, ý nghĩa và giá trị của cuộc sống, lý do hiện hữu của tai ương, đau khổ, cả cái phi lý đến phẫn nộ của sự thật đau lòng thường thấy, đó là người hiền chẳng gặp may, mà kẻ gian ác thì phúc lộc, công danh xếp dài từ cửa, chưa kể chuyện buồn “làm người thì phải chết”, và chuỗi dài hệ quả, mà chẳng người sống nào được biết.
    Phần đông bạn bè vô thần của tôi đã gặp Thiên Chúa trong tình trạng hoài nghi này, sau khi đã vận dụng mọi khả năng để có được giải đáp thỏa đáng. Khi chia sẻ về “duyên lành” và hành trình gặp gỡ Đức Giêsu, các bạn ấy đều chung những cảm nghiệm:
    Cảm nghiệm Thiên Chúa từ rất lâu đã có mặt cách sống động, và can thiệp cách tích cực trong đời sống anh em.
  Cảm nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu là một ơn gọi đặc biệt và độc đáo, riêng tư. Thiên  Chúa không theo quy tắc, quy luật hay quy trình chung, áp dụng cho mọi người, nhưng làm theo sáng kiến bất ngờ và xem ra chỉ dành riêng cho tương quan giữa một mình Ngài và người ấy.
    Cảm nghiệm gặp Đức Giêsu là đích tới đã được Thiên Chúa quan phòng cầm tay dẫn dắt không chỉ từ khi lọt lòng mẹ, mà từ nhiều đời cha ông trước đó. Điều này
có nghĩa việc gia nhập Giáo Hội không được hiểu như hành vi phản bội, chối bỏ quãng đời trước đó với truyền thống gia tộc, giáo dục gia đình, đặc biệt các giá trị nhận được nơi tôn giáo cũ. Trái lại, tất cả đều mang dấu ấn chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ nhiệm lạ với Đức Giêsu.
    Nhưng cảm nghiệm gây ấn tượng nhất, đó là những nghi nan, nghi vấn, nghi hoặc, nghi ngờ, nghi ngại có trước đó đã được biến đổi trong Đức tin, với Đức tin và nhờ Đức tin, khi anh em gặp Đức Giêsu.
     Điều này không có nghĩa tất cả hoài nghi phút chốc biến mất, và nhường chỗ cho xác quyết kiên định; càng không thể ảo tưởng gặp gỡ Đức Giêsu là không còn vấn đề, không còn nghi nan, do dự. Trái lại, khi cảm nghiệm hoài nghi được biến đổi thành Đức Tin trong Đức Giêsu, người anh em của chúng ta muốn chia sẻ ơn hiểu biết nhận được một cách kín đáo, nhẹ nhàng từ Chúa Thánh Thần khi tín thác đi theo Đức Giêsu, và phó thác mọi hoài nghi dưới ánh sáng của Tin Mừng. Chính lúc phó thác là khi hoài nghi được Lời Thiên Chúa giải mã; chính lúc ngoan ngoãn lắng nghe Tin Mừng là khi Tin Mừng khai đường mở lối những nghi nan. Đây là kinh nghiệm thiêng liêng mà chỉ người trong cuộc mới cảm được sự phong phú của cuộc biến đổi trong Đức Tin.
