Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

LỬA CỦA THÁNH THẦN TÌNH YÊU

                                                            
                                   
      Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 20 Thường Niên, Năm C
  Tin Mừng chúa nhật này đặt ra cho chúng ta nhiều vấn nạn với hai điều Đức Giêsu công bố :
“Thầy đã đem lửa vào thế gian và Thầy ước mong phải chi lửa ấy  đã bùng lên !” (Lc 12,49), và “Anh em tưởng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba” (Lc 12,51-52).
   
    Trong Kinh Thánh, lửa biểu tượng sự phán xét, trừng phạt, thiêu hủy như “Đức Chúa làm mưa diêm sinh và lửa  từ trời xuống Xôđôm và Gômôra. Ngưòi phá đổ các thành ấy và cả Vùng, cùng với toàn thể dân cư các thành ấy và cây cỏ trên đất” (St 19,24-25). Thánh Phaolô nhắn nhủ các tín hữu thành Thêxalônica lửa báo oán của Thiên Chúa trong ngày Đức Giêsu trở lại : “Việc ấy sẽ xẩy ra, khi Đức Giêsu từ trời xuất hiện cùng với các thiên thần hùng mạnh của Người, trong ngon lửa cháy bừng, để báo oán những kẻ không chịu nhận biết Thiên Chúa” (2 Tx 1,7- 8). Điều này cùng nghiã với lửa của hoả ngục trong Tin Mừng Mátthêu : “Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13,41-42).
       Lửa còn để thanh luyện, thử nghiệm, như “công việc của mỗi người sẽ được phơi bầy ra ánh sáng. Thật thế, Ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, vì Ngày ấy tỏ rạng trong lửa ; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người. Công việc của ai tồn tại trên nền, thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng. Còn công việc của ai bị thiêu hủy, thì người ấy sẽ phải thiệt. Tuy nhiên bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể băng qua lửa” (1 Cr 3,13-15).
      Lửa cũng biểu  tượng sự hiện diện của Thiên Chúa : “Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Môsê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. Ông tự bảo : « Mình phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được”. Đức Chúa thấy ông lại xem, thì từ giữa bụi cây Thiên Chúa gọi ông : “Môsê ! Môsê !” Ông thưa : “Dạ, tôi đây !” (Xh 3,2-4), hoặc như “Cả núi Xinai nghi ngút khói, vì Đức Chúa ngự trong đám lửa mà xuống ; khói bốc lên như khói lò lửa và cả núi rung chuyển mạnh” (Xh 19,18). Lửa còn biểu tượng sự hiện diện của Lời Thiên Chúa như ngôn sứ Giêrêmia tự thú : Có lần con tự nhủ : “Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa. Nhưng Lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt” (G 20,9)
     Lửa còn là biểu tượng sự hiện diện và  sức mạnh thánh hoá của Chúa Thánh Thần như Công Vụ các Tông Đồ đã kể lại : “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi ngưéơi đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2,1-4). Và lửa Thánh Thần này chính là lửa mà Gioan Tẩy Giả đã loan báo : “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3,16-17).
         Vâng, lửa mà Đức Giêsu muốn làm cháy bùng lên, chính là lửa của Chúa Thánh Thần : lửa “nghe trong mình nung nấu tự tâm can, càng nghĩ ngợi, lửa càng bừng cháy, miệng lưỡi tôi phải thốt nên lời”: “Lạy Chúa, xin dạy cho con biết : đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng con đếm được mấy mươi, để hiểu rằng kiếp phù du là thế” (Tv 39,4-5), để biết đặt niềm hy vọng vào một mình Thiên Chúa, để biết kêu cứu một mình Ngài ; để duy nhất mình Ngài suốt đời tôi phụng thờ, yêu mến.
      Vâng, lửa mà Đức Giêsu đã muốn được cháy bùng lên trong thế giới này là lửa Tình Yêu của Chúa Thánh Thần, mà sách Diễm Ca đã hết lời diễn tả : “Phải, tình yêu mãnh liệt như tử thần, cơn đam mê dữ dội như âm phủ. Lửa tình là ngọn lửa bừng cháy, một ngọn lửa thần thiêng. Nước lũ không giập tắt được tình yêu, sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp” (Dc 8,6-7). Đó cũng là lửa bác ái, lửa của đức mến mà thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Côrintô :
    “Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe, xoang xỏang. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi  dời non, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tư đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất” (1 Cr 13,1-8), và “hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13).
     Như thế, Đức Giêsu công khai cho chúng ta biết : Lửa mà Ngài muốn làm bùng lên, muốn mỗi người chúng ta tiếp tay với Ngài làm bùng lên  mãi mãi, cho đến tận thế, tận chân trời góc biển trong trái tim mọi người, đó là lửa Tình Yêu, bởi chính Ngài là Tình yêu. Chính Ngài đã xin Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa đến trong thế giới để làm bùng lên Tình Yêu Thiên Chúa cho hết mọi người được yêu thương và cứu độ. Chẳng thế mà thánh Phaolô đã nghiêm nghị nhắc bảo chúng ta : “Anh em đừng dập tắt Thần Khí” (1 Tx 5,19). Đừng dập tắt Thần Khí tức “đừng dập tắt” Lửa tình yêu của Chúa Thánh Thần trong chúng ta và cũng đừng dập tắt Lửa Thần Khí ấy nơi người khác, điều mà chúng ta rất thường lỗi phạm vì ích kỷ, ganh ghét, ghen tương khi thấy người khác làm tốt, làm giỏi hơn chúng ta.
   Và nếu Đức Giêsu đã qủa quyết lửa mà Ngài muốn làm bùng lên trong thế giới chính là Lửa của Thánh Thần Tình Yêu, thì nguyên nhân phát sinh chia rẽ giữa cha mẹ, con cái, anh chị em, bà con, lối xóm, cũng như giữa các quốc gia cũng chính là sự bất đồng trước “ước mong cho Lửa ấy bùng lên” của Đức Giêsu, khi  trong cùng một gia đnìh, có người chấp nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa Tình Yêu, có người khước từ, phủ nhận ; khi trong một thôn xóm, có gia đình ủng hộ giáo lý yêu thương của Đức Giêsu, nhưng có gia đình khác kịch liệt lên án, chống lại.
    Thực vậy, Tin Mừng Yêu Thương của Đức Giêsu đã trở thành cớ chia rẽ nhiều người, nguyên nhân đưa đến bất đồng, lý do làm người ta xa cách, tẩy chay nhau, như chúng ta thấy trong thế giới hôm nay, khi Giáo Hội của Đức Giêsu không ngừng bị bôi nhọ, phỉ báng, tấn công, truy diệt. Qủa đúng như lời tiên tri của cụ già Simêon đã nói về Đức Giêsu, khi cha mẹ Ngài ẵm Ngài lên Đền Thờ Giêrusalem tiến dâng cho Thiên Chúa : “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng ; và như vậy những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 3,34-35).  
   Vâng, Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do của mỗi người. Chính vì thế, sẽ có những  người đón nhận Lửa của Thần Khí và cùng Thần Khí làm bừng cháy Lửa Tình Yêu và Cứu Độ của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã mang lửa xuống thế gian để thanh luyện và cứu thế gian,  nhưng cũng không thiếu những người từ chối và tìm dập tắt Lửa ấy.
      Còn chúng ta, chúng ta sẽ có thái độ nào trước ước muốn cháy bỏng : “Phải chi lửa ấy đã bùng lên !” của Đức Giêsu (Lc 12,49), và lời mời gọi của Chúa Thánh Thần, Lửa Tình Yêu của Thiên Chúa ?   

     Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019

MỪNG MẸ HỒN – XÁC VỀ TRỜI

Tin Mừng không ghi một chữ nào về sự kiện Đức Maria được về trời cả hồn lẫn xác, mà không phải chết như mọi người, nhưng Truyền Thống Giáo Phụ ngay từ những thế kỷ đầu đã tuyên xưng điều này, như thánh Ephrem ở những năm 373, Epiphane de Salamine, thế kỷ thứ tư, Grégoire de Tours, thế kỷ thứ sáu, và cụ thể là thế kỷ thứ bảy, với ảnh hưởng của đức giáo hoàng Théodore, tên gọi lễ “Mông Triệu” đã thành hình và được Công Đồng Mayence năm 813 ghi tên vào các ngày lễ bắt buộc, và ngày 1 tháng 11 năm 1950, đức giáo hoàng Piô XII đã chính thức tuyên tín : Đức Maria hồn xác về trời là một tín điều qua tông huấn Munificentissimus Deus, và ngày lễ kính được ấn định vào 15 tháng 8 hằng năm.
Năm nay mừng Mẹ về trời, giữa những khó khăn của Giáo Hội toàn cầu, với lo âu của Đức Thánh Cha Phanxicô cho một Giáo Hội thực sự là “Nhà của Thiên Chúa cho con người”, một Giáo Hội mang dung mạo đích thực của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người : yêu thương và cứu độ, một Giáo Hội có những chủ chiên đơn sơ trong nếp sống, bao dung, thương xót trong tâm hồn, đằm thắm, hiền lành trong cung cách, nhất là gần gũi đoàn chiên, mang lấy mùi chiên, bởi một Giáo Hội xa con người, vô cảm trước khốn nạn của con người, vô tình trước yếu đuối của con người như thầy Lêvi và thầy tư tế  trong dụ ngôn người Samari nhân lành trong Tin Mừng Luca, cả hai đều thấy, nhưng đều “tránh qua bên kia mà đi” (Lc 10,31.33) bỏ người đi đường vừa bị cướp “lột sạch, đánh nhừ tử..mặc người ấy nửa sống nửa chết” bên vệ đường (Lc 10,30) sẽ không còn sức sống, ánh sáng sự thật, niềm tin và hy vọng cho con người tìm đến.     
Bên cạnh nỗi lo về một Giáo Hội ngày càng bị thế tục hoá, là nỗi lo Giáo Hội trước những “đòn thù thế tục” rất ác độc của thế gian. Những tố cáo, vu oan từ chuyện tiền bạc đến chuyện lạm dụng tình dục trong hàng giáo phẩm, giáo sĩ khắp nơi hằng ngày là tin nóng trên các trang mạng, báo chí, truyền thanh, truyền hình đang cào nát khuôn mặt của Giáo Hội là Hôn Thê kiều diễm của Đức Giêsu (x. Ep 5,25-27).     
Mừng Mẹ về trời năm nay, Giáo điểm Tin Mừng ở Nhà Bè, Việt Nam cũng đang làm nhiều người hoặc ngột ngạt, ngao ngán, nghi ngờ, ngượng ngùng, hoặc ngỡ ngàng, nghẹn ngào, ngậm ngùi, nghĩ ngợi, tùy theo thuộc về phe nhóm, quan điểm, chiến tuyến nào trước những quyết định bất ngờ với bên này, nhưng bất công với bên kia, bất tuân phục đối với bên này, nhưng bất khả thi với bên nọ, tuy tất cả chỉ có chung “một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha” (Ep 4,5-6).
Mừng Mẹ về trời năm nay cũng là lúc đất nước đang bị đe dọa từ “thế lực lạ” ngoài biển đông. Tuy không ai nói với ai, nhưng tâm hồn Việt Nam nào không thổn thức lo âu, trái tim Việt Nam nào không thức giấc quặn đau, vì có người Việt Nam nào không yêu đất nước, không yêu giống nòi, không gắn bó với quê hương ? Mừng Mẹ về trời năm nay khi người Việt cả thế giới thất kinh và đau buồn sau biến cố cháu  Lê Hoàng Long, 6 tuổi, học sinh lớp một của trường quốc tế Gateway, Hà Nội, ngày 6 tháng 8 đã tức tưởi “chết ngạt, chết nóng, chết đói, chết khát, chết sợ”, vì bị “người lớn vô trách nhiệm” bỏ quên cả ngày trong xe đóng chặt cửa, dưới cái nắng khủng khiếp của mùa hè Việt Nam. Cái chết thật hãi hùng, đau thương ! Chỉ nghĩ đến những giờ bé phải một mình đối đầu với đói, khát, nóng, rồi hốt hoảng la khóc, điên lọan vì sợ hãi khi biết bị nhốt kín một mình trong xe cũng đủ làm “đứt ruột đứt gan” những người đã làm cha làm mẹ, chưa nói đến nỗi đau thất thần, cơn đau vật vã, vượt sức người có hạn  của cha mẹ, gia đình cháu.
Mừng Mẹ về trời năm nay, cùng mọi người nghèo khổ, đau bệnh, bị gia đình ruồng bỏ, bị xã hội tẩy chay, lên án, bị Giáo Hội hiểu lầm, xử tệ, con khấn xin Mẹ cho chúng con “biết yêu mến những sự thuộc đời sau” bằng “yêu mến những con người bé mọn của đời này”, vì chỉ khi biết yêu những con người bé mọn, chúng con mới thấy mình không buồn, không tủi, không thất vọng, không chán chường, không nản chí, không buông xuôi, không nổi loạn, không thù oán, không lấy “răng đền răng, mắt đền mắt”, không nhất quyết “đòi nợ máu” của bất cứ ai, vì chỉ trong những gì bé mọn, Chúa mới cho chúng con thấy uy quyền và tình yêu của Chúa ; chỉ nơi anh em hèn yếu, chúng con mới gặp được Chúa ; chỉ với những thân phận thiếu may mắn, bất hạnh, chúng con mới được ủi an khi an ủi họ, mới được lãnh nhận khi hiến thân cho họ, vì chính những người bé mọn này sẽ chỉ cho chúng con biết chúng con là những người được Thiên Chúa yêu thương, như họ đã được Thiên Chúa mặc khải, như Đức Giêsu đã khẳng định : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lậy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.” (Mt 11,25-26). 
Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Vô Nhiễm Nguyên Tội và Hồn Xác Lên Trời !   
Mẹ đã được vinh dự Vô Nhiễm Nguyên Tội, và phần thưởng “hồn xác về trời” vì Mẹ đã luôn nhận mình là kẻ hèn mọn, nữ tỳ bất xứng của Thiên Chúa (x. Lc 1,48). Hơn ai hết, Mẹ biết giá trị của những gì nhỏ bé, hèn mọn ; hiểu tình thương xót bao la của Thiên Chúa đổ trên những ai có tâm hồn khiêm nhường (x. Lc 1,50), và xác tín quyền năng cứu độ của “Thánh Giá khổ đau, ô nhục, bị bỏ rơi, bị tẩy chay, bị lên án”, vì Mẹ tin vào Lời của Thiên Chúa đã hứa với cha ông, và “lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho tổ phụ Ápraham và con cháu đến muôn đời” (Lc 1,55) ; vì Mẹ tin vào Lời của Đức Giêsu, Con Mẹ : “Nếu hạt lúa  gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh nhiều bông hạt” (Ga 12,24). 
Mừng Mẹ hồn xác về trời, chúng con tạ ơn Thiên Chúa đã thương đến phận hèn nữ tớ là Mẹ, để tất cả chúng con cũng được Chúa thương, Mẹ chiều vì từng ngày chúng con noi gương Mẹ tập sống phận thấp hèn tôi tớ Chúa trong mọi cảnh huống “bất công, thử thách, khổ đau, nhục nhằn” của “cuộc sống, ở đời này” với niềm mơ ước khôn nguôi “những sự trên trời, ở đời sau”.
Jorathe Nắng Tím    

