Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

Truyền Giáo bằng cách nào ?

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XV – XVI Thường Niên, Năm C
Tin Mừng được chọn trong các Chúa Nhật XIV đến Chúa Nhật XVI Thường Niên của Năm C đều xoay quanh sứ vụ truyền giáo, tức loan báo Tin Mừng Cứu độ của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã sống, đã chết và sống lại để nhân loại được sống.
Nhiều người cho việc truyền giáo là sứ vụ đặc thù được trao phó cho các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, cùng lắm là các giáo lý viên, còn đa số “bàn dân thiên hạ” không chức tước, phẩm hàm, trật ngạch thì được miễn “lao động truyền giáo” ; cũng có người cho rằng mình có được học thần học đâu mà giảng đạo cho người chưa biết Đạo ; lại có người vui vẻ khoán trắng việc loan báo Tin Mừng cho người khác viện cớ là lắm tội, nhiều tai tiếng “nguội lạnh, khô khan”, chưa kể luôn dành đứng đầu sổ “Văn dốt vũ dát” trong cộng đồng, đoàn thể. 
Nhưng lý do làm phần đông chúng ta không dám truyền giáo, ngại rao truyền Tin Mừng, không bạo miệng giới thiệu Đức Giêsu cho người chung quanh chính là chúng ta không biết truyền giáo thế nào, rao giảng làm sao cho thuyết phục ?
Thực ra, khi chọn và sai các môn đệ lên đường truyền giáo, giảng đạo, Đức Giêsu đã tiên liệu tất cả, và điều quan trọng nhất Ngài căn dặn, nhắn nhủ các thừa sai, nhà truyền giáo, sứ giả, tông đồ là cách thức loan báo Tin Mừng, phương thế giới thiệu Ngài cho muôn dân.
Trong Tin Mừng Luca, sau khi nhắc lại và nhấn mạnh truyền giáo là việc làm cấp bách, khẩn trương vì “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 19,2), và điều kiện đi theo Ngài trên đường truyền giáo là phó thác tuyệt đối, phó thác đến độ không cần biết ăn đâu ngủ đâu, vì “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58), đồng thời từ bỏ cả những điều được phép như câu trả lời của Đức Giêsu cho người xin phép về nhà chôn cất cha mình trước đã, rồi trở lại theo Đức Giêsu : “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, anh hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa” (Lc 9,60), Đức Giêsu đã nêu rõ những điểm mà người môn đệ phải thực hiện khi rao giảng, giới thiệu với người khác về Ngài :
1.     Người tông đồ truyền giáo bằng cách khi vào nhà nào, trước tiên hãy nói : “Bình An cho nhà này” (Lc 10,5).
Chúc bình an cho mọi người là cách rao giảng hữu hiệu nhất, vì bình an là hoa trái tuyệt hảo của Tình Yêu, là ơn sủng của Chúa Thánh Thần, là món quà quý giá của Đức Giêsu phục sinh, là khao khát của mọi con người sống trên thế gian đầy bất an, bất ổn.
Vì thế, khi chúc bình an cho người khác chính là trao ban bình an của Đức Giêsu, Đấng đã yêu thương và chết cho mọi người để mọi người được hạnh phúc bình
an. Và sẽ không thể hiểu nổi nếu người được sai đi loan báo một Thiên Chúa của tình yêu lại không đem đến bình an là kết quả tất yếu của tình yêu, nhưng lại gây chia rẽ, bất hoà, xáo trộn, lo sợ, hoang mang, ngờ vực. Người nghe Tin Mừng sẽ chói tai và không thể chấp nhận người được sai đi làm chứng Thiên Chúa là tình yêu thương xót, Đấng Cứu Độ lại không có thói quen, hoặc thiếu khả năng làm cho người khác được bình an, nhưng lai giỏi giang, tinh xảo, nhuần nhuyễn trong chuyện khích bác, đâm thọc, vu khống làm mọi người đảo điên, hoảng loạn.
Do đó, nhìn một người Kitô hữu hiền lành, khiêm nhu, biết chạnh lòng thương xót và thao thức kiến tạo hoà bình (x. Mt 5,4.7.9), người ta sẽ dễ dàng nhận ra Đức Giêsu mà người ấy đang giới thiệu.
Nhưng để bình an là bình an thực, không là bình an “đầu môi chót lưỡi”, bình an “bánh vẽ”, nhà truyền giáo phải nhận từ Đức Giêsu bình an này, vì là bình an của Thiên Chúa, bình an mà thế gian không ban được (x. Ga 14,27).
2.     Người truyền giáo phải làm chứng Đức Giêsu bằng biết chạnh lòng thương xót.
Không phải vô tình, vô ý mà Đức Giêsu đã đặt thầy tư tế và thầy Lêvi, là hai vị thuộc hàng chức sắc vào hai nhân vật bị coi là không đáng bắt chước, noi gương trong dụ ngôn “người Samari tốt lành” được chọn cho chúa nhật XV Thường Niên (Lc 10,25-37).
Sở dĩ Đức Giêsu “chiếu tướng” các vị này bởi Ngài biết các chức sắc trong Đạo vì thuộc cơ chế, nên dễ rơi vào tình trạng quá chăm lo bảo vệ cơ chế mà quên “chạnh lòng thương” người bất hạnh ; vì gắn liền với cơ cấu tổ chức nên bận rộn tổ chức cho cơ cấu luôn nhịp nhàng, hoà điệu mà mất chú ý, quan tâm đến những “lạc cung, lỗi nhịp”, thiếu quy củ, trật tự của đám dân nghèo mà tai ương chồng chất, dồn dập không buông tha ; vì quá chăm chút từng chấm nhỏ li ti của lề luật mà mất tầm nhìn về phía người xấu số bị đời khinh khi, dầy xéo ; vì quá cẩn trọng tuân giữ nội quy, điều lệ, giờ giấc của đoàn thể, hội, nhóm mà vô tình, vô cảm trước người anh em vừa bị “rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết” (Lc 10,30), nhưng cả hai vị tư tế và thầy Lêvi “khi trông thấy người này” đều “tránh qua bên kia mà đi” (Lc 10,31) đề khỏi bị phiền phức, liên lụy, khỏi mất thời giờ, tốn kém, lỡ việc bề trên giao, và xáo trộn quy trình bổn phận tế lễ. 