     Nhờ được biến đổi, anh em phấn khởi khi thấy những hoài nghi trước đây nay trở thành những nấc thang của cầu thang Đức Tin; những nghi vấn về đời này đời sau trước kia nay làm vững mạnh những bước chân trên đường sống đạo; những nghi hoặc có lúc đã là nguyên nhân của bất mãn, nổi loạn trước đó nay trở thành sức mạnh nội tâm nâng đỡ những bước chân đồng hành với anh em ; những nghi ngại của ngày trước nay biến thành niềm xác tín cho những chọn lựa hy sinh, quên mình khi phục vụ tha nhân.
     Không ai trong anh em đã phủ nhận một biến đổi lạ lùng, một tan biến thiêng liêng như giọt nước được hoà tan trong ly rượu, như giòng suối nhỏ được tan biến vào đại dương. Và trong ơn Thánh Tẩy, anh em cảm nghiệm sự biến đổi siêu nhiên và thiết thực trong Đức Giêsu.
    Như thế, hoài nghi không đẩy ta xa Chúa, nhưng giúp ta tìm kiếm Chúa; không đặt ta đối đầu với Chúa, nhưng đi cùng chiều với Chúa; không ngăn cách ta khỏi Chúa, nhưng đưa ta đến gần Chúa; không cản trở chân ta đi theo Chúa, nhưng thúc đẩy ta theo kịp bước chân Ngài, bởi nghi nan là công đoạn cần thiết của tiến trình tư duy và cho mọi chọn lựa.
    Vì thế, một Đức tin có chiều sâu và trưởng thành phải được tôi luyện trong thử thách, mà hoài nghi là thử thách nặng nề và thách đố rướm máu nhất. Các thánh gọi thử thách này là đêm tối Đức Tin, ở đó các ngài chịu thử thách khi hoài nghi về cả sự hiện hữu và lòng thương xót của Thiên Chúa, là đối tượng của niềm tin qua kinh nghiệm từ hoài nghi đến với Chúa của anh em vô thần hoặc từ các tôn giáo khác, và kinh nghiệm đêm tối hoài nghi của Đức Tin nơi các Thánh là những bạn hữu thân tín, tri âm tri kỷ của Đức Giêsu, chúng ta thấy rằng: hoài nghi không rời bỏ thân phận người, và trong đời sống Đức Tin, cho dù biết Chúa lâu năm, cho dù sống chết với Chúa vẫn không tránh khỏi trăm nỗi hoài nghi.
    Giuđa, môn đệ, sống gần kề và biết rõ Đức Giêsu, cũng đã phản bội Thầy, và tự hủy diệt vì không vượt qua được cơn thử thách của hoài nghi. Khác Giuđa, người trộm lành chịu đóng đinh bên phải Đức Giêsu ở giây phút cuối đời đã vượt qua hoài nghi để tin con người cùng chịu đóng đinh với mình hoàn toàn vô tội và là Con Thiên Chúa. Anh đã nghi nan, nhưng đã dám để hoài nghi được trở thành Đức Tin khi tha thiết khẩn nài: “Lậy Đức Giêsu, khi vào Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi !” (Lc 23,42).
     Xin Chúa cho chúng con bình an trong hoài nghi và tín thác nơi Chúa mọi hoài nghi trong cuộc đời, để tất cả được trở thành những viên đá góp phần xây dựng niềm tin của chúng con nơi một mình Chúa.