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2019

THÁI ĐỘ PHỤC VỤ

Đức Giêsu đến để phục vụ, Giáo Hội noi gương Đức Giêsu phục vụ, chúng ta được đào tạo thành những con người phục vụ. Cả ba chân lý trên, chúng ta đều nằm lòng, và như những tiếng chuông đồng hồ nhắc nhớ chúng ta hằng giờ trong ngày. Vậy mà chúng ta vẫn bị lên án là không phục vụ, Giáo Hội vẫn bị chỉ trích là quên sứ mệnh phục vụ, và thế giới ngày càng xa cách, tránh né chúng ta, vì chúng ta tuy có phục vụ nhưng lại phục vụ với thái độ của ông chủ, người có quyền, kẻ thi ân.
Thực vậy, không ai chối cãi chúng ta phục vụ, nhưng chúng ta không phục vụ như người đến để phục vụ, như Đức Giêsu đã tự khẳng định về Ngài: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10,45), nghiã là tận căn rễ  cuộc đời, tận căn gốc sứ vụ, tận căn nguyên ơn gọi, chúng ta là người phục vụ đích thực, chính danh, chứ không phục vụ trên danh nghiã, phục vụ theo thời vụ, nhưng phải là một đời phục vụ như tôi tớ.
Khi nói với các môn đệ điều trên, nhất là khi qùy xuống rửa chân cho các ông trong bữa tiệc ly, và giải thích ý nghiã  việc rửa chân : “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’ và là ‘Chúa’. Điều đó phải lắm, vì qủa thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,13-15).  
Làm cho anh em đây, chính là làm tôi tớ cho anh em, khi phục vụ anh em. Và một cách công khai, rõ ràng, Đức Giêsu đã không kêu gọi chúng ta phục vụ anh em với thái độ nào khác, ngoài thái độ của người tôi tớ đích thực, như Ngài đã đến trong thế giới để trở nên tôi tớ đích thực và thực sự phục vụ mọi người, đến hy sinh cả mạng sống.
Thực vậy, lý do lớn nhất cản trở chúng ta phục vụ người khác với thái độ phục vụ của tôi tớ như Đức Giêsu muốn là do hầu hết đối tượng chúng ta phục vụ đều là những con người nghèo hèn, yếu kém, dốt nát hơn chúng ta, nên rất khó có thể phục vụ họ với thái độ của tôi tớ đích thực, vì ý thức vượt xa, vượt trội, vượt trên người đang được phục vụ bắt chúng ta phải giữ một khoảng cách tâm lý, có khi cả thể lý khi phục vụ họ ; vì đa số những người chúng ta phục vụ đều là những con người tội lỗi, nhiều khuyết điểm hơn chúng ta, nên ý thức thánh thiện, cao cả, được tuyển chọn, được xức dầu thánh hiến, được “đóng ấn đời đời” nơi chúng ta như lực cản vô hình đẩy chúng ta xa khỏi họ, không cho phép họ đến gần, dù ta được sai đến để phục vụ họ ; vì phần đông những người chúng ta phục vụ không có kiến thức thần học, kinh thánh, giáo luật như chúng ta, nên khó tránh khỏi ý thức tự hào lúc nào cũng len lỏi không cho phép chúng ta đứng ngang hàng với họ, nói chi qùy xuống rửa chân họ như tôi tớ.
Từ đó, chúng ta tuy có đến để phục vụ, nhưng phục vụ với thái độ của kẻ cả, nghiã là tình nguyện đến phục vụ vì thích hơn vì chu toàn một sứ mệnh, vì “muốn phục vụ cho vui” hơn vì thực hiện một nghiã vụ, vì phục vụ như chuyện “làm cho đời mình phong phú, thêm mầu sắc” hơn vì phục vụ là Ơn Gọi suốt đời đeo đuổi. Thái độ “kẻ cả” được nhận ra rất rõ khi chúng ta không mấy gì tha thiết, không mấy gì nồng nàn, cũng chẳng có gì gắn bó với đối tượng trong khi phục vụ ; khi phục vụ chóng vánh cho xong, thu quén phục vụ sao cho gọn, để rồi phục vụ biến thành những “show phục vụ” được lập trình có giờ khắc, hết giờ là đóng cửa, hạ màn, dẹp sân khấu, mà không bao giờ phục vụ được đi vào máu  để sống chết đêm ngày với con người phục vụ.
Cũng có người trong chúng ta đến phục vụ với thái độ của “kẻ có quyền”, vì thật sự chúng ta có quyền phục vụ khi muốn, và ngưng phục vụ khi cần ; có quyền dấn thân giúp đỡ người khác khi thuận tiện, và đóng cổng không tiếp ai khi thấy bất lợi cho mình ; nghiã là ngay trong khi phục vụ, quyền sinh sát khi “nhân danh” Đấng này, dựa vào sức mạnh của quyền hành, cơ cấu, tổ chức kia vẫn không chịu rời xa chúng ta, nên thường xuyên trong thái độ, uy lực vẫn lăm le xuất hiện, thế lực vẫn hăm he thi thố, quyền lực vẫn sẵn sàng ra tay, và thần lực vẫn giăng mắc bao phủ, tất nhiên tất cả các thứ “lực” vừa kể đều sẽ dễ dàng và  mau chóng “xuất hiện, thi thố, ra tay, chụp xuống đầu” những người chúng ta đang phục vụ, vì họ là đối tượng “ngoan hiền và ngon lành” nhất đến nỗi chúng ta có thể vừa phục vụ vừa thống trị, vừa giúp đỡ vừa trấn áp, vừa lui tới vừa khai trừ, vừa rửa chân vừa chịt cổ, vừa cho vừa đòi, vừa thân thiện vừa nghiêm khắc, vừa phục vụ vừa bắt họ phục vụ…
Khi ở vào tình trạng này, thái độ của chúng ta hoàn toàn không chút rõ ràng, vì tự bản thân, chúng ta đã không muốn rõ ràng, minh bạch với chính mình, như Đức Giêsu đã thẳng thắn cho mọi người biết về Ngài và lẽ sống của Ngài : “Tôi đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ”. Vì thế, thái độ ỡm ờ, lợi cả đôi ba đàng này là hậu qủa của ích kỷ có tính toán, của lưu manh có đẳng cấp, của thụ hưởng có lập trình mà không mấy ai có thể khiển trách, bởi trước mắt thì có phục vụ, còn  sau lưng, “hậu phục vụ” thì có “Giăng, Giời” nào hay biết.
Chúng ta cũng thường đến phục vụ với thái độ của người thi ân, người ban ơn, ân nhân của nhân loại, mà không mấy khi phục vụ như bạn hiền, như người thân, như tôi tớ, bởi chúng ta luôn nuôi não trạng mình đã hy sinh nhiều cho tha nhân, mình đã dâng hiến cuộc đời cho người khác, mình đã cật lực làm việc từ thiện trong khi bao nhiêu người khác chỉ ngồi chơi, chẳng làm gì, hay còn tệ hơn : chỉ ngồi chờ xung rụng là sự giúp đỡ của chúng ta. Não trạng là ân nhân vĩ đại, người thi ân tuyệt vời, nhà từ thiện cao cả chiếm hết tâm hồn quảng đại của chúng ta và biến chúng ta thành những con người hẹp hòi, bủn xỉn, so đo, tính toán ngay cả với người chúng ta đang phục vụ. Vì nhỏ mọn, bủn xỉn, chúng ta sẽ dễ coi thường họ khi họ thường xuyên đến xin chúng ta giúp đỡ ; vì so đo, tính toán chúng ta sẽ không ngại ngùng lên giọng, lớn tiếng với những người vừa nhận phần quà, hoặc vừa được chúng ta an ủi, chỉ vì trong chúng ta bất ngờ bừng tỉnh một điều là họ đã làm mất qúa nhiều thời giờ của chúng ta.
