Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2019

TRƯỚC DI ẢNH NGƯỜI QÚA CỐ

                               Lễ cầu nguyện cho các Linh Hồn
Ngày xưa còn trẻ, mỗi lần đi đám tang, tôi chẳng bao giờ nghĩ phận mình cũng sẽ chết như người chết nằm trong quan tài trước mặt, và tỉnh bơ coi như người khác chết, còn ta bất tử… Lớn lên, rồi già theo thời gian lạnh lùng rảo bước, tôi nhận ra ở mình những dấu hiệu gần đất xa trời như đầu óc lẩm cẩm, chân bước liêu xiêu, mắt mũi, ruột gan, tim phổi thường xuyên bất ổn, lúc này tôi mới giật mình hoảng hốt : rồi một ngày không xa cũng sẽ đến phiên khép mình lặng lẽ trong quan tài buồn thảm.
Kinh Thánh  không ngừng nhắc nhở con người phải chết. Ngay từ chương 3 của Sách Sáng Thế, Thiên Chúa đã phán : “Vì từ đất ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19), đến thánh Tông Đồ dân ngoại trong thư gửi giáo đoàn Corinthô cũng nhắc lại chân lý ngàn đời, không thay đổi này : “Mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết” (1 Cr 15,22).
Hôm nay nhìn lên di ảnh của ông bà, cha mẹ, họ hàng thân thuộc, bạn hữu xa gần trong ngày lễ cầu cho các linh hồn, tôi đọc được qua ánh mắt các vị những gì các vị muốn nói:
1.   Các vị cũng đã sợ chết, như chúng ta đang sợ.
Sợ ra đi một mình vào thế giới hoàn toàn xa lạ ; sợ bỏ lại người thân, cuộc đời ; sợ lỗi lầm còn chồng chất, tội khiên còn ngập tràn ; sợ “Chúa im hơi lặng tiếng” “bắt con phải chết cùng quân tội lỗi, với phường ác nhân” (Tv 28,1.3) ; sợ “Chúa chấp tội”  thì làm sao con đứng vững ? (x.Tv 130,3), sợ “bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ” (Tv 31,13).
2.   Các vị đã hy vọng như chúng ta đang hy vọng :
Hy vọng  trong Đức Giêsu phục sinh, như thánh Phaolô dậy : “vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Kitô cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng nơi Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,17-19).
Hy vọng được sống lại với Đức Giêsu : “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người : đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8). “Anh em đã được cùng mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết” (Cl 2,12).
Hy vọng  được Chúa thứ tha mọi lỗi lầm, “vì Người là Đấng từ bi, và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương. Người không xử với ta như ta đáng tội, và không trả cho ta theo lỗi của ta” (Tv 102, 8-10).
Hy vọng Chúa là người cha nhân hậu đã không chấp tội con mình, nhưng tình cha trước sau như một, vẫn “chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ”  người con hoang đàng thống hối khi con còn ở đằng xa trên đường về, lại sai đầy tớ “mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”  (Lc 15,22-24).       
3.   Các vị đã cầu xin  ơn thương xót như chúng ta đang kêu cầu ơn thương xót cho các vị :
Ở giờ lâm chung, khi miệng lưỡi đã tê cứng, thân xác chết dần, các vị chỉ có thể ú ớ, thều thào như người tử tội bị đóng đinh bên phải Đức Giêsu : “Lậy Đức Giêsu, xin nhớ đến con trong Nước của Ngài” (Lc 23,42), và như những người bệnh tật, bị qủy ám ngày xưa đã sấp mặt trên đường đón Chúa đi qua và tha thiết khẩn nài : “Lậy Đức Giêsu, xin thương xót con !” .
Cùng với các vị và cho các vị, cùng toàn thể  Hội Thánh chúng ta dâng lời cầu : “Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ, cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng, vui vẻ vô cùng. Amen”.
4.   Các vị đã bình an phó thác linh hồn trong tay  Chúa là Cha toàn năng và  giầu lòng thương xót, trước sự hiện diện từ mẫu của Đức Mẹ :
Vừa lặp lại lời cầu nguyện của Đức Giêsu trên thánh giá, giờ hấp hối : “Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46), các vị vừa nắm chặt tay Đức Mẹ và bình an trút hơi thở cuối cùng, trong lời kinh thuộc lòng từ tấm bé : “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen”.
Vâng, ở giờ lâm tử, chỉ còn Đức Mẹ là Đấng ủi an, trạng sư bênh đỡ có thần thế trước mặt Thiên Chúa, và là Đấng duy nhất biết con đường  ngắn nhất, nhanh nhất, dễ nhất đưa kẻ có tội về với Chúa Giêsu, nên vai trò của Đức Mẹ cực kỳ quan trọng ở giờ phút quyết định số phận đời đời của mỗi người. Vì thế, hạnh phúc của những ai yêu mến Đức Mẹ là được chết bình an trong tay Mẹ và được cùng Mẹ đi gặp Chúa Giêsu, Con Mẹ yêu dấu, khi linh hồn ra khỏi xác.
Tháng các Linh Hồn, như Bạn, tôi nhớ lắm và cầu xin ơn tha phần phạt cho những người khi còn sống đã yêu thương, cưu mang, sinh dưỡng, giáo dục, cứu giúp, nâng đỡ, ủi an, bênh vực  tôi trên hành trình cuộc sống của họ ; những người khi sinh thời đã đau khổ, nhục nhã, bị tổn thương, chịu thiệt thòi cách này cách khác vì tôi ; những người lúc sống đã vì tôi mà xa Chúa, do tôi mà mất đức tin ; những người ở dương gian đã không nhận được ở tôi lòng trắc ẩn, tình huynh đệ, việc làm bác ái ; những người khi còn sống đã có lúc kỳ vọng ở tôi rất nhiều, để khi chết mới thấy tôi chẳng có gì, chẳng ra gì, nhưng tội lỗi, tầm thường, và rất bất xứng ; cả những người tôi đã một lần ganh ghét, thù hận, giận dỗi hoặc giận dỗi, thù hận, ganh ghét tôi.
Tôi nhớ tất cả các vị và cúi mình cảm tạ, xin thứ lỗi !
Tôi thành kính tưởng niệm và cùng Hội Thánh thiết tha nguyện cầu cho tất cả các vị ơn Thương Xót và Bình An trong Đức Giêsu, là Thiên Chúa từ bi và nhân hậu  đến “để tìm và cứu những gì đã hư mất” (Lc 19,10) ; là Mục Tử nhân lành “đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10) ; là Đấng đã nói với Mácta, khi gọi Ladarô, em cô ra khỏi mồ : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).   
Trong niềm hy vọng vào Đức Kitô phục sinh, tôi hẹn gặp tất cả các vị trong Nước của “Thiên Chúa từ bi, nhân hậu, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung” luôn rộng lòng xót thương kẻ có tội.