Jorathe Nắng Tím

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 2 TN, Năm C (Tiệc cưới Cana)


Không phải ngẫu nhiên Đức Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên ở Cana trong khung cảnh tiệc cưới.
Như chúng ta biết, tiệc cưới là cơ hội diễn tả niềm vui của mọi người trước giao ước mới vừa được ký kết giữa hai người nam nữ cho một gia đình mới. Đức Giêsu đã cố ý và tế nhị chọn bầu khí hân hoan, vui mừng của tiệc cưới này để nói lên giao ước giữa Thiên Chúa với con người.
Quả thực, đây là một đám cưới lớn, bằng chứng là “trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giêsu. Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự” ( Ga 2, 1-2). Phải lớn mới dám mời toàn bộ các môn đệ đi theo Đức Giêsu, vì con số không nhỏ; đàng khác, gia chủ cũng phải giầu và quảng đại, bởi cho đến lúc bấy giờ, chưa mấy người tin Đức Giêsu là ngôn sứ, nói chi đến chuyện tin Ngài là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa, nên việc mời Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài thực là một nghĩa cử đáng phục và đặc biệt.
Sự cố hết rượu giữa bữa tiệc có thể cắt nghĩa một phần do gia chủ đã không lường trước con số các môn đệ của Đức Giêsu bất ngờ vượt trội ngoài dự đoán. Nhưng dù gì thì đám cưới cũng rơi vào tình trạng bế tắc vì hết rượu trong đường tơ kẽ tóc. Và nếu không có phép lạ thì hai họ chẳng còn mặt mũi nào nhìn nhau, vì mắc cở với quan khách và mọi người.
Rất may, Đức Maria, mẹ Đức Giêsu đã kịp thời can thiệp để  “sáu chum nước dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước” biến thành rượu ngon (Ga 2,6).
Thật bất ngờ, giữa tiệc và ngay lúc bế tắc vì hết rượu, tân lang lại được tiếng chơi trội hơn thiên hạ, khi người quản tiệc vừa trách nhẹ vừa khen: “Ai ai cũng thết rượu ngon trước và khi khách ngà ngà thì mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” (Ga 2, 10).
Trong phép lạ, vai trò và sự can thiệp của Đức Maria đã rất quan trọng, bởi nếu không có Đức Maria thì chắc chắn Đức Giêsu đã không làm phép lạ hôm ấy. 
Chúng ta nhận thấy ở Đức Maria những điểm sau:
1.     Đức Maria làm trung gian giữa Thiên Chúa và con người trong tư cách là Mẹ.
Khi nói với Đức Giêsu : “Họ hết rượu rồi”, Đức Maria đã nói với Đức Giêsu trong tư thế và bằng ngôn từ của người mẹ. Ngài cũng nói với tình yêu và niềm tin tưởng của một người mẹ dành cho con mình. Vì thế, đã không có chút khó khăn hay do dự khi ngài trở xuống gặp gia nhân và tự tin bảo họ : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”( Ga 2, 5).
Nói với gia nhân, Đức Maria cũng giữ cùng thái độ ung dung và cung cách yêu thương của người mẹ, như với Đức Giêsu, vì ngài thực sự là Mẹ của cả hai : mẹ Đức Giêsu và mẹ nhân loại.
             2.     Đức Maria làm trung gian giữa Thiên Chúa và con người khi làm đầy nỗi thiếu thốn của con người bằng kho tàng vô cùng phong phú của Thiên Chúa:
Đức Maria, từ khi biết không còn rượu đã không nói gì, cũng không kêu ca, xin xỏ gì. Mẹ chỉ trình bầy với Đức Giêsu tình cảnh bế tắc của gia chủ, và tin tưởng ở sự can thiệp của con mình. Đó chính là sự thinh lặng của Đức Tin, sự đằm thắm của Đức Ái và sự dịu dàng của Đức Trông Cậy. Tất cả đều hiện diện nơi Mẹ, và Mẹ đã Hôm nay, trong chúa nhật thứ hai mùa thường niên, ngay sau chúa nhật mừng phép rửa của Đức Giêsu, Giáo Hội đã chọn Tin Mừng tiệc cưới Cana, ở đó vai trò trung gian của Đức Maria nổi bật cách rất đặc biệt. Cũng như Đức Giêsu đã không ngẫu nhiên chọn tiệc cưới ở Cana để làm phép lạ đầu tiên hầu các môn đệ tin Ngài, Giáo Hội cũng không ngẫu nhiên khi chọn trình thuật tiệc cưới Cana, để tuyên xưng vai trò làm Mẹ của Thiên Chúa trung gian giữa Thiên Chúa và loài người của Đức Maria. 
Tóm lại, là Đấng Trung Gian thần thế trước Thiên Chúa, Đức Maria cùng lúc là Đấng Bầu Cử rất nhân hậu của con cái loài người, bởi nhờ Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ, Thiên Chúa luôn tỏ lòng thương xót, và loài người được thấy vinh quang lòng thương xót qua ơn cứu độ trong Đức Giêsu, người con Thiên Chúa của Đức Maria, Đấng Trung Gian, Đấng Bầu Cử tuyệt vời .
Đầu năm mới, chúng con xin Mẹ ở với và đồng hành để chỉ dạy chúng con làm tất cả những gì Đức Giêsu, Con yêu dấu của Mẹ dạy. 
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Hiền Lành và Khiêm Nhường

https://www.youtube.com/watch?v=IQjjrmU3N-k
Thật khó có thể tìm được người hiền lành và khiêm nhường đích thực trong một xã hội bạo lực, cạnh tranh kinh tế, tranh giành quyền lực, duy ngã và hưởng thụ như xã hội hôm nay.

 Sở dĩ khó tìm, vì để làm người hiền lành và khiêm nhường trong xã hội này, người ta phải bơi ngược giòng, phải làm trái những gì xã hội muốn. Vì thế người hiền lành, khiêm tốn luôn phải trả giá mắc và chịu nhiều thua lỗ, thiệt thòi .

  Trong một xã hội bạo lực, người hiền lành là người bị bắt nạt, ăn hiếp, bởi bạo lực không che chở họ, chỉ vì họ không đứng vào hoặc không được đứng vào hàng ngũ những người nắm giữ, sử dụng bạo lực, cũng như chịu quy phục bạo lực.