Như thế, bao lâu chúng ta không bỏ ra khỏi đầu não trạng “người thi ân”, không tháo gỡ khỏi trái tim vương trượng của “kẻ có quyền”, không loại ra khỏi hành trang lên đường cung kiếm của “kẻ cả”, thì thái độ phục vụ như đầy tớ, như bạn hữu (Ga 15,13-14), mà Đức Giêsu căn dặn và làm gương sẽ không thể thực hiện trong đời phục vụ của chúng ta. Không thể thực hiện được, vì phục vụ chỉ là sứ mệnh của bạn hữu hoặc đầy tớ, chứ không thể là công việc của kẻ có quyền, của ông chủ, của đại ca, của người làm ơn làm phước, cho dù những đấng bậc, chức sắc, quý vị “tai to mặt lớn” này có “diễn” cỡ nào, có hoá trang đến đâu, có sửa giọng, sửa tướng đến “cấp ba, cấp bốn” cũng vẫn không thay đổi được thái độ, và việc phục vụ của các vị sẽ mãi hời hợt, ngoài da, ngượng nghịu và không tránh khỏi những lần vô ý “làm tổn thương” người được phục vụ. Không thể thực hiện được, vì phục vụ là công việc của người dưới, người nô lệ, người được thuê mướn, chứ không là công việc của lãnh đạo, lãnh tụ, lãnh chúa. Những vị  mang hàm “lãnh” này, dù có đeo trước ngực hai chữ Phục Vụ to đùng, có treo biểu ngữ tung hô bước chân phục vụ, có tuyên bố long trọng hàng giờ chương trình, kế hoạch, đường lối phục vụ, cũng không làm cho công việc phục vụ của các vị lột hết tinh thần phục vụ cao đẹp và thánh thiện của Đức Giêsu và như Đức Giêsu muốn.
Để phục vụ với thái độ của người tôi tớ  và như bạn hữu của Đức Giêsu, thiết tưởng chúng ta phải :
1.                      Phục Vụ như Yêu Thương :
Phục vụ như yêu thương là phục vụ do tình yêu thúc bách. Chính được Tình Yêu Đức Giêsu thúc bách mà chúng ta phục vụ anh em mình, ngoài ra không vì một lợi nhuận, hậu ý nào khác. Chỉ khi được thúc bách bởi Tình Yêu hiến mình tinh ròng và trọn vẹn của Đức Giêsu, Của Lễ chuộc tội trên Thánh Giá và “Mục Tử nhân lành sẵn sàng hiến mạng sống vì đoàn chiên” (Ga 10,11), chúng ta mới có được thái độ phục vụ như tình yêu mà Thiên Chúa muốn. Nói cách khác, phục vụ không tách khỏi tình yêu, phục vụ không là thứ yếu, phụ tùng của tình yêu, nhưng phục vụ là tình yêu, yêu thương là phục vụ. Đó là lý do ở ngày chung thẩm, chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu qua những việc làm phục vụ anh em mình (x. Mt 25, 31-46).
2.                          Phục vụ như một bổn phận :
Phục vụ như một bổn phận hoàn toàn khác phục vụ như một ý thích, bởi bổn phận là việc phải làm, còn ý thích thì tự do : thích thì làm, không thích thì thôi. Bổn phận là việc phải chu toàn bằng mọi giá, còn ý thích thì tùy theo cảm xúc, hứng khởi : vui sướng thì gì cũng làm, buồn giận thì không làm gì hết. Chính vì không coi phục vụ là bổn phận của người môn đệ Đức Giêsu, “Đấng đến không phải để được người khác phục vụ, mà phục vụ mọi người, đến hy sinh cả mạng sống”, mà chúng ta chưa có được tinh thần và thái độ của tôi tớ và bạn hữu như Chúa muốn khi phục vụ anh em đồng loại. Trái lại, vì thiếu ý thức phục vụ như bổn phận, chúng ta đã  nhiều lần xúc phạm anh em ngay trong khi phục vụ họ.
3.                      Phục vụ như sứ mệnh :
Sứ mệnh của người Kitô hữu khi được gọi làm con Thiên Chúa là “yêu mến và phụng sự Chúa trong mọi người”. Phụng sự Chúa là phục vụ anh em, vì hạnh phúc của con người đang sống là vinh quang của Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa yêu thương và muốn tất cả mọi người được chung hưởng hạnh phúc của Ngài, nên sứ mệnh của chúng ta là đem lại hạnh phúc đó cho anh em, bằng yêu thương, phục vụ anh em. Chỉ với ý thức phục vụ như sứ mệnh, chúng ta mới không chà đạp, nghiền nát anh em và biến họ thành phương tiện thoả mãn bản năng thống trị của mình trong khi phục vụ họ.    
4.                      Phục vụ là niềm vui :
Làm việc cho lợi tức, túi tiền của mình mà không vui đã bực bội rồi, nay phục vụ người khác mà không vui thì khác gì thi hành án “khổ sai chung thân”, nên rất khó phục vụ mà không vui với niềm vui phục vụ. Đức Giêsu vui vẻ đón nhận thân phận làm người như ngôn sứ Isai đã loan báo : “Đây là tôi tớ trung tín Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu : Ta hài lòng về Người. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân. Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai thấy Người lên tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt di, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (Mt 12,18-21). Và như thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Philípphê : “Đức Giêu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà hông nghĩ nhất quyết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6-8).
Như thế, chúng ta không thể chối cãi được ý muốn làm “nô lệ, tôi tớ, phàm nhân” của Đức Giêsu Thiên Chúa với mục đích phục vụ nhân loại, và phục vụ cho đến chết trên Thánh Giá làm giá cứu chuộc muôn người. Nhưng điều quan trọng là Ngài đã đón nhận thân phận thấp hèn để phục vụ này trong niềm vui, trong hạnh phúc thể hiện tình yêu vâng phục của Ngài với Chúa Cha, và tình yêu cứu độ của Ngài với nhân loại. Chính vì ở trong niềm vui phục vụ, mà Đức Giêsu đã trấn an các môn đệ : “Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1), “anh em cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,28), nhưng “hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20), và “phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12).
Chỉ với niềm vui trong Chúa, chúng ta mới phục vụ anh em bé mọn, nghèo túng, thất học, kém đạo đức, mà không cau có, gắt gỏng, nạt nộ, trách móc xối xả, chửi bới tanh bành. Chỉ tìm gặp niềm vui của Đức Ái trong phục vụ, chúng ta mới không xúc phạm nhân vị của người nghèo, không làm tổn thương nhân phẩm của người tội lỗi, không khinh khi, chà đạp nhân cách của người kém may mắn, bất hạnh khi phục vụ họ. Chỉ với niềm vui của  tôi tớ muốn làm vui lòng chủ, chúng ta mới đem lại hạnh phúc thật cho người anh em chúng ta phục vụ, vì họ sờ thấy được tình yêu của Thiên Chúa và của chúng ta đang dành cho riêng họ. Chỉ với hạnh phúc của đầy tớ trung tín tận tụy chăm sóc gia sản của ông chủ tốt lành là Thiên Chúa, chúng ta mới nếm được sự ngọt ngào của tình yêu khi phục vụ “người bé nhỏ nhất trong anh em” (x. Mt 25,45).  
Và để có được thái độ “phục vụ như yêu thương, phục vụ như bổn phận, phục vụ như sứ mệnh và phục vụ là niềm vui”, chúng ta được Đức Giêsu truyền cho bửu bối thần diệu, là Phục Vụ trong Khiêm Tốn, để  khi phục vụ, cũng như “khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói : chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10).
Xin Chúa cho chúng ta biết phục vụ anh em với thái độ của phục vụ đích thực mà Chúa đã dậy và làm gương : thái độ của người tôi tớ trung tín và bạn hữu thân tình sẵn sàng chết cho người mình yêu thương, phục vụ.
Jorathe Nắng Tím       