 Jorathe Nắng Tím

“TRẺ ĐẸP” MÃI VÌ YÊU THƯƠNG

Mừng Kính Các Thánh Nam Nữ
Là người, ai cũng thích trẻ đẹp, kể cả người luống tuổi cũng níu kéo tuổi trẻ, sắc đẹp của mình bằng chạy đến mỹ viện, cậy nhờ son phấn, trong nuối tiếc thời thanh xuân trẻ đẹp, vì trẻ đẹp là ước mơ khôn nguôi của mọi người.
Trẻ là mơ ước, vì tuổi trẻ hào phóng, quảng đại ; người trẻ dễ gần, dễ thương, dễ cảm thông, chia sẻ ; đời trẻ hăng say, không sợ nguy hiểm, bất chấp thử thách, gian nguy, thế hệ trẻ tràn đầy sức sống, niềm vui, hy vọng. Bên cạnh mơ ước “trẻ” là ước mơ “đẹp”, vì người đẹp được chiêm ngưỡng, yêu thương, ca tụng ; nét đẹp luôn làm phấn khởi lòng người, và sắc đẹp ở đâu và thời nào cũng  là lợi thế không thể chối cãi.
Nhưng thực tế cho thấy mơ ước vẫn mãi là ước mơ, nếu chẳng may không được sinh ra với nhan sắc mặn mà, để một thời được đời gọi là “người đẹp” ; và  một điều không thể tránh, đó là mai ngày tuổi già ập đến, tóc bạc, da nhăn, lưng còng, chân mỏi, và “trẻ đẹp” hờ hững bỏ đi như những giòng sông buồn, cô quạnh.
Chính trong nỗi buồn của những giòng sông cuộc đời không còn trẻ đẹp, Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta những con người không bao giờ hết đẹp, và chẳng bao giờ già nua, những con người đã thực hiện trọn vẹn ước mơ trẻ đẹp của đời mình, vì không chỉ trẻ đẹp mãi dưới ánh mắt, mà còn trong trái tim của Thiên Chúa và loài người. Họ là những con người thánh !
Trước hết, Đức Giêsu giới thiệu những “con người thánh” là những người được Thiên Chúa chúc phúc : họ được chúc phúc vì nghèo khó, hiền lành, công chính, nhân hậu, hay xót thương, trong sạch, yêu mến và xây dựng hoà bình, và bị vu khống, bách hại vì danh Chúa (x. Mt 5, 3-12).
Nhưng có phải họ nghèo khổ, hiền lành, bị bách hại … vì lười biếng, ngu ngốc, khờ dại, hay thiếu khôn ngoan, khéo léo trong cuộc sống không ?
Thưa họ chịu thiệt thòi, thua kém người đời đến nỗi trở nên nghèo khó, bị rơi vào cảnh sầu khổ, bị thiên hạ hàm oan, lên án, chịu mất mát, lép vế, xử tệ vì yêu thương những người anh em của mình. Có người trong số họ nghèo vì quảng đại chia sẻ, sầu buồn vì mang lấy gánh nặng tang thương của người khác, bị hồ đồ tố cáo vì quên mình phục vụ, bị oan uổng kết án vì hết lòng xót thương và hết tình bênh vực, cứu giúp người cô thế, bần cùng, không tiếng nói. Cuộc đời họ trở thành những trang sử bi hùng, không vì “vinh thân phì gia” nhưng vì người khác đang cần trái tim chạnh lòng thương xót và bàn tay chia sẻ của họ ; tiếng tăm, danh dự, chỗ đứng của họ bị đe dọa, bôi nhọ, giật sập vì sự sống và hạnh phúc của những anh chị em “thấp cổ bé miệng” bị đời đàn áp, bóc lột.
Tóm lại, những con người thánh luôn thiệt thòi nhiều, mất mát nhiều, thua lỗ nhiều vì anh em ; họ khổ nhiều nỗi, truân chuyên đủ mặt, vất vả đủ kiểu cho sự sống và tương lai của nhiều người, và dưới con mắt người đời, họ là những người không khôn, không khéo. Và một điều chắc chắn : họ đã không nghèo khổ, nhục nhằn, chịu oan sai, lên án, nếu đã ích kỷ co cụm, lo cho thân mình, mà không xả thân gánh vác việc thiên hạ, hy sinh vì hạnh phúc của tha nhân, chạnh lòng thương xót anh chị em cùng khốn. 
Nhưng phúc cho họ, vì chỉ một mình Thiên Chúa biết họ khôn, vì họ yêu thương và họ được Thiên Chúa ủi an, được nhìn thấy Thiên Chúa, được Nước Trời làm gia nghiệp và phần thưởng lớn lao trên trời. Và vì có Thiên Chúa, có Nước Trời, họ đạt trọn vẹn ước mơ trẻ đẹp trong Thiên Chúa là Tình Yêu .
Qủa thực, trong Tình Yêu, Thiên Chúa là mùa xuân vĩnh cửu mãi mãi làm tươi trẻ tuổi thanh xuân của họ, để họ không bao giờ phải già nua, vì tình yêu luôn làm họ tươi trẻ. Chính tình yêu đã làm tâm hồn một thánh Giáo Hoàng Phaolô II trở thành mùa xuân bất tận của tuổi trẻ thế giới, dù tuổi đời của Ngài cao và sức khoẻ  tiêu hao, tàn tạ những năm cuối đời. Ai có thể nói tâm hồn của vị thánh Giáo Hoàng của thế kỷ XX này già nua, cằn cỗi, lạc hậu, bảo thủ ? Ai có thể tìm ra những tiêu cực của tuổi già ở vị thánh của giới trẻ thời đại, ngay cả trên giường bệnh ? Những phong trào trẻ trên khắp thế giới được khai sinh từ “tinh thần trẻ”  Gioan Phaolô II, những đại hội giới trẻ thế giới hằng năm từ sáng kiến của vị giáo hoàng suốt đời thao thức làm trẻ trung Đức Tin ở giới trẻ lôi cuốn hàng triệu bạn trẻ khắp nơi về gặp gỡ, chia sẻ làm chứng điều này, bởi chỉ có tình yêu Đức Giêsu mới làm tươi trẻ mãi cuộc đời của những con người thánh như ngài.
Một con người thánh khác, cũng cùng thời đại chúng ta, là Mẹ Têrêsa Calcutta. Nhìn vào cuộc đời của Mẹ, ai dám bảo đó là cuộc đời không đẹp ? Trái lại, mọi người đều trầm trồ ca ngợi Mẹ là con người sống đẹp, sống cuộc đời rất đẹp khi yêu thương và hiến thân phục vụ những con người bị xã hội xô đẩy xuống đáy vực thẳm cuộc đời. Thử hỏi hoa hậu nào đẹp hơn Mẹ ? Mỹ nhân nào đáng yêu, đáng mến hơn Mẹ ? Và một lần nữa, chính tình yêu Đức Giêsu đã làm đẹp mãi con người và cuộc đời con người thánh Têrêsa Calcutta.
