Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT KÍNH MÌNH VÀ MÁU CHÚA KITÔ
https://www.youtube.com/watch?v=otX_ljXsNiA
Khi phải đề cập đến tôn giáo, tín ngưỡng trong giao tế, người ta thường ngắn gọn để tránh đụng chạm, vì tôn giáo được coi là đề tài tế nhị, nhậy cảm : “Đạo nào cũng tốt thôi, vì Đạo nào cũng dậy ăn ngay ở lành !”. Tuyệt vời câu trả lời, và trên cả tuyệt vời kết luận được mọi người đợi chờ, vì đẹp lòng tất cả, vui lòng tất cả !
Thực ra thì tôn giáo không chỉ là chuyện “ăn ngay ở lành”, vì đã làm người thì ai cũng được lương tâm mách bảo : phải sống Nhân Đạo, tức sống đạo làm người, mà đạo làm người ấy chính là làm điều lành, tránh điều ác, điều gì không muốn người khác làm cho mình thì đừng làm cho ai.
Các tôn giáo đều bắt đầu từ khởi điểm luân lý tự nhiên này, và từ đó xây dựng toàn bộ hệ thống giáo lý của mình.
Lễ Mình Máu Thánh Chúa cho người môn đệ của Đức Giêsu đi xa, rất xa, không dừng lại ở những đòi buộc của luật tự nhiên như “ăn ngay ở lành”, nhưng “ở lại” trong Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, khi đi vào chính sự sống, đời sống của Ngài như Tin Mừng  Gioan đã khẳng định :
“Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,4).
Như thế, “ở lại trong Đức Giêsu” sẽ không là ở lại cho có mặt, ở lại xa xa, ở lại đâu đó, nhưng là ở lại trong tình thương của Ngài ; ở giữa trái tim thương xót của Đấng đến để băng bó, chữa lành ; ở trong vòng tay bao bọc, che chở, âu yếm, chiều chuộng của người cha bao dung, nhân hậu ; ở trên vai người mục tử tốt lành sẵn sàng hiến mạng sống vì đàn chiên. Nói tắt là ở lại trong tình yêu để yêu và được yêu, ở lại giữa tình yêu để được Thiên Chúa thương xót và học với Chúa lòng xót thương anh em mình. Và “tình yêu ở lại, cũng là ở lại trong tình yêu” ấy, chính là điểm cốt yếu của đạo mà Đức Kitô đã thiết lập, như chính Ngài mặc khải : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9).
Qủa thực, Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” đã và mãi yêu chúng ta bằng tình yêu của Chúa Cha yêu thương Ngài, nên tình yêu ấy không có thể đo lường, vì là tình yêu của chính Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối. Duy chỉ một mặc khải này thôi cũng đã đủ để chúng ta hạnh phúc khôn tả, vì biết mình được Thiên Chúa yêu bằng chính tình yêu tuyệt đối, vô cùng, vô tận của Chúa Cha, nhất là được “đi vào và ở lại” trong chính nguồn tình yêu là Thiên Chúa.
Vì thế, Đạo của Đức Kitô hệ tại ở sự hiệp thông trong tình yêu giữa Thiên Chúa và con người,  một mầu nhiệm mà chúng ta không gặp được ở tôn giáo nào, ngoài Kitô giáo, ở đó, “Thiên Chúa trở thành con người, để con người trở thành Thiên Chúa” trong hiệp thông của Tình Yêu  và Sự Sống như thánh Phaolô đã xác tín : “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), nên Kitô giáo vượt xa định nghiã thông thường của tôn giáo là “mối giây liên lạc, nối kết giữa Thượng Đế và con người”, bởi trong Đức Kitô, người tín hữu được tháp nhập vào chính sự sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi, chứ không chỉ là “nối kết, liên lạc” hiểu theo nghiã liên đới bình thường.
Và để chứng minh Thiên Chúa muốn nên một với con người trong Tình yêu của Ngài, Đức Giêsu đã thực hiện một phép lạ vô cùng kỳ diệu, vĩ đại : vĩ đại ở sáng kiến mà chỉ Thiên Chúa mới có thể thực hiện, kỳ diệu vì phép lạ được thực hiện liên lỷ mọi nơi, cho đến tận thế, như lời hứa của Đức Giêsu : “Thầy ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Đó là việc Ngài “trong đêm bị nộp, đã cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói : Đây là Mình Thầy hiến dâng vì anh em ; anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”. Cũng thế sau bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói : “Chén này là Giao Ước mới, lập bằng Máu Thầy ; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11,24-25).  
Bí tích Thánh Thể đã hiện thực điều Đức Giêsu nói với người Do Thái trong hội đường Caphácnaum trước đó, và đã làm họ tranh luận sôi nổi : “Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,53-57). 
