Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2019

PHÚC CHO AI THẤY VÀ NGHE !

    Mừng Kính hai thánh Gioakim và Anna, ông bà ngoại của Đức Giêsu
Hai cơ năng quan trọng của thân thể để tạo tương quan với người khác, và giao lưu với thế giới bên ngoài là mắt để nhìn và tai để nghe. Tai - mắt quả là nhịp cầu giao duyên, sợi giây liên kết, và cũng là máy chụp, máy thu những gì ở bên ngoài, từ người khác. Chẳng thế mà người ta hay nói : “Tai Mắt  khắp nơi !”  khi muốn cảnh giác ai đó phải cẩn trọng, kẻo người khác biết chuyện riêng, bí mật của  mình. Trong đời sống đạo, tai -mắt cũng giữ vai trò  không thể bỏ quên, như Đức Giêsu đã nói trong Tin Mừng Mátthêu được Giáo Hội chọn cho ngày lễ kính thánh Gioakim và thánh Anna, ông bà ngọai của Đức Giêsu : “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Qủa thế,Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13,16-17).
Hơn ai hết, hai thánh Gioakim và Anna là hai trong số những người diễm phúc vì đã được mắt thấy, tai nghe Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người. Và hơn mọi người đã được thấy và nghe Đức Giêsu, ông bà ngoại Gioakim và Anna còn được sống niềm vui chờ đợi Đức Giêsu sinh ra, từ khi nghe Đức Maria báo cho cha mẹ mình biến cố có thai. Rồi tháng ngày thơ ấu, chập chững tập đi, bi bô tập nói, thế nào ông bà ngoại chẳng âu yếm, nâng niu, cưng chiều cậu cháu ngoại Giêsu “càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, và thêm ân nghiã trước mặt Thiên Chúa và loài người” (Lc 2,52).
Khi công bố hạnh phúc cho ai được thấy Thiên Chúa và nghe lời Thiên Chúa, Đức Giêsu khẳng định : điều làm cho con người thực sự hạnh phúc là được chiêm ngắm Thiên Chúa và lắng nghe Lời Ngài. Trên suốt đường truyền giáo, Đức Giêsu luôn nhắc nhở và đề cao hạnh phúc này, như khi “Đức Giêsu đang giảng dạy thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng” : “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú !”  Nhưng Người đáp lại : “Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28).
Một dịp khác, “lúc đám đông đang ngồi quanh Người”. Có kẻ nói với Người rằng : “Thưa Thầy, có mẹ và anh chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy !” Nhưng Người đáp : “Ai là mẹ tôi ? Ai là anh em tôi ?”. Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói : “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3,32-35).  
Trả lời người phụ nữ và đám đông ngồi chung quanh, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh hai điều : người lắng nghe và thực hiện Lời Thiên Chúa là người hạnh phúc thật, và người đang mang hạnh phúc thật ấy chính là Mẹ của Ngài. Đức Giêsu đã tế nhị và cung kính tuyên dương đức tin của Mẹ Ngài trước mặt mọi người.
Nếu Đức Giêsu đã ca tụng Mẹ mình là người có phúc lớn, vì đã thấy, đã nghe, đã thực hành Lời Thiên Chúa, thì Ngài cũng dành vinh dự đó cho ông bà ngoại rất yêu qúy của mình, bởi sự thánh thiện và đời sống đức tin sống động của Đức Maria là bằng chứng hùng hồn đời sống đạo hạnh, chuyên chăm lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa của ông bà ngoại Đức Giêsu, bởi có thánh thiện, các ngài mới có con gái được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa ;  có thuộc về Thiên Chúa trọn vẹn, ccá ngài mới có người con biết hoàn toàn vâng theo thánh ý Thiên Chúa cho chương trình Cứu Thế của Ngài được thành tựu tốt đẹp, qua tiếng “Xin Vâng” tín thác, khiêm hạ ; có tuyệt đối tin vào Lời Hứa cứu độ của Thiên Chúa, các ngài mới có được người con “đầy ơn phúc vì đã tin rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói” (Lc 1,45).
Mừng kính hai thánh Gioakim và Anna, ông bà ngoại của Đức Giêsu, chúng ta cầu nguyện cho ông bà nội, ngoại của tất cả các gia đình được nhận ra vai trò ươm trồng hạt giống đức tin trong tâm hồn con cháu. Các vị là những người chuẩn bị tâm hồn của con cháu mình, như người nông dân chăm sóc thửa đất phì nhiêu, mầu mỡ trước khi gieo hạt, để khi Lời Thiên Chúa, như hạt giống được gieo, “sẽ sinh hoa kết qủa : hạt thì một trăm, hạt sáu chục, hạt ba chục” (Mt 13,23).
Ước gì truyền thống Kitô giáo được vững chắc xây dựng từ gia đình, nơi có ông bà nội, ngoại là những nhà giáo dục đức tin đầu tiên, ở đó, khao khát chiêm ngắm Thiên Chúa trong bí tích Thánh Thể, và niềm say mê lắng nghe Lời Chúa trong Phúc Âm trở thành niềm vui không thể thiếu, và hạnh phúc vô tận của mọi thành viên trong đại gia đình có Thiên Chúa là Tình Yêu, ơn Cứu Độ ở với, và đồng hành. 
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2019

“Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện”



Cầu nguyện là giây liên lạc cần thiết và qúy giá, là trao đổi thân thương, là gặp gỡ tình nghiã giữa Thiên Chúa và con người, giữa Thiên Chúa và tâm hồn mỗi người. Không thể có tôn giáo nếu không có cầu nguyện, nếu hiểu tôn giáo là sự kết nối giữa Thượng Đế và con người.
     Vì thế, khi thấy ông Gioan Tẩy Giả dậy các môn đệ của ông cầu nguyện, một người trong nhóm môn đệ của Đức Giêsu đã xin Ngài dạy họ cầu nguyện. Và Đức Giêsu đã dạy các ông kinh Lạy Cha mà chúng ta cùng Giáo Hội cầu nguyện hằng ngày (x. Lc 11,1-4).
   Tin Mừng Chúa Nhật XVII Thường Niên, Năm C đã không dừng lại ở Kinh Lạy Cha là kinh nguyện chính Đức Giêsu đã dạy các môn đệ của Ngài, mà còn đi xa hơn với xác tín : anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ mở cho (Lc 11,9), vì nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao ? (Lc 11,13).
     Vâng, chúng ta có nền tảng đức tin để tin điều Đức Giêsu hứa : Ai xin thì sẽ được, bởi chúng ta không xin gì ngoài xin cho Danh Thiên Chúa, Cha chúng ta là Đấng giầu lòng thương xót được cả sáng khi toàn thể nhân loại được thương xót cứu độ ; chúng ta không xin gì ngoài Nước Thiên Chúa là Nước dành cho những ai được Thiên Chúa thương xót, vì có lòng thương xót anh em mình, như dụ ngôn tên đầy tớ mắc nợ không biết thương xót, và quang cảnh ngày chung thẩm trong Tin Mừng Mátthêu 18,23-35 và 25,31-46 ; chúng ta không xin gì khác hơn ngoài Ý Thiên Chúa là mọi người được cứu độ được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.
     Vì thế, lời cầu xin chủa chúng ta không chỉ làm đẹp lòng Chúa Cha vì chúng ta xin đúng ý Chúa, xin như Chúa muốn, xin vì yêu mến, tôn vinh, phụng sự Chúa, nhưng hơn tất cả, vì đó là lời cầu xin của chính Đức Giêsu, Con Một yêu qúy của Thiên Chúa Cha.
     Bên cạnh lời cầu xin cho Danh, Triều Đại, Thánh Ý của Thiên Chúa giầu Lòng Thương Xót được hiển trị, cả sáng, thực hiện, chúng ta còn được Đức Giêsu dạy xin cho chính mình, là những kẻ luôn cần lòng thương xót của Chúa và anh em, đồng thời được mời gọi sống lòng xót thương đối với mọi người, nhất là những người bé mọn, nghèo hèn.
    Chúng ta xin lương thực nuôi thân xác và linh hồn. Lương thực này chính là ơn phúc từ lòng thương xót Chúa, bởi nếu Chúa không xót thương, làm sao chúng ta được bình an tâm hồn, và no đủ thân xác ? Chúng ta xin ơn tha tội, vì tất cả tội lỗi đều là hành vi làm tổn thương tình yêu Thiên Chúa, và ngăn cản, phá hoại lòng thương xót đối với tha nhân. Chúng ta xin Chúa gìn giữ khỏi mọi cám dỗ, và tất cả cám đỗ đều nhắm lôi kéo chúng ta ra khỏi Tình yêu, khước từ lòng thương xót, khoá chặt cửa tâm hồn, đóng kín đường vào trái tim để  vô cảm trước đau khổ, thiếu thốn, khốn cùng của người khác. Và sau cùng, chúng ta xin Thiên Chúa tránh cho chúng ta những sự dữ trên đường đời, và những sự dữ đó chính là trái đắng của ganh ghét, hận thù, bạo lực do ta gây ra cho người khác, hoặc do người khác mang lại cho ta.
      Tóm lại, cầu nguyện với Đức Giêsu và bằng lời kinh của Đức Giêsu dậy, chúng ta nắm chắc sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì tất cả lời cầu xin đều quy hướng về Lòng Thương Xót của Ngài, tất cả ý nguyện đều là khát vọng tìm kiếm Lòng Thương Xót cho mình và mọi người, tất cả niềm hy vọng của lời cầu xin đều hướng về hạnh phúc của hết mọi người được Thiên Chúa thương xót, và đang học biết xót thương anh em mình.
      Lạy Đức Giêsu, xin dạy chúng con yêu mến cầu nguyện, vì chỉ với cầu nguyện, chúng con mới biết Chúa là Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, và chúng con luôn cần tình Chúa xót thương, để đời chúng con trở nên lời kinh Xin Chúa thương xót liên lỷ, bất tận, như những nấc thang đưa chúng con lên Trời, vào vương quốc Chúa dành cho những người có lòng xót thương như Chúa.  
       Jorathe Nắng Tím   