Mừng kính các Thánh nam nữ, chúng ta chiêm ngưỡng cuộc đời tươi đẹp của các vị, nhưng quan trọng hơn cả là nhận ra đâu là “bí quyết” đã làm các vị trẻ mãi không già, đẹp hoài không phôi pha, tàn tạ. Bí quyết đó là Tình yêu : tình yêu đã cho các vị được trẻ mãi khi hiện diện sống động và hạnh phúc trong Thiên Chúa và trong tâm hồn anh chị em mình ; tình yêu đã làm các vị đẹp mãi đời đời, vì được Thiên Chúa trang điểm bằng Hồng Ân, và nét đẹp kiều diễm, tráng lệ, thánh thiện của các vị không ngừng thôi thúc, lôi cuốn trái tim người khác nôn nao muốn trở nên giống các vị.
Vâng, khi chiêm ngắm các Thánh nam nữ trên trời, chúng ta mới nhận ra : chỉ Tình Yêu mới bảo đảm đời đời nét trẻ đẹp của chúng ta, vì chúng ta chỉ trẻ mãi, đẹp mãi trong trái tim và cuộc đời của những người chúng ta yêu thương, phục vụ với tình yêu, và vì tình yêu ; chúng ta chỉ  tươi trẻ và xinh đẹp trong sự sống và hạnh phúc mà chúng ta đã cưu mang, xây dựng nơi người khác ; chúng ta chỉ hiện diện với niềm vui rạng rỡ của tuổi trẻ, và sức hấp dẫn lạ thường của nhan sắc trong người khác, bên những bó lúa vàng lung linh nước mắt hy sinh, và óng ánh mồ hôi của tháng ngày yêu thương, phục vụ ; và chúng ta, những con người tội lỗi, chưa đạt đến độ “làm người thánh” như các Thánh nam nữ sẽ chỉ thực sự được trẻ mãi không già, đẹp hoài không xấu, khi  tìm đến và ở lại trong Thiên Chúa là Tình Yêu không đổi dời, không lừa dối, không dập dờn lên xuống, nhưng trước sau vẫn một tình Cha thương con, vẫn một lời hứa : “tất cả những gì của Cha là của con” (Lc 15,31), vẫn đời đời  một mực trân qúy và “đi tìm cho kỳ được” những gì đã mất (Lc 15,4), vẫn luôn hào sảng “mở tiệc ăn mừng, vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, 23-24).
Chính ở Tình Yêu đời đời bất diệt, không đổi thay, nhưng trung tín đến cùng và sâu thẳm tận cùng của Thiên Chúa, dù chúng ta yếu đuối, thay đổi không ngừng, phản bội không hổ thẹn, mà cuộc đời chúng ta được bảo đảm luôn trẻ, đẹp, vì chính Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ nhân hậu sẽ làm tươi trẻ, xinh đẹp cuộc đời mau già nua, héo úa của chúng ta, như đã làm cho các Thánh được bất tử trong tuổi trẻ và sắc đẹp thánh thiện của hồng ân “được làm người để sống yêu thương như Thiên Chúa là Tình Yêu”.
Jorathe Nắng Tím      

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2019

KHI NGUỜI TỘI LỖI CẦU NGUYỆN

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXX Thường Niên, Năm C  
Tin Mừng Luca với dụ ngôn “người Pharisêu và người thu thuế” qủa thực là niềm hy vọng lớn cho  tôi lúc này, lúc mà tâm hồn đang hoang mang, sợ hãi sau khi đọc bài viết của một linh mục kể lại giấc mơ kinh hoàng, ở đó, rất đông giáo dân cũ của ngài đã từ hoả ngục về gặp ngài và  cho ngài biết họ đã không được cứu rỗi vì những tội trọng đã phạm ngày xưa trên dương thế. Với Lời Chúa của Chúa Nhật XXX, Thường Niên, Năm C, tôi đã tìm lại được bình an, hy vọng không phải của người thánh thiện, vô tội, nhưng của người tội lỗi, như những người tội lỗi đã từ hoả ngục hiện về với vị linh mục kia, chỉ khác một điều là tôi cố gắng học cách cầu nguyện của người thu thuế tội lỗi đã được Chúa “cho nên công chính” khi trở về.   
Tin Mừng vẽ lên hai con người : cả hai cùng lên đền thờ cầu nguyện, cùng đến trước Thiên Chúa, cùng cất tiếng, mở lời thân thưa. Nhưng người Pharisêu thì đứng thẳng, nguyện thầm rằng :“Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18,10-12). “Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ  tội lỗi” (Lc 18, 13).
Chẳng nói thì mọi người cũng thấy: người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện hôm ấy trong tư thế của một người đạo đức hoàn hảo, thánh thiện từ trong ra ngoài, công trạng dầy đặc tận chân răng. Bằng chứng là ông “thánh sống Pharisêu” ấy đã  hãnh diện, tự mãn kê ra hàng loạt các nhân đức mình có, bằng cách so sánh mình với những người bê bối, nguội lạnh, tội lỗi, và ngạo nghễ chê bai, khinh bỉ đời sống của họ. Ông Pharisêu đã khéo phê bình người là tham lam, để  tuyên dương mình là quảng đại ; chỉ trích người là bất chính để ca ngợi mình là người công chính ; lên án người là bọn ngoại tình, để làm nổi bật mình là người chung thủy, tiết độ. Như thế vẫn chưa hả dạ, người  Pharisêu ấy còn tự cho mình là thánh thiện khi lải nhải kể đến chuyện ăn chay, dâng cúng tiền cho đền thờ, góp công góp của xây dựng, mở mang Nước Chúa. Và khi đã nhả cho bằng hết kho tàng các nhân đức, và công trạng, ông liền sực nhớ có tên thu thuế tội lỗi đầy mình phía sau. Thế là ông lấy nó làm đối điểm, chọn nó làm bàn đạp, hầu làm rực sáng đời sống tuyệt vời thánh thiện của mình, và tự bật mình lên thật cao trước vực thẳm tội lỗi của người thu thuế đang “đứng đàng xa, chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực”, vừa xin ơn thương xót (Lc 18,13).
Rất khác với tư thế “hoàn hảo, thánh thiện, đạo đức” của người Pharisêu, người thu thuế đã lên Đền Thờ cầu nguyện trong tư thế của người tội lỗi, vì biết mình vô cùng bất xứng trước Thiên Chúa.
Biết mình có tội, rất nhiều tội, người thu thuế lấm lét, thẹn thùng, mang đầy mặc cảm tội lỗi khi bước vào Đền Thờ. Vì thế, ông chỉ dám đứng đàng xa, mà không dám tiến lên gần cung thánh, gần bàn thờ, gần Nhan Thiên Chúa như người Pharisêu hãnh tiến vì cho mình là người đạo đức, công chính kia. Biết mình vô số tội, mà tội nào cũng nặng, cũng trọng, cũng xấu xa, gớm ghiếc, người thu thuế đã chỉ cúi mặt nhìn đất, không dám ngước cao nhìn trời ; chỉ dám cúi mình thật sâu nhìn nhận mình là kẻ có tội và tha thiết van xin lòng thương xót, bao dung, khoan hồng.