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

Người Quản Lý của Thiên Chúa

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 19 Thường Niên, Năm C : (Lc 12,32-48)
Tin Mừng Luca vẽ chân dung người quản lý tuyệt vời của Thiên Chúa với những tiêu chuẩn do chính Thiên Chúa đòi hỏi.
1.   Thiên Chúa đòi người quản lý phải trung tín:
Quản lý tài sản của một công ty mà không trung tín với giám đốc thì công ty sớm muộn cũng phá sản ; quản lý tài sản của ông chủ mà thiếu trung thực, thì trước sau ông chủ cũng sẽ ra đường ăn xin; quản lý ngân quỹ của đoàn thể mà không trung thành, thì đoàn thể sẽ nhanh chóng bị giải thể ; quản lý tiền bạc của gia đình mà thiếu trung hậu, thì gia đình không đói khổ, bất hạnh mới lạ.
Vì thế, Đức Giêsu khẳng định đòi hỏi thứ nhất của Ngài : người quản gia của Thiên Chúa phải là người trung tín (x. Lc 12,42). Nếu không sẽ bị Ngài “loại ra, và bắt phải chung số phận với những tên thất tín” (Lc 12, 46). 
2.   Thiên Chúa đòi người quản lý phải khôn ngoan:
Vì “được đặt lên để coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc” (Lc 12, 42), để “coi sóc tất cả tài sản” (Lc 12, 44) của Thiên Chúa, nên người quản lý không thể ngu muội, đần độn, bối rối, vụng về, non dại, ngây ngô, nhưng phải khôn ngoan, khéo léo, tinh tế, để gia nhân chan hoà hạnh phúc, vui vẻ làm việc, khi lương bổng được phân phát công bình, điều kiện lao động được bảo đảm, sinh hoạt đời sống được chăm lo ; để gia sản “sinh sôi nẩy nở”, mà không hao hụt, thất thoát.
3.   Thiên Chúa đòi người quản lý phải có lòng nhân ái : 
Có nhiều quản lý gian ác, “trên đội dưới đạp”, gian manh, trí trá “cướp cơm chim” của đám gia nhân sợ quản lý hơn sợ chủ, vì số phận của họ nằm trong tay quản lý.
Đức Giêsu muốn người quản lý của mình phải có lòng nhân ái, biết cảm thương, bảo vệ, chăm sóc gia nhân, chứ không “đánh đập tôi trai tớ gái, và chè chén say sưa” (Lc 12,45). 
4.   Thiên Chúa đòi người quản lý phải hiên diện với tinh thần sẵn sàng và tỉnh thức:
Làm quản lý mà khi ông chủ thình lình ghé công ty kiểm tra mà không thấy quản lý đâu thì thật là xui xẻo, tai họa cho quản lý. Rơi vào trường hợp “dở khóc dở cười” này thì chỉ có nước lặng lẽ ra đi, khỏi cần lưu luyến, bịn rịn.
Với Đức Giêsu, người quản lý không chỉ hiện diện mà thôi, mà phải hiện diện trong tình trạng tỉnh thức và sẵn sàng lên đường thi hành ý muốn của chủ, bởi có nhiều quản lý chỉ hiện diện lấy lệ, hiện diện “cho có”, hiện diện thụ động, hiện diện lười biếng, và tất nhiên hiện diện giả hình. Tin Mừng Luca ghi rất chi tiết điều Đức Giêsu muốn ở người quản lý gia sản của Ngài : “Hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12, 36-37), bởi bổn phận của quản lý còn là canh chừng không để “trộm cắp đào tường, khoét vách nhà mình” (Lc 12, 39).
Nhưng gia sản, kho tàng của Thiên Chúa trao cho người quản lý gìn giữ, làm sinh lợi là kho tàng, gia sản nào ?
5.    Trước hết là kho tàng ơn phúc:
Đó là những khả năng, phương tiện, hoàn cảnh Thiên Chúa ban để mưu tìm hạnh phúc cho chính mình và cho người khác, bắt đầu từ những người ta có trách nhiệm. Và khi mưu tìm hạnh phúc cho con người cũng chính là lúc chúng ta tôn vinh danh Chúa, và tìm gặp Thánh Ý Ngài, bởi “con người sống”, tức sống hạnh phúc “là vinh quang của Thiên Chúa” như thánh Irênê thành Lyon đã viết.
Tin Mừng về dụ ngôn những nén bạc khẳng định vốn liếng quý báu Thiên Chúa ban cho mỗi người và mỗi người đều có bổn phận làm sinh lời, như đòi hỏi ở người quản lý tốt và có khả năng, để được Thiên Chúa khen là tôi tớ trung thành và tài giỏi (x. Lc 19,12-26).
6.   Gia sản Lòng Thương Xót Chúa:
Lòng Thương Xót là gia sản lớn và quý giá Thiên Chúa trao cho chúng ta để chúng ta làm sinh lời bằng loan báo cho mọi người : Thiên Chúa là Đấng giầu lòng thương xót luôn yêu thương con người, “để ai tin vào Ngài thì được cứu độ” (Mc 16,16).
Lòng Thương Xót là chính Thiên Chúa, là Chân Lý và là Đường Thiên Chúa muốn con người tìm kiếm và bước đi để có hạnh phúc, bởi chỉ có một hạnh phúc lớn nhất mà con người mong đạt tới là được Thiên Chúa xót thương. 
Đức Giêsu là Dung Mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót, nên người môn đệ Đức Giêsu cũng phải trở nên giống Thầy mình ở lòng thương xót anh em mình. Đây chính là giới răn duy nhất Đức Giêsu truyền cho những ai muốn đi theo Ngài phải thực hiện, “vì duy nhất một dấu chỉ để người ta nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con thương yêu nhau” (Ga 13,35).
Tóm lại, mỗi người chúng ta đều là người quản lý ơn sủng và lòng thương xót của Chúa, đúng hơn là ơn sủng của Lòng Thương Xót Chúa. Như người quản lý trung tín, khôn ngoan, luôn sẵn sàng và tỉnh thức với lòng nhân ái, chúng ta được mời gọi làm cho những nén bạc, và gia sản, kho tàng của Lòng Thương Xót Chúa được “sinh sôi nẩy nở” gấp trăm, gấp ngàn, gấp triệu lần khắp nơi và mọi thời, để “con người được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), để “Danh Thiên Chúa được cả sáng, Nước Thiên Chúa trị đến, và Ý Thiên Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6, 9-10).
 Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

CHỦ NGHIÃ “GIÁO SĨ TRỊ”