“ĐỂ TẤT CẢ NÊN MỘT” (Ga 17,21)


    Với tư cách người tín hữu, chi thể của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, người viết đã chia sẻ tâm tình của mình về phong trào Lòng Thương Xót Chúa, cụ thể ở giáo điểm Tin Mừng, Nhà Bè, với hai bài dài. Bài thứ nhất với tựa đề Giáo Điểm Tin Mừng, trong đó người viết trình bày khách quan những gì mắt thấy tại Giáo Điểm và đưa ra những trường hợp có thể được coi là nguyên nhân gây ra sóng gió. Bài thứ hai : Tại sao phong trào Lòng Chúa Thương xót bị liên tục chống đối ?, với mục đích duy nhất : lật tẩy thủ phạm chính gây ra ghen ghét, chia rẽ, bất hoà, hận thù, bạo lực và tan nát, đổ vỡ là thần dữ Satan và bè lũ ma qủy. Với bài thứ ba : “Để tất cả nên một !, người viết mạo muội gửi đến qúy bạn ước muốn khép lại câu chuyện có thể vì hiểu lầm, hiểu chưa thấu đáo, hiểu chưa hết nhẽ, hiểu chưa tường tận đã ít nhiều làm tổn thương, nhức nhối tim gan những người con cùng một Cha, mà di chúc của Cha chỉ vỏn vẹn : Chúng con hãy yêu thương nhau (Ga 15,12), với lời cầu tha thiết cho chúng nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để chúng cũng ở trong chúng ta (Ga 17,21).     
      Trước hết, người viết khẳng định lập trường và xác tín : không người  Kitô hữu nào chống lại Lòng Thương Xót Chúa, như đã trình bày trong bài thứ hai, nói chi đến các Đấng Bậc là nhữngTông Đồ được chọn bởi Đức Giêsu, Dung Mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót, để loan báo Tin Mừng Thương Xót của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại.
      Vì thế, lên án người tín hữu này, giáo sĩ kia là kẻ chống lại Lòng Thương Xót Chúa là tố cáo sai sự thật, hoàn toàn bất công, là vu khống nặng nề và gây thiệt hại không chỉ cho cá nhân người bị công khai mạ lỵ, mà còn làm tổn thương uy tín Giáo Hội và ảnh hưởng xấu trong công cuộc truyền giáo.
   Thực vậy, không ai, kể cả người chưa biết Thiên Chúa cũng không dại gì mở miệng khích bác, vung tay đả đảo, đánh phá, hay giơ chân đạp đổ Lòng Thương Xót Chúa, vì đụng đến Trời, cản trở ý Chúa là việc làm cực kỳ nguy hiểm, luôn đem lại tai ương mà ai cũng né tránh, vì sợ, nên vấn đề còn lại chỉ là không đồng ý với nhau về cách cử hành, cách rao giảng, và cách biểu lộ, tâm tình cũng như cách cầu xin với Lòng Thương Xót Chúa. Vì thế, hoàn toàn không có bất đồng về nội dung giáo lý đức tin được rao giảng, cử hành, mà chỉ những cách thức thực hiện, phương cách rao giảng Lòng Thương Xót được đặt thành vấn đề.
   Qua những làn sóng hoặc ngầm hoặc nổi, âm ỉ hay bộc phát, người viết xin được nêu ra những bất đồng chính yếu, sau khi loại bỏ những nội dung mà một số không ít người của cả hai bên ngày đêm say mê khai thác, đó là lòng ghen ghét, ganh tị giữa các cá nhân, phe cánh được suy diễn, chú thích, cũng như đời tư của những nhân vật quan trọng liên quan bị bóc trần không gớm tay, kèm theo những phê phán không nền tảng, và lên án bất công, hồ đồ.
      Chúng ta tạm phân làm hai bên bất đồng : A và B 
1.     Bên A cho rằng :
a.     Lòng Thương Xót Chúa không thể mãi là phong trào được thổi phồng qua những kỹ năng bị coi là thế tục để lôi kéo đám đông dễ tin, dễ dụ, bình dân, mê tín.
b.     Có một số hình thức cử hành, rao giảng Lòng Thương Xót Chúa không theo đúng quy đỊnh phụng vụ, và hướng dẫn chung của Giáo Hội. Điều này dễ đưa đến cảm tưởng : phong trào trở thành mục vụ độc lập, và dần dà có thể đưa đến tình trạng mất kiểm soát.
c.      Người thành công trong việc lãnh đạo phong trào có nguy cơ biến tướng thành thần tượng và nguy cơ này sẽ làm lu mờ đối tượng của đức tin là Đức Giêsu, Thiên Chúa.
    Khuynh hướng của những người thuộc bên A là kéo giáo quyền về phiá mình, kêu gọi tinh thần vâng phục, và đặt nền tảng của quan điểm, lý luận, phê bình, lên án trên kỷ luật, kỷ cương, quy định của Giáo Hội, đồng thời lo sợ một tình trạng bất tuân phục, tự tách biệt, khi mà tình trạng sa lầy không thể cứu vãn sau này có thể xẩy đến với những lầm lạc về giáo lý, đức tin.
2.     Bên B chủ trương :
a.     Phong trào tôn sùng Lòng Chúa Thương Xót không đi sai đường lối của Giáo Hội, và là việc thờ phượng chính đáng, được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khởi xướng cũng như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô và Phanxicô khuyến khích, ủng hộ.
b.     Phong trào đặt niềm xác tín trên hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng ban nhiều hoa trái thiêng liêng và mở ra những con đường trở về với Đức Giêsu cho người tín hữu cũng như cho lương dân.
c.      Phong trào khẳng định luôn ở trong Giáo Hội và tuân phục giáo huấn. Những sáng kiến và cách thức rao giảng chỉ có mục đích chuyển tải sứ điệp Lòng Thương Xót cho một tập thể không thuần nhất, gồm đủ thành phần, và một số không nhỏ là những anh em ngoài Kitô giáo.
      Cả hai đều không sai, và trong thực tế không hề chống phá nhau, vì cùng hướng đến Lòng Thương Xót Chúa. Nhưng thái độ dành cho nhau, vì thiếu thông tin cần thiết đã dẫn đến thiếu thân thiện, thiếu chân thành, thiếu thông cảm làm cho bầu khí ngày càng nặng nề và nên cớ vấp phạm cho nhiều người, khi nhiều lời bàn bạc tiêu cực, lời phê phán sôi sục thành kiến, như đổ dầu vào lửa làm bùng lên và lan rộng ngọn lửa bất hoà, đố kị. 
     Nhưng đó là những chuyện đang lui dần vào quá khứ. Lui dần vào qúa khứ khi những yêu cầu liên quan đến kỷ luật mục vụ  của Toà Giám Mục đã được cha phụ trách Giáo Điểm Tin Mừng, là trung tâm tuy không có DANH Trung tâm Lòng Chúa Thương Xót, nhưng lại có THỰC với sinh hoạt đặc biệt tôn sùng Lòng Chúa Thương Xót tuân thủ, thi hành. Lui dần vào qúa khứ khi những phê phán, lên án có dấu hiệu nhẹ tay, xuống giọng hơn. Lui dần vào quá khứ khi giáo dân hiểu rõ hơn bản chất, giá trị và ý nghiã đích thực của Lòng Thương Xót Chúa. Lui dần vào qúa khứ khi anh em đã hiểu nhau, và làm nên thành công lớn là vượt qua sóng gió, vì Hiệp Nhất, Hiệp Thông với nhau trong Thiên Chúa là đích tới của con thuyền Giáo Hội, mà trên hành trình biển cả, có mấy khi  thiếu sóng to, gió lớn, đá ngầm đủ loại đe dọa. Vấn đề không phải là sóng gió, đá ngầm, nhưng là tất cả mọi người trên thuyền đã cùng vượt qua với nhau.
     Hôm nay là ngày mới, như mỗi người chúng ta được đổi mới hơn mỗi ngày với ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần. Chính Giáo Hội cũng cần được đổi mới, và luôn được mời gọi trở về để không xa Nguồn là Đức Giêsu, không mất hướng là Đức Giêsu, không quên Dung Mạo mà mình phải trở nên giống là Đức Giêsu, nhất là không quên Trái Tim mà Giáo Hội phải chung nhịp đập là Trái Tim bị đâm thủng vì xót thương của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ trên Thánh Giá.
     Hôm nay là ngày Thiên Chúa dựng nên, dựng nên tất cả chúng ta trong Hiệp Nhất, Hiệp Thông với Ngài, nên bất cứ ai đã ở trong Đức Giêsu, đi theo Đức Giêsu đều phải hiệp nhất, hiệp thông không chỉ trong Ngài, mà còn với anh em, như các chi thể của cùng một Thân Thể. Đó là lý do Đức Giêsu đã nói với các môn đệ : Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 15,12). Nghiã là yêu thương nhau vì tất cả đã được Thiên Chúa yêu thương trước. Điều đó còn có nghiã : nếu Thiên Chúa không yêu thương tất cả và từng người chúng ta như Ngài đã yêu thương thì không ai trong chúng ta có thể yêu mến người anh em mình được, vì ở ngoài Thiên Chúa, thiếu tình yêu Thiên Chúa, không có Chúa là Đấng nối kết, quy tụ, chúng ta không thể hiệp nhất, hiệp thông với nhau, bởi ai trong chúng ta cũng đều không dễ thương, dễ mến, dễ yêu, dễ gần như chúng ta thường ảo tưởng về mình.
     Đó cũng là nền tảng của Hiệp Thông, và lý do mà Đức Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha cho những ai đi theo Ngài : Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con, và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta (Ga 17,20-21). Nền tảng là trong Thiên Chúa, chúng ta mới hiệp thông nên một với nhau được, và như thế, bất cứ một cố gắng Hiệp Nhất, Hiệp Thông nào mà Giáo Hội mong ước và tìm kiếm, thực hiện, đều phải mong ước, tìm kiếm và thực hiện trong Thiên Chúa, với tình yêu của Đức Giêsu, và ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần, bởi chỉ Tình Yêu Thương Xót của Đức Giêsu mới uốn lòng chúng ta nên giống trái tim thương xót của Chúa ; và chỉ ơn của Chúa Thánh Thần mới đổi mới mọi sự trong ngoài chúng ta.
     Sở dĩ chúng ta cần ở trong Thiên Chúa nếu muốn hiệp nhất, hiệp thông với anh em, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới ban cho chúng ta sức mạnh để từ bỏ chính mình, cái mình luôn chồng chất nặng nề những ích kỷ, ganh ghét, quyền lực, lợi nhuận vật chất, ảnh hưởng, danh tiếng, chức tước, ngai bệ, ; chỉ một mình Thiên Chúa mới giúp chúng ta từ bỏ tất cả những gì ngăn trở Ơn Đổi Mới đang được Thánh Thần làm nẩy mầm trong chúng ta ; chỉ một mình Thiên Chúa mới cho chúng ta niềm Hạnh Phúc tuyệt vời của Hiệp Nhất, Hiệp Thông, vì không phải chỉ với anh em chúng ta hiệp nhất, trong anh em chúng ta hiệp thông, nhưng trước hết và trên hết, chúng ta được hiệp nhất, hiệp thông với và trong Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Vui, Gia Nghiệp đời đời và Cùng Đích cuộc đời chúng ta.
    Xin Chúa thương giúp chúng ta can đảm giã từ quá khứ chia rẽ, bất hoà, hiểu lầm, đối kháng ; vượt qua sóng gió hôm qua của bới móc, lột trần, vạch áo, tố khổ, lên án, để tay trong tay lật qua trang mới, bước vào ngày mới, trở thành con người mới có Tình Yêu, Ơn Sủng của Thiên Chúa Hiệp Nhất chúng ta Nên Một trong Ngài, và Hiệp Thông chúng ta với nhau trong cùng một Tấm Bánh và một Thân Thể là Đức Giêsu Kitô, Đấng chúng ta cùng yêu mến, tôn thờ, phụng sự.
Jorathe Nắng Tím     