Sự khác biệt căn bản giữa hai nhân vật được kể trong Tin Mừng là một người Pharisêu khoác cho mình vai diễn của người đạo đức, trong sạch, thánh thiện, đầy công đức, trong khi người thu thuế không nhập vai ai, không mang lấy lớp áo của người nào, nhưng sống thực với chính con người tội lụy, bất xứng và đáng lên án, nguyền rủa của mình. Rất tiếc, bên cạnh sự khác biệt đó, luôn có một mẫu số chung trước mặt Thiên Chúa, Đấng thông biết mọi sự, và thấu suốt mọi tâm hồn, đó là cả hai người đều chung một phận người tội lỗi luôn cần được Thiên Chúa xót thương.
Như thế, người Pharisêu hoặc không biết, hoặc cố tình không biết mình chưa hoàn hảo, thánh thiện, trong khi người thu thuế thú nhận ngay từ đầu mình là kẻ tội lỗi qua thái độ khiêm tốn, kín đáo, lấm lét khi bước vào Đền Thờ.
Và chung cuộc đã thật bất ngờ với lời tuyên bố của Đức Giêsu trước những người có mặt hôm ấy : “Tôi nói cho các ông biết : người thu thuế này khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18, 14).     
Lời Đức Giêsu đã chính thức xác nhận : người thu thuế tội lỗi đã được tha hết tội, vì khiêm tốn biết mình có tội và thú nhận mình là người tội lỗi cần đến lòng Chúa xót thương ; còn người Pharisêu, vì kiêu căng đã tưởng mình thánh thiện, nghĩ mình hoàn hảo, tự nhận mình đạo đức đã không được nên công chính, vì thực sự ông đã không công chính như ông ảo tưởng và tự tuyên dương, đánh bóng, ca ngợi.  Tội của ông là tội kiêu ngạo, tưởng mình xứng đáng hơn mọi người ; tội của ông là tội thiếu bác ái, khi liếc mắt khinh mạn, coi thường người thu thuế tội lỗi lầm lũi, ẩn mình đàng xa, tận cuối Đền Thờ ; tội của ông là tội không cần ơn cứu độ khi tự mãn cho mình không cần ơn thứ tha ; tội của ông là tội đóng chặt trái tim trước yếu đuối của anh em, và khoá kỹ cửa tâm hồn trước Thiên Chúa cứu độ ; và quan trọng hơn cả là ông đã lên Đền Thờ để phô trương trước Thiên Chúa và “lên mặt” với mọi người, mà không hề cầu nguyện. Khác với người Pharisêu, người thu thuế có nhiều tội, nên lấm lét, run sợ vì chẳng có gì tốt đẹp để có thể kể ra trước mặt Thiên Chúa, ngoài tâm hồn tan nát vì biết mình có tội và lòng khiêm tốn nài xin ơn thương xót, thứ tha, và điều bất ngờ làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn cả nơi ông, chính là ông đã cầu nguyện với lòng thành và tâm tình thống hối, khi khiêm tốn đấm ngực và thưa rằng : “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13).
Lạy Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót, xin dậy chúng con, những kẻ tội lỗi đầy mình, và vô cùng bất xứng, biết khiêm tốn nhận mình là kẻ có tội ; biết tín thác ở Chúa là Thiên Chúa hay chạnh lòng xót thương tội nhân ; biết đứng dậy với niềm hy vọng để lên Đền Thờ tìm gặp lại Chúa, nhất là biết khẩn cấp nài xin ơn tha thứ khi sa ngã, phạm tội, biết tức tốc đấm ngực ăn năn khi rơi vào tình trạng tội lỗi, và luôn thầm thĩ thân thưa lời kinh rất đẹp lòng Chúa của người có tội : “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” Lc 18,13).  
Jorathe Nắng Tím    

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

MẸ DIỄM PHÚC VÌ MẸ HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG !


Khi chiêm ngắm và cầu nguyện với Mẹ, con chỉ thấy Mẹ hiền lành và khiêm nhường : hiền lành mọi nơi, mọi lúc, và khiêm nhường trong từng ý nghĩ, lời nói, việc làm.
Qủa thực, dọc suốt Tin Mừng, Mẹ Maria đã luôn xuất hiện  với tâm tình và cung cách của một con người hiền lành và khiêm nhường : hiền lành khi chào đón  sứ thần Gabrien, và khiêm nhường thân thưa cùng thiên sứ : “Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !” (Lc 1,34) ; hiền lành nghe thiên sứ trấn an, và khiêm nhường “xin vâng như lời thiên sứ truyền”, vì “tôi đây là nữ tỳ của Thiên Chúa” (Lc 1,38). Vượt núi đồi đi thăm chị họ Êlisabét vừa được Thiên Chúa ban cho hồng ân làm mẹ dù tuổi đã cao (x. Lc 1,5-25).  Mẹ đã rất mực hiền lành và khiêm nhường trước lời ca ngợi rất chính đáng của bà chị họ, khi vừa thấy Mẹ :
“Em được chúc phúc hơn mọi phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng” (Lc 1,42-44), để rồi thay vì tự phụ, kiêu căng nhận hết vinh dự cho mình, Mẹ đã hiền lành và khiêm nhường cất lời ca tụng Thiên Chúa, “Đấng đã đoái thương phận nữ tỳ hèn mọn …, và hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1, 48.50).  Những ngày trước khi hạ sinh Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ muôn dân, Mẹ hiền lành, khiêm nhường một mực vâng  lời chồng “rời Nadarét miền Galilê lên thành vua Đavít tức Bêlem, miền Giuđê”, ở đó Mẹ đã sinh con trong thiếu thốn tận cùng, đến nỗi phải “đặt con nằm trong máng cỏ, vì không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 1,2,4.7). Không hiền lành và khiêm nhường, làm sao Mẹ có thể chấp nhận sinh con trong hoàn cảnh rất thiếu thốn, tồi tệ, mà không nổi nóng, tức giận ? Ngày dâng con cho Thiên Chúa qua nghi thức “cắt bì” như Luật định, Mẹ đã đứt ruột khi nghe lời tiên tri của cụ già Simêon : “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng. .. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,34-35). Hỏi người mẹ nào nghe những lời “xui xẻo” về tương lai con mình, mà không bực bội phủ nhận, phản đối, nghi ngờ ? Nhưng Mẹ hiền lành và khiêm nhường, đã không khó chịu với cụ già Simêon, càng không to tiếng biện bác, thanh minh, nhưng đằm thắm, nhẹ nhàng “ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51), như lần Đức Giêsu, Con Mẹ khi tròn  mười hai tuổi đã tự ý tách đoàn hành hương, và gia đình, để một mình ở lại Đền Thờ Giêrusalem, “ngồi giữa các thày dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi” (Lc 2,46), trong khi Mẹ và thánh Giuse hốt hoảng, lo âu đi tìm khắp nơi suốt ba ngày (x. Lc 2, 41-52).