   Trong một xã hội mà khoẻ thắng yếu, kẻ mạnh không bênh đỡ người cô thế, thì người hiền lành trở thành mồi ngon, đối tượng lý tưởng của bạo lực. Vì thế, có mấy người hiền lành thoát cảnh bị đàn áp, trấn lột, lợi dụng, sử dụng như phương tiện và bị đẩy vào cảnh lầm than đầy oan ức, bất công.

   Cũng vì bị xử ép, xử tệ, nên phần đông không muốn là người hiền lành, nhưng để tự bảo vệ và để không bị đời ăn hiếp, người ta đành phải làm người hung dữ trong xã hội bạo lực.

  Thực vậy, xã hội bạo lực không cho nhiều người hiền lành được sống hiền, cũng như xã hội cạnh tranh kinh tế không thương tiếc đẩy con người vào bạo lực, vì không thủ đoạn, người ta khó có thể thành công.

  Thế là tự nhiên bạo lực được coi là chìa khoá của thành công mà đa số, dù muốn dù không cũng phải chọn, bởi đã ở vào xã hội cạnh tranh gay gắt, dữ dội, người ta sẽ không chỉ quen, mà còn cần bạo lực như nhu cầu khó có thể thiếu.

  Người hiền lành do đó khó tìm đất sống, và người khiêm nhường cũng chịu chung số phận bị khinh bỉ, loại bỏ trong xã hội mà quyền lực ngày càng biến thành khao khát cháy bỏng, là niềm tự hào không gì có thể so sánh, bởi trong thực tế, có quyền là có tất cả, cầm quyền là nắm tất cả, chưa kể khao khát cháy bỏng ấy còn bùng lên khủng khiếp bởi tính duy ngã và hưởng thụ.

   Tóm lại, sống hiền lành và khiêm nhường được trong xã hội hôm nay là điều không dễ, nếu không muốn nói là rất khó, khó vì ngược giòng, nghịch gió; khó vì khó sống trước những o ép, bắt chẹt của nhiều người; khó vì trong thế giới bạo lực, tranh giành, ích kỷ, hưởng thụ, người hiền bị coi là ngu và khiêm nhường là vô tài bất tướng.

   Đức Giêsu ở thời Ngài, cách đây hơn hai ngàn năm cũng đã đặt hiền lành và khiêm nhường thành một vấn đề quan trọng khi nhiều lần lên án người kiêu căng, bạo lực (Mt 23,12), và không ngừng tuyên dương, hứa phần thưởng Nước Trời cho những ai hiền lành, khiêm nhường (Mt 5,4), đặc biệt Ngài còn mở lớp dậy môn học rất khó khăn và không mấy thức thời này, khi nói với các môn đệ: “Hãy học với Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng” (Mt 11,29).

    Qua lời giảng dậy và thái độ của Đức Giêsu đối với người kiêu căng , hung dữ và người hiền lành, khiêm nhường, chúng ta nhận ra những điều quan trọng sau đây:

1/ Ngay từ thưở ban đầu, con người đã kiêu căng, hung bạo:

     Evà đã kiêu căng muốn biết như Thiên Chúa biết, nên mới ăn trái cây Thiên Chúa cấm (St 3,5); Cain ghen ghét, hung bạo nên mới giết em trai mình là Aben (St 4, 1-8), và ở mọi nơi, mọi thời, con người đều bị cám dỗ kiêu căng, bạo lực: kiêu căng vì muốn trổi vượt hơn người, kiêu căng vì muốn mọi người tùng phục mình, kiêu căng vì muốn nắm quyền sinh sát người khác; đồng thời hung dữ, bạo lực để biểu hiện sức mạnh thống trị người khác, và bảo vệ sức mạnh thống trị ấy. 

     Như thế, không phải chỉ ở xã hội chúng ta đang sống hôm nay con người mới phải đương đầu với kiêu căng, bạo lực, nhưng đây là cơn cám dỗ và thách đố của mọi thời, ở mọi nơi, nên những lời Đức Giêsu khiển trách kẻ kiêu căng, hung dữ, hay khen ngợi những người khiêm tốn, hiền lành hai ngàn năm trước ở quê hương Do Thái của Ngài cũng giữ nguyên giá trị thức thời đối với chúng ta hôm nay.