“AI YÊU NHIỀU THÌ ĐƯỢC THA NHIỀU” (Lc 7,47)

Lễ Kính thánh Maria Mácđala
      Tình Yêu luôn được biểu hiện rõ nét nơi phụ nữ, vì tình yêu nơi người nữ bao giờ cũng nồng nàn, tha thiết, sâu đậm và bền chặt hơn người nam. Chẳng thế mà ai cũng say mê nói về tình mẹ bao la, và mơ ước khối tình chung thủy của vợ hiền.
     Cũng vì gắn bó với tình yêu hơn người nam, mà người nữ dễ chết lên chết xuống vì tình, dễ sập bẫy tình, dễ sa lưới tình, dễ chết đuối trong biển tình, bởi khi yêu thì ngây thơ, khờ dại, khi thương thì chẳng tính toán được thua, hơn thiệt, nhưng liều lĩnh, hết tình, hết mình. Đó cũng là lý do phụ nữ khổ vì tình, đau vì tình  hơn người nam, và đàn bà tai tiếng vì tình, chết vì tình luôn chiếm đa số.
  Trong Tin Mừng có một phụ nữ mang nhiều nét giống hình ảnh vừa mô tả, tên Maria Mácđala mà truyền thống cho là người phụ nữ trắc nết, mang tiếng tội lỗi trong thành, biết Đức Giêsu đang dùng bữa tại nhà một ông Pharisêu, liền dem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đàng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người, và lấy dầu thơm mà đổ lên (Lc 7,37-38).
      Tất nhiên những người cùng dự tiệc hôm đó, đa số là bạn bè của ông Pharisêu đã thắc mắc và khó chịu trước cảnh tượng một vị đại ngôn sứ mà để người đàn bà trắc nết tha hồ vừa khóc vừa hôn chân, rửa chân, xức dầu thơm lên chân mình giữa chốn đông người. Và Đức Giêsu đã làm tất cả bỡ ngỡ, ngạc nhiên khi hỏi ông chủ nhà : Một chủ nợ kia có hai con nợ : một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn ?. Ông chủ nhà thưa : Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn. Đức Giêsu bảo : Ông xét đúng lắm (Lc 7,41-43). Vì thế tôi nói cho ông hay : tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít (Lc 7,47).
       Tuyệt vời nguyên tắc tha thứ và điều kiện để được tha thứ của Đức Giêsu : yêu nhiều thì được tha nhiều, yêu ít thì được tha ít. Và Thiên Chúa đã chỉ căn cứ vào tình yêu, lấy tình yêu làm thước đo ơn sủng, mà không dựa vào một công trạng hay việc làm nào khác của tội nhân.
       Người phụ nữ đã yêu nhiều và đựợc tha nhiều đó đã đi theo Đức Giêsu đên tận chân thánh giá khi Ngài chịu đóng đinh (x. Ga 19,25), và một lần nữa lại chứng tỏ tình yêu của mình với Đức Giêsu, khi vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ (Ga 20,1).
        Phụ nữ khi đã yêu ai rồi thì yêu đến cùng như thế đó : yêu cả khi vinh khi nhục, yêu lúc thành công, yêu khi thất bại, yêu khi sống, chết rồi cũng vẫn yêu. Và tình yêu trở nên tuyệt vời ở tính bất diệt và lòng trung tín của người yêu và được yêu.
     Qủa thực, người phụ nữ tội lỗi được tha nhiều vì yêu nhiều hôm nào trong bữa tiệc ở nhà ông Pharisêu đã được chọn làm người loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các Tông Đồ, sau khi được thấy Đức Giêsu Phục Sinh mà bà không nhận ra Ngài (x. Ga 20,11-16). Chính Đức Giêsu sống lại đã đích thân ban cho bà vinh dự sứ giả của Tin Mừng Phục Sinh khi nói với bà : Hãy đi gặp anh em của Thầy và bảo họ : Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em (Ga 20,17).
       Xin Chúa cho chúng con niềm tin ở Tình Yêu Chúa, và bất cứ trong tình trạng, hoàn cảnh nào, dù yếu đuối, tội lỗi, tồi tệ, hoang đàng, bất xứng đến đâu cũng không để chết niềm hy vọng ở Thiên Chúa là Tình Yêu và nơi Ngài, chỉ có Tình Yêu là đáng kể, khi ơn Tha Thứ  hệ tại ở Tình Yêu của hối nhân, bởi Ai yêu nhiều thì được tha nhiều. Ai yêu ít thì được tha ít (Lc 7,47).   
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Thánh Giacôbê


Thánh Tông đồ Giacôbê là người luôn có mặt với Chúa Giêsu trong mọi biến cố. Ngài được Chúa dẫn lên núi để thấy Chúa biến hình sáng láng (Mt 17,1-9), nhưng cũng được chia sẻ cơn hấp hối kinh hoàng đến độ “mồ hôi máu ứa ra” trong vườn Cây DẦu trước khi bị bắt và giao nộp cho các thương tế khởi sự đường Thánh Giá (Mt 27,37).  