Được thông hiệp vào mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta chắc chắn được ở lại trong Tình Yêu đời đời của Thiên Chúa Ba Ngôi ; được hiệp nhất nên một với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người ; và được sống đời đời trong hạnh phúc Nước Trời mà Thiên Chúa đã hứa ban.
Xin Chúa Giêsu Thánh Thể đốt nóng trái tim băng giá của chúng con bằng lửa tình yêu của Thánh Thần, để chúng con luôn khao khát rước Mình Máu Thánh Chúa hầu được sống chính sự sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn Tình Yêu thương xót và Hạnh Phúc tuyệt đối, đời đời.
  Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2019

CƠ CHẾ

     
Đề tài này “sốc hàng” lắm, nên người viết phải minh định ngay hai điều quan trọng : điều thứ nhất : người viết không chống phá bất cứ cơ chế đạo đời nào, vì con người là sinh vật có xã hội tính, nên cần có tổ chức, cơ chế để có thể chung sống hạnh phúc, sống chung hoà bình, được tồn tại và phát triển trong công bằng, trật tự. Điều thứ hai : người viết dựa vào Tin Mừng của Đức Giêsu để tìm ra đâu là điểm yếu của cơ chế thường làm đời sống bất an, tâm hồn bất ổn và cuộc sống xã hội nhiều lấn cấn, bất hoà.
        Minh định hai điều trên bao hàm sự đồng tình : “phải có cơ chế trong sinh hoạt xã hội”, dù đó là sinh hoạt hạn hẹp hay rộng lớn, gia đình hay thế giới, bởi chỉ cần có hai người cùng chung sống, người ta đã phải thiết lập một cơ chế, hình thành một tổ chức để mưu tìm trật tự, an sinh và hạnh phúc chung. Hai người nam nữ yêu nhau đã chẳng phải ngồi hằng giờ bên nhau trước khi cưới để cùng tính toán và xây dựng một cơ chế riêng cho hai người. Và bất cứ cơ chế nào, để được nhìn nhận là cơ chế chính danh, chính đáng đều phải được xây trên nền tảng nghiã vụ và quyền lợi của các thành viên thuộc cơ chế. Trệch qũy đạo “nghiã vụ và quyền lợi” này, cơ chế sẽ mất hết giá trị và ý nghiã phục vụ nhân sinh, bảo vệ an sinh, mưu tìm cho con người phúc lợi.
        Ở đây, khi đặt vấn đề cơ chế dựa vào Tin Mừng Mátthêu, chương 23, chúng ta không đứng vào vị thế nào, hoặc người lãnh đạo cơ chế, hoặc quần chúng được cơ chế lãnh đạo, vì ở cả hai, cái nhìn sẽ không khách quan, vì ở dưới những góc độ khác biệt, chẳng hạn : người lãnh đạo thì biện minh cho tính quyền lực của cơ chế, trong khi quần chúng bị lãnh đạo thì củng cố một lý luận ngược lại. Điều chúng ta có thể làm được là nhận ra cái mạnh, cái yếu của quyền lực qua cái nhìn của chính Đức Giêsu trong Tin Mừng :    
        Tin Mừng Mátthêu, chương 23 là một trình thuật về quan điểm của Đức Giêsu trước một cơ chế của đạo Do Thái đương thời, cơ chế mà theo Ngài có nhiều điểm yếu, vì không đáp ứng những đòi hỏi căn bản của một cơ chế đích thực chính danh, chính nghiã, chính trực :
1.      Đức Giêsu không chủ trương xoá bỏ cơ chế :
       Cơ chế của Đạo Do Thái lúc bấy giờ dưới mắt tín hữu Do Thái là “các Kinh Sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy” (Mt 23,2). Họ là những người được quần chúng trọng vọng, được đám đông tôn kính, được giáo hữu tuân phục, vì họ là những người được tuyển chọn để giảng dạy, giáo huấn, hướng dẫn người khác. “Ngồi trên tòa Môsê” là kiểu nói diễn tả quyền bính trong Đạo, một thứ quyền đến từ trên cao, mà loài người không được phép đung tới, phân tích, đặt lại vấn đề, phản biện hay truất phế, xóa bỏ. Nói cách khác, đây là thần quyền, thứ quyền đến từ thần thánh, quyền của thần thánh mà không người thế gian nào có quyền phế lập, sửa đổi. Chính vì là thần quyền, mà quyền bính thuộc cơ chế tôn giáo luôn mang tính tuyệt đối, và vì tuyệt đối, nên khó có thể di dời, thay đổi, nhân nhượng.