          
     Tuy gọi là “chủ nghiã giáo sĩ trị”, nhưng tình trạng “giáo sĩ cai trị” không nên được hiểu như người ta thường hiểu về các chủ nghiã khác như chủ nghiã tư bản, chủ nghiã cộng sản, chủ nghiã hiện sinh, chủ nghiã vô thần, chủ nghiã duy vật, chủ nghiã duy lý, chủ nghiã duy nghiệm …,  vì một lý do rất đơn giản : “giáo sĩ trị” không là một chủ nghiã, vì không ai chủ trương một giáo hội bị thống trị, không ai tìm đến một tôn giáo có đường lối áp bức, khống chế, hà khắc cai trị, và càng không ủng hộ một cơ chế giáo sĩ “ăn trên ngồi trước”, tàn ác bóc lột, nham hiểm lạm dụng, ma mãnh trục lợi, thủ đọan độc quyền, độc tài, độc trị. Trái lại, tôn giáo luôn mang tính khai phóng, giải thoát, và sứ vụ duy nhất của Giáo Hội của Đức Giêsu là tìm kiếm, mời gọi, băng bó, chữa lành, cứu độ tất cả mọi người, không loại bỏ, khai trừ ai.
    Vì thế, giáo sĩ trị chỉ được coi là tình trạng thoái hoá, hiện tượng xuống cấp, sự kiện biến thái tiêu cực nơi hàng giáo sĩ, mà không bao giờ được coi là một chủ thuyết, hay chủ trương với chủ đích biến “con chiên” thành đám nô lệ ngu si, đần độn, biến giáo dân thành đám nô bộc đầy mặc cảm và sợ hãi trước “cơ chế thần quyền”, để giáo sĩ tha hồ thao túng, bóc lột, lạm dụng cho tư lợi, ý riêng, khao khát quyền lực và cuộc sống hưởng thụ, tha hoá của mình.     
    Và để dễ dàng nhận ra mấu chốt của vấn đề, thiết tưởng chúng ta cần nhìn vào hiện tượng này ở Việt Nam, khi so sánh với các nước khác trên thế giới.
     Thực ra, giáo dân Việt Nam có một lòng yêu mến, kính trọng và tín nhiệm hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ rất đặc biệt và đáng tuyên dương. Truyền thống qúy giá này chúng ta phải biết trân trọng và giữ gìn, vì là nét đẹp của dân tộc cũng như của giáo hội Việt Nam, bởi từ buổi đầu khi Tin Mừng được rao giảng trên đất nước cho đến hôm nay, giáo dân luôn biết đánh giá những hy sinh lớn lao của hàng giáo sĩ, tu sĩ trong công cuộc truyền giáo và xây dựng Giáo Hội. Tinh thần dấn thân, và nhiệt huyết của linh mục, tu sĩ dành cho  giáo dân, giáo xứ, giáo họ, giáo điểm là một sự thật không ai có thể chối cãi. Ngoài sinh hoạt mục vụ thuần túy, còn bao nhiêu công trình an sinh xã hội, y tế, giáo dục, văn hoá… khác góp phần nâng cao đời sống, đề cao giá trị con người mà hàng giáo sĩ, tu sĩ Việt Nam đã, đang và mãi mãi cống hiến cho dân tộc.
        Chính vì thế, khi viết bài này, mục tiêu chính của người viết là làm nổi bật công lao khó nhọc và tinh thần hy sinh không tính toán của phần đông giáo sĩ, tu sĩ nam nữ Việt Nam, bằng nêu ra thực chất của chủ nghiã giáo sĩ trị mà rất nhiều quốc gia trên thế giới đang sôi sục tấn công quyết liệt. Bởi khi làm rõ thực chất “giáo sĩ trị”, người tín hữu Việt Nam chúng ta sẽ không bị đầu độc, và bị lôi cuốn vào cao trào “bài giáo sĩ”, là phương tiện rất lợi hại ma qủy đang dùng để chia rẽ nội bộ và làm suy yếu công cuộc truyền giáo của Giáo Hội.
     Và không gì chắc chắn, đúng đắn và chính xác hơn khi tìm hiểu bản chất của “giáo sĩ trị” bằng chiêm ngắm và lắng nghe chính Đức Giêsu, Đấng đã chọn các Tông Đồ là các Giám Mục và từ các ngài, hàng giáo sĩ được thiết lập trong Giáo Hội :
1.       Đức Giêsu đã trao quyển “chăn dắt, chăm sóc” Giáo Hội của Ngài cho các thánh Tông Đồ :
      Thánh Tông Đồ Gioan đã tường thuật quang cảnh vô cùng trang trọng và cảm động khi Đức Giêsu  trao quyền quản trị Giáo Hội cho Phêrô và các tông đồ sau khi sống lại: “Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô : Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giêsu nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy”. Người lại hỏi : “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không ?”. Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”. Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông Phêrô buồn, vì Người hỏi đến ba lần : “Anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự : Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giêsu bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,15-17).
   Đức Giêsu đã hỏi Phêrô ba lần với nội dung duy nhất : “Anh có yêu mến Thầy không ?”, đến nỗi Phêrô phải cáu lên, vì nghĩ Thầy đã không tin mình yêu mến Thầy hết lòng, dù mình đã yếu đuối chối Thầy ba lần mấy hôm trước đây, khi Thầy đang bị tra tấn trong dinh thượng tế Caipha (x. Ga 18,12-27).
   Hỏi Phêrô về tình yêu dành cho mình, trước khi trao trọng trách “chăm sóc” đàn chiên, tức Giáo Hội, Đức Giêsu  đã muốn Phêrô và các Tông Đồ, môn đệ có mặt hiểu rằng : chỉ một điều kiện, một đòi hỏi duy nhất để làm Tông Đồ, làm môn đệ chăm nom, săn sóc, dẫn dắt đàn chiên của Ngài là phải yêu mến Ngài, yêu mến thật tình, yêu với lòng thương xót như Ngài đã thương xót và hiến mạng vì đàn chiên của Ngài ; thương với tình thương bao la, sâu sắc, nồng nàn và liều lĩnh đến độ sẵn sàng chết vì người mình yêu, chết cho chiên “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), thì Đức Giêsu mới dám trao phó sứ mệnh chăm sóc đàn chiên yêu qúy của Ngài cho các ông. Đức Giêsu đã không trắc nghiệm tài quản trị, tính cương nghị, khả năng “tang bang tế thế” của các Tông Đồ trước khi trao trọng trách, nhưng chỉ đặt lại duy nhất một vấn đề, đó là tình yêu các ông dành cho Ngài. Bởi có yêu Ngài nhiều, có yêu Ngài tha thiết, các ông mới yêu được đàn chiên “không luôn dễ thương, dễ yêu” của Ngài, vì sẽ có nhiều con chiên hậu đậu vì thiếu học, thô kệch vì nghèo đói, quê muà vì quanh năm “chân lấm tay bùn”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” ; vì sẽ có nhiều con chiên bướng bỉnh vì khổ từ tấm bé, ngang ngược vì bị lạm dụng, đối xử bất công ngay khi còn thơ dại ; vì sẽ có nhiều con chiên ghẻ lở, mụn nhọt đầy mình, vì thiếu dinh dưỡng, ăn ở lại thiếu vệ sinh ; vì sẽ có những con chiên nói năng không dễ nghe, ăn mặc không dễ nhìn, cư xử không lễ phép, lịch thiệp chỉ vì sinh ra thiếu cha, thiếu mẹ, ông bà nội ngoại lại nghèo khổ, nên bị bỏ rơi “đầu đường xó chợ” ; vì sẽ có những con chiên không khéo léo làm vui lòng chủ chiên, không thông minh đủ để đoán đúng ý chủ chiên mà chiều chuộng, không thích bợ đỡ, xu ninh nên hay làm chủ chiên phật lòng. Ôi thôi, tuy là chung đàn, nhưng sẽ có đủ thứ chiên, đủ cỡ chiên, đủ mầu chiên, đủ mùi chiên, đủ tiếng chiên nói, chiên la, chiên cười, chiên khóc chói tái, nhức óc …
      Đặt câu hỏi về tình yêu dành cho mình, Đức Giêsu nhấn mạnh yếu tố duy nhất để trở thành mục tử chăm sóc đàn chiên của Ngài là phải biết yêu thương : yêu Ngài và thương đàn chiên Ngài gửi gắm trông nom.      
      Một điểm đáng lưu ý khác, đó là Đức Giêsu đã không dùng động từ qủan trị hay cai trị khi giao phó cho các Tông Đồ đàn chiên của Ngài, nhưng chỉ dùng động từ : chăm sóc, chăn dắt, bởi cai trị dành cho lãnh tụ, quản trị dành cho lãnh đạo, người quản lý, nhưng “chăn dắt dành cho mục tử, chăm sóc dành cho mẹ cha”. Nếu trao đàn chiên, tức Giáo Hội cho các tông đồ để cai trị, chắc chắn Đức Giêsu đã không hỏi Phêrô đến ba lần về tình yêu ông dành cho Ngài, bởi quản trị, cai trị cần tài năng, chứ không cần nhiều tình yêu đến thế ; nếu chỉ muốn các Tông Đồ là những người quản lý, quản trị Giáo Hội một cách “ngon lành với thống kê, số liệu chính xác, tổ chức nhịp nhàng, cơ chế hoàn hảo”, thì Đức Giêsu đã chẳng trao quyền cho các Tông Đồ trong bầu khí nồng nàn, ấp áp tình yêu như vậy.
     Tóm lại, khi hỏi tông đồ trưởng Phêrô đến ba lần về tình yêu, và chỉ dùng những động từ xứng hợp với cha mẹ yêu thương, và mục từ nhân lành là “chăm sóc, chăn dắt”, Đức Giêsu đã không muốn các Tông Đồ thay mặt Ngài cai trị Giáo Hội như những lãnh tụ, nhà lãnh đạo, người quản lý, chủ tịch hội đồng quản trị, nhưng như cha mẹ và như mục tử tràn đầy tình yêu, và lòng thương xót như chính Ngài.  
2.     Đức Giêsu nhiều lần đã từ chối trở thành lãnh tụ, nhà lãnh đạo để cai trị, thống trị :
     Tin Mừng Gioan kể lại : sau phép lạ cho bánh và cá hoá nhiều với “năm chiếc bánh và hai con cá” (Ga 6,9) và dân chúng được ăn  thoả thuê, “Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6,15).
    “Lánh mặt, đi lên núi một mình”, vì Ngài không muốn làm lãnh tụ như hầu hết người Do Thái lúc bấy giờ muốn Ngài phải làm để đứng lên lãnh đạo cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma đang đè nặng trên Israel, mặc dù vương quốc của Ngài đã được loan báo là sắp đến (x. Mt 3,2), và đã rất gần ; mặc dù Ngài đã mặc nhiên chấp nhận lời tuyên xưng của Nathanaen : “Thầy là vua Ítraen” (Ga 1,49) ; mặc dù Ngài sẽ công bố : “Chính ngài nói đó” trước mặt Philatô khi ông này hỏi Ngài : “Ông là vua dân Do Thái sao ?” (Mt 27,11) ; mặc dù Ngài xác nhận với các môn đệ : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời, dưới đất” (Mt 28,18).
      “Lánh mặt, lên núi một mình”, vì Đức Giêsu không đến trong thế giới, đến với mọi người như một nhà lãnh đạo tài ba, một lãnh tụ quyền lực, một con người “kinh bang tế thế”, nhưng Ngài khẳng định : Ngài đến như lương y, vì “người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau yếu mới cần” (Lc 5,31) ; đến như Đấng tha tội : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,32) ; đến như người cha luôn ban cho con cái những của tốt lành (x. Lc 11,9-13).
   “Lánh mặt, lên núi một mình”, Đức Giêsu không muốn là vua, là lãnh tụ, vì vua, lãnh tụ thì cửa quyền, xa cách, nhưng muốn là người cha nhân hậu để gần gũi,  xót thương, nâng dậy, băng bó, chữa lành con mình trót dại yếu đuối, lầm lỡ sa chân, dại dột hoang đàng, như chính Ngài đã mô tả trong dụ ngôn người cha nhân hậu của Tin Mừng Luca (15,11-32).