Chỉ tiếc một điều, nhưng lại là điều quan trọng không thể thiếu, đó là hai vị đã “không thực thi lòng thương xót đối với người bị nạn” như người Samari không là chức sắc, cũng chẳng có đạo nhưng tốt lành, nhân hậu. Và Đức Giêsu đã kết luận dụ ngôn khi nói với thầy thông luật đã chất vấn Ngài : “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời ?” (Lc 10, 25) “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10,37).
“Hãy làm như vậy” là làm như người Samari biết chạnh lòng thương xót, để có thể làm chứng cho anh em Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ đầy lòng thương xót mà chúng ta yêu mến, tôn thờ, phụng sự.
“Hãy làm như vậy” là làm như người Samari quảng đại chịu mất thời giờ, mất sức lực, mất tiền bạc, mất cả trật tự, nguyên tắc của cơ cấu tổ chức, cả lập trình đã được kỹ lưỡng tính toán trong công việc để lo cho người bất hạnh không quen biết tình cờ trông thấy trên đường, bởi có chịu mất như thế thì lời rao giảng về Đức Ái Kitô giáo, về Giới luật yêu thương, về một Giáo Hội là Mẹ nhân lành, về Nước Trời dành cho những người thực thi lòng thương xót của nhà truyền giáo mới xác thực và thuyết phục, ngược lại, tất cả sẽ chỉ là chuyện tào lao của tên nói láo không làm chứng được gì, không thuyết phục được ai, vì không đáng tin khi “ngôn hành bất nhất”.
3.     Người truyền giáo phải truyền giáo bằng gắn bó, sống với, ở lại trong Đức Giêsu, Đấng sai mình.
Tin Mừng Chúa hật XVI thường niên Năm C tường thuật câu chuyện Đức Giêsu đến nhà hai cô Mátta và Maria. “Cô Mátta thì tất bật lo phục vụ” (Lc 10,40), trong khi đó “cô Maria cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dậy” (Lc 10,39). Và khi cô Mátta tỏ ý bực bội “xin Thầy bảo em con giúp con một tay” (Lc 10,40), thì Đức Giêsu làm Mátta bất ngờ khi trả lời cô : “Con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá ! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10,41-42).
Vì truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu cho người khác bằng làm chứng về Ngài. Nhưng sẽ làm chứng thế nào và làm chứng điều gì về Ngài, nếu ta không biết gì hay biết qua loa về Đấng ta phải làm chứng ? Vì truyền giáo là thuyết phục người khác tin những gì mình nói, chấp nhận điều mình chứng thực, “tâm phục khẩu phục” điều mình kể về người mình yêu mến là đúng, nên khi không đủ hiểu biết và tình cảm dành cho con người ấy thì quả thật sẽ rất khó lòng làm cho người khác tin.
Đó là chưa kể điểm cốt yếu trong việc truyền giáo là “người được sai đi” chỉ là khí cụ của “người sai đi” là Đức Giêsu, nên công cuộc tác động, đổi mới, thánh hóa, kêu gọi con người không thuộc thẩm quyền của khí cụ, người được sai đi, nhưng do một mình Thiên Chúa.
Vì thế, khi nhà truyền giáo cắt đứt liên lạc với Chúa, cắt thông tin với Chúa, cắt hiệp thông với Chúa thì chẳng khác gì cành nho tự tách khỏi cây nho để trở nên khô héo, không thể tồn tại, nói chi đến chuyện chuyển tải nhựa sống từ thân cho lá, như Đức Giêsu đã quả quyết : “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Tóm lại, truyền giáo là ơn gọi của tất cả mọi người thuộc về Đức Giêsu qua bí tích rửa tội, và công việc ấy khẩn trương, cấp bách. 
Tin Mừng còn quả quyết tất cả mọi người đi theo Đức Giêsu đều có khả năng truyền giáo, và phải truyền giáo, vì truyền giáo hệ tại ở việc sống mầu nhiệm Đức Giêsu khi người Kitô hữu :
4.     Là khí cụ bình an của Thiên Chúa Tình Yêu :
Là khí cụ bình an của Chúa khi “vui với ai mừng vui, và khóc với ai đang khổ sầu” ; khi cảm thông, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, thành công, thất bại, công danh thành đạt hay tai ương, thất thế với anh chị em cùng sống ; khi trở thành nụ cười an ủi, nâng đỡ người cô đơn, hy vọng cho trái tim tuyệt vọng, nắng ấm rạng rỡ cho tâm hồn băng giá, sầu buồn.
4.1            Sống triệt để lòng thương xót như Cha trên trời là Đấng giầu lòng xót thương.
4.2            Gắn bó thiết thân, và ở lại trong Đức Giêsu bằng đời sống bí tích và cầu nguyện.
Được như thế, tất cả chúng ta sẽ hân hoan, hớn hở như nhóm Bẩy Mươi Hai môn đệ trở về sau những ngày truyền giáo, khi nghe Đức Giêsu nói : “Anh em hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XIV, Thường Niên, Năm C (Lc 10,1-9)