2/ Thế nào là hiền lành và khiêm nhường ?

     Vì não trạng sợ người mạnh, khiếp vía người dữ, nhưng lại coi thường người hiền và khiêm tốn, nên phần đông hiểu khiêm tốn, hiền lành là khờ khạo, nhu nhược, nhát gan, thiếu dũng khí, không dám đương đầu, đối phó.

  Hiểu như thế là sai và hạ thấp giá trị của hiền lành và khiêm nhường. Chúng ta thường ca ngợi “cái Dũng” của thánh nhân, và hiểu người có dũng khí là người không sợ gì, không sợ ai, không sợ bất cứ điều gì xẩy đến cho mình.

 Người hiền lành chính là người có dũng khí đó, bởi không đố kỵ, ganh ghét, đấu đá với bất cứ ai, nên họ chẳng khiếp sợ ai, cũng chẳng khúm núm, khom lưng, quỵ lụy người nào, bởi với người hiền lành, ai cũng đáng trọng, đáng mến, và không có người làm họ sợ, làm họ phải đánh mất hay bán rẻ nhân phẩm của mình.

 Người hiền lành không ghét ai, không hại ai, và cũng không làm nô lệ cho ai, bởi sâu sa trong tâm hồn, họ là những người đơn sơ, chất phác, từ tâm nhưng có bản lãnh, biết mình muốn gì và phải làm gì để luôn giữ được tấm lòng trinh trong, nhân hậu và vị thế độc lập trong mọi tương quan. 

  Người ta dễ lầm tưởng người hiền lành là người nhu nhược, dễ bị khuất phục. Đó là nhận định sai lệch cần được sửa đổi, bởi xa hơn, cao hơn và đáng trân quý hơn, người hiền lành còn là người không làm ai sợ mình.

 Quả thực, không chỉ “không sợ ai, không sợ gì, không sợ bất cứ điều gì xẩy đến”, người hiền lành còn làm một việc rất khó làm khác nữa, đó là “không làm ai sợ mình”.

    “Không làm ai sợ mình” chính là nét đẹp tuyệt vời của người hiền lành, vì họ không đe nẹt, dọa dẫm, nhưng thân thiện, dễ thương, ân cần với mọi người, bởi họ không tìm gì cho mình, không dùng người khác làm bàn đạp hay gạch lát đường tiến thân. Nhờ thế, họ không bao giờ làm tổn thương ai, nhưng chan hoà với mọi người, khởi đi từ cố gắng cao thượng: “không làm ai sợ mình”.

   Bên cạnh hiền lành là khiêm nhường. Thực ra người hiền lành mới có thể khiêm nhường, vì không hiền lành, khiêm nhường không cắm sâu được trong đất, nên rất chênh vênh, dễ đổ. 

Khiêm nhường trước hết là đón nhận những gì mình có với một niềm tri ân, đồng thời chấp nhận giới hạn của mình với thái độ bình an, thanh thản. Đón nhận những gì mình có mà không phóng đại hay dấu diếm là khiêm nhường, bởi chỉ người kiêu căng mới phóng đại và người thiếu thành thật mới dấu diếm.
Đón nhận cách trung thực những gì mình có cũng là biểu hiện lòng biết ơn Đấng đã ban cho mình, và những người đã đóng góp xây dựng “gia sản” tinh thần và vật chất mình có. Với tâm tình biết ơn và tinh thần trung thực, người khiêm nhường thể hiện cách sống động lòng khiêm tốn bằng: 

   a/ Không bao giờ nghĩ mình đạo đức hơn người khác, bởi ảo tưởng đạo đức là thuốc độc giết chết tâm hồn khiêm nhường nhanh chóng nhất.

    b/ Không bao giờ nghĩ mình tài ba, giầu kiến thức hơn người khác, vì ảo tưởng giỏi giang bóp chết trái tim khiêm nhường gọn nhẹ nhất.

   Ngoài việc đón nhận những gì mình có với lòng biết ơn, người khiêm nhường còn biết chấp nhận những giới hạn của mình, bởi giới hạn là đặc tính của con người. Ngoài giới hạn thời gian và không gian, con người còn rất nhiều giới hạn khác như sức khỏe, tương quan, suy nghĩ, tầm nhìn...