     Là môn đệ trung tín với Thầy ; khiêm nhường, đằm thắm, thân thiện với anh em, thánh Giacôbê đã nêu cao tấm gương của người môn đệ luôn sống hiệp nhất và hiệp thông. Đó là hai đòi hỏi và điều kiện quan trọng của đời tông đồ và chỉ như thế mới đem lại ơn ích thiêng liêng cho các linh hồn.
     Nhiều khi chúng ta ảo tưởng về đời tông đồ khi nghĩ rằng : đã là tông đồ thì phải làm được một cái gì đó, một công trình lớn lao, “để đời” nào đó mà quên điều quan trọng Thiên Chúa đợi chờ trước hết và trên hết ở nhưng ai bỏ mọi sự mà tbeo Ngài là Hiệp Nhất và Hiệp Thông với nhau trong Ngài. 
     Giáo Hội đang trải qua nhiều sóng gió, nhưng sóng gió nguy hiểm nhất vẫn mãi là những con sóng ngầm, cơn gió xoáy từ trong nhà, từ chia rẽ, bất hoà do kiêu căng, thiếu tình huynh đệ và lòng thương xót của những người cùng được kêu gọi làm môn đệ Đức Giêsu. 
     Mừng lễ thánh Giacôbê, chúng ta xin Chúa ban cho Giáo Hội những người con trung tín, khiêm tốn, hiền hoà luôn lo vun trồng sự hiệp nhất và hiệp thông trong gia đình, giáo xứ, giữa mọi người theo gương thánh tông đồ Giacôbê.