      Tuy biết những người nắm giữ quyền bính của cơ chế tôn giáo này “nói mà không làm”, đúng hơn là chỉ nói và bắt người khác làm, và tệ hơn lại làm những điều “qúa đáng” như : “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23,4), chưa kể họ chẳng phục vụ ai, chỉ ra vào với “những tua áo thật dài”, ăn trên ngồi trước trong đám tiệc, thích được mọi người bái chào inh ỏi, lớn tiếng nơi cộng cộng (x. Mt 23,5-7), nhưng Đức Giêsu vẫn không kích động, hô hoán dân chúng lật đổ các ông lãnh đạo bất xứng, và xách động quần chúng lật đổ, xóa bỏ cơ chế tôn giáo Do Thái thời Ngài. Một cách đơn sơ, nhưng thiết thực, Ngài đã khuyên những người có mặt đang lắng nghe Ngài : “Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (Mt 23,4).  
              Chuyện người “làm lớn” nói lớn mà không làm là câu chuyện thường ngày ở huyện, thường đến độ không còn mấy người quan tâm, bởi hoạ hiếm mới có người làm điều mình nói, thực hiện điều mình dạy, sống điều luật mình bắt người dưới trướng phải tuân theo, cứ như là đã làm lớn thì được miễn trừ mọi nghiã vụ, mà chỉ còn lại quyền lợi và quyền lợi.
           Nhưng tại sao Đức Giêsu, tuy vạch trần tình trạng “ngôn hành bất nhất” của những người lãnh đạo cơ chế tôn giáo Do Thái, nhưng vẫn khuyên mọi người “hãy làm và giữ những gì họ nói” ? Thưa bởi những gì họ nói đều đúng, và cần thiết, như ăn ngay ở lành, tôn thờ Thiên Chúa, yêu quê hương, thương đồng bào, làm phúc bố thí, ăn chay hãm mình, cư xử công bình, bác ái, hiếu thảo, huynh đệ, trung tín, chân thành… Và những điều này hợp với luật tự nhiên, và cũng là lề luật của Thiên Chúa cho hạnh phúc của con người.
          Vì thế, cơ chế, trừ một số trường hợp, không xấu tự thân, từ bản chất, nhưng bị làm xấu đi bởi người lãnh đạo xấu, và bằng những cách thế xấu của người điều hành. Do đó, khi phê bình, phán đoán về một cơ chế, chúng ta cần sáng suốt phân biệt bản chất của cơ chế và những con người điều khiển, vận hành cơ chế đó. 
2.     Đức Giêsu vạch trần những điểm yếu của cơ chế :
          Cơ chế như đã trình bày phải được đặt trên nền tảng nghiã vụ và quyền lợi. Sở dĩ như thế là vì cơ chế phải được quan niệm như khế ước xã hội, như tổ chức giữa nhiều người nhằm mục đích đem lại hạnh phúc chung cho tất cả, với điều kiện mỗi người vừa phải có nghiã vụ vừa có quyền lợi. Một cơ chế mà chỉ một thiểu số có quyền và đa số có nghiã vụ sẽ khó có thể tồn tại, vì bất công sẽ mau chóng làm rạn nứt nền móng của cơ chế. Thí dụ : gia đình là một cơ chế, ở đó cha mẹ, con cái đều có nghiã vụ và quyền lợi đối với nhau. Nhờ thế, cơ chế gia đình mới bảo đảm an ninh và hạnh phúc lâu dài của mọi thành viên gia đình.
         Vì thế, khi tính công bình mất chân đứng trong cơ chế, tức khi cơ chế không còn chu toàn sứ mệnh phục vụ quyền lợi chung của mọi người, mặc dù họ đã nghiêm chỉnh hoàn thành nghiã vụ, thì những điểm yếu xuất hiện và làm suy giảm khả năng phục vụ nhân sinh, mưu tìm hạnh phúc cho con người của cơ chế. Đức Giêsu trong Tin Mừng Mátthêu đã thẳng thắn vạch ra những điểm yếu, đúng hơn là những nguy cơ của cơ chế, đặc biệt cơ chế tôn giáo:
a.     Cơ chế có thể góp sức tạo thành giai cấp thống trị và dễ biến con người của cơ chế thành kiêu căng, hưởng thụ :
        Đã là cơ chế tất có phân biệt thứ bậc : kẻ trên, người dưới, chức sắc vị vọng, thứ dân “vô danh tiểu tốt, khố rách áo ôm” ; đã là tổ chức ắt không tránh khỏi người lãnh đạo, kẻ thừa hành, ông giám đốc, người giữ xe. Tôn giáo cũng cần cơ chế, như Do Thái giáo thời Đức Giêsu.