    “Lánh mặt, lên núi một mình”, Đức Giêsu đã muốn một lần nữa qủa quyết đường lối và ý muốn trở nên “tôi tớ của các tôi tớ” để phục vụ mọi người : “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,26-28).
   “Lánh mặt, lên núi một mình”, Đức Giêsu đã cho các môn đệ của Ngài một mẫu gương xóa mình như khi  được tung hô, tán tụng trên đường vào thành Giêrusalem, Ngài đã khiêm tốn ngồi trên lưng một chú lừa con, bé bỏng, để các thiếu nữ Xion đừng sợ, vì Đức Vua của ngươi ngự đến rất hiền lành, nhân hậu trên lưng lừa con, không cao sang, hoành tráng, kiêu kỳ (x. Ga 12,12-15).
    “Lánh mặt, lên núi một mình”, Đức Giêsu đã công khai từ chối mô hình người  lãnh đạo trần gian, lãnh tụ trần thế khi thẳng thắn nói với các môn đệ của Ngài : “Anh em biết : thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì  không được như vậy” (Mt 20,25-26).
      Tóm lại, Đức Giêsu, Đấng thiết lập Giáo Hội với phẩm trật là hàng giáo phẩm, tức các Giám Mục, và hàng giáo sĩ tức các Linh Mục, Phó Tế đã từ chối cho chính mình danh dự và vai trò lãnh tụ, và đương nhiên không muốn các Giám Mục, Linh Mục, Phó tế của Ngài trở thành những lãnh tụ theo mô hình lãnh tụ của đời thường, nhà lãnh đạo theo kiểu lãnh đạo của trần thế.
3.     Hiện Tượng “Giáo Sĩ trị” theo Đức Giêsu :
   Thực ra, hiện tượng Giáo Sĩ trị đã có từ thời Đức Giêsu, và các giáo sĩ của hiện tượng này đã làm ngứa mắt Đức Giêsu và Ngài đã nặng lời lên án các ông. Vì thế, không cần phải tìm kiếm xa xôi, nghiên cứu tài liệu này, thống kê kia, mới biết thế nào là thực chất của Giáo Sĩ trị, nhưng chỉ cần tìm về Tin Mừng Mátthêu chương 23, chúng ta sẽ thấy tường tận con người đích thực của cái gọi là “chủ nghiã Giáo Sĩ trị” mà ngày càng làm dân tình chán ngán, làm dân chúng chạy xa, làm giáo dân lo ngại.   
a.     Giáo sĩ trị gồm những giáo sĩ kiêu căng tự cho mình quyền “bất khả xâm phạm” :
    Vì dựa vào “thần quyền”, nghiã là quyền của Thiên Chúa, nên khi một giáo sĩ dựa vào thần quyền mình đã lãnh nhận để thay vì phục vụ người khác lại bắt người khác phục vụ mình, thay vì hy sinh vì đoàn chiên lại bắt đoàn chiên phải hy sinh vì mình, thay vì hiến mạng sống vì con dân lại thí mạng con dân để giữ an toàn sinh mạng mình thì nghiễm nhiên tự cho mình cái quyền bất khả xâm phạm, “vì ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dậy” như các Kinh Sư và Pharisêu đã bị Đức Giêsu trách mắng. Ảo tưởng là “người của Thiên Chúa”, được Thiên Chúa trao quyền từ Trời cao, mà không lệ thuộc, cũng không can dự gì đến người trần thế sẽ rất dễ đưa giáo sĩ sẵn có máu lãnh tụ rơi vào tình trạng ảo tưởng mình là vua, là quan, là thầy dậy với quyền bất khả xâm phạm.
     Bất khả xâm phạm khi cho mình là người được thần quyền tuyệt đối che chở, bảo kê ; bất khả xâm phạm khi coi mình có toàn quyền vì thần quyền được coi là quyền bao phủ trên trời dưới đất. Chính vì ảo tưởng bất khả xâm phạm, mà giáo sĩ thuộc khuynh hướng Giáo Sĩ trị mới đi vào tình trạng bất nhất : “họ nói mà không làm” (Mt 23,3), không làm điều mình nói, không giữ điều mình hứa, không thực hiện điều mình dậy người khác phải thực hiện, không tuân giữ điều mình buộc người khác phải tuân giữ.
      Nhưng được như thế cũng đã là khá, bởi nếu như thế thì chỉ cần làm như Đức Giêsu chỉ dậy, đó là : “Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm thì đừng làm theo.” (Mt 23,3), nhưng trong thực tế, người theo “chủ nghiã Giáo Sĩ trị” sẽ không dừng ở đó, mà nói huyên thuyên theo ý mình ; nói bạt mạng mà không sợ mình “nói hoảng nói tiều” ; nói linh tinh mà không sợ mình nói sai, nói bậy ; nói ngang ngược mà không ngại làm tổn thương, đau khổ người khác, chỉ vì lầm tưởng mình là chân lý, mình “đang cầm trong tay vương trượng, quyền hành của Thiên Chúa”, khi ảo tưởng bất khả xâm phạm lấn chiếm toàn thể tư duy, thái độ sống. Và dấu hiệu của một giáo sĩ  biến chất thành “giáo sĩ trị” chính là ảo tưởng : giáo sĩ là người bất khả xâm phạm.   
       Và vì bất khả xâm phạm, nên khi có ai phê phán, nhắc bảo, sửa sai, góp ý thì đùng đùng nổi sùng, hùng hổ phản công kẻ đã dám to gan đụng chạm đến mình, để rồi thái độ khiêm tốn lắng nghe, bình tĩnh đón nhận ý kiến xây dựng của người khác, nhất là của cấp dưới, giáo dân là một điều hầu như bất khả thi, nếu không muốn nói là bị coi như những xúc phạm nghiêm trọng, những “phạm thánh” khó gột rửa, tẩy xoá đối với những thành phần thuộc khối “giáo sĩ trị” này.
       Chính vì tự cho mình quyền bất khả xâm phạm, nên giáo sĩ rơi vào vũng lầy “giáo sĩ trị” sẽ không chỉ “ngôn - hành bất nhất”, mà còn có những  hành động bất nhân, khi luôn cho mình đúng vì nắm giữ thần quyền, luôn cho mình thánh thiện, vì thuộc hàng ngũ được thánh hiến, luôn cho mình dầy công trạng với nhân loại, vì đã bỏ mọi thú vui trần tục vì Giáo Hội và mọi người. Chính ảo tưởng là ân nhân vĩ đại của nhân loại, thuộc hàng ngũ khanh tướng cao siêu, mà “giáo sĩ biến chất” tự cho phép mình “làm mưa làm gió” trên giáo dân, cho mình cái quyền bất nhân là “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23,4).
        Cũng từ ảo tưởng “bất khả xâm phạm”, “giáo sĩ trị” thoái hoá thành kẻ kiêu căng, khoe khoang, ngạo mạn, và mức độ ảo tưởng càng cao, thì thái độ sống càng hợm hĩnh, lố bịch như đám kinh sư bị Đức Giêsu nghiêm khắc khiển trách : “Họ làm mọi việc cốt để thiên hạ thấy. Qủa vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nlơi công cộng và đuợc thiên hạ gọi là “ráp-bi” (Mt 23,5-7). 
b.     “Giáo Sĩ trị” quy tụ những giáo sĩ kiêu ngạo tự cho mình cái quyền bất khả ngộ :  
       Quyền bất khả ngộ là quyền dành cho Thiên Chúa, vì chỉ một mình Ngài là Chân Lý tuyệt đối, Sự Thật toàn diện, toàn phần, còn loài người chúng ta, vì là hữu thể bất toàn, nên không là Chân Lý, không nắm toàn diện sự thật, bởi lệ thuộc rất nhiều giới hạn. Chỉ riêng Đức Thánh Cha có quyền này, khi ngài công bố một điều gì thuộc phạm vi “luân lý và tín lý” trong tư cách đại diện Đức Giêsu. Thế mà những giáo sĩ trong hàng ngũ “giáo sĩ trị” thì lại tự cho mình cái quyền vô cùng hiếm hoi ở loài người, khi tự nhận mình là “thầy dậy bất khả ngộ” trên bất cứ điều gì họ phán, kể cả những điều sai trái, nguy hại đến sự sống và hạnh phúc của người khác.
     Khi khiển trách đám kinh sư và Pharisêu “thích được thiên hạ gọi là ráp-bi”, nghiã là thầy, Đức Giêsu muốn lật tẩy ảo tưởng bất khả ngộ mà họ tự gán cho mình. Vì cho mình bất khả ngộ, các “giáo sĩ trị” trong đạo Do Thái đã ngang nhiên coi mình là chân lý, và mọi người đều sai, sai nên không có quyền ý kiến, sai nên không được trình bầy, sai nên không được mở miệng minh oan, tự bào chữa. Tự coi mình là chân lý, có quyền bất khả ngộ, “giáo sĩ trị” tự cất bổng mình lên cao ngang hàng thần thánh, có khi ngang hàng Thiên Chúa. Họ quên một điều rất quan trọng mà Đức Giêsu nghiêm nghị nhắc bảo : “Anh em chỉ có một Thầy … Anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời ... Anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô” (Mt 23,8-10).
       Từ ảo tưởng là thầy dạy bất khả ngộ, “giáo sĩ trị” coi mọi người là ngu si, dốt nát, kém cỏi, đần độn và thẳng mặt khinh khi, thẳng tay đàn áp. Khi nêu lên thân phận những bà goá bị đám kinh sư “giáo sĩ trị” nuốt sạch tài sản (x. Mt 23,14), Đức Giêsu muốn làm rõ hình ảnh những giáo dân nghèo khó, đơn sơ, hồn nhiên, đạo đức đã bị  kinh sư đường mật dụ dỗ, nhưng đồng thời cũng hay sợ hãi trước những hù dọa, đe nẹt của đám “giáo sĩ trị” rất ma le, khôn khéo “vừa đánh vừa xoa, vừa đe vừa dỗ” này.
        Qủa thực, hai cám dỗ nặng nề ở “giáo sĩ trị” là tự cho mình bất khả xâm phạm, và bất khả ngộ vì “ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dậy” (Mt 23,2). “Ngồi trên toà ông Môsê” là ngồi trên toà cao nhất, thánh thiện nhất, uy quyền nhất, vì Môsê là người của Thiên Chúa chọn để cứu dân khỏi ách thống trị của Ai Cập ; là nhà lập pháp của Israel, nên từ toà Môsê mà phán thì tất cả đều phải là chân lý tuyệt đối, và người ngự toà này để phán ra chân lý tất nhiên cũng phải có đặc quyền bất khả xâm phạm. Từ hai đặc quyền bất khả xâm phạm và bất khả ngộ tự  nhận riêng cho mình, hiện tượng “giáo sĩ trị” sẽ bùng nổ dữ dội và lan tràn nhanh chóng với rất nhiều lạm dụng mà Đức Giêsu đã không ngần ngại cho là tội ác khi máu người khác đã đổ “giữa đền thánh và đền thờ” (Mt 23,35), và nặng lời lên án họ : “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia ! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục ?” (Mt 23,33).
      Hai cám dỗ nặng nề trên, tuy không được nhắc tới nhiều, vì chúng rất khôn khéo giấu mình, ẩn thân, che đậy dưới nhiều vỏ bọc, nhưng đích thực là nguyên nhân của mọi tệ đoan, lạm dụng trong hàng ngũ “giáo sĩ trị”. Chính chúng  mới là “hai mối tội đầu”, và “hai chân đứng vững chắc” cho gian ác tồn tại, khi cậy mình bất khả xâm phạm để tham lạm bất chính, trấn lột bất công, và bất nhân trong cư xử ; cậy mình bất khả ngộ nên coi thường thiên hạ, phủ nhận lẽ phải, tiêu diệt chứng nhân, người công chính, đàn áp thứ dân “thấp cổ bé miệng” dại khờ, ngây thơ.
    Nhận diện hai cạm bẫy này, giáo sĩ sẽ tránh được những bước chân mang nhiều rủi ro, nguy hiểm đưa đến tình trạng thoái hoá thành giáo sĩ trị, đánh mất lý tưởng cao đẹp của đời tận hiến, và giá trị, ý nghiã thánh thiêng của sứ vụ Mục Tử chăn dắt và chăm sóc đoàn chiên.
    