Tin Mừng cho chúng ta đi vào bầu khí tưng bừng của ngày mùa, ở đó “lúa chín đầy đồng”, và tất cả chúng ta được mời gọi dấn thân làm thợ gặt thu gom lúa vào kho lẫm cho ông chủ là Thiên Chúa. 
Hình ảnh “lúa chín đầy đồng” cho phép chúng ta khẳng định : quanh chúng ta có rất nhiều người thiện chí sẵn sàng đón nhận Tin Mừng, và nhiều anh em đang chờ chúng ta mở lời dẫn đi gặp Đức Giêsu, và đưa tay cho chúng ta dắt vào nhà Thiên Chúa, tức Giáo Hội. 
Họ là ngàn triệu nhánh lúa vàng, làm thành đồng lúa chín và đợi chúng ta, những người được Đức Giêsu sai đi “gặt” về.
Khi cho chúng ta nhìn thấy đồng lúa đã chín vàng mà thợ gặt không có, Đức Giêsu khẳng định vai trò không thể thiếu của chúng ta trong việc “gặt hái” các linh hồn, một công việc được ủy thác cho từng người Kitô hữu qua bí tích rửa tội, bí tích làm cho người đón nhận trở nên “vua, tư tế, ngôn sứ” với Đức Giêsu và cùng với Ngài thi hành sứ vụ “làm cho muôn dân trở thành môn đệ Đức Giêsu” (Mt 28,19).
Như thế, không có sự cộng tác của chúng ta, như những thợ gặt hăng hái ra đồng thu gom lúa về, Thiên Chúa không thể thực hiện trọn vẹn thánh ý cứu độ của Ngài, vì Ngài thực sự cần mỗi người chúng ta để cứu độ anh em chúng ta.
Mời gọi và tin tưởng ở lòng nhiệt thành dấn thân truyền giáo của mỗi người, Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn bình an phục sinh của Ngài như bí quyết truyền giáo : “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình An cho nhà này” (Lc 10,5).
Đây là bí quyết thánh thiện, cũng là quà tặng quý giá của chính Đức Giêsu đã ban cho các môn đệ sau khi sống lại khi hiện ra giữa các ông mà nói : “Bình an cho anh em” (Lc 24,36), và các vị sẽ nhân danh Ngài ban cho mọi người.
Chính Bình An của Thiên Chúa sẽ ban cho người anh em mà chúng ta tìm đến lòng thương xót của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, hạnh phúc hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để người anh em bước đi theo Đức Giêsu trong hoan lạc cùng với Giáo Hội của Ngài.
Vì thế, truyền giáo đòi người được sai đi phải có ơn Bình An của Đức Giêsu, như điều kiện không thể thiếu, đồng thời biết quảng đại chuyển ban ơn Bình An đó cho mọi người, bởi không phải tự người được sai đi với khả năng riêng có thể đổi mới, thánh hoá, quy tụ anh em, nhưng tất cả là do ơn Chúa tác động qua những thợ gặt được Đức Giêsu sai ra đồng gặt lúa.