         Vì phải cơ chế mà tôn giáo đã không tránh khỏi tình trạng có người thích được người khác gọi mình là “Ráp-bi”, nghiã là “Thầy” (Mt 23,8) ; vì cần cơ chế để điều hành mà tình trạng khúm núm, sợ sệt, lấm lét thường xẩy ra giữa người đồng đạo, khi cơ chế làm bàn đạp, bệ phóng cho một số người thời cơ, khéo luồn lách khi bắt được thời rồi thì o ép người khác phải phục tùng, cung phụng, qụy lụy và xem mình là cha của mọi người ; vì cơ chế tôn giáo không hữu hiệu trong sứ mệnh phục vụ, nên tạo ra nhiều ranh giới khó xoá bỏ, nhiều vực thẳm khó vượt qua giữa người đồng đạo với nhau, và đó là lý do của tệ trạng kiêu căng, ganh ghét, đố kỵ, loại bỏ, khai trừ giữa những người của cùng một cơ chế tôn giáo.     
       Trước điểm yếu này, Đức Giêsu xem ra đã mạnh tay khi không ngần ngại tuyên bố : “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là “ráp-bi”, nghiã là “thầy”, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một người lãnh đạo là Đức Kitô” (Mt 23,8-10).
        Nhưng như thế thì còn gì là kỷ cương và phẩm trật còn ý nghiã gì ?
       Nhiều người lo ngại khi nghe Đức Giêsu tuyên bố chẳng nên gọi ai là “Cha, Thầy, Lãnh Đạo”, vì tất cả đều là anh em ; lại có người buồn thiu khi thấy Đức Giêsu tỏ ra bất cần phẩm trật, thứ hạng, chức tước ; cũng có người  hớn hở khi “kéo” Đức Giêsu đi với mình vào phong trào đấu tranh giai cấp, “cào bằng” xã hội, để mọi người bình đẳng như nhau, không ai trên ai, dưới ai.
        Thực ra, điều Đức Giêsu muốn nói chính là thái độ hống hách, kiêu căng, ngạo mạn, mượn cơ chế để bắt người khác phục vụ mình thay vì phục vụ, khống chế người khác thay vì khai phóng, bóc lột, đàn áp thay vì mưu tìm hạnh phúc cho mọi người. Ngài lên án những người “mượn gió bẻ măng”, biến cơ chế là “cơ quan, tổ chức” có mục đích phục vụ lợi ích chung thành phương tiện quyền lực riêng  để thao túng, trục lợi, “vinh thân phì gia”. Ngài nặng lời với đám người cậy cửa quyền cơ chế để mạt sát anh em, trù giập người thấp cổ bé miệng. Với Ngài, cơ chế chỉ để phục vu, cơ chế chỉ để tương trợ, cơ chế chỉ để làm cho đời sống ngày càng yêu thương, hài hoà, huynh đệ hơn. Chẳng thế mà Ngài đã dạy tất cả mọi người đi theo Ngài hãy “khiêm tốn phục vụ” dù ở bất cứ thứ bậc, vị thế, phẩm trật nào của cơ chế Giáo Hội khi lên tiếng : “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm ngừơi phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23,11-12).  
        Khi dạy điều này, Đức Giêsu đã công khai cho chúng ta thấy nguy cơ thứ nhất của cơ chế là biến những người ở trong cơ chế, nắm giữ cơ chế thành những kẻ kiêu căng và bắt người khác phục vụ mình, thay vì khiêm tốn phục vụ người khác khi được chọn làm người qủan lý cơ chế, điều hành cơ chế mà mục đích là mưu tìm phúc lợi cho mọi người. Và thái độ phải có theo Đức Giêsu chính là dùng cơ chế như phương tiện để phục vụ, chứ không như thành trì quyền lực bảo vệ quyền lợi và tham vọng riêng tư.
b.    Nguy cơ thứ thứ hai của cơ chế là biến chúng ta thành lạnh lùng độc đoán, và vô cảm độc tài :
        Độc đoán khi “khoá cửa Nước Trời không cho ai vào !” (Mt 23,13). Cậy dựa cơ chế, chúng ta có thể lạnh lùng độc đoán  đóng cả cửa Nước Trời, cánh cửa mình chưa hề thấy, chưa một lần đến gần, và Nước Trời chưa chắc gì mình sẽ được vào. Thế  mới biết khi cám dỗ của quyền lực cơ chế bao phủ, con người của cơ chế sẽ đủ liều lĩnh để làm những việc lố bịch nhất !