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

LỰC CẢN TRUYỀN GIÁO

Ai cũng biết bản chất của ơn gọi Kitô hữu là truyền giáo : làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, đã xuống thế gian, ở giữa con người và chết để làm giá cứu chuộc con người ; làm chứng Kitô giáo là con đường thật mà Đức Giêsu đã mở ra để con người đến hạnh phúc thật, con đường ấy là con đường Tình Yêu : Thiên Chúa yêu thương nhân loại và mọi người yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương họ. Vắn tắt, truyền giáo là loan báo và làm chứng Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, là Tình Yêu thương xót và Đấng Cứu Độ muôn dân.
Đức Giêsu đã nhiều lần khẳng định sứ vụ loan báo và làm chứng Tin Mừng là chính Ngài của những người được Ngài kêu gọi đi theo Ngài :
Chọn bốn môn đệ đầu tiên là Simôn cũng gọi là Phêrô, anh trai ông là Anrê, và hai anh em khác con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan, tất cả đang loay hoay quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá (Mt 4,18), Đức Giêsu lập tức cho các ông biết sứ vụ của mình khi trở thành môn đệ của Ngài : Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá (Mt 4,19). 
Hiện ra với Nhóm các Tông Đồ, sau khi sống lại và trước khi về Trời, Đức Giêsu không trao cho các ông sứ vụ nào khác hơn là : đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy (Mt 28,19).
Sứ vụ đó, dọc lịch sử của Giáo Hội, từ buổi cầu nguyện chung có mặt đầy đủ các tông đồ : Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê, Philípphê, Tôma, Batôlômêô, Mattthêu, Giacôbê con ông Anphê, Simôn thuộc nhóm Quá Khích, và Giuđa con ông Giacôbê (Cv 1,13), sau khi nhìn thấy Đức Giêsu được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa (Cv 1,9), và đặc biệt trong ngày lễ Ngũ Tuần được chọn là sinh nhật của Giáo Hội, khi  Nhóm Tông Đồ, lần này có thêm ông Mátthia, người vừa được chọn thay thế Giuđa Ítcariốt, kẻ bán Thầy mình (x. Cv 1,26), khi Chúa Thánh Thần xuất hiện dưới hình lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần (Cv 2,3-4), cho đến ngày tận thế, sứ vụ loan báo và làm chứng Đức Giêsu Kitô ấy không bao giờ thay đổi, luôn là trách nhiệm của Giáo Hội, nghiã vụ của những ai đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, và  lý tưởng, hạnh phúc của các nhà truyền giáo, thừa sai…Thánh Phaolô đã kết luận chính xác đòi hỏi thiết yếu và cấp bách này khi viết cho anh chị em tín hữu thuộc giáo đoàn Côrintô : Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng ! (1 Cr 9,16)    
Khốn cho tôi ! có nghiã : tôi là kẻ bất hạnh, vô phúc, mà là người, ai muốn mình bất hạnh, vô phúc bao giờ ?
Khốn cho tôi ! hàm ý một hình phạt nặng nề, bi thảm  tôi sẽ phải chịu.
Khốn cho tôi ! là lời nguyền rủa đáng sợ và làm rùng mình con người luôn khao khát hạnh phúc. 
Khốn cho tôi ! như án lệnh nghiêm khắc đóng chặt cánh cửa tương lai.
Qủa thực, tôi không thể ngờ hậu qủa lớn đến thế đối với người được chọn làm chứng nhân mà không mở miệng làm chứng ; tôi không dám nghĩ tai ương có thể kinh dị đến mức độ này, khi người được sai đi, nhưng không đi loan báo sứ điệp ; tôi càng bỡ ngỡ, ngạc nhiên  trước lời tuyên bố bạo gan, chắc nịch của thánh Phaolô như bản án viết sẵn cho người môn đệ  không hăng say giới thiệu Thầy mình cho thế giới. Và nếu qủa thật như vậy, thì truyền giáo không còn là chuyện nhỏ, chuyện bên lề, chuyện không quan trọng của Giáo Hội ; không còn là việc làm lúc rảnh rỗi, thú vui giải trí thời về hưu, việc làm thêm khi thất nghiệp, mà là việc hệ trọng, sinh tử, chuyện đại sự, chính yếu, việc không làm không được của mỗi người Kitô hữu.
Nhận ra tầm quan trọng của đòi hỏi truyền giáo, tôi muốn nhìn lại mình để biết mình đang ở đâu trên đường sứ vụ, với bài sai truyền giáo được chính Đức Giêsu trao tận tay ngày gia nhập Giáo Hội.
1.            Tôi chưa là môn đệ đích thực của Đức Giêsu 
Tuy mang danh là người Kitô hữu, tức người mang Đức Kitô trong cuộc đời, nhưng tôi không biết Ngài nhiều, cũng không cảm thấy gần gũi, gắn bó thiết thân với Ngài. Chính vì không biết rõ, nên tôi chưa nhận ra mình là môn đệ của Ngài.
Là môn đệ của ai ắt phải đi theo và ở với người ấy. Đó cũng là điều kiện để là môn đệ của Đức Giêsu, và đòi hỏi này đã được chính Đức Giêsu công khai nói với những người tình nguyện xin làm môn đệ Ngài : Anh em hãy đi theo Tôi ! (Mt 4,19), Anh em hãy ở lại trong tình thương của Tôi (Ga 15,9).  
Mang tiếng là môn đệ, là người thuộc về Đức Giêsu, nhưng không đi theokhông ở laị với Ngài, tôi chẳng biết gì, cũng chẳng hiểu nhiều về Ngài, vì có học  cầu nguyện với Ngài (Mt 6,9-13), học hiền lành và khiêm nhường (Mt 11,29) như Ngài đâu ; có nghe Ngài giảng Bát Phúc trên núi đâu (x. Mt 5,1-12) ; có chạnh lòng với Ngài trước bệnh tật, đau khổ của đám đông đói khát đâu (Mt 15,30-32) ; có bữa đói bữa no, con cáo có hang, chim trời có tổ nhưng thầy trò không có chỗ tựa đầu đâu (x. Lc 9, 57), nên  hôm nay, tôi  mới giật mình nhận ra : từ dạo được rửa tội đến nay, tôi vẫn chỉ là môn đệ hữu danh vô thực, như chàng thanh niên trong Tin Mừng đã buồn sầu bỏ đi khi Đức Giêsu nói với anh : Về bán hết tài sản, cho người nghèo, rồi đến theo tôi, vì anh ta có nhiều của cải (Mt 19,21-22), bởi Đức Giêsu muốn người đi theo Ngài phải thuộc trọn về Ngài, phải từ bỏ tất cả để không còn dính bén, vương vấn bất cứ ai, bất cứ sự gì, vì Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, anh hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa, bởi Ai đã tra tay vào cày rồi mà còn ngoái lại đàng sau, thì không xứng đáng với Nước Trời. (Lc 9, 60.62).
Để trở thành người Kitô hữu hữu danh hữu thực, tức người môn đệ đích thực thuộc về Đức Giêsu, tôi thấy mình phải từ bỏ nhiều, vì không từ bỏ, không có cửa làm môn đệ, bởi điều kiện qủa thực rất cam go: Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16,24).      
2.            Tôi chưa đủ tin yêu để có thể nói về Ngài :
Không đi theo sát chân Ngài, cũng không ngày đêm kề cận ở bên Ngài như các tông đồ, nên niềm tin của tôi nơi Ngài yếu ớt, và tình tôi dành cho Ngài hời hợt. Một vòng tròn lẩn quẩn bám chặt tôi : không đủ tin và yêu Ngài, tôi ngần ngại bỏ mọi sự để đi theo Ngài. Không đi theo Ngài, tôi không biết gì về Ngài để có thể tin yêu Ngài. Và vì không đủ tin yêu, tôi đã không thể nói về Ngài, bởi người ta chỉ nói được về người mình tin, kể được về người mình yêu, như người mẹ yêu con lúc nào cũng say sưa nói chuyện con mình với mọi người.
Thánh Phaolô đã nhắc lại Thánh Vịnh 116 trong thư của Ngài gửi giáo đoàn Côrintô : Tôi đã tin, nên tôi mới nói, thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói (2 Cr 4,13), để nhấn mạnh  tầm quan trọng của đức tin trong việc truyền giáo, và thấy rằng các tông đồ đã có lý khi xin với Đức Giêsu : Lậy Thầy, xin thêm đức tin cho chúng con (Lc 17,5).
3.            Tôi chưa tin ở ơn gọi được sai đi của mình :
Giáo Hội dậy : mỗi người Kitô hữu là một sứ giả của Tin Mừng, người được Thiên Chúa sai đi, nhưng lời dạy đó không thuyết phục tôi chút nào, vì tôi có thấy mình được sai đi đến nơi nào đâu, càng không được sai đi đến với ai, nên từ bấy lâu tôi chỉ thấy các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ là những người được sai đến giáo phận, giáo xứ, giáo điểm … để truyền giáo, còn chúng tôi, những giáo dân bình thường, tầm thường, vô danh tiểu tốt, có ai cần đến chúng tôi và sai chúng tôi đi truyền giáo bao giờ ? 
Chưa kể tôi nào có kiến thức gì về giáo lý, thần học để có thể giải thích, cắt nghiã cho những người tôi rao giảng. Và điều cần nói, nhưng tôi không dám nói cho ai, đó là thân phận yếu đuối, bất xứng, nhiều tội của tôi. Vì thế, tôi không có cảm tưởng Thiên Chúa cần đến tôi, và sự có mặt của tôi không đóng góp thêm gì cho việc truyền giáo, nên tôi dửng dưng, phớt lờ trước những phát động truyền giáo của giáo xứ, giáo phận, và mặc cảm tội lỗi, cộng thêm khả năng yếu kém ngày càng đẩy xa tôi khỏi ý thức về ơn gọi và nghiã vụ truyền giáo của người Kitô hữu.
Hôm nay nhìn lại đời mình. Tôi thấy rất nhiều biến cố đã qua, công việc đã làm, nhưng khuông truyền giáo thì còn trống nguyên. Sở dĩ tôi bỏ trống  bổn phận truyền giáo, vì không biết nên không làm, không làm vì không biết, khi nghĩ mình phải giỏi, phải đạo đức, phải có vị thế, chức tước trong đạo mới rao giảng được, mà không biết đâu là điều kiện để làm sứ giả loan báo Tin Mừng, và đòi hỏi nào phải có đối với người được sai đi loan báo Đức Giêsu.
Trong thư gưỉ các tín hữu Côrintô về việc truyền giáo, thánh Phaolô đã viết : chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Kitô Giêsu là Chúa, còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, vì Đức Giêsu (2 Cr 4,5). Ngài còn nhắc nhở : ơn gọi làm tông đồ, sứ vụ loan báo Đức Giêsu là kho tàng mà chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi (2 Cr 4,7).