Xin Chúa cho chúng ta biết quảng đại đáp lời mời ra đồng gặt lúa Nước Trời và tràn đầy ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh để “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trong cậy vào nơi thất vọng, dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu” cho tất cả anh em đang cùng chúng con khấp khởi trông ngóng ngày về “tay ôm bó lúa ngào ngạt hương” (Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô Assisi)
Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

Ơn Ta đủ cho con ! (2 Cr 12,9)

Hạnh phúc của tuổi già là được an nhàn bên con cháu và vui thú điền viên. Tôi đã vào tuổi già và bắt đầu học vui thú bên luống rau, chậu cảnh.
Những ngày đầu chập chững chăm cây, trồng cảnh, tôi không thích thú bao nhiêu, nhưng càng ngày tôi càng khám phá ra nhiều bí mật của cây cỏ, lá hoa và học được nhiều điều kỳ diệu, nhiều sự lạ lùng Thiên Chúa đặt để trong thiên nhiên, vạn vật. Và càng khám phá, học hỏi, tôi càng thấy Thiên Chúa yêu thương thụ tạo của Ngài rất nhiều.
1. Tôi thấy Thiên Chúa quan tâm đến từng hạt cải, đọt rau, nụ hồng khi băn khoăn về số phận của chúng trong tay con người.
Khi hình dung nét đăm chiêu của Đức Giêsu khi nói về dụ ngôn người gieo giống với những hạt rơi “bên vệ đường, nơi sỏi đá, giữa bụi gai” và chúng đã hoặc bị chim trời cướp đi, hoặc không đâm rễ, hoặc bị bóp nghẹt” (x. Mt 13, 18-23), tôi cảm được phần nào nỗi xót xa của Thiên Chúa khi hạt giống không sinh hoa kết trái.
Và quan sát những hạt đậu e ấp nẩy mầm, những chồi non chúm chím hé mở, những nụ hoa bẽn lẽn khoe sắc hương, tôi càng thấy Thiên Chúa như người cha ân cần chăm sóc con cái mình.
2.   Khi vun xới những bụi hoa, gốc cây ăn trái, tôi thấy chúng cũng có nhiều nhu cầu như con người và cần tình thương quan phòng của Thiên Chúa :
Chúng khao khát nước, nắng, gió và lớn nhanh như thổi ; chúng cần được người làm vườn quan tâm chăm bẵm, bón phân, tỉa lá, cắt cành, diệt sâu ; chúng cũng cần được bao phủ khi trời giông bão, mưa đá, tuyết rơi, và che chở khỏi cơn điên của nắng hạn cháy nóng. Và như con người, cỏ cây, hoa lá cần bàn tay yêu thương quan phòng của Thiên Chúa, Đấng ban mưa, nắng, gió, sương, đất lành làm cây xanh tươi, làm hoa rực rỡ, làm trái thơm ngon, như Đức Giêsu đã trìu mến nói về chúng : “Anh em hãy nhìn bông huệ ngoài đồng. Chúng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6,28-29).
3.   Tôi thấy chúng biết chung sống hoà bình và cùng nhau chu toàn sứ mệnh làm đẹp trái đất, phấn khởi lòng người :
Ngắm bông cúc vàng, hay chiêm ngưỡng nhan sắc của nàng Quỳnh kiều diễm, tôi không khỏi xúc động trước tấm lòng của Thiên Chúa khi tạo dựng muôn loài, trong đó có muôn hoa đủ mầu, đủ dáng, và sắc mầu nào cũng đẹp, dáng vẻ nào cũng xinh. Nhưng điều làm tôi ngỡ ngàng hơn cả là tất cả đều chung sắc chung hương làm đẹp vườn hoa của Thiên Chúa sắm cho nhân loại. Thiếu hoa đẹp, cây xanh, đất người xem ra cũng khô khan, cằn cỗi, già nua, và lòng người cũng tiêu điều, hoang vắng.
4.   Qua cây cỏ, lá hoa, tôi nhận ra Thiên Chúa luôn có mặt để các thụ tạo của Ngài được tồn tại:
Thiên nhiên được tạo dựng cho con người như sách Sáng Thế đã khẳng định : “Hãy thống trị mặt đất” (St 1, 28). Vì thế, thiên nhiên, vạn vật cũng được Thiên Chúa ủy thác sứ mệnh giúp con người nâng tâm hồn lên, nhắc nhớ con người những kỳ công từ bàn tay Chúa, và những dấu chỉ về sự hiện diện yêu thương của Ngài.
5.   Tôi tập được thói quen cầu nguyện với cây cỏ, lá hoa khi làm vườn :
Đây chính là hạnh phúc rất sâu lắng tôi tìm được khi cùng với cam, táo, lê, mận, rau muống, khoai lang, bụi hồng, khóm trúc, cánh lan, chậu Quỳnh ... ca ngợi Chúa. Có nhánh cúc rung rinh trước gió, có chùm thiên lý nhoẻn miệng cười lúc rạng đông, tôi thấy lời kinh bất xứng của mình như bớt bất xứng hơn trong hiệp thông với Giáo Hội, và với luống rau đang tưới, dàn hoa đang chăm, gốc chuối đang trồng. 
Trong “Bài ca tạo vật”, thánh Phanxicô đã xác tín tất cả tạo vật đều ca tụng Thiên Chúa. Ngài gọi mặt trời là anh, mặt trăng là chị và nhìn tạo vật như một gia đình lớn của Thiên Chúa. 
Nhưng điều lớn nhất đã gây ấn tượng và xúc động dạt dào trong tôi khi làm vườn là những hạt đậu mọc lên từ khe đá sát chân tường, những thân hoa dại vươn lên từ vết nứt tí ti của mặt đường đổ xi măng dầy cộm dẫn vào vườn. Ở vết nứt, khe đá chân tường, tôi không thấy có đất.
Chỉ đến khi thân đậu mong manh chồi lên và dáng hoa mảnh khảnh nhẹ nhàng vươn ra, tôi mới thấy một chút đất ở đó, ít đất đến ngỡ ngàng vì không thể hiểu được chỉ lơ thơ chút đất mà hạt đậu lạc lõng và liều lĩnh kia, cũng như gốc hoa “vừa dại vừa gan” đã có thể nẩy mầm, mọc lên !
Nhìn hai sự sống của thực vật cố gắng hiện hữu để góp mặt với đời, dù không được trồng trong vườn, không được chăm sóc, cắt tỉa, lại bị đặt vào khe đá, chân tường, mặt lộ bê tông không đất sống, tôi nhớ lời Chúa nói với Phaolô, cũng như nói hôm nay cho tôi, thân phận tội lỗi, yếu đuối : “Ơn Ta đủ cho con” (2 Cr 12, 9). Và tôi hiểu rằng Thiên Chúa không bỏ ai, như mãi mãi không quên một thụ tạo nào Ngài đã tạo dựng, và với ơn Ngài, dù một chút xíu thôi, tôi cũng đã no thỏa hạnh phúc trong tình Ngài vì Ngài là Đấng toàn năng, nhân hậu và ơn Ngài vô cùng cao cả, bao la.