Đó là những tháng năm của Nadarét ẩn dật. Đến ngày Đức Giêsu thi hành sứ mệnh Cứu Thế, Mẹ vẫn hiền lành, khiêm nhường dong duổi trên đường truyền giáo với Con Mẹ, như khiêm nhường trước lời ca tụng của người phụ nữ giữa đám đông : “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú”, và hiền lành không cho là xúc phạm, khi Đức Giêsu, Con Mẹ đỡ lời người phụ nữ : “Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28). Cũng như có lần, người ta nói với Đức Giêsu : “Thưa Thầy, có Mẹ và anh em, chị em  Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy !”. Nhưng Người đáp lại : “Ai là mẹ tôi ? Ai là anh em tôi ?” Rồi người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh  và nói : “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em, là mẹ tôi” (Mc 3,31-35). Nghe thế, lẽ ra Mẹ phải phản ứng với chút bất bình, nhưng hoàn toàn ngược lại, Mẹ hiền lành, khiêm nhường đón nhận Lời Thiên Chúa từ miệng Con mình với lòng yêu mến, vâng phục. Đặc biệt ở tiệc cưới Cana, dù chính Mẹ đã xin Đức Giêsu làm phép lạ để gỡ cho đôi tân hôn và gia đình hai họ khỏi “bàn thua trông thấy”, vì hết rượu giữa tiệc cưới linh đình, nhưng Mẹ đã khiêm tốn ẩn mình phía sau, hiền lành, thân thiện chia sẻ công việc phục vụ với gia nhân trong bếp, đến nỗi chỉ  vài người được biết bàn tay Mẹ đã can thiệp xin Chúa cứu giúp làm phép lạ hóa nước thành rượu ngon (x. Ga 2,1-11).
Và trên đường thánh giá, Mẹ cũng vẫn hiền lành và khiêm nhường theo Con từng bước đau đớn, nhục nhằn cho đến đỉnh đồi Canvê, nơi Con Mẹ giang tay chịu đóng đinh tức tưởi chết trần truồng. Ai là mẹ lại có thể hiền lành đến độ lặng lẽ “đứng đó” nhìn con vô tội chịu chết oan uổng, mà không một lời than trách, lên án, nguyền rủa ? (x. Ga 19,25-27). Ai là mẹ lại có thể khiêm nhường trước “yên lặng” bỏ rơi đến rùng mình của Thiên Chúa, khi nghe Con mình nức nở, thì thào giờ hấp hối : “Lậy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con ?” (Mt 27,46), mà không bất mãn, nổi lọan ?  
Sau cùng, ở giữa và đồng hành với nhóm các Tông Đồ (x. Cv 1,14), và cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, sau khi Chúa Giêsu về trời, Mẹ luôn hiện diện với cung cách của người Mẹ hiền lành và khiêm nhường, để với ơn Chúa Thánh Thần, Tin Mừng của Con Mẹ lan toả khắp nơi, đến với mọi dân tộc ở mọi thời.
Thực vậy, ở Nadarét, Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa đã dậy con trẻ Giêsu sống hiền lành, khiêm nhường là bài học nhân bản nền tảng, vì Mẹ biết người  tốt phải là người hiền lành và khiêm nhường, bởi kẻ hung bạo, kiêu căng, bợm trợn, trâng tráo, huyênh hoang, tự cao tự đại không bao giờ có thể được coi là người tốt trong xã hội, vì họ chỉ sống cho mình, mà không sống cho tha nhân, chỉ tìm mình mà không nghĩ đến hạnh phúc của anh em, chỉ thu quén, vun xới cho mình, mà vô cảm, dửng dưng trước nhu cầu của người khác. Dậy con trẻ Giêsu hiền lành và khiêm nhường, Mẹ không muốn Con mình học theo thói đời “nâng mình lên bằng cách đạp người xuống”. Đạp người xuống càng sâu, mình càng dễ lên cao, nên người đời ra sức đạp đổ người khác bằng rình mò, soi bói, bới móc, chỉ trích, phê bình, tung tin hạ uy tín, nặc danh gieo tin đồn thất thiệt phá hoại danh dự bản thân, hạnh phúc gia đình, an sinh, sự nghiệp. Mẹ cũng dậy em bé Giêsu đừng tìm chỗ quan trọng nơi công cộng ; đừng lân la đến người có chức có quyền, giầu có, sang trọng để tìm danh lợi, ảnh hưởng ; đừng khoe khoang công đức, tài năng ; đừng sửa giọng sửa tướng để tỏ ra mình là người quan trọng, không thể thay thế ; đừng hống hách, hà khắc, quát tháo “long trời lở đất” thách thức, đe dọa ; đừng “thượng đội hạ đạp”, hèn với quan trên, ác với dân lành, thái độ mà ở đâu và thời nào cũng đáng khinh, đáng trách ; đừng ỷ mình có tài, nhiều của, và “không coi ai ra gì”; nhất là đừng quên ơn Trời, ơn người hằng bao bọc, ấp ủ đời mình. Và con trẻ Giêsu đã thuộc lòng và thực hành bài học nhân bản nền tảng này, và chính Ngài đã dậy bài học đó cho  các môn đệ của Ngài khi tuyển chọn các ông : “Anh em hãy học với Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (x. Mt 11,29).
Mẹ còn là thầy dậy sống nhân đức, khi xác tín qua đời mình : hiền lành và khiêm nhường là nền tảng của tất cả các nhân đức, bởi thiếu hiền lành, người ta sẽ nghiêng chiều theo bạo lực, và  không khiêm nhường, kiêu căng sẽ chiếm đóng tâm hồn, mà Kiêu Căng và Bạo Lực là bản chất của Satan và bè lũ.  
Nhưng hơn tất cả, Mẹ khẳng định qua đời sống của Mẹ : hiền lành, khiêm nhường là chân móng  vững chắc xây đời sống Đức Tin. Chính vì hiền lành và khiêm nhường, Mẹ đã vững tin vào Lời Hứa của Thiên Chúa, mà không một  phút giây  bực dọc, phản ứng tiêu cực hay ngông cuồng nổi loạn, dù Lời Hứa ấy đã có những lúc tưởng như  không  có thực, mà chỉ là những lời ngon ngọt, dối trá, như bà chị họ Êlisabét đã khen ngợi Mẹ : “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45). Phúc Mẹ có đây, chính là trái tim hiền lành và tâm hồn khiêm nhường tuyệt vời !
Mẹ nhìn thấy trên hành trình Xin Vâng của Mẹ : hiền lành, khiêm nhường là điều kiện không thể thiếu của Đức Ái, vì không thể “nhẫn nhục, nhân hậu, không ghen tương, không nóng giận, không nuôi hận thù”, nếu không hiền lành ; không thể “không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không mừng khi thấy sự gian ác”, nếu không khiêm nhường (x. 1 Cr 13,4-6), bởi kẻ kiêu ngạo thì luôn muốn “cưỡi đầu cưỡi cổ” người khác ; chiếm đoạt, sở hữu moị sự, mọi người cho danh - lợi - thú riêng mình ; vì suốt đời kẻ kiêu căng, hung dữ chỉ  nuôi một ước mơ duy nhất là khuynh đảo, thống trị, khống chế mọi người  để mọi người phục vụ mình. Và như thế, không hiền lành, khiêm nhường, không ai có thể “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”, như Đức Ái đòi hỏi (1 Cr 13,7).     