     Cơ chế còn làm cho người bám chặt cơ chế như mục đích cuộc đời thành vô cảm độc tài, bởi chỉ độc tài, họ mới hy vọng bảo vệ cơ chế mãi trường tồn, cũng là bảo vệ tháp ngà vinh quang của chính họ, vì cơ chế còn, họ tồn tại, cơ chế rạn nứt, họ chao đảo, cơ chế sụp đổ, họ tiêu tan. Khi khiển trách các Kinh Sư và Pharisêu là những người thuộc cơ chế đã “không vào, hoặc không vào được” Nước Trời, mà những kẻ muốn vào, các ông ấy cũng không để cho vào (x. Mt 23,13), Đức Giêsu đã cực tả tính vô cảm độc tài của các ông nắm giữ cơ chế tôn giáo thời Ngài.
      Sở dĩ những con người của cơ chế  dễ trở nên độc đoán, độc tài đến lạnh lùng, vô cảm là vì họ đã tự đồng hoá  mình với cơ chế, cho quyền lực cơ chế là quyền lực của mình, sức mạnh của cơ chế là uy lực cá nhân, ảnh hưởng của cơ chế là tầm phủ sóng, vùng trời can thiệp riêng biệt. Ở họ, cơ chế không còn là phương tiện để phục vụ cộng đoàn, nhưng được dùng để  phục vụ quyền lực của riêng họ. Cơn cám dỗ quyền lực luôn là cơn cám dỗ kinh khủng dữ dội nhất, bởi cám dỗ quyền lực luôn hấp dẫn, lôi cuốn, vì có quyền, người ta sẽ có tất cả.
     Chính vì mãnh lực kinh hoàng của quyền lực, mà phong cách, thái độ của một con người sau khi được “cất nhắc” thường đột ngột thay đổi đến độ bạn bè, người quen biết phải thảng thốt, kinh ngạc. Khi hỏi vị chân tu khả kính : “Làm thế nào để đánh giá một con người ?”. Vị ấy trả lời : “Cứ cho người ấy nếm mùi quyền lực rồi sẽ biết người ấy là ai”. Nhiều người hiền lành, khiêm tốn đã biến thành sát thủ khi cờ lệnh nắm trong tay ; nhiều tấm lòng qủang đại, nhiệt thành, vị tha đã bị quyền lực biến thành “lòng lang dạ thú” ; nhiều tâm hồn cao thượng buổi hàn vi đã trở mặt thành hung thần máu lạnh khi quyền lực bao phủ ; nhiều trái tim nhân ái, cởi mở đã tự nguyện khép kín, đóng chặt khi đi vào bão lốc quyền lực. Vì thế, thánh nhân vẫn khuyên dạy : người khôn ngoan là người phải biết giữ cho mình khoảng cách an toàn đối với người có quyền, bởi kẻ có quyền không thích người khác đến gần, vì sợ bị cướp ngôi, tiếm quyền. Không biết lời khuyên này có đúng không, nhưng ít ra cũng nhắc cho chúng ta nguy cơ của quyền lực từ cơ chế luôn rình rập để chúng ta sập bẫy, đánh mất chính mình.          
c.      Nguy cơ thứ ba của cơ chế là chỉ thấy mình, và cho mình là chân lý :
    Lịch sử ghi lại : vào những ngày sắp tàn, các nhà độc tài đều rơi vào tình trạng “ngu si đần độn” đến đáng thương. Có những quyết định không thể chấp nhận được, nhưng nhà độc tài lại quyết thực hiện cho bằng được ; có những tuyên bố hoàn toàn bất lợi và nguy hiểm cho ngai vàng, nhưng nhà độc tài lại điên cuồng chủ trương ; có những gian thần mưu mô phản trắc, nhưng nhà độc tài lại say mê sủng ái, trọng dụng. Đó chính là nguy cơ “chỉ thấy mình”, khi quyền lực của cơ chế bao vây.
     Đức Giêsu cũng nặng lời khiển trách đám Kinh Sư và Pharisêu đã để quyền lực của cơ chế Đạo Môsê bao vây đến độ không còn nhìn thấy điều phải - trái, không còn nhận ra việc nào phải làm, việc nào phải tránh, nhất là hoàn toàn mù quáng trước “công lý, lòng nhân và thành tín”, “là những điều quan trọng nhất trong Lề Luật” (Mt 23,23). Bằng chứng là họ chỉ lo “rửa sạch bên ngoài chén điã, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ” (Mt 23,25). Cơ chế họ nắm giữ đã làm Lề Luật mất đi giá trị và ý nghiã của “công lý, lòng nhân và thành tín” khi không còn phục vụ con người, không giúp con người đứng lên và bước đi  trên đôi chân của những con người tự do, nhưng Lề Luật bị “tư hữu hoá”, nghiã là bị biến thành công cụ của một số người nắm giữ quyền lực cơ chế, và những người này đã lấy Lề Luật làm bình phong để đàn áp, hành hạ, thống trị, khống chế mọi người, đáng thương nhất là những bà goá nghèo nàn bị đám Kinh Sư, Pharisêu “nuốt hết tài sản” (Mt 23,14), và bị o ép đủ điều.