Jorathe Nắng Tím 

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2019

Mừng Kính hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô

LIÊN LỶ TRỞ VỀ VỚI ĐỨC GIÊSU
Mỗi dịp mừng kính hoặc xin hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô “cầu thay nguyện giúp”, hình ảnh một Giáo Hội trên đường trở về lại rực sáng trong tôi.
Thực vậy, tôi không bao giờ phủ nhận hai thánh tông đồ Phêrô, Phaolô đã xây dựng nhiều giáo đoàn Kitô hữu như nền tảng của Giáo Hội buổi ban đầu, cũng như đã anh dũng đổ máu làm chứng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ muôn dân, và vinh dự là cột trụ vững chắc của Giáo Hội công giáo Rôma. Nhưng bên cạnh đó, còn một nét đẹp tuyệt vời nổi bật khác luôn hấp dẫn, lôi cuốn mỗi khi tôi chiêm ngắm đời sống tông đồ của hai vị. Nét đẹp đó là “liên lỷ trở về với Đức Giêsu” của đời tông đồ.
Trở về với Đức Giêsu của Phêrô bắt đầu từ những yếu đuối khi Phêrô thấy Đức Giêsu “đi trên biển, thì cuống cuồng lên mà nói là ma, và hoảng sợ, kinh hãi” (Mt 14,26) ; đến khi Đức Giêsu cho đi trên nước mà đến với Ngài, thì phát sợ và chìm xuống biển khi thấy gió to, sóng lớn (x. Mt 14,29), để rồi bị Đức Giêsu lên tiếng qưở trách: “Quân yếu tin. Sao lại hoài nghi !” (Mt 14,31).
Trở về với Đức Giêsu của Phaolô khởi đi từ “sự đồng tình giết chết Stêphanô”, vị tử đạo đầu tiên, vì ông này đi theo Đức Giêsu. Sách Công Vụ Tông Đồ kể :
“Trong những ngày Hội Thánh ở Giêrusalem bị bách hại dữ dội. Mọi người đều phải tản mác về các vùng quê xứ Giuđê và Samari, chỉ trừ có các tông đồ. Những người nhân đức đưa đám Stêphanô và đã khóc than ông thống thiết. Còn Saolô thì ra công tàn phá Hội Thánh, xông vào các nhà tư, và lôi đi đàn ông, đàn bà mà tống ngục” (Cv 8,1-3).
Trở về với Đức Giêsu của Phêrô lớn dần với lời can ngăn Thầy đừng lên Giêrusalem, khi Đức Giêsu nói cho các tông đồ hay : “Ngài phải đi Giêrusalem và chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi, và ngày thứ ba sẽ sống lại”, và ông đã bị Đức Giêsu khiển trách : “Xéo đi khỏi mặt Ta ! Hỡi Satan !” (Mt 16,21-23).
Trở về với Đức Giêsu của Phaolô lớn nhanh khi “ông vẫn hằm hằm đe dọa giết các môn đệ Chúa, nên đi gặp Thượng tế, xin thư giới thiệu đến các hội đường ở  Đamát, để nếu thấy những người theo Đạo, dù đàn ông hay đàn bà, thì bắt trói giải về Giêrusalem” (Cv 9,1-2).   
Trở về với Đức Giêsu của Phêrô trở nên đơm chồi, nẩy lộc khi “Phêrô đang ở dưới sân, thì một đứa trong bọn tớ gái của Thượng tế đến, thấy Phêrô đang sưởi, nó nhìn trừng trừng, mà nói với ông : Cả ông nữa, ông đã ở với  người thành Nadarét, tên Giêsu đó !” Ông chối rằng : “Tôi chẳng biết, cũng chẳng hay chị muốn nói gì !” (Mc 14,66-68). Phêrô còn tiếp tục bị bọn tớ gái của Thượng Tế vặn hỏi, và lần nào ông cũng bai bải vừa thề vừa chối : “Tôi không biết người ấy là ai” (Mc 14,71). 
Trở về với Đức Giêsu của Phaolô đạt đến hồi gay cấn khi “ông gần đến Đamát, thì thình lình có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống  bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất, và nghe có tiếng nói với ông : “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta ?” (Cv 9, 3).
Trở về với Đức Giêsu của Phêrô đơm hoa kết trái khi Phêrô nhớ lại lời Đức Giêsu, khi Ngài bảo ông : “Trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Thầy ba lần. Và ông oà khóc nức nở” (Mc 14,72).
Trở về với Đức Giêsu của Phaolô  tưng bừng mở hội khi ông lên tiếng  hỏi, sau khi té ngựa : “Thưa Ngài, Ngài là ai ?” ; và nghe được tiếng rằng : “Ta là Giêsu mà ngươi đang tìm bắt” (Cv 9, 5).
Vâng, cả hai tông đồ Phêrô và Phaolô đều bắt đầu đời tông đồ của mình từ yếu đuối : người thì phản bội chối Thầy, người thì điên cuồng bắt bớ tín hữu, tiêu diệt Hội Thánh mới khai sinh, còn non nớt. Và khởi điểm yếu đuối ấy đã nối tiếp suốt đường dài tông đồ của hai vị :
1.   Nối tiếp suốt đường dài đời tông đồ khi không ngừng ý thức thân phận vốn yếu đuối, và mãi dòn mỏng của mình, như Phêrô đã phủ phục dưới chân Đức Giêsu mà  thưa : “Lậy Thầy, xin xa con ra, vì con  là kẻ tội lỗi !” (Lc 5,8) ; và như Phaolô đã không ngần ngại tự thú : “Nếu phải vinh vang, thì tôi sẽ vinh vang về những yếu đuối của tôi” (2Cr12,30).
2.   Nối tiếp suốt đường dài đời tông đồ khi liên lỷ xác tín : Tình Yêu Đức Giêsu sẽ biến đổi con người yếu đuối thành môn đệ mạnh mẽ, khí cụ đắc lực của Ngài, như Phêrô đã tín thác thân thưa : “Lậy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,15-16), và như Phaolô đã mạnh dạn qủa quyết : “Tôi rất đỗi sung sướng mà vinh vang  nơi các yếu đuối của tôi, để quyền năng của Đức Kitô ở lại trên tôi.  Vì thế, tôi vui thỏa trong những yếu đuối, lăng nhục, quẫn bách, bắt bớ, cùng khốn, vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr12, 9-10). Mạnh trong sức mạnh của Đức Kitô, Đấng đã phán : “Ơn Ta đủ cho ngươi !” (2Cr 12,9) chính là niềm hy vọng của Phaolô.
3.   Nối tiếp suốt đường dài đời tông đồ khi “bám chặt và ở lại” với Đức Giêsu như Phêrô đã hớt hải kêu lên, vì biết mình cần Chúa : “Bỏ Thầy, chúng con biết theo ai, vì Thầy có Lời ban sự sống !”, khi Đức Giêsu hỏi các tông đồ : “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ Thầy sao ?” (Ga 6,67-68), cũng như Phaolô đã thâm tín lẽ sống của đời mình chính là Đức Kitô : “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
 Và cứ như thế, các vị đã lớn lên trong đức tin, đức ái và đức cậy bằng sống sự gặp gỡ giữa “cái tôi đầy tội lụy, yếu đuối” của mình với “sức mạnh ân sủng của Thiên Chúa” ; các vị đã nhận ra và đón nhận sự thánh thiện như hồng ân “nhưng không” từ lòng thương xót, bao dung của Đức Giêsu, Đấng đã kêu gọi và chọn các vị từ vực thẳm của yếu đuối ; các vị đã  từng bước khiêm tốn đi theo Đức Giêsu trên đường phục vụ mà không tích lũy công lênh, ki cóp công trạng, góp nhặt công danh cho riêng mình, nhưng chỉ  sống và phục vụ  dân Chúa vì được “Tình Yêu Đức Kitô  thúc bách” (2Cr 5,14).