Mẹ chứng minh qua chọn lựa tín thác vào Thiên Chúa, Đấng “đã hứa cùng cha ông chúng ta” và “nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời” của Mẹ (Lc 1 55) : hiền lành, khiêm nhường là ngọn gió của Chúa Thánh Thần cho niềm Hy Vọng bay lên cao, vì không hiền lành, không ai có thể hy vọng “Nước Trời là của họ” khi chấp nhận nghèo khó vì Nước Trời ; hy vọng “được Thiên Chúa ủi an, cho thoả lòng” khi vui lòng chịu sầu khổ, và vất vả đi tìm sự công chính ; hy vọng “được nhìn thấy Thiên Chúa, và được Thiên Chúa xót thương” khi giữ tâm hồn trinh trắng, lương thiện, và thương xót anh em. Không khiêm nhường, ai sẽ có thể nuôi niềm hy vọng “là con Thiên Chúa, được Nước Trời làm quê hương vĩnh cửu, và phần thưởng lớn lao trong Vương Quốc thiên đàng”, khi chịu đựng mọi vu khống xấu xa, sỉ nhục cay đắng, lăng mạ tủi hổ, đàn áp thương đau, bách hại đẫm máu (x. Mt 5,3-12).
Không những thế, Mẹ còn qủa quyết qua cuộc đời người Kitô hữu thứ nhất và tuyệt vời nhất của Mẹ : hiền lành, khiêm nhường là điều kiện để đón nhận Hồng Ân Chúa ban, vì Chúa chỉ thương người hiền lành, khiêm nhường, và chống lại kẻ hung dữ, kiêu căng ; “hạ bệ những ai quyền thế, nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1,52), vì “ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14).
Học với Mẹ, Đức Giêsu, Con Mẹ đã tiếp tục dậy các môn đệ và nhân loại bài học quan trọng “hiền lành và khiêm nhường” mà Ngài đã học ở Mẹ, để Giáo Hội của Ngài trở thành tập thể những người hiền lành và khiêm nhường ở mọi thời, mọi nơi được Chúa Cha yêu thương, như toàn thể các Thánh là những bông hoa “hiền lành và khiêm nhường” rực rỡ vườn hoa thiên đàng ; như người đàn bà ngoại đạo xứ Ca-na-an đã hiền lành, khiêm tốn thưa với Đức Giêsu : “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”, mặc dù Ngài đã nói với bà : “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”, khi bà đến bái lậy và nài xin Ngài thương xót cứu giúp chữa con gái bà bị quỷ ám rất khổ sở (x. Mt 15,21-28) ; hay như ông đại đội trưởng ngoại giáo đã khiêm tốn thân thưa với Đức Giêsu : “Lậy Ngài, tôi chẳng đáng đón rước Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành bệnh” (Mt 8,8), và như hàng hàng lớp lớp những giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân, và những người thành tâm đi tìm Chúa đang âm thầm sống Hiền Lành, và Khiêm Nhường như đòi hỏi của Tin Mừng. Các vị là những người đã nhận ra hiền lành và khiêm nhường chính là biết đón nhận ơn sủng với lòng yêu mến, biết ơn ; biết dùng tất cả tài năng Chúa ban để phục vụ mọi người (x. Mt 25,14-30) ; biết làm việc với thái độ và tâm tình của người đầy tớ trung tín nhưng vô dụng, chỉ biết làm công việc được Chủ trao với lòng tín thác (x. Lc 17,10).  
Lậy Đức Maria, Mẹ rất hiền lành và khiêm nhường của Chúa Giêsu và của mỗi người chúng con !
Xin Mẹ ban cho chúng con trái tim hiền lành và tâm hồn khiêm nhường giống như Mẹ, để đáng được Chúa thương xót cứu độ, vì “không trở nên như trẻ nhỏ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3), mà trẻ nhỏ vì bé nhỏ nên “hiền lành, khiêm nhường” và luôn được Chúa yêu thương.
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

BIẾT ƠN

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 28 Thường Niên, Năm C
Nhiều danh nhân đã nói : “Bài học quan trọng mà con người phải học với thú vật chính là lòng biết ơn”. 
Người mà phải học với thú sao ? Nghe thật chói tai, ngang ngược, và cực kỳ phạm thượng ! Nhưng với một chút lương thiện, chúng ta sẽ không còn coi đó là hành vi xúc phạm nhân phẩm, hạ thấp nhân vị, vì qủa thực điều mà con người chúng ta thiếu sót với nhau nhiều nhất, chính là lòng biết ơn.
Con người là hữu thể xã hội, nên cần đến nhau, và tính tương thân tương trợ luôn gắn liền, đeo đẳng đời sống, bởi không ai có thể sống, lớn lên, thành công, hạnh phúc một mình, nhưng “người khác” luôn là yếu tố quan trọng, không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của bản thân.
Biết ơn được hiểu là tâm tình yêu mến, kính trọng dành cho người đã cứu giúp, chia sẻ, nâng đỡ, ủi an, bênh vực mình dưới mọi hình thức, ở mọi mức độ, trong mọi hoàn cảnh. Người biết ơn dành cho người thi ân tình cảm đăc biệt trong trái tim, và chỗ đứng trân trọng trong đời sống của mình. Lòng biết ơn làm cho tương quan giữa người ban ơn và thụ ơn luôn tốt đẹp, nhờ người thụ ơn nhận biết giá trị của ơn đã nhận và tấm lòng cao cả, quảng đại, yêu thương của người đã ban ơn. Vì thế, tương quan ấy được hình thành tốt đẹp hay không hệ tại ở tâm tình và thái độ của người thụ ơn, chứ không ở người thi ân, vì người cho đi thường không tìm được đền đáp, nhưng người nhận ơn không thể bỏ quên bổn phận đáp đền.
Trong thực tế, sở dĩ người ta dễ quên ơn nhau vì biết ơn là một điều khó, một việc khó làm, vì đòi một điều kiện không luôn dễ có, đó là lòng khiêm tốn : khiêm tốn nhận mình yếu, nên cần đỡ nâng ; khiêm tốn biết mình thiếu, nên cần được chia sẻ, giúp đỡ, bù đắp ; khiêm tốn thấy mình bất lực, nên cần hỗ trợ, thêm sức ; khiêm tốn nhìn vào sự thật trần trụi, tiêu sơ, hoang vắng, cằn cỗi của mình để thấm thiá hiểu rằng lòng tốt của người khác luôn cần cho tôi. Nhưng hơn tất cả những cái khó vừa kể, cái khó đáng lo ngại nhất chính là khó có thể giữ mãi lòng khiêm nhường khi đã thoát khỏi cảnh khốn khó, bước đuờng cùng, ở đó mình đã thụ ơn, nhận ơn người, bởi ít ai muốn khoác mãi cho mình lớp áo quá khứ tăm tối, cơ hàn khi đã thành công, và để giũ được quá khứ này, tốt nhất là cạo sạch, đánh bóng quá khứ ấy bằng xóa tên người ơn như “nhân chứng nguy hiểm” của một thời cần phải được xoá sạch.