c.      “Giáo Sĩ trị” bất khả tín :
      Người kiêu căng tự cho mình quyền bất khả xâm phạm, cũng như người kiêu ngạo đòi sở hữu quyền bất khả ngộ sẽ không thể là người lương thiện, đáng tin, vì một lẽ đơn giản : tự bản chất họ đầy bất toàn, và chính họ nhận ra những bất toàn đó, nhưng cố tình đóng kịch, che đậy để giữ ghế.
      Biết rõ mình bất toàn, và người khác cũng nói cho họ biết những bất toàn của họ, nhưng vì kiêu căng, phải khư khư chống chế, vì kiêu ngạo, phải “mồm loa mép dải” tự  biện hộ mình hoàn hảo, nên tất yếu  người kiêu căng, kẻ kiêu ngạo phải thuộc dạng “giả hình, giả dạng, giả dối, giả nhân giả nghiã” mới giữ được chỗ đứng kiêu ngạo bất khả xâm phạm, và kéo dài được thời vận kiêu căng bất khả ngộ của họ.
    Như thế, kiêu căng và giả hình luôn đi song đôi, vì người thành thật thì khiểm tốn, khiêm tốn vì nhận ra sự thật bất toàn của mình một cách lương thiện, chân thành. Có nhìn ra thiếu sót, tội lỗi của mình cách chân thật, người ta mới khiêm nhường nhận mình là người bất toàn, còn nhiều khuyết điểm, yếu đuối. Vì thế, kẻ kiêu căng càng tự coi mình là bất khả xâm phạm, bất khả ngộ, họ càng giả hình, trí trá, đội lốt để đến một lúc, người ta sẽ khám phá sự thật và đánh giá họ là “bất khả tín, không đáng tin cậy”.
     Vì bất khả tín, họ trở thành người giả hình, hay ngược lại, vì giả hình họ trở thành kẻ bất khả tín, hậu qủa của kiêu căng, tự coi mình là số một trong khi mình chưa là số mười ; tự xếp mình vào hàng lãnh tụ, trong khi mình “vô tài, bất tướng” ; tự nâng mình lên hàng khanh tướng, trong khi mình chỉ là kẻ “thánh tướng, hoang tưởng”.
     Khi lên án những kinh sư và Pharisêu mang não trạng “giáo sĩ trị”, Đức Giêsu đã gọi họ là những kẻ giả hình : chiếm đọat tài sản của bà goá nghèo, cô thế, mà “làm bộ đọc kinh lâu giờ” (Mt 23,14) ; chi li trong chuyện “nộp thuế  thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín” (Mt 23,23) ; “chén điã bên ngoài thì rửa rất sạch, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ” (Mt 23,25) ; mồ mả thì  tô vôi, “bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23,27). Thật đáng sợ khi nghe những lời lên án đanh thép từ miệng Đức Giêsu trước các kinh sư, Pharisêu kiêu căng, giả hình này !
      Đây là hậu qủa tai hại mà “giáo sĩ trị” sẽ phải chuốc vào thân, khi giáo dân một ngày nào đó khám phá sự khác biệt “một trời một vực” giữa những trang y phục, mũ mão, dáng dấp uy nghi bên ngoài và đời sống thực, con người thực, nếp sống trần trụi, “nguyên con”, không còn có thể che đậy của họ. Những khác biệt khó có thể  hiểu nổi sẽ làm chết đứng người tín hữu, khi thần tượng được coi là thánh thiêng của họ bất ngờ sụp đổ ; tình trạng không phù hợp giữa những lời dậy dỗ nghiêm nghị, không sai sót một dấu phẩy của Lề Luật và nếp sống xa hoa, sa đọa, sa đà bằng những phương tiện vật chất thu gom cách bất chính của người khác nơi “giáo sĩ biến chất” sẽ làm đau điếng những người đã một thời “sùng bái”, kính sợ họ. Và tất nhiên, những giáo sĩ rơi vào hiện tượng này sẽ trở thành những kẻ không đáng tin cậy, những người “bất khả tín”, là hình phạt tinh thần nặng nề đối với những con người có mặt trong đời để người khác tín thác, tin tưởng, trao gửi tâm sự , gửi gắm bí mật cuộc đời nhiều oan khiên, tội lụy, và đợi chờ ở họ lời cầu bầu thứ tha.
4.     Dung mạo đích thực Đức Giêsu chờ đợi ở hàng giáo sĩ :
   Như đã trình bày ở trên : Đức Giêsu không đào tạo các Tông đồ và môn đệ của Ngài thành những lãnh tụ, vì Ngài biết : đã là lãnh tụ tức  phải thống trị, là lãnh đạo thì phải cai trị, mà đã thống trị, cai trị thì rất khó tránh khỏi hống hách, quan quyền, hung hăng, ngạo mạn, tự đắc, rồi từ đó đi vào lãnh địa của độc tài, độc đoán, độc ác, bởi quyền lực là cám dỗ khủng khiếp hơn tất cả các cám dỗ khác.
    Khi từ chối được dân chúng tôn làm vua, làm lãnh tụ, cũng như khi khuyến cáo các tông đồ nguy cơ của kẻ quyền thế là bắt người khác phục vụ mình, là “ngồi trên đầu trên cổ” người khác, nhất là khi thẳng thừng vạch mặt những kinh sư, đại diện cho hàng ngũ “Giáo Sĩ trị”, Đức Giêsu đã cương quyết từ chối mô hình đào tạo hàng giáo sĩ trở thành những ông quan, những kẻ làm đầu thiên hạ, những khanh tướng, những giáo sĩ được truyền chức để thống trị, và loại bỏ khỏi những người được tuyển chọn làm giáo sĩ này não trạng lãnh tụ, lãnh đạo, nhà quản trị tài ba, quyền thế. Trái lại, Đức Giêsu đã kêu gọi và huấn luyện các tông đồ, môn đệ của Ngài thành những Mục Tử nhân lành chăn dắt và chăm sóc đàn chiên là Giáo Hội của Ngài :
a.      Đức Giêsu nhận mình là Mục Tử nhân lành và giáo sĩ cũng phải trở nên Mục Tử nhân lành giống như Ngài :
    Chưa bao giờ Đức Giêsu nhận mình là lãnh tụ, nhưng chỉ nhận mình là Mục Tử nhân lành : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11). Và người được Đức Giêsu tuyển chọn cũng phải trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài, tức trở nên như Ngài là Mục Tử nhân lành.
     Trong bữa tiệc ly, trước khi lên đường chịu tử nạn, Đức Giêsu đã trăn trối cho các môn đệ thân thương của Ngài nhiều điều như : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34) ; “Người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy là anh em thương yêu nhau” (Ga 13,35) ; “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng ở đó với Thầy.” (Ga 14,3) ; “Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4) ; “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy …Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,13-15).
     Tất cả những lời ân tình xuất phát từ trái tim đầy tình yêu của Đức Giêsu đã nói lên Ngài yêu thương các môn đệ, tức các giáo sĩ của Ngài đến mức nào : Ngài khẳng định yêu các vị rất nhiều, yêu đến hy sinh mạng sống ; qủa quyết các vị là bạn hữu thân tín ; biểu lộ ý muốn các vị ở với Ngài, và trong Ngài. Những lời ân tình đó cũng nói lên đòi hỏi các vị phải nên giống Ngài trong mọi sự, từ ước mơ, thao thức đến chọn lựa, việc làm, bởi bạn hữu thì biết hết việc của nhau và nói cho nhau nghe hết những gì thầm kín, bí mật, vì tình yêu giữa bạn hữu thì cao cả đến độ sẵn sàng hy sinh ngay cả mạng sống cho bạn hữu của mình.
     Vì thế, sẽ không có lý do giáo sĩ của Đức Giêsu lại không giống Đức Giêsu, Đấng đã tuyển chọn và truyền chức cho mình. Chẳng thế mà giáo sĩ được gọi là Đức Kitô khác : Alter Christus, nghiã là nên giống Đức Giêsu trong mọi sự, chứ không khác Đức Giêsu quá nhiều và qúa xa. Và điều Đức Giêsu đòi các vị phải nên giống Ngài khi được chọn vào hàng giáo sĩ chính là trở nên Mục Tử nhân lành như Ngài.  
b.     Những đòi hỏi ở Mục Tử nhân lành :
   Đức Giêsu vẽ thật rõ nét chân dung Mục Tử nhân lành mà Ngài là, và các giáo sĩ của Ngài phải trở nên : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên, và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không biết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi  và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10, 11-15).
     Trước hết, Đức Giêsu loại bỏ ngay mẫu người chăn thuê, vì đây là cám dỗ nguy hiểm nhất ở người được gọi trở thành Mục Tử nhân lành. Tại sao là cám dỗ nguy hiểm ?
     Thưa vì làm kẻ chăn thuê sẽ không vất vả như làm Mục Tử chân chính, nhân lành, vì không phải mất công, mất giờ để biết rõ từng con chiên ; không cần phải lo lắng bảo vệ chiên khi sói dữ tấn công ; không nặng lòng, xót xa khi chiên bị sói vồ, ăn thịt ; không phải trăn trở khi chiên đau, chiên bệnh ; không mất ăn, mất ngủ khi chiên lơ đãng lạc đàn ; không phải tất tưởi “chạy đôn chạy đáo” đi tìm đồng cỏ xanh, suối nước trong cho chiên no đủ và nghỉ ngơi ; không phải vất vả thức khuya dậy sớm coi chừng kẻ trộm lẻn vào chuồng  “ăn trộm, giết hại” chiên (x. Ga 10,7-10) ; nhất là không phải liều mất mạng sống của mình vì đoàn chiên. Chính vì không vất vả mà lại có ăn ; không hy sinh mà lại có tiếng ; không thiệt thòi, mất mát mà lại có chỗ đứng hàng đầu, chỗ ngồi phiá trước ; không đóng góp, trao tặng  mà lại phủ phê, dư dật nhờ uy thế, bổng lộc ; không “máu đổ, đầu rơi”, mà cứ phây phây làm lãnh đạo, lãnh chúa, nên chỗ đứng của kẻ chăn thuê trở nên hấp dẫn, lôi cuốn những người được chọn làm mục tử.
     Đức Giêsu biết sẽ có những kẻ chăn thuê lọt vào hàng ngũ mục tử, nên đã cảnh báo rất rõ ràng chân tướng của kẻ chăn thuê rất nguy hiểm này. Và Ngài cho chúng ta “chià khoá” để nhận diện kẻ chăn thuê đã lọt vào chuồng chiên, và nhận ra ai là Mục Tử nhân lành. Chià khóa đó là: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14).
     Biết chiên mình chăn dắt là điều kiện tối quan trọng của Mục Tử chân chính và nhân lành, bởi không gì tai hại và vô trách nhiệm hơn khi Mục Tử có nhiệm vụ chăn dắt, và  chăm sóc chiên lại không biết rõ chiên mình chăn dắt, chăm nom. Đức Giêsu đã lấy tiêu chuẩn “biết chiên” để phân loại kẻ chăn chiên thuê và Mục Tử đích thực, xứng đáng như lòng Chúa mong ước, vì có biết mới yêu thương ; có biết mới thấu hiểu, cảm thương ; có biết mới chữa đúng bệnh, mới băng bó đúng vết thương ; có biết mới nghe đuợc tiếng chiên thở than, thì thầm, thỏ thẻ, rên rỉ ; có biết mới giải toả ẩn ức, mặc cảm chôn sâu tận đáy lòng chiên ; có biết mới cứu chiên khỏi hiểm nguy, gian truân, sóng gió và có biết mới “cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
     Đức Giêsu đặt nặng đòi hỏi phải biết chiên, nhưng Ngài không dừng lại  ở “cái biết bình thường”, biết ở tầm vóc, mức độ nhân loại, nhưng nâng cái “biết chiên” của Mục Tử lên ngang tầm cái biết giữa Ngài với Thiên Chúa Cha : “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha” (Ga 10,14-15). Chính vì biết chiên trở nên biết Chúa Cha, mà Mục Tử đã có thể sẵn sàng “hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).
     Để kết luận, chúng ta không thể chối cãi Đức Giêsu đã lên án những giáo sĩ thuộc hàng ngũ “giáo sĩ trị”, vì họ phản bội lời thề phục vụ đoàn chiên với tấm lòng yêu thương dạt dào và hy sinh đến sẵn sàng mất mạng sống vì đoàn chiên, khi lãnh nhận hồng ân và trách nhiệm Mục Tử và trở nên Mục Tử nhân lành như Đức Giêsu. Chúng ta cũng không nghi ngờ gì về những tai hoạ mà “chủ nghiã giáo sĩ trị” mang lại cho dân Chúa. “Chủ nghiã” này không những phá hoại nội bộ Giáo Hội mà còn đóng mọi con đường dẫn muôn dân đến gặp gỡ Đức Giêsu trong Giáo Hội của Ngài. Chúng ta cũng xác tín mẫu gương Mục Tử nhân lành trong Tin Mừng Gioan, chương 10 là chân dung đích thực và xứng đáng của hàng giáo sĩ mà Đức Giêsu mong đợi cho Giáo Hội của Ngài. Qua mẫu gương Mục Tử nhân lành là Đức Giêsu, hàng giáo sĩ sẽ không mất hướng, không mất lửa, không lạc mất từng bước chân, dấu chân Mục Tử của Đức Giêsu, vị Mục Tử nhân lành đã đến, và “tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18), “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
       Các nước Âu -Mỹ với phong trào giải phóng con người ngày càng dâng cao đã không ngừng đưa vấn đề “Giáo Sĩ trị” ra bàn cãi, tranh luận và cả đàm tiếu, diễu cợt, với ý hướng xây dựng thì ít, nhưng đả phá, bài bác, bôi nhọ Giáo Hội thì nhiều. Việt Nam chúng ta không ở vào tình trạng này, nhưng điều đó không có nghiã là sẽ không bao giờ xẩy ra. Sự khôn ngoan luôn đòi phải tiên liệu : tiên liệu để tránh cho Giáo Hội hiện tượng “Giáo Sĩ trị” có thể xẩy ra. Nhưng để tiên liệu thì phải biết rõ thực chất của hiện tượng, bởi có biết mới tiên liệu được, có biết đúng mới tiên liệu đúng, nên việc người tín hữu được biết trước, biết rõ để phòng ngừa, ngăn chặn thiết tưởng là điều cần thiết và nên khuyến khích, mà không nên hiểu một cách tiêu cực như việc “vạch áo cho người xem lưng”, hay thách thức, khiêu khích hàng giáo sĩ.     
       Xin Đức Giêsu là Mục Tử nhân lành thương gìn giữ các Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế trong Giáo Hội, để các vị không rơi vào cám dỗ của “Giáo Sĩ trị”, bằng yêu thương chiên, hiểu biết chiên, ở với chiên, có được mùi chiên để chăn dắt và chăm sóc chiên với trái tim đầy thương xót biết “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7), nhất là hy sinh tất cả, kể cả “mạng sống mình cho đoàn chiên” như Đức Giêsu, vị Mục Tử tối cao và tuyệt đối nhân lành (Ga 10,15). 
Jorathe Nắng Tím