Cũng vì liên lỷ ý thức thân phận yếu đuối, luôn cần trở về từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây với Đức Giêsu, mà các vị không xây pháo đài, mở mang bờ cõi, hay củng cố cơ chế để phục vụ vinh quang cá nhân, quyền lực phe nhóm, ảnh hưởng vùng miền, an toàn cục bộ, nhưng buông bỏ tất cả, như tất cả đã được buông bỏ ngày nào bên bờ hồ Galilê khi Đức Giêsu lên tiếng gọi : “Hãy theo Ta !” (Mt 4,19), hay  trên đường Đamát khi ngã ngựa, để “đi  khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán ngươi, khỏi nhà cha ngươi, đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1), như Thiên Chúa đã nói với Abraham, tổ phụ dân riêng Ngài tuyển chọn.
Và cũng vì liên lỷ trở về với Đức Giêsu với tâm tình của con người yếu đuối luôn cần Chúa, mà các vị được Thiên Chúa yêu thương, tín nhiệm, chúc phúc, như Phêrô đã được chọn làm Tảng Đá, trên đó Đức Giêsu xây dựng Hội Thánh của Ngài (x. Mt 16,13-20), và như Phaolô đã được chọn làm Tông Đồ dân ngoại qua Lời Thiên Chúa truyền dậy Hananya : “Ngươi cứ đi ! Vì nó là lợi khí Ta đã chọn để mang Danh Ta ra trước mặt các dân ngoại…” (Cv 9,15).
Qủa thực, con đường tiến lên phiá trước khi đi rao giảng Tin Mừng của hai thánh Tông Đồ Phêrô, Phaolô chính là con đường “liên lỷ trở về” với  Đức Giêsu, vì có trở về, sau khi tự  mình “đi lạc” vào dinh Thượng tế và ở đó đã phản bội, chối Thầy, Phêrô mới thấy rõ và cảm nghiệm sâu sa tình yêu vô cùng và đến cùng  của Đức Giêsu, Thầy mình, Đấng đã chẳng hạch hỏi tội xưa, lỗi cũ, mà chỉ gợi nhớ tình yêu muôn thưở,  đời đời trung tín của Ngài : “Này Simôn, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn các người khác không ?” (Ga 21, 15), cũng như Phaolô cũng vì khiêm tốn thân thưa : “Lậy Ngài, Ngài là ai ?” mà kịp trở về với Đấng đã cho ông được tràn đầy Thánh Thần, được sáng mắt, chỗi dậy, chịu thanh tẩy, lấy lại sức (x. Cv 9,17-19), và trở thành tông đồ  của Đức Giêsu (x. Cv 9,26-28).
Cũng trên hành trình loan báo Đức Giêsu luôn mở ra trước mặt, hai vị tông đồ rường cột của Hội Thánh đã không quên lời mời “liên lỷ trở về” trong trái tim thương xót của Đức Giêsu để được nâng đỡ, ủi an, tăng thêm sức mạnh, bởi biết mình mỏng dòn, yếu đuối, bất toàn : “Hãy đến với Tôi ! Tất cả những ai đang vất vả, mang gánh nặng nề, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi, bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Tô và học với Tôi, vì Tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và anh em sẽ tìm được sự nghỉ ngơi cho tâm hồn, vì ách Tôi  êm ái, và gánh Tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).
Và bởi biết mình cần được Thiên Chúa ban sức mạnh để trung thành với ơn gọi tông đồ, và khiêm tốn “liên lỷ trở về” với Thiên Chúa, mà các vị đã được Đức Giêsu trao sứ vụ “chăn dắt chiên con, chiên mẹ” (Ga 21,17), và củng cố đức tin của anh em (x. Lc 22,32).  
Và lịch sử đã làm chứng : suốt hơn hai ngàn năm, Giáo Hội đã trải qua những bước thăng trầm tùy theo mức độ trở về với Đức Giêsu của Giáo Hội, bởi đã có những năm tháng nội bộ Giáo Hội phân hoá trầm trọng ; người của Giáo Hội  ganh ghét, đấu đá, tranh giành ; phẩm trật Giáo Hội rối loạn bởi mưu mô phế lập, thủ đọan triệt hạ nhau, và giáo triều hành xử bất xứng, tồi tệ hơn cả người đời. Tất cả chỉ vì một số người nắm quyền lãnh đạo trong Giáo Hội đánh mất ý thức về thân phận dòn mỏng, yếu đuối của mình, nên không còn nhu cầu “liên lỷ trở về” với Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng thương xót để được chữa lành, bồi bổ, yêu thương, hướng dẫn ; tất cả chỉ vì những người con của Giáo Hội đã quên sự thánh thiện hệ tại ở sự gặp gỡ giữa thân phận yếu đuối của loài người và sức mạnh ân sủng của Thiên Chúa. Chính trong ý thức và gặp gỡ này, con người thực hiện quyền tự do của mình bằng cố gắng đi tìm Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ duy nhất, và Thiên Chúa, Đấng giầu lòng thương xót mở lòng khoan nhân khứng ban ân sủng cho con cái mà Ngài yêu thương. 
Đó cũng là chọn lựa của hai thánh Phêrô và Phaolô trong suốt cuộc đời làm tông đồ : thánh Phêrô với trái tim quảng đại, được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần đã dẫn dắt Giáo Hội bằng ý thức mình yếu đuối và luôn cần ơn tha thứ của Thầy mình ; thánh Phaolô đã đến với dân ngoại bằng  nhiệt huyết và khiêm tốn của người “ngã ngựạ, mù loà”, nhưng được Lòng Thương Xót nâng dậy, chữa lành, tuyển chọn. Chính trong yếu đuối và lòng tín thác vào sức mạnh Ân Sủng của hai tông đồ rường cột Phêrô và Phaolô mà Giáo Hội bền vững, trường tồn và “qủy hoả ngục không làm gì nổi”, bởi với Phêrô và Phaolô  không trên cơ chế mà Giáo Hội đặt nền tảng, không ở thành qủa thế gian mà Giáo Hội gắn bó, không quyền lực bao trùm quần chúng mà Giáo Hội say mê, không tổ chức  hoàn hảo và kỷ cương trăm phần trăm mà Giáo Hội phải đạt cho bằng được, không vị thế ngất ngưởng trên thiên hạ  mà Giáo Hội đặt làm điểm ngắm, không sức mạnh khống chế, áp đảo,  thanh trừng mà Giáo Hội đầu tư, xây dựng, nhưng duy một mình Đức Giêsu mà Giáo Hội  được mời gọi “liên lỷ trở về và ở lại”, vì chỉ một mình Đức Giêsu mới thực là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội (Ep 5,22) ; là Phu Quân yêu thương vô cùng và đến cùng Hiền Thê của mình là Giáo Hội (Ep 5,25) ; là Con Đường cứu độ mà Giáo Hội phải bước đi ; là lẽ sống và sự sống của Giáo Hội, nên không liên lỷ trở về gặp gỡ Đức Giêsu, Giáo Hội có nguy cơ thoái hoá thành “một giáo hội có thiên chúa nhưng không có Đức Kitô, một Đức Kitô không có Giáo Hội,  một Giáo Hội không có dânThiên Chúa, một giáo lý không  mầu nhiệm, và một ý chí không khiêm nhường” như lời Đức Thánh Cha Phanxicô, và hậu qủa tất nhiên, nhãn tiền sẽ là một giáo hội cơ chế mải mê quyền lực, săn tìm ảnh hưởng trần thế, và bỏ quên thương xót, phục vụ.    
 Xin hai thánh Tông Đồ Phêrô, Phaolô cầu bầu cùng Chúa cho “đường đi” của Giáo Hội luôn là “đường  về liên lỷ” với Đức Giêsu, để Giáo Hội không ngừng chiếu sáng dung nhan Thiên Chúa của lòng thương xót, dung mạo Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành sẵn sàng hiến mạng sống để “đàn chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Jorathe Nắng Tím       