Kinh nghiệm bản thân chứng minh điều này : khi thiếu thốn, bần hàn, ta dễ khiêm tốn để nhận ơn, cũng như dễ khiêm nhường để biết ơn, nhớ ơn, nhưng đến khi không còn nghèo, hay khi  vừa ra khỏi cảnh khổ, ta không còn đủ khiêm tốn để tiếp tục biết ơn, nhớ ơn, đền ơn người đã giúp đỡ, thi ân cho ta. Trái lại, không những không khiêm tốn biết ơn, ta còn gồng mình kiêu hãnh chối bỏ quá khứ thiếu thốn, bệ rạc, bần cùng của mình bằng “xưng hùng xưng bá” tỏ ra ngang cơ, “trên kèo” ngay cả những người đã thi ân cho ta, bởi không xóa ơn bằng xoá tên tuổi họ trong đời mình, không xù ơn bằng khai tử sự có mặt ơn nghiã của họ trong tâm tưởng mình, ta sẽ không yên, vì luôn cảm thấy như có ai đó cản trở bước tiến của đời mình ; ta sẽ mãi nặng lòng, vì luôn bực bội, sượng sùng như có ai đó ngăn chặn đường lên của tương lai, bởi tự mãn, kiêu căng không cho ta chấp nhận một qúa khứ đã được giúp đỡ, một lịch sử đã được viết bằng những ngày thiếu thốn được trợ giúp, một lý lịch còn đậm những bi thương, gẫy đổ đã được vực dậy, nhiều đọan đường đã đi qua đầy những gian truân, quẫn bách được cứu thoát nhờ ân sâu nghiã nặng được phủ dầy. Chính vì thế, ta sẵn sàng quên ơn, vô ơn những người đã làm ơn cho ta.
Làm người như chúng ta, Đức Giêsu cũng thấm thiá những vô ơn của con người : hơn ai hết, Ngài đã suốt đời thi ân, giáng phúc, nhưng cũng hơn ai hết, gánh nặng nghiệt ngã của vô ơn đã chồng chất làm guc ngã Con Người Thiên Chúa trên đường thánh giá.
Trong Tin Mừng Luca về “mười người phong hủi”, chính Đức Giêsu cũng đã nói về câu chuyện vô ơn quen thuộc này của con người : “Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê. Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng : “Lậy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi !” (Lc 17,11-13). Họ phải dừng lại đằng xa vì Lề Luật cấm họ đến gần người khác, bởi người bệnh phong hủi bị coi là ô uế, dơ bẩn, bị cô lập, tẩy chay xa khỏi cộng đồng. Nhưng Đức Giêsu chạnh lòng thương khi nghe họ kêu xin lòng thương xót và đã chữa lành họ. “Một người trong họ thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Samari. Đức Giêsu mới nói : “Không phải cả mười người đều được sạch cả sao ? Thế thì chín người kia đâu ? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này ?” (Lc 17,15-18).
Hỏi “chín người kia đâu ?”, Đức Giêsu muốn hỏi lòng biết ơn của con người đối với Thiên Chúa, cũng là nhắc nhở lòng biết ơn của chúng ta đối với nhau, vì Ngài biết giá trị mang tính cứu độ của lòng biết ơn, bằng chứng là Ngài đã thốt lên trước người đàn bà Samari bên bờ giếng Giacóp : “Ước gì con nhận ra ơn Chúa ban !” (Ga 4,10), để nói lên hồng ân tuyệt vời chúng ta nhận được từ Thiên Chúa và hạnh phúc nhận ra ơn Ngài.
“Nhận ra” ơn tức là biết ơn, và có biết ơn mới có thể đền ơn, đáp ơn. Với Thiên Chúa, chúng ta chỉ có thể đáp đền ơn bằng “tôn vinh Ngài”, như anh phung hủi duy nhất có  lòng “biết ơn” đã trở lại tôn vinh Thiên Chúa.
Tóm lại, trong cuộc sống, con người cần đến nhau, vì Thiên Chúa muốn như vậy, bởi loài người được dựng nên để yêu thương, hạnh phúc trong Thiên Chúa và với tha nhân, nên không thể không cần đến nhau, vì tình yêu, hạnh phúc luôn đòi đối tượng là “người khác”. Cần đến nhau nên trao ban và lãnh nhận, cần đến nhau nên “chị ngã em nâng”, cần đến nhau nên có nhau “khi khoẻ mạnh, lúc ốm đau, khi gian truân, lúc thịnh vượng”. Vì thế  cuộc sống xã hội sẽ là giòng chảy không ngừng  của “thi ơn và biết ơn”, của “cho và nhận”, mà trên đó người ban ơn cũng như người thụ ơn đều chan hoà niềm vui, ngụp lặn trong hạnh phúc, bởi có lòng tốt qủang đại trao ban và có trái tim biết rung niềm tri ân, cảm tạ.
Xin Chúa dậy chúng con biết ơn Chúa để  chúng con luôn sống trong hạnh phúc vì được ngợi khen, phụng sự Chúa, như người phong hủi “thấy mình được khỏi đã vui mừng quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 17,15). Và trong niềm vui say mê cảm tạ hồng ân Chúa, chúng con trở thành niềm vui cho mọi người khi hồn nhiên, khiêm tốn sống đời người “biết ơn”.
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2019

TRÀNG HẠT MÂN CÔI - HỒNG ÂN CỦA GIÒNG ĐỜI

Ai cũng có Mẹ và người Mẹ nào cũng yêu con, trừ một số rất ít bà mẹ không bình thường, đáng thương. Mẹ yêu con vì con là con của Mẹ. Đơn giản và hiển nhiên, nên không cần chứng minh cũng thấy con thuộc về Mẹ và Mẹ là của con; không cần lý luận dài dòng cũng hiểu trong tình mẹ, con là tất cả ; không phức tạp lý giải, Mẹ cũng mãi mãi sẵn sàng  một đời sống chết vì con.
Cũng vì là con Mẹ, nên con hạnh phúc hưởng trọn tình mẹ bao la, thoả thích bơi lội trong đại dương lòng Mẹ, nhõng nhẽo, nũng nịu bên gối, trong vòng tay Mẹ hiền âu yếm. Vì là Mẹ, nên từ giây phút thụ thai con cho đến ngày mẹ chết, không mấy lúc hình bóng con phai mờ trong tâm trí Mẹ, và hạnh phúc của con là hạnh phúc của Mẹ, bất hạnh của con là bất hạnh của Mẹ, thành công của con là thành công của Mẹ, và thất bại của con cũng chính là thất bại của Mẹ. Mẹ con nên một, vì Mẹ và con là một khi con được tạo hình trong cung lòng Mẹ ; là một khi con lớn lên bằng sữa từ máu thịt Mẹ ; là một khi Mẹ dậy con nói, cười, yêu thương ; là một khi con học ở Mẹ giá trị của nước mắt chạnh lòng, ý nghiã của vất vả sẻ chia, cao cả của nụ cười bao dung, tha thứ, nhất là trái tim khiêm tốn tri ân, tín thác ở lòng thương xót của Đấng đã cho con là con Mẹ, và Mẹ là Mẹ con.