   Nhờ biết chấp nhận giới hạn mà người khiêm nhường không nản lòng, thối chí, bỏ cuộc khi thất bại, càng không căm phẫn giận Trời, hận đời, trách mình khi “sa cơ lỡ bước”, “công không thành, danh không toại”, nhưng bình an bắt đầu lại tất cả từ thất bại, lầm lỡ. 

3/ Hiền lành và khiêm nhường là điều kiện của bình an:

   Trái tim ngủ không yên, vì lửa kiêu căng, bạo lực thiêu đốt; gia đình, đất nước không bình an cũng vì đại dịch bạo lực, kiêu căng tràn lan lây nhiễm, trong khi tâm hồn người khiêm nhường bình lặng vì không bị sóng bạc đầu kiêu căng xô lấp, không bị hồng thủy bạo lực nhận chìm. Người hiền lành, khiêm nhường vì thế luôn có bình an, vì nơi trú ngụ đích thực và bền  vững của an bình chính là trái tim khiêm tốn, hiền lành.

4/ Hiền lành và khiêm nhường là nền tảng của các nhân đức:
    
   Điều này muốn nói lên rằng: không một người đạo đức nào có thể bỏ qua hiền lành và khiêm nhường, không một vị thánh nào lại không hiền lành và khiêm nhường, không một con người đáng yêu, đáng mến nào lại có thể là người kiêu căng, bạo lực, bởi một lý do duy nhất: hiền lành và khiêm nhường là nền tảng của các nhân đức.
     
Do đó, để trở thành người tốt, trước hết phải tập sống hiền lành và khiêm nhường; để là người tử tế cũng phải bắt đầu bằng đời sống hiền lành, khiêm nhường; để được “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu cũng phải khởi đi từ bài học hiền lành và khiêm nhường của Ngài. Tắt một lời, để biết một người đạo đức, người ta chỉ cần xem người ấy có hiền lành, khiêm nhường hay không, bởi như nhà xây trên cát phải sụp đổ, thì người không hiền lành và khiêm nhường cũng phí công xây dựng ngôi nhà đạo đức của mình như vậy.

 Vâng lậy Chúa, chúng con biết căn bệnh quái ác có nguy cơ tàn phá chúng con và thế giới hôm nay là kiêu căng và bạo lực, vì cả hai đều khước từ, phủ nhận Chúa, là Đấng ban sự sống cho chúng con và mọi loài. Xin thương xót và cứu chúng con xa khỏi kiêu căng, bạo lực đang làm chúng con mất Chúa, và dậy chúng con hiền lành, khiêm nhường như Chúa, là Con Chiên hiền lành và khiêm nhường đã gánh hết tội thế gian.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

MÁI ẤM



Có bay nhảy đến đâu trong trời rộng, “phiêu du lãng tử” cỡ nào trong đời sống, người ta cũng mơ và cần một mái ấm gia đình. 