Như thế, điều kiện để làm tông đồ, và đòi hỏi nơi người được sai đi không gì khác hơn là tinh thần phục vụ của người đầy tớ vì Tin Mừng, nghiã là khiêm tốn phục vụ anh em, với ý thức tất cả là hồng ân, tất cả do quyền năng phi thường của Thiên Chúa. Và chỉ khi điều kiện này được đáp ứng, tôi mới bình an nhận ra ơn gọi làm tông đồ của mình, mới tin mình được sai đi loan báo Tin Mừng, bởi làm tôi tớ thì chỉ cần trung tín và hy sinh, tận tụy, chỉ cần vâng lời chủ và tín thác vào quyền năng của chủ. Chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ để được Thiên Chúa yêu thương, tín nhiệm, còn mọi sự khác, Thánh Thần của Ngài sẽ ban cho và bù đắp.
Một nan đề cản trở việc truyền giáo cần được giải toả khác nữa, đó là truyền giáo không chỉ là lên tiếng giảng dạy, gặp gỡ khuyên nhủ, hướng dẫn, đồng hành, nhưng trước hết như thánh Phaolô qủa quyết : trong mọi sự, chúng tôi phải luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của Thiên Chúa : gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu đựng. Chúng tôi còn chứng tỏ điều đó bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhẫn nhục, nhân hậu bằng một tinh thần thánh thiện, một tình thương không giả dối, bằng lời chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng tôi lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ khi vinh cũng như khi nhục, lúc được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành ; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến ; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống ; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết ; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giầu có ; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả (2 Cr 6,4-10).
Qủa thực, hình ảnh nhà truyền giáo được thánh tông đồ dân ngoại mô tả một cách tuyệt vời, bởi truyền giáo trước hết và trên hết theo ngài chính là chọn lựa phục vụ tha nhân vì Đức Giêsu và thái độ tích cực sống Tin Mừng của nhà truyền giáo. Chính chọn lựa và thái độ sống  Đức Ái thánh thiện làm chứng hữu hiệu Đức Giêsu và làm cho Tin Mừng lan toả nhanh chóng, sâu rộng, vì trong Đức Giêsu Kitô, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái (Gl 5,6), và không có luật lệ nào chống lại hoa qủa của Thần Khí  (x. Gl 5,23) là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ (Gl 5,22-23). Và Thần Khí chính là Đấng dậy chúng ta loan báo Tin Mừng, hướng dẫn chúng ta làm chứng Đức Giêsu, thúc đẩy chúng ta lên đường Truyền Giáo.
Với lời dạy của thánh tông đồ dân ngoại, tôi nhận ra mình trong qúa khứ đã lầm lẫn, khi không tin ở ơn gọi được sai đi, vì đã không biết đâu là điều kiện của việc truyền giáo, đâu là công việc truyền giáo phải khởi đi, và giá trị của truyền giáo hệ tại ở hành vi nào ?          
4.        Tôi chỉ mới Ra Khơi sát bờ, mà chưa dám Ra Sâu, Ra Xa với Đức Giêsu :
Ngay cả khi nhiệt huyết truyền giáo bùng nổ, chương trình truyền giáo được phát động, tôi cũng chỉ dám thập thò dọc bờ, sát bờ, mà chưa dám xuống thuyền ra khơi, ra xa, ra sâu với Đức Giêsu. Có nhiều rào cản làm tôi ngại ngùng, dè dặt : đồng đạo dòm ngó, lườm nguýt, nếu tôi năng nổ đề ra những sáng kiến truyền giáo mới lạ, táo bạo ; người ta sẽ cho tôi là khùng, thiếu thực tế, vượt mặt, bao sân, lộn chuồng… ; cộng đoàn sẽ bực bội nghĩ tôi lấn lướt, tạo ảnh hưởng, chơi bạo lấy tiếng ngu.
Ngoài rào cản của đám đông, còn rào cản của người thân không muốn tôi dấn thân truyền giáo, vì không muốn tôi mất thời giờ, mà còn không muốn tôi chuốc họa vào thân, nhất là trong xã hội vô thần, thực dụng.
Nhưng rào cản có sức ngăn bước chân truyền giáo của tôi nhất, chính là tính ích kỷ, hưởng thụ, và sợ hãi của tôi.
Vì ích kỷ nên sợ mất mát, thiệt thòi khi đi xa, bỏ lại phiá sau căn cứ, pháo đài ; vì hưởng thụ, nên khó xa những thói quen tiện nghi, và những nếp gấp đem lại thoải mái cuộc đời ; vì sợ hãi nên bất cứ ai, sự gì  hăm he đe dọa sự sống, an ninh, quyền lợi của cái tôi đều làm tôi giật mình hốt hoảng, bàng hoàng lo lắng và vội vã tìm đường thối lui.
Vì thế, tôi chỉ dám ra khơi sát bờ, ra khơi sắn ống quần lội nước, ra khơi cho có ướt chân, ra khơi nhưng không cần bắt cá, ra khơi kiểu trình diễn văn nghệ dưới ánh sáng thu hình hoành tráng, mà tuyệt nhiên chưa bao giờ dám lên thuyền ra xa, quăng lưới chỗ nước sâu, vì ở đó có nhiều cá (x. Ga 21,4-6).       
Không dám ra xa, ra sâu, còn vì chủ trương  giữ đạo, và não trạng bảo vệ đức tin, chứ không thao thức truyền đạo, làm lan toả đức tin, chia sẻ niềm tin với mọi người. Não trạng này làm tôi sợ lạc dạo, mất đạo, nên  khư khư giữ chặt trong tay, giữ chắc cho mình, giữ kín trong nhà, trong nhóm, thay vì cho mọi người được biết, đươc tham gia, dự phần, hiệp thông. Chủ trương này làm tôi sợ người ta lừa đảo lấy mất đạo, nên phải xem xét, điều tra, tuyển mộ thật kỹ lưỡng những người muốn gia nhập. Thói quen co cụm ấy còn làm tôi sợ quyền lợi sẽ phải chia nhỏ, vì có thêm nhiều  thành viên mới, nên luôn dè dặt, do dự, ngại ngùng đưa anh em tôi ở ngoài vào làm vườn nho Giáo Hội.
Hôm nay nhìn lại mình trước mặt Chúa, tôi thấy tôi thực sự là đối tượng  của lời than thở, cũng là  trách móc khá nặng nề của thánh tông đồ dân ngoại : Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng !.  
Khốn cho tôi không chỉ vì không biết giá trị ơn gọi truyền giáo, không biết thế nào là truyền giáo, không biết truyền giáo bắt đầu từ đâu, mà còn khốn vì có biết cũng không mạnh dạn lên đường do lười biếng, ỷ lại ; không lên thuyền ra khơi vì sợ khổ, ngại khó ; không dám ra sâu, ra xa vì  nhớ bến, tiếc bờ, không chịu thiệt thòi, mất mát, hao hụt những gì mình đã thu gom, cất giấu. Và trong tất cả những thiếu sót làm tôi trở nên người khốn nạn, vì đã không rao giảng Tin Mừng, là tim tôi  bắt đầu cạn khô tình yêu các linh hồn, hồn tôi dần chai đá, không còn thao thức, ước mơ, tìm kiếm hạnh phúc đời đời của mình và của anh em  trong Thiên Chúa, Đấng sai chúng tôi đi và sinh nhiều hoa trái. 
Để kết thúc tâm tình chia sẻ, người viết mời bạn đi vào lịch sử ơn gọi làm tông đồ dân ngoại của  thánh Phaolô, do chính ngài kể cho tín hữu thuộc giáo đoàn Galát :
Thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết : Tin Mừng tôi loan báo không phải do loài người. Vì không ai trong loài người đã truyền lại hay dậy cho tôi, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô đã mặc khải. Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do Thái : tôi đã qúa hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. Trong việc giữ đạo Do Thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng trang lứa : hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.
Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng cho tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ơn sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải cho tôi Con của Người cho tôi để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, cũng chẳng lên Giêrusalem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ả rập, rồi lại trở về Đamát. Ba năm sau tôi mới lên Giêrusalem diện kiến ông Kêpha và ở lại với ông mười lăm ngày. Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Giacôbê, người anh em của Chúa(Gl 1,11-19).
Rồi sau mười bốn năm, tôi lại lên Giêrusalem một lần nữa cùng với ông Banaba và anh Titô… Tôi lên đó vì được Thiên Chúa mặc khải, và đã trình bày cho người ta Tin Mừng tôi rao giảng cho dân ngoại, cách riêng cho các vị có thế giá (Gl 2,1-2).
Với các vị có thế giá lúc bấy giờ các vị ấy có là gì đi nữa, điều đó không quan hệ đối với tôi : Thiên Chúa không thiên vị ai, các vị có thế giá ấy đã không đưa ra thêm điều gì cho tôi. Trái lại, các vị ấy thấy rằng tôi đã được ủy thác nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho những người không được cắt bì. Thật vậy, Đấng đã hoạt động nơi ông Phêrô, biến ông thành Tông Đồ của những người được cắt bì, cũng đã hoạt động biến tôi thành Tông Đồ các dân ngoại. Vậy khi nhận ra ân huệ Thiên Chúa đã ban cho tôi, các ông Giacôbê, Kêpha và Gioan, những người được coi là cột trụ, đã bắt tay tôi và ông Banaba để tỏ dấu hiệp thông : chúng tôi thì lo cho các dân ngoại, còn các vị ấy thì lo cho những người được cắt bì (Gl 2,6-9).  
Qua tâm sự này, thánh Phaolô đã nói lên sự kỳ diệu được trở nên tông đồ của mình, dưới sức mạnh quan phòng của Thiên Chúa, và sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, mà không qua nguyên tắc hay quy trình bình thường, đồng thời làm nổi bật tinh thần quảng đại, cởi mở và trái tim khao khát các linh hồn của thánh Phêrô, tức Kêpha và Nhóm Mười Hai Tông Đồ chính danh.
Ước mong tinh thần truyền giáo : khao khát làm vinh danh Thiên Chúa và yêu mến, tìm kiếm các linh hồn của các thánh tông đồ, nhất là của thánh tông đồ dân ngoại Phaolô trở nên tấm gương và nguồn trợ lực qúy báu cho tất cả mọi người Kitô hữu chúng ta trong Ơn Gọi và Sứ Vụ loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa giầu lòng thương xót, Đấng cứu độ loài người.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