Vâng, chân dung Mẹ hiền của bạn, và hình ảnh Mẹ yêu của tôi vừa được mô tả cũng là dung nhan tuyệt vời của Đức Maria, Mẹ của tất cả chúng ta. Mẹ là Mẹ đích thực, chứ không là mẹ “hữu danh vô thực”, hay mẹ ghẻ, mẹ hờ, mẹ nhận vơ, vì dưới chân Thánh Giá trên Núi Sọ, trước khi tắt thở, Đức Giêsu Thiên Chúa làm người đã công khai mặc khải cho chúng ta : Mẹ của Ngài cũng là Mẹ của mỗi người chúng ta. Lời giới thiệu hôm ấy rất trọng đại, vì hơn là lời giới thiệu, đó là lời di chúc của một Thiên Chúa làm người chính thức cho chúng ta vinh dự làm em Ngài, khi mặc khải Mẹ yêu dấu của Ngài cũng là Mẹ hiền của chúng ta. Thánh Gioan đã “nhân danh, thay mặt” mỗi người chúng ta nhận hạnh phúc và vinh dự này ngay dưới chân Thánh Giá, trong giây phút công trình Cứu Chuộc được hoàn thành (x. Ga 19,25-27).   
Như mọi người mẹ, Mẹ Maria cũng yêu thương con mình là chúng ta với tâm tình yêu thương dạt dào, với lòng hy sinh qủa cảm, sẵn sàng chết cho con mình được sống, với ước mơ con mình hạnh phúc, bình an, và niềm vui thấy con mình thành đạt, nên người hữu ích. Như mọi người mẹ, Mẹ Maria không một phút quên con mình, nhưng đồng hành theo từng bước chân con, và suốt đời khắc khoải trông chờ bóng con dong duổi.
Không biết có lần nào bạn đã chiêm ngắm người mẹ già mắt ngước cao, tay mân mê tràng hạt, miệng thì thầm cầu xin cho đàn con : có đứa đi xa bao nhiêu năm chưa  về, có đứa đau bệnh, có đứa gia đình xào xáo, bên bờ vực thẳm ly hôn, có đứa hoang đàng sa lưới pháp luật, có đứa khô khan, nguội lạnh bỏ bê kinh sách, lễ lậy… Và ngày rồi đêm, hết tháng năm này qua năm tháng nọ, bà mẹ già vẫn thầm thĩ cầu nguyện, vẫn mải mê lần chuỗi, vẫn kiên nhẫn trông chờ, hy vọng, vẫn từng ngày dõi bước chân con bằng từng nụ hồng của tràng kinh Mân Côi.
Hình ảnh người mẹ già lần chuỗi nhớ con cũng là hình ảnh của Mẹ trên trời đồng hành với đàn con Mẹ trên đường đời  qua tràng hạt Mân Côi mà Mẹ yêu thích, bởi ngày xưa Mẹ đã yêu thương, chăm sóc, giữ gìn, giáo dục Đức Giêsu, con Mẹ ở Nadarét thế nào, thì hôm nay, Mẹ cũng có mặt để an ủi, nâng đỡ, chỉ dậy mỗi người chúng ta qua kinh Mân Côi, như ơn lành của Mẹ không ngớt phủ kín giòng đời của từng đứa con Mẹ như thế :
·             Mẹ có mặt để dậy chúng ta biết đón nhận thánh ý Thiên Chúa ngay khi vào đời làm người, làm con Chúa trong gia đình, bằng khiêm tốn Xin Vâng, vì Mẹ biết  rõ những khó khăn, thử thách trong đời hôn nhân, những thách đố trong  bổn phận làm cha mẹ, cũng như đòi hỏi không luôn dễ để sống đời  con cái hiếu thảo (x. Lc 1,26-38).
·             Mẹ nắm tay chúng ta lên đường Yêu Thương, đến với mọi người, nhất là những người đau khổ, bất hạnh đang cần được chúng ta chia sẻ, nâng đỡ, vì Mẹ là người đem Chúa Giêsu đến cho nhân loại, và hơn thế nữa, Mẹ biết : yêu thương không dễ chút nào, tha thứ còn khó gấp trăm lần yêu, và tình yêu nào cũng cần được nuôi lớn bằng máu, nước mắt, mồ hôi của Hy Sinh  (x. Lc 1,39-45).
·             Mẹ nâng đỡ chúng ta trên hành trình tận hiến để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ mọi người, vì đường tận hiến không luôn  thênh thang, thông thoáng, nhưng rất hiểm trở, chông gai, và nhiều bất công, trái ý, oan sai có khi từ chính anh em mình, vì hơn ai hết, ngay từ buổi đầu đời làm Mẹ Đức Giêsu, Mẹ đã hiểu lời tiên tri của cụ già Simêon : “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà”  (X. Lc 2,22-35)
·             Mẹ tìm kiếm và dắt chúng ta trở về với Chúa Giêsu, Con Mẹ những lần chúng ta bỏ nhà Thiên Chúa, bỏ Giáo Hội, bỏ cộng đoàn, bỏ gia đình, bỏ cả chính mình đi hoang, trụy lạc, vì Mẹ đã từng “hồn xiêu phách lạc” tất tưởi, lo lắng đi tìm Chúa Giêsu lạc mất trong dịp hành hương mừng lễ Vượt Qua ở Giêrusalem (x. Lc 2,41-50).
·             Và trên giòng đời truân chuyên, không luôn êm ả, với đủ thứ cạm bãy, cám dỗ, mồi chài, chúng ta liên tục vấp ngã khi dửng dưng, lạnh lùng với Ơn Chúa, thờ ơ, khinh mạn Giáo Hội, ngông cuồng, cao ngạo giơ chân đạp đổ công trình do tay Chúa sáng tạo. Ở những hoàn cảnh bê bết đáng bị ruồng bỏ này, chỉ có Mẹ mới vực chúng ta đứng dậy, ăn năn thống hối, và trở về với Nguồn Yêu Thương, như Mẹ đã là chỗ dựa an toàn, bến đỗ bình an cho các tông đồ ngày Chúa chịu nạn, khi các vị hoang mang, tan hàng để người thì phản bội, người chạy trốn, người bội tín, chối bỏ Thầy mình (x. Lc 22,47- 62).
·              Cũng Mẹ sẽ là người dậy chúng ta biết “yêu mến những sự trên trời”, và tìm kiếm Nước Trời vĩnh cửu, để rồi chúng ta sẽ được Mẹ “hiện đến bên giường” khuyên răn, nâng đỡ, ủi an giờ lâm tử, và trên đường về quê trời, chúng ta luôn có Mẹ ở bên, được Mẹ đồng hành, hướng dẫn.
Lậy Mẹ Maria yêu dấu của chúng con ! 
Tháng Mười hàng năm nhắc nhớ chúng con tình mẫu tử của Mẹ qua tràng hạt Mân Côi, như hoa hồng yêu thương của tình Mẹ hằng bao phủ giòng đời chúng con. Với kinh Mân Côi, Mẹ ở với chúng con và chúng con được ở trong lòng Mẹ, để bất cứ lúc nào trên giòng đời dù hạnh thông hay trắc trở, phấn khởi - hy vọng hay thất vọng - chán chường, Mẹ con mình luôn có nhau, Mẹ nhé !
Jorathe Nắng Tím