       Chỉ thấy mình, nghiã là chỉ thấy mình đúng, mình có lý, vì “lý” có do “quyền”, mà quyền nắm sẵn trong tay, nên Ta là Luật, Luật là Ta, Ta làm Luật, Luật do ta, và người có quyền trong cơ chế dễ trở thành mù quáng, vì không muốn nhìn ai, nghe ai, hiểu ai, đón nhận ai. Thế giới của họ vì thế khép nhỏ dần, và quanh họ chỉ còn là bóng tối dầy đặc của đần độn, “ngu si, mù quáng” (Mt 23,17.19.24).
d.     Nguy cơ biến thành người gian ác :
   Khi đã tự đồng hoá mình với cơ chế, nhập vai người nắm giữ quyền lực của cơ chế, nhập tâm mình là Lề Luật của cơ chế, người của cơ chế  sẽ đối diện với cơn cám dỗ sau cùng là bảo vệ bằng moị giá cơ chế. Thế nên khi cơ chế bị đe dọa, họ là người nhân danh cơ chế để giết chết những ai rắp tâm đụng chạm đến cơ chế, đổi mới cơ chế. Vì cơ chế bảo đảm tuyệt đối chỗ đứng vinh quang và đời sống “vinh thân phì gia” của họ, nên họ phải “sống mái” bảo vệ, bởi cơ chế mất, đời họ mất theo. Và để bảo vệ cơ chế, họ sẵn sàng sử dụng những phương tiện tàn ác nhất, miễn sao đạt mục đích giữ gìn cơ chế an toàn.
    Đức Giêsu đã nói đến máu người công chính “từ máu ông Aben đến máu ông Dacaria, con ông Berécgia” mà cơ chế Đạo “đã giết giữa đền thánh và bàn thờ” (Mt 23,35) để mô tả nguy cơ đi đến bạo lực rất tàn nhẫn để bảo vệ cơ chế tôn giáo, khi những người nắm giữ cơ chế từ chối mục tiêu, giá trị và ý nghiã  đích thực của cơ chế là phục vụ con người, cũng như Lề Luật của cơ chế là để thắp sáng “Công Lý, Lòng Nhân và Thành Tín” (Mt 23,23).         
     Tóm lại, Tin Mừng Mátthêu chương 23 đã cho chúng ta thấy tình trạng “nặng nề, u ám” của cơ chế trong Đạo cũ, đồng thời cho chúng ta những tiêu chuẩn để đánh giá, và cảnh báo những nguy cơ mà cơ chế có thể gây ra. Nếu ở thời Đức Giêsu, các chức sắc phẩm trật của cơ chế Đạo Do Thái đã gây nhiều phiền phức cho dân Chúa như cấm vận ơn sủng, đóng cửa Nước Trời, tham lam, bóc lột, gian ác, thì những người của Giáo Hội hôm nay cũng sẽ khó tránh khỏi những cám dỗ của quyền lực, quyền lợi, độc tài, độc đoán, kẻ cả thủ đọan gian ác, phi nhân, vì Giáo Hội bên cạnh sự thánh thiêng, không tỳ ố vì có Đức Giêsu là Đầu, vẫn là một cơ chế mang tính nhân loại gồm những con người bất toàn, yếu đuối. Vấn đề của chúng ta, những người con của Giáo Hội hôm nay, là làm thế nào để cơ chế không là mục đích phải tìm kiếm, cơ chế không là Nước Trời phải ở lại, cơ chế không là cứu cánh phải đạt tới, nhưng cơ chế chỉ là phương tiện để đến được Nước Trời, cơ chế chỉ là nơi tìm gặp Thiên Chúa, cơ chế chỉ tồn tại để phục vụ, cơ chế chỉ là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa nhập thể, cơ chế chỉ là nơi Tình Yêu nhập cuộc cho hết mọi người được thương yêu, cứu độ.