OAN UỔNG – OAN SAI

        Toà Án Nhân Dân cấp cao tại Hà Nội cho hay vừa hoàn tất hồ sơ bồi thường oan sai cho ông Trần Văn Thêm, 82 tuổi, ngụ tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, người phải mang thân phận tử tù suốt 44 năm, trong đó có hơn 2000 ngày bị giam giữ  và 14.500 ngày tại ngoại, nhưng chưa được minh oan… Theo hồ sơ vụ án, ngày 23.06.1970, ông Nguyễn Khắc Văn trong lúc cùng ông Trần Văn Thêm đi mua hàng đã bị đánh chết. Năm 1973, ông Thêm bị Toà Án Nhân Dân tỉnh Vĩnh Phú tuyên án tử hình về tội giết người và cướp tài sản. Năm 1976, ông Thêm được ra tù, khi một người thú nhận là thủ phạm. Nhưng bị can này sau đó tử vong, khi vụ án chưa xét xử… Phải chờ đến ngày 08.08.2016, Toà Án Nhân Dân tối cao mới xác định ông Thêm không thực hiện hành vi phạm tội.
      Tôi mạn phép tóm tắt vụ án oan sai của cụ Thêm do nhà báo Việt Dũng viết trên trang Pháp Luật điện tử, thứ năm ngày 20 tháng 6 năm 2019. Câu chuyện buồn của cụ Thêm chỉ là một trong vô số những chuyện buồn oan sai, oan uổng xẩy ra hằng ngày trong xã hội, mà sự thật ngày càng qúy hiếm, vì khó tin, khó tìm.
     Qủa thực, không thiếu những oan sai, oan uổng lớn nhỏ có mặt trong mọi sinh hoạt của cuộc sống làm chết cả đời người, tan nát cả gia đình, đổ vỡ cả hiện tại, tương lai, bôi đen, xóa bỏ tất cả công trạng oanh liệt của qúa khứ  huy hoàng.    
    Câu chuyện của cụ Thêm tuy rất buồn, nhưng cũng còn được phần nào an ủi vì những năm tháng tù đầy oan uổng đã được Nhà Nước giải oan, bồi thường, tuy số tiền bồi thường không đền bù được  những mất mát, thiệt hại mà suốt 44 năm ông cụ, và gia đình phải gánh chịu vì tội danh cướp của, giết người. Bên cạnh câu chuyện oan sai được may mắn giải oan, bồi thường, chắc chắn còn vô số những câu chuyện oan uổng khác không được minh oan, bị bịt đầu mối, bị ngàn đời lãng quên, bị ép phải xếp hồ sơ, nói chi đến bồi thường vật chất, phục hồi danh dự.
       Đó là chuyện oan sai, oan uổng chỉ có ngoài đời, còn trong đạo chẳng bao giờ xẩy ra. Đó là ý nghĩ và xác tín thường gặp nơi những tín hữu quyết tâm bảo vệ bằng mọi giá uy tín, danh dự, sự thánh thiện hoàn hảo của đạo. Người viết thông cảm với những đồng đạo đơn sơ này, nhưng không vì thế mà hèn nhát, a dua phủ nhận một sự thật trong đạo cũng không kém bẽ bàng như ngoài đời, đó là kết án oan uổng người vô tội. Và sự thật đáng buồn đó đã được Tin Mừng Mátthêu kể lại như sau :
      Đức Giêsu bị điệu ra trước mặt quan tổng trấn, ông này hỏi Người : Ông là vua dân Do Thái sao ?. Đức Giêsu trả lời : Chính ngài nói đó. Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố cáo Người, thì Người không trả lời một tiếng. Bấy giớ tổng trấn Philatô hỏi Người : Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao ? Nhưng  Đức Giêsu không trả lời ông về một điều nào, khiến tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên (Mt 27,11-14).
        Tin Mừng Gioan cũng tường thuật cùng một nội dung, nhưng thêm phần về sự thật : Ông Philatô hỏi : Vậy ông là vua sao ?Đức Giêsu đáp : Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phià sự thật thì nghe tiếng tôi. Ông Philatô hỏi Người : Sự thật là gì ? (Ga 18,37-38). Và Đức Giêsu đã yên lặng, không trả lời ông Philatô câu hỏi Sự Thật là gì ? của ông.  
       Vâng, chính Đức Giêsu đã bị những người đồng đạo Do Thái tố cáo oan uổng trước toà quan tổng trấn Philatô, đại diện toàn quyền đế quốc Rôma đang thống trị trên đất nước Ngài. Bị oan uổng tố cáo, bị oan sai kết án tử hình đóng đinh vào thập giá, Đức Giêsu đã là một trong những  nạn nhân của những oan sai, oan uổng do bộ máy tôn giáo vô cảm, vô hồn ; là một trong những phạm nhân vô tội bị tước đọat mạng sống, do lòng dạ nham hiểm, độc ác của những người lãnh đạo guồng máy Giáo Lý , Lề Luật ; là người tín hữu đáng thương vì gánh nặng oan khiên của cơ chế độc đoán vì dựa trên thần quyền. Hơn ai hết, Đức Giêsu đã chịu một bản án hoàn toàn oan uổng, một cái cái chết hoàn toàn oan sai, một hình phạt oan khiên, oan ức ngay trong đạo, do người có đạo được các thượng tế, chức sắc đạo diễn và khéo léo mượn bàn tay người đời , ngoài đời thực hiện.    
       Thiết nghĩ  đến lúc này, bạn và tôi có thể đồng ý với nhau : trong đạo hay ngoài đời, con người đều có thể bị chụp mũ, tố cáo oan uổng, hay bị kết án, trừng phạt oan sai, vì người đời  hay người có đạo cũng chỉ là những con người với tất cả giới hạn của tư duy, kiến thức, ý chí, đạo đức, nói tắt là giới hạn của cái Tâm, cái Tầm, đồng thời bị ràng buộc bởi vô vàn tương quan tốt, xấu, và chịu vây hãm bởi nhiều áp lực, ảnh hưởng thiện - ác chằng chịt, lẫn lộn.
       Từ quan điểm chung này, chúng ta cùng nhau khám phá sự thật của oan uổng, oan sai vừa bằng cặp măt nhân loại, vừa với cái nhìn đức tin :      
1.   Có oan uổng, oan sai, vì có Sự Thật bị  phủ nhận:
     Trong cả hai câu chuyện : một oan sai trong đạo với người vô tội là Đức Giêsu bị kết án đóng đinh, một oan uổng ngoài đời với phạm nhân vô tội là cụ Trần Văn Thêm bị mang án Cướp Của, Giết Người suốt 44 năm, sự thật của con người nạn nhân và sự thật về  hành vi của nạn nhân đều không được xã hội quan tâm, lắng nghe, tìm hiểu thấu đáo và  công tâm nhìn nhận.
    Không được quan tâm lắng nghe, nên những bản tự khai lý lịch nhân thân, tường trình vụ việc của cụ Thêm đã không được Toà Án lưu ý tìm hiểu, nghiên cứu. Những quan chức làm công tác phá án, thẩm định hồ sơ, quyết định án lệnh đều đã không chạm được sự thật của một con người vô tội, người công dân lương thiện, người nông dân chân chất, không hề tra tay cướp của, giết người.
       Vì có sự thật mà nên nông nỗi oan uổng, oan sai, khi sự thật không được tôn trọng, không được tìm tòi, nghiên cứu, thẩm tra kỹ lưỡng trước khi tuyên án. Vì có sự thật, nên khi sự thật vô tình hoặc cố tình bị ai đó, nhất là những người có quyền lực trong tay lấp liếm, che đậy, bóp méo, tráo đổi, uy hiếp, áp đặt, cắt bỏ, tẩy xóa, hủy hoại thì hậu quả không thể tránh là người mang sự thật phải chịu mọi oan uổng, gánh mọi oan khiên, và bị oan ức giập vùi, tiêu diệt. Vì có sự thật, nên oan uổng phát sinh khi sự thật bị gian dối ém nhẹm, bị hận thù tấn công, bị bạo lực  bức tử, nghiền nát.
      Đứng trước sự thật đang bị các thượng tế, kỳ mục và đám đông cả vú lấp miệng em, lấy thịt đè người, Đức Giêsu đã không nói gì khi thấy Sự Thật bị  hãm hiếp trắng trợn, và Con Người Thiên Chúa đang mang trên mình Sự Thật toàn vẹn và đích thực bị đám đông mồm loa mép giải bóp hầu, chịt cổ, không cho lên tiếng. Ngài đã không nói đuợc tiếng nói của Thiên Chúa là Sự Thật, không nói được lời của con người có Sự Thật, nên đã không trả lời câu hỏi của quan tổng trấn Philatô : Sự thật là gì ?, bởi lúc này đây, trước mặt Ngài, từ trong đạo, ngoài đời, từ  thần quyền đến thế quyền, chẳng còn ai lương thiện để bận tâm tìm kiếm, đón nhận Sự Thật.  
    Vì thế, trong cuộc đời, nhiều người công chính trước những vu oan, giáng hoạ vô cớ, những vu khống, tố cáo bất công đã noi gương Đức Giêsu giữ yên lặng, bởi chỉ yên lặng mới là câu trả lời còn chút giá trị cảnh cáo, nhắc nhở đám người gian dối, hồ đồ, quyền lực đang lên án người vô tội bằng giết chết Sự Thật của họ và về họ.
2.   Có oan uổng, oan sai vì có người làm chứng không được lên tiếng :
   Nếu không có sự thật bị bóp méo, lật lọng thì không có cảnh người mang sự thật bị lâm vào cảnh oan uổng cười ra nước mắt. Bên cạnh thảm cảnh sự thật bị chà đạp, và người mang sự thật bị trù dập, còn một thảm trạng không kém thương tâm, đó là người làm chứng cho sự thật cùng chịu chung số phận bị dầy xéo.
     Trong bất cứ vụ việc nào, sự thật luôn  là chià khóa mở ra tất cả, giải quyết tất cả một cách công minh, chính đại, không thiên vị ai, o ép bên nào. Đó là tinh thần tôn trọng sự thật, yêu mến sự thật và làm toả sáng sự thật, bởi chỉ sự thật mới thực sự giải phóng, hoá giải mọi sự, và hoà giải mọi người. Nhưng trong thực tế, người ta không luôn lương thiện, không luôn công bình, nên oan trái mới phát sinh, oan khiên mới nẩy mầm, oan uổng mới xuất đầu lộ diện và oan sai mới có cơ hội tràn lan tàn phá. 
      Chính vì thiếu lương thiện và công tâm, mà khi phân định, phán quyết, những kẻ có quyền trên người khác thường uốn sự thật theo hướng thuận lợi, lái sự thật vào quy hoạch sẵn có, bẻ sự thật theo đồ án đã lập trình bằng ngăn chặn tiếng nói của chứng nhân, ngăn cản sự can thiệp của người làm chứng, ngăn cấm tương quan, liên lạc giữa người chứng và đối tượng bị đặt thành vấn đề.
     Tóm lại, bất cứ chứng nhân, chứng từ, chứng cớ nào thuận lợi, có lợi cho sự thật đều bị xóa bỏ, cô lập, tẩy chay, từ chối. Và đây là nguyên nhân làm oan uổng ngày càng trở thành tai hoạ  khủng khiếp, và  khiến oan sai, oan trái lan rộng, lan nhanh với  một tốc độ chóng mặt làm chết đứng vô số người lương thiện, công chính, vô tội nhưng không tiếng nói vì thấp cổ bé miệng.