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2019

LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊ-SU

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÍNH LÀ THIÊN CHÚA!
Từ nhiều năm gần đây, phong trào Lòng Thương Xót nở rộ khắp nơi, và không ít người trong chúng ta rơi vào tâm trạng hoặc như vừa tìm lại một cái gì đã lâu ngày bỏ quên, đánh mất, hoặc vừa khám phá ra một điều gì rất mới lạ. Và vấn đề được đặt ra là trong tư cách người Kitô hữu, có thực chúng ta vừa phát minh ra Lòng Chúa Thương Xót hay vừa tìm lại Lòng Thương Xót ấy không ? 
Thực ra từ ngàn xưa, Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót trên nhân loại và cách riêng với dân thánh của Ngài như Đức Maria, người nữ đầy ơn phúc và gạch nối giữa Cựu Ước và Tân Ước đã phấn khởi ngợi khen: “Lòng thương xót Chúa trải qua từ đời nọ đến đời kia” (Lc 1, 50).
“Từ đời nọ đến đời kia” là không thời nào không có lòng thương xót ấp ủ, không lúc nào vắng bóng lòng thương xót chở che, không nơi nào xa lòng thương xót gìn giữ. 
“Từ đời nọ đến đời kia” là lòng thương xót không mới lạ, cũng không cũ rích, lạc hậu đối với bất cứ thời điểm, giai đoạn nào của lịch sử. 
“Từ đời nọ đến đời kia” còn khẳng định sự can thiệp tích cực của lòng thương xót ở hiện tại và bảo đảm chắc chắn sự hiện diện ở tương lai. 
“Từ đời nọ đến đời kia” còn chứng thực tính trung tín, bền vững đời đời  của lòng thương xót và nói lên tính vô cùng, bất tận của lòng thương xót ấy. 
Nhưng nếu lòng thương xót luôn có mặt và hoạt động trong suốt lịch sử của nhân loại từ khi được tạo dựng và chỉ kết thúc khi “Con Người trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết” (Kinh Tin Kính), thì cớ gì lòng thương xót ấy lại bị coi như vừa được nhớ lại sau thời gian dài bị chôn vùi trong quên lãng, hững hờ, hoặc như vừa được phát minh bởi một nhóm người nào đó. 
Có nhiều lý do đưa đến tâm trạng  thời đại này : 
  Công nghệ, kỹ thuật  phát triển nhanh nâng cao đời sống kinh tế, đem lại nhiều tiện nghi phục vụ cuộc sống đã cho ta cảm tưởng con người làm được tất cả và không cần Thiên Chúa. 
Chủ thuyết vô thần duy vật và nhiều chủ nghĩa khác như duy lý, duy lợi, duy nghiệm, duy cảm, và thuyết thực dụng, tương đối xoá dần cảm thức tôn giáo trong con người thời đại. 
Tinh thần thực nghiệm “cân, đo, đong, đếm” của khoa học làm phai dần ý thức siêu nhiên, thiêng thánh, và những gì thuộc mầu nhiệm của Đức tin đều bị coi là hoang đường, mê tín. 
Chủ trương và phong trào nhân quyền cực đoan khi cho rằng Thiên Chúa cạnh tranh với con người và làm khổ con người đã dần lấy đi chỗ đứng quan trọng của Thiên Chúa trong đời sống con người hôm nay. 
Từ những lý do trên, con người không còn nhận ra mình là thụ tạo cần tình thương của Đấng Chủ Tạo để tồn tại ; không còn nhu cầu được cứu độ để phải chạy đến với Đấng Cứu Độ là Thiên Chúa nhân hậu ; mất hẳn ý thức về tội lỗi để không còn thấy mình cần được thương xót, thứ tha. Vì thế mà lòng thương xót của Thiên Chúa chỉ còn là ý niệm rất mờ nhạt, ý tưởng mơ hồ, viển vông, và quan điểm tàn dư, cổ hủ, lạc hậu, không thức thời. 
Nhưng lý do chính và căn bản đã tạo nên tâm trạng xa lạ, nếu không muốn nói là lạnh lùng, dửng dưng, có khi đối kháng, thù nghịch với lòng thương xót là nhìn lòng thương xót như một quan niệm, một tính cách, một sự việc, một cái gì đó, mà không đón nhận lòng thương xót như một con người đích thực, một nhân vật sống động, và con người ấy chính là Đức Giêsu, nhân vật sống động ấy là “Thiên Chúa làm người”. 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã viết trong tông huấn “Đấng Cứu Độ loài người -  Redemptor  Hominis” số 9 : “Lòng Thương Xót không phải là một sự gì đó, nhưng là một con người : Đức Giêsu Kitô”. 
Vâng, chỉ khi nào chúng ta tin lòng thương xót là chính Đức Giêsu, chúng ta mới có kinh nghiệm sống động sự hiện diện của Đấng là Thiên Chúa giầu lòng xót thương luôn mời gọi chúng ta trở nên giống Ngài khi từng ngày sống lòng xót thương đối với mọi người : “Anh em hãy thương xót như Cha anh em là Đấng luôn xót thương” (Lc 6,36). 
Chỉ khi nào chúng ta nhận lòng thương xót là chính Thiên Chúa, chứ không là thuộc tính trong các thuộc tính của Thiên Chúa, chúng ta mới không bỏ quên lòng thương xót như điều kiện để được cứu độ, khi thực hành Lời căn dặn của Đức Giêsu : “Anh em đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán, đừng lên án ai để không bị kết án, hãy tha thứ để được thứ tha” (Lc 6,37).
Chỉ khi nào chúng ta không còn nghi ngại đón nhận lòng thương xót như tiếp đón chính Thiên Chúa vào cuộc sống, chúng ta mới hiểu được giá trị lớn lao vô cùng của lòng thương xót khi làm điều Đức Giêsu dạy : “Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em, vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy “ (Lc 6,38). 
Và chỉ khi lòng thương xót không bị coi là phát minh thời thượng, phong trào ăn khách, công tác lôi cuốn quần chúng, công trình mang về nhiều lợi nhuận, công cuộc thi công lấy điểm, tìm lợi danh hay hoạt động kinh doanh cạnh tranh căng thẳng, chúng ta mới có ánh sáng của Chúa Thánh Thần để nhìn thấy dung mạo của Đấng là Lòng Thương Xót đang rộng lượng thứ tha khi ta đang phản bội, chối từ Ngài như Phêrô ; mới nhận được cảm thức thiêng liêng của Thần Khí để nghe được tiếng của Đấng kêu gọi và tuyển chọn ta, dù ta bất xứng và đang bắt bớ, bách hại Ngài như Phaolô vừa ngã ngựa trên đường Đamát ; mới dám tuyên xưng : “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8), là “Lòng Thương Xót” (Nhật Ký của thánh Faustina, số 374), mà không sợ bị anh em và nhiều người cho là điên khùng, ngớ ngẩn, man man ; nhất là mới có tâm tình để cùng Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa  trong Tông Huấn “Dives in Misericordia” : “Nhân danh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và sống lại, trong tinh thần của sứ vụ cứu thế luôn hiện diện trong lịch sử nhân loại của Ngài, chúng ta cùng cất tiếng khẩn khoản nài xin để Tình Yêu trong Chúa Cha, nhờ tác động của Chúa Con và Chúa Thánh Thần tỏa sáng một lần nữa trong giai đoạn của lịch sử này. Chính Tình Yêu mạnh hơn sự dữ, tội lỗi và tử thần biểu lộ và làm chứng sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới hôm nay. Chúng ta cầu xin nhờ lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ, đấng đã không ngừng tán tụng : “lòng thương xót Chúa trải qua từ đời nọ đến đời kia”, và của tất cả những người đã thấy thực hiện trong đời mình Lời của Đức Giêsu trên núi Bát Phúc: “Phúc cho ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5,7). 
Jorathe Nắng Tím