     Để được như vậy, chúng ta không được quan niệm Giáo Hội như một cơ chế bình thường như bao nhiêu cơ chế khác, càng không được “tổ chức, điều hành” Giáo Hội như một cơ chế “thuần trần thế”, bởi Giáo Hội không là cơ chế do con người thành lập, cũng không sống bởi sự khôn ngoan và sức mạnh của con người, nhưng được chính Đức Giêsu thiết lập và sống bằng sức sống của Chúa Thánh Thần. Do đó, tiên vàn Giáo Hội phải “làm chứng” bằng liên lỷ cố gắng trở thành dung mạo sáng ngời của Chúa Cha giầu lòng thương xót, và hiện thân của Đức Giêsu, Đấng “đã đến để phục vụ chứ không để được phục vụ, và đã hiến mạng sống làm giá cứu chuộc mọi người” (Mt 20,28). Vì thế, khi  Giáo Hội đánh mất lẽ sống, lý tưởng, hướng đi, sứ vụ và sức sống là Lòng Thương Xót và Hiệp Thông của Thiên Chúa Ba Ngôi, thì Giáo Hội chỉ còn là cơ chế khô khan, lạnh lẽo, vô hồn, tệ hơn bất cứ một cơ chế trần thế nào khác, vì bị cắt nguồn sống từ Thiên Chúa, Đấng đã muốn Giáo Hội sống bằng chính sự sống của Ngài.    
   Đức Thánh Cha Phanxicô không chỉ một lần, nhưng rất nhiều lần rải rác trong các bài giảng, tông huấn đã tha thiết kêu gọi đừng để Giáo Hội của Đức Giêsu biến thành một cơ chế sơ cứng chỉ độc đoán phân tích, xếp loại, tuyển chọn, khai trừ người khác, thay vì nhiệt tâm loan báo Tin Mừng ; cũng đừng làm khó dễ, đặt chướng ngại vật trên đường đến với ân sủng, nhất là đừng làm nhụt chí những người đang khao khát tìm gặp Đức Giêsu, bằng dựng những trạm kiểm soát, hàng rào kiểm tra, lô cốt canh phòng, bảo vệ. Vì như thế cả Đức Giêsu và con người đều không có lối đi để đến với nhau.      
   Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

THIÊN CHÚA BA NGÔI

Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm nển tảng của Kitô giáo, mầu nhiệm đã được chính Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người mặc khải, không chỉ một lần, nhưng liên tục dọc suốt Tin Mừng. Đây là mầu nhiệm nguồn mạch, từ đó Thiên Chúa ban Tình Yêu của Ngài cho nhân loại và mọi thụ tạo khác, cũng là mầu nhiệm nói lên bản tính của Thiên Chúa là Tình Yêu hiệp thông và thương xót.
Qủa thực, chỉ riêng Tin Mừng Gioan, chúng ta cũng thấy tính liên tục mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi từ miệng Đức Giêsu :
1.   Đức Giêsu là Con Một của Thiên Chúa Cha :
a.   Ngài đến từ Thiên Chúa Cha : “Tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. Thật thế, tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Người đã sai tôi” (Ga 8,42).
b.       Ngài ở trong Thiên Chúa Cha: “Như Cha ở trong con và con ở trong Cha” (Ga 17,21)
c.    Ngài có tất cả những gì Thiên Chúa Cha có : “Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con” (Ga 17,10).
d.   Thiên Chúa Cha yêu thương Chúa Con, sai Chúa Con đến trong thế gian, và tín thác mọi sự cho Ngài :
   “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,10), bởi “Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người” (Ga 3,35).
e.    Chúa Con đến trong thế gian để thực hiện thánh ý của Chúa Cha :
   Đức Giêsu nói với các môn đệ : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34). Và hơn thế nữa, “Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. Qủa thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc” (Ga 5,19-20).
Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Philípphê đã khẳng định : “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ nhất quyết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).
 Và lòng vâng phục ấy đã khiến Chúa Cha vô cùng sủng ái Ngài : “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,18).
2.   Chúa Thánh Thần là Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con :
a.   Chúa Thánh Thần là Thần Khí tình yêu và sự thật :
“Thiên Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4,24).
    Ngài là Đấng làm sáng tỏ mọi sự thật mà Chúa Con đã mặc khải, như Đức Giêsu, Ngôi Hai đã nói với các môn đệ : “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em những điều sẽ xẩy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,12-14).
b.   Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ :
“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật…” (Ga 14,15-16). “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13).
c.    Chúa Thánh Thần là Đấng làm chứng :
 “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật từ nơi Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy” (Ga 15,26).
3.    Thiên Chúa Ba Ngôi là Tình yêu Hiệp Thông :
  Đức Giêsu đã luôn xác tín và sống tình yêu hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa, nghiã là trong tất cả mọi sinh hoạt, Ngài đều hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nền tảng của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là Tình Yêu hiệp thông giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, bởi cả Ba Ngôi cùng một bản thể và chỉ là Một Thiên Chúa.