Gọi là mái ấm, vì ở đó không có cái nóng thiêu đốt, đổ lửa, cũng không có cái lạnh buốt thấu xương. Mái ấm có độ ấm của da thịt người, có hơi ấm của tình người, có nồng ấm của hạnh phúc đời người, và chỉ ở trong mái ấm, ở dưới mái ấm, con người mới thực sự được lớn lên làm người một cách quân bình và toàn diện nhờ cái ấm áp kỳ diệu. 
Cũng vì “kỳ diệu của độ ấm”, mà mái ấm được gọi là “tổ uyên ương, tổ ấm hạnh phúc, nôi ấm yêu thương, bến bờ hy vọng”.
Nhưng mái ấm cùng lúc phải đối mặt với một thách đố rất lớn, đó là không thể đánh mất độ ấm kỳ diệu của mình, nếu không, mái ấm, tổ ấm lập tức biến thành hỏa ngục, lò lửa đốt cháy, thiêu rụi những người trong đó, hoặc khối băng sơn khổng lồ đổ ập lên, làm chết cứng mọi người. Đó là tình cảnh rực lửa ghen ghét, đố kỵ, gây hấn, hận thù giữa những người thân trong gia đình  là cảnh lạnh lùng trong lời nói, lạnh lẽo trong thái độ, lạnh tanh trong tình cảm, lạnh ngắt trong ánh mắt của những người tuy chung một nhà, nhưng lòng vạn dặm cách xa. 
Thực vậy, là người, ai cũng cần một mái ấm. Em bé chào đời, trưởng thành vào đời, già yếu lìa đời, tất cả đều cần, đều mơ ước, và tìm về mái ấm. 
Cần một mái ấm để được yêu thương, và yêu thương; cần một mái ấm để biết nhận và cho đi; cần một mái ấm để được nâng đỡ, chia sẻ và chia sẻ, nâng đỡ. Ở dưới mái ấm, ai cũng có quyền được yêu thương và có bổn phận yêu thương; ai cũng có quyền được giúp đỡ và có trách nhiệm giúp đỡ; ai cũng có quyền được làm phiền người khác và nghĩa vụ  để người khác làm phiền; ai cũng có quyền được an ủi khi khóc lóc sầu buồn, và bổn phận ủi an người khác khi họ sầu buồn khóc lóc; ai cũng có quyền được săn sóc, cưng chiều và nghĩa vụ săn sóc, cưng chiều. Chính nhờ những quyền lợi và bổn phận được tận tâm thực hiện cho nhau mà mái ấm không bao giờ mất đi hay  sút giảm độ ấm cần thiết cho hạnh phúc của mọi người, và mỗi người thuộc về mái ấm. 
Nếu bạn phải tha phương cầu thực, cầu học, hay cầu bất cứ cái gì khác, kể cả cầu thẻ xanh, quốc tịch, bạn cũng mong được về lại mái ấm gia đình, thăm lại mái nhà xưa, mái ấm cũ, tổ ấm năm nào ngày còn thơ bé. Và dù xa xôi, lâu lắm không về, lòng người viễn xứ vẫn mãi không nguôi ngoai nỗi nhớ mái nhà xưa, niềm thương tổ ấm cũ. Tất nhiên, người ta chỉ có thể nhớ mái ấm, thương tổ ấm, chứ không thể nhớ thương “mái nóng, mái lạnh” đã tàn nhẫn đốt cháy, làm tê cóng cuộc đời họ. 
  Nhìn ra ngoài, năm chưa mới, Tết chưa đến, mà đường thành phố đã vắng tanh, vì ai nấy nôn nao bỏ thành thị, phố xá về quê, nơi có mái ấm gia đình, có ông có bà, có mẹ có cha, có anh có chị, có em có cháu vui vầy, ấm áp khôn tả.  Và không chỉ người xa quê tìm về mái ấm, cả người xa đất nước cũng lũ lượt tìm về quê làng xưa, mái ấm cũ. 
Ôi đẹp làm sao những mái ấm đơn sơ, nhưng sâu lắng tình gia đình; những mái ấm nghèo, nhưng giầu tình mẹ cha; những mái ấm xiêu vẹo nhưng kiên cường tình huynh đệ; những mái ấm nhỏ bé, nhưng bao la niềm hy vọng; những mái ấm cũ nát, nhưng luôn mới lòng trắc ẩn, xót thương; những mái ấm không sơn phết loè loẹt, nhưng tươi thắm niềm nhung nhớ; những mái ấm không lung linh ánh đèn mầu, nhưng rực sáng hào quang hy sinh, quên mình; những mái ấm không tường cao cửa kín, nhưng không nơi nào an toàn hơn cho đứa con hoang đàng, lỡ bước những mái ấm không nguy nga, hoành tráng, nhưng không đâu tốt hơn cho tâm hồn tan nát nghỉ ngơi; những mái ấm không đài các, xe xua, nhưng chẳng nơi nào trân quý, và ân cần săn sóc xác thân con rã rời, và đời con cơ nhỡ, tơi tả bằng ở đây. 
Năm mới Tết đến, xin mang đến Mái Ấm quê hương tôi những gì đẹp nhất, mới nhất. Xin đừng làm tăng nhiệt chia rẽ, hận thù, cũng đừng giảm nhiệt đến cóng lạnh trong các mái ấm gia đình trên đất nước tôi. Xin hãy trân quý, giữ gìn và xây dựng mái ấm gia đình, mái ấm quê hương bằng đem lại ấm no, ấm áp, ấm lòng cho mọi người dân Việt ngàn đời yêu dấu. 
Jorathe Nắng Tím