      Trong  những năm vừa qua, thế giới sôi động vì nạn lạm dụng tình dục của một số rất ít linh mục, và người ta bằng rất nhiều phương tiện không luôn lương thiện, vô tư, công bằng đã lên án các vị cách hồ đồ, bất công, khi không tôn trọng sự thật. Bằng chứng là nhiều vụ việc đã được giải oan, nhiều linh mục, giám mục bị cáo gian,vu khống, lên án hết sức tàn nhẫn đã được minh oan, trả lại danh dự. Trong những vụ việc được giải oan này, người ta nhận thấy hầu hết các nhân chứng đáng tin cậy đều đã không được lên tiếng, không được lắng nghe bởi những người có trách nhiệm.
     Có lẽ không cần nhấn mạnh thêm nữa vai trò của nhân chứng trong việc truy tìm sự thật, vì ai cũng biết : rất ít nhà lãnh đạo có trách nhiệm có thể quan sát sự việc, thu thập chứng cứ, đủ khả năng và khôn ngoan, cũng như độc lập để quyết định một cách khách quan, chí công vô tư, mà không bị thành kiến, thiên kiến, định kiến chi phối, không bị những người thân cận tạo sức ép, gây ảnh hưởng, không bị khuynh hướng cầu toàn, vo tròn hoàn hảo làm che khuất sự thật, không bị vinh quang của quyền lực và cám dỗ của chỗ đứng, chỗ ngồi xô đẩy vào mù quáng, vô cảm trước sự thật của một con người, hoặc về một biến cố, sự kiện nào đó.
    Trở lại vấn đề nhân chứng bị bức tử, không gì gần gũi, quen thuộc với người Kitô hữu hơn là dung mạo của thánh Gioan tiền hô trong Tin Mừng Mátthêu : thánh nhân bị vua Hêrôđê chém đầu, không chỉ vì ngài đã can ngăn vua không được lấy bà Hêrôđia, đang là vợ của anh mình là Philípphê, nhưng vì ông còn là một đại  ngôn sứ được dân chúng kính trọng, ngưỡng mộ (x. Mt 14,4- 5). Tại sao phải giết ngôn sứ ? Thưa vì ngôn sứ trước hết là nhân chứng, làm chứng cho người thật, việc thật. Người thật đây là Đức Giêsu, và việc thật là sự hiện diện cứu độ của Ngài.
      Ngay từ khi Đức Giêsu xuất hiện, Vua Hêrôđê tuy không nói ra, nhưng bắt đầu ngại vì đánh hơi được  danh tiếng và uy tín ngày càng lớn của Đức Giêsu trong dân chúng. Điều này là mối đe dọa cho ngai vàng của ông, nên ông nhen nhúm một kế hoạch triệt hạ Ngài, không để Ngài trở thành siêu nhân, siêu sao, thần tượng thu hút quần chúng, vì nguy hiểm cho vương triều ông đang trị vì.
     Cơ hội đến, hay đúng hơn là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, nhất là trong cơn say nắng, say tình, Hêrôđê đã lạnh lùng ra lệnh chém đầu Gioan ngay trong ngục (x. Mt 14,10). Giết được Gioan, nhân chứng của Đức Giêsu, Hêrôđê nhẹ đi một bên vai gánh nặng lo cho ngai vàng có thể bị lung lay, sụp đổ.
       Thực vậy, có oan uổng vì có sự thật không được truy tìm, không được nhìn nhận cách chính đáng, cũng như có oan sai, vì có nhân chứng của sự thật không được lên tiếng làm chứng, hoặc có chứng cớ của sự thật không được quan tâm, có chứng từ của sự thật bị giấu nhẹm, giả mạo, sửa đổi, đánh tráo. Trong tiến trình tìm kiếm sự thật mà người làm chứng không được nói, hay có nói nhưng không được người có trách nhiệm lắng nghe, hoặc người có quyền quyết định có nghe nhưng không tin, không ghi nhận, không đối chiếu, không đặt lại vấn đề thì hậu qủa tất nhiên sẽ là một chuỗi dài những oan sai, oan trái, oan khiên nghiến nát thân phận và cuộc đời của người mang sự thật, và người  làm chứng cho sự thật.   
3.   Có oan uổng, oan sai vì có con người không được tôn trọng :
     Một xã hội mà con người được tôn trọng, và nhân quyền được đặt hàng đầu thì tình trạng oan uổng, oan sai sẽ giảm bớt rất nhiều. Do đó, khi người có trách nhiệm phân xử với ý thức tôn trọng đối tượng là người đang bị tố cáo, điều tra, thì sai lầm trong phán quyết sẽ khó có cơ hội xẩy ra, bởi người ta sẽ rất cẩn trọng, và khách quan ; rất bình tĩnh, khôn ngoan và công bằng, nhân ái ; rất ý tứ, tỉ mỉ  trong quan sát và lắng nghe ; rất dè dặt, thận trọng trong mọi ý kiến, và phán quyết,  nhất là người có lòng nhân ái và tôn trọng người khác sẽ không lấy mình làm chân lý khi phân xử ; không nhẹ dạ, hèn nhát, đồng loã, thiên vị, phe cánh khi nhận định một vấn đề ; không để mình bị cuốn hút, lôi kéo bởi cá nhân hay phe nhóm có thế lực, ảnh hưởng khi quyết định số phận của một người ; càng không để thành kiến, tiếng đồn, dư luận, lời bàn vô trách nhiệm làm nao núng khi kết luận.
     Cũng vì nhân vị không được coi trọng, nên người ta cẩu thả khi điều tra ; lười biếng khi nghiên cứu ; vô trách nhiệm khi đưa ra đề nghị, quan điểm ; vô cảm, vô can khi quyết định ; vô tâm, tắc trách khi phân xử. Chẳng thế mà ngoài những vụ xử oan uổng, oan sai, còn nhan nhản đó đây những trường hợp oan uổng, oan sai trong y tế, ở học đường, nơi công sở, ngoài đường phố như em Lê Thị Hà Vi, học sinh lớp Mười đã bị cưa chân do tắc trách của bác sĩ, như anh Nguyễn Bá Dần 33 tuổi bị giải phẫu mà không được xét nghiệm, chẩn bệnh kỹ lưỡng. Hậu qủa là anh đã từ chàng thanh niên khoẻ mạnh, lực lưỡng bị oan uổng biến thành phế nhân ngồi xe lăn, hay như chị Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh 1980, nạn nhân vô tội bị tử vong, và sáu nạn nhân khác bị thương nặng khi chiếc ô tô BMW do nữ đại gia Nguyễn Thị Nga say xỉn, không bằng lái đâm bổ vào cán chết, gây thương tích oan uổng, khuya ngày 21.10.2018 tại ngã tư Hàng Xanh, Sàigòn.
4.   Có oan uổng, oan sai vì có những người có quyền nhưng thiếu khả năng, không đạo đức và vô trách nhiệm :
     Trong bất cứ vụ việc gây oan sai, oan trái, oan uổng nào đều có người có quyền đã quyết định sai sự thật, trái lẽ phải, ngược công lý. Phải có sai trái, nghịch ngược với sự thật, mới có người vô tội bị hàm oan, người tử tế bị bắt bớ oan uổng, người lương thiện bị tố khổ dã man, người tốt lành bị te tua trù dập, người đang lành lặn thành phế nhân, người đang sống phải chết. Có kẻ nắm giữ quyền sinh sát thiếu khả năng nhìn ra vấn đề, nắm bắt sự thật mới có cảnh tan gia bại sản, bị vu khống oan uổng, kết án oan sai. Có người kém đạo đức, thiếu tầm nhìn xa rộng, nhưng lại ở địa vị cầm cân nẩy mực, nắm giữ quyền phụ mẫu trên người khác, nên mới có cảnh người yếu bị đàn áp, người nhỏ bị chà đạp, người nghèo bị  bắt nạt, khinh khi.
      Vì thế bao lâu còn những con người thiếu tầm, thiếu tâm ở vào những vị trí lãnh đạo, hướng dẫn, quyết định thì còn những oan sai, oan trái, oan khiên, oan uổng, và tiếng khóc của người vô tội, máu của người bị oan vẫn ngút cao, mong  thấu đến Trời.
     Mong thấu đến Trời, vì chỉ có Thiên Chúa mới hiểu được nỗi oan của người hèn mọn bị hàm oan ; chỉ có Thiên Chúa mới thấu suốt sự thật của từng người, sự thật trong trái tim mỗi người đang bị người đời hãm hiếp, hành hạ ; và chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng giải oan, minh oan cho người cô thân cô thế, thấp cổ bé miệng, không phe cánh, thế lực, không tiền bạc lót đường, mua chuộc kẻ quyền thế.
    Vâng, trong đạo cũng như ngoài đời, không thiếu những người buồn, cảnh buồn, chuyện buồn vì sự thật không được lương thiện tìm kiếm, không được công minh nhận định, không được công bằng phán quyết, không được chân thành đón nhận, cũng như con người không được tôn trọng đúng mức, nhất là khi những con người ấy không thuộc phe cánh lãnh đạo, phe nhóm nắm quyền, phe phái thế lực, phe đảng nhiều quyền lợi, ảnh hưởng.
      Và tâm tình gửi đến Bạn, có thể đã một lần là nạn nhân của những oan uổng, oan sai trong đạo, ngoài đời. Như Bạn, người viết không thuộc luật trừ, không được miễn trừ, nên hiểu thế nào là nỗi đau, nỗi nhục, nỗi khổ, nỗi oan ức khi sự thật của mình, sự thật về  hành vi của mình bị thiên hạ ngạo mạn và lố bịch ngồi xổm lên, rồi ba hoa đàm tiếu, đoán xét vô trách nhiệm. Nhưng chính trong những nỗi niềm ấy, tôi và Bạn hiểu thêm một điều quan trọng, đó là sự yên lặng cao cả, cao thượng và thánh thiện của Đức Giêsu trước chánh án Philatô không tâm, không tầm, lại hèn nhát, ba phải ; trước cáo trạng hồ đồ, ngụy tạo bởi các thượng tế và kỳ mục, tại phiên toà không nhân chứng, không tiếng nói giải thích, biện hộ.
      Thái độ yên lặng của Ngài thật cao cả, vì vượt xa những thấp hèn đang nhận chìm sự thật ; thái độ thật cao thượng, vì không đôi co, đấu đá với những con người chai lì, cạn kiệt chân lý và lòng nhân ái ; thái độ tuyệt đối thánh thiện vì hiền lành và bao dung trước xúc phạm nặng nề. Chính trong yên lặng ấy, yên lặng của Thiên Chúa từ bi và nhân hậu, mà người không biết cho là thất bại, đầu hàng, thua cuộc đang bừng sáng Tình Yêu  của Thần Khí, Đấng đã sai vào đời, đến với thế giới những sứ giả của Sự Thật giải phóng, Sự Thật cứu độ, như ngôn sứ Isai đã loan báo, khi nói về Đức Giêsu :
      Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa (Lc 4,18-19), và cho tiếng nói của người bị hàm oan được lắng nghe !
Jorathe Nắng Tím