Vì thế ;
a.    Ở trong Đức Giêsu là ở trong Thiên Chúa Ba Ngôi : “Để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17,22).
b.    Tin Đức Giêsu, Ngôi Con là tin Thiên Chúa Ba Ngôi :
“Việc Thiên Chúa muốn các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,29).
c.    Biết Đức Giêsu là biết Thiên Chúa Ba Ngôi :
“Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy” (Ga 14,6) ; “Các ông không biết tôi, cũng chẳng biết Cha tôi. Nếu các ông biết tôi, hẳn cũng biết Cha tôi” (Ga 8,19).
“Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy” (Ga 14,6-7). 
d.   Đến với Đức Giêsu là đến với Thiên Chúa Ba Ngôi:
   “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy” (Ga 6,45).
e.    Thấy Đức Giêsu là thấy Thiên Chúa Ba Ngôi :
  “Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha” (Ga 6,46).
f.     Sống Đức Giêsu là sống Thiên Chúa Ba Ngôi :
“Ai ăn thịt và uống máu Con Người, thì được sống muôn đời” (Ga 6,54), “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57).
g.   Yêu mến Đức Giêsu là yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi :
“Thật vậy, chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến” (Ga 16,27).
h.   Phục vụ Đức Giêsu là điều làm vui lòng Thiên Chúa Ba Ngôi :
 “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ qúy trọng người ấy” (Ga 12,26).
i.     Tuân giữ lời Đức Giêsu dậy là tuân giữ lời của Thiên Chúa Ba Ngôi :
“Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy… Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy…” (Ga 14,23-24). Và “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dậy anh em mọi điều, và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26).
4.   Thiên Chúa Ba Ngôi là Tình Yêu thương xót :
  Tất cả hoạt động của Thiên Chúa Ba Ngôi đều xuất phát từ Tình yêu thương xót và thể hiện lòng thương xót. Tình yêu thương xót của Ba Ngôi Thiên Chúa “xót thương” con người tội lụy và cứu con người khỏi hư mất, nhưng được sống đời đời trong tình yêu thương xót của Ba Ngôi chí thánh :
a.   Ý của Chúa Cha là mọi người được cứu sống :
 “Vì tôi tự trời mà xuống , không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,38-40).
b.   Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa thực hiện Tình Yêu thương xót của Thiên Chúa Ba Ngôi bằng xuống thế gian làm người và chịu chết để làm giá chuộc tội con người :
 “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Qủa vậy, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,16-17).
“Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).
c.    Chuá Thánh Thần tiếp tục công trình cứu độ của Ba Ngôi Thiên Chúa bằng hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội với sự sống và Tình Yêu hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi :
  Chính Chúa Thánh Thần là khởi điểm của thời đại Giáo Hội trong ngày lễ Hiện Xuống và ban cho Giáo Hội sức sống, sức mạnh từ trời và hướng dẫn, dạy dỗ Giáo Hội trên đường làm chứng nhân, không khác gì Đức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ làm chứng của Ngài với phép rửa ở sông Giođan :
“Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1,5).
 “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).  
5.   Tất cả chúng ta được mời gọi sống Tình Yêu hiệp Thông và thương xót của Thiên Chúa Ba Ngôi :
Mầu nhiệm nền tảng, thiết yếu của Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm của Thiên Chúa là Tình yêu hiệp thông và thương xót : Ba Ngôi hiệp thông với nhau, và ban cho con người được hiệp thông với chính mình, đồng thời thương xót nhân loại.
Vì thế, bất cứ người Kitô hữu nào, dù ở địa vị, vai trò, trách nhiệm nào cũng phải sống tình yêu hiệp thông và thương xót có nguồn mạch là Tình Yêu hiệp thông và thương xót của Thiên Chúa Ba Ngôi, nếu không, chúng ta không là người Kitô hữu đích thực.
Sở dĩ còn nhiều đối kháng, tranh giành, đấu đá, tị hiềm, đố kỵ, phân biệt, kỳ thị, chia rẽ trong Giáo Hội là vì chúng ta chưa ý thức đòi hỏi căn bản của đức tin Kitô giáo, đó là sống sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, bằng sống Tình Yêu hiệp thông với Thiên Chúa, và với anh em, đồng thời sống lòng thương xót đối với tất cả mọi người, như Thiên Chúa Ba Ngôi là Tình yêu thương xót.
Xin Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh tuôn đổ trên chúng ta Tình yêu hiệp thông và thương xót của Ngài, để đời chúng ta như cây thánh giá mỗi ngày cắm sâu hơn trong Thiên Chúa với tình yêu vươn cao hiệp thông với Thiên Chúa và giang rộng thương xót anh em mình.   
    Jorathe Nắng Tím