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

Thánh Gioan Tiền Hô

Có nhiều danh xưng khi nói về thánh Gioan, người anh em họ của Đức Giêsu, sinh trước Đức Giêsu khoảng 6 tháng : “Gioan Tẩy Giả”, vì ngài làm phép rửa thống hối cho dân bên bờ sông Gio Đan ; “Gioan Tiền Hô” để nói lên sứ vụ chuẩn bị con đường cho Đức Giêsu đến, như Tin Mừng Luca đã viết: “Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải vạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người sẽ được nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” ( Lc 3,4-6); và sau cùng là danh xưng “ngôn sứ”.
Tuy thế, cả ba danh xưng đều quy về một sứ vụ : “đi trước Chúa mở lối cho Người, báo cho dân Chúa biết Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên, vì Thiên Chúa đầy lòng thương xót, cho Vầng Đông từ trời viếng thăm ta soi sáng nhưng ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,76-79).
1. Đi trước Chúa :
Như thánh Gioan Tiền Hô, mỗi người tín hữu cũng được sai đến với anh em trước khi Đức Giêsu đến.
Chúng ta không đổi mới, thánh hoá được ai, vì chúng ta cũng tội lụy, yếu đuối, thấp hèn, chẳng hơn gì người anh em. Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng Thánh mới thánh hoá, cứu độ con người, nhưng Thiên Chúa cần đến sự cộng tác của chúng ta trong nhiệm cuộc cứu độ chúng ta và anh chị em của chúng ta. Ngài cần giọt nước bé nhỏ của chúng ta dù Ngài là đại dương mênh mông, bao la, vô tận vì Ngài yêu và tín nhiệm chúng ta, khi mời gọi mỗi người đóng góp vào chính công trình sáng tạo và cứu độ của Ngài bằng những gì nhỏ bé chúng ta có, với thân phận yếu đuối, mỏng dòn, dễ vỡ chúng ta là.
2.   Mở lối cho Thiên Chúa :
Đi trước để mở lối cho ai có nghĩa là chuẩn bị chu đáo, lo liệu tươm tất, sắp xếp hợp lý hợp tình cho cuộc gặp gỡ, đến thăm hay làm việc của một nhân vật quan trọng, đáng yêu, đáng kính nào đó. Vì thế, càng yêu mến, kính trọng người sắp đến, người phải đến, người đang được nhiều người trông ngóng, đời chờ bao nhiêu, chúng ta càng tận tâm chuẩn bị, hết mình và hết tình lo liệu chu đáo, hoàn hảo bấy nhiêu.
Nhưng điểm quan trọng nhất mà người đi trước sẽ không bao giờ làm, nếu có lòng yêu mến người sẽ đến sau mà mình đang chuẩn bị đón tiếp, đó là không lợi dụng vị thế, uy quyền, tài lộc của người ấy mà “vinh thân phì gia”, kiếm chác tư lợi, càng không hống hách, lên mặt với anh em vì ỷ được trọng dụng, được Thiên Chúa chọn làm “tiền hô” sai đến trước, nhất là không lập trạm kiểm soát giấy tờ, chốt kiểm tra lý lịch, hàng rào bảo vệ an ninh để ngăn chặn, làm khó dễ, gây phức tạp, tạo thêm khó khăn cho những người đang chờ đón, mong được gặp Đấng phải đến là Thiên Chúa, Đấng yêu thương và tìm đến giải thoát, cứu độ và ban hạnh phúc cho từng con người.
Thánh Gioan Tiền Hô, hơn ai hết đã ý thức cơn cám dỗ “trên đội dưới đạp” và thủ đoạn “dựng rào chắn, xây tường che” của một số người lợi dụng sứ vụ trung gian, tiền hô của mình để thay vì dọn đường cho Chúa đến với anh em lại chặn đường, cắt đường, phá đường không cho Chúa đến gặp con người. 
Vì thế tâm niệm đời làm Tiền Hô của Gioan là : “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ xuống” ( Ga 3,30), bởi “Đấng đến sau tôi quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người” ( Mt 3, 11). Và như thánh Gioan, chúng ta cũng phải chấp nhận lu mờ đi để Đức Giêsu được tỏa sáng.
3.   Loan báo Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót :
Không thiếu những ngôn sứ “biến thái” luôn thích loan báo một thiên chúa không giầu lòng thương xót, nhưng cau có, bẳn gắt, hình sự, hay soi mói, thích trừng phạt, một thiên chúa của lề luật lạnh lùng và cơ chế vô cảm, một thiên chúa có thể từ chối, loại bỏ, khai trừ, trục xuất, đầy dọa và tàn sát, hủy diệt ngay chính con mình tạo ra. Vì ích kỷ, kiêu căng, những ngôn sứ thoái hoá này “làm chứng” một thiên chúa hoàn toàn khác biệt và quá xa lạ với Thiên Chúa được loan báo và làm chứng bởi Gioan, ngôn sứ lớn nhất đã được chính Đức Giêsu tuyên dương : “Trong con cái loài người, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả” ( Mt 11,11).

Quả thực Gioan đã làm chứng duy nhất một điều như Dacaria, cha của ông đã “được đầy Thánh Thần” nói tiên tri về con mình: “Hài Nhi hỡi, con sẽ là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người, báo cho dân Chúa biết Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” ( Lc 1,76-77).
"Tha hết mọi tội" chính là điều Thiên Chúa hứa cho toàn thể nhân loại ; là điều các ngôn sứ chân chính đều loan báo từ ngàn xưa và Lời Hứa đầy thương xót ấy đã được thực hiện hoàn hảo bởi Đức Giêsu, dung mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót.
Thiên Chúa của Ngôn sứ Gioan đã báo trước ấy cũng là Đấng cứu nhân loại khỏi chết để được bước đi dưới ánh sáng bình an của Vầng Đông đầy lòng trắc ẩn là Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ vô cùng nhân hậu và từ bi của tất cả loài người chúng ta.
Mừng lễ sinh nhật thánh Gioan Tiền Hô, Tẩy Giả, Ngôn Sứ, Chứng Nhân của Đức Giêsu, chúng ta xin ngài bầu cử để Chúa ban cho mỗi người trái tim lương thiện và tinh thần khiêm tốn khi thi hành sứ vụ loan báo và giới thiêu Tin Mừng là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ đầy lòng thương xót cho hết mọi người.
Jorathe Nắng Tím