Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2019

TIN NHẮN TÌNH YÊU


Hôm nay vừa đúng một tuần Trà My và ba mươi tám bạn của cháu “cùng chết bên nhau”, hay “chồng chất lên nhau” trong tủ lạnh khổng lồ của thời đại buôn người tị nạn thế kỷ XXI, với độ lạnh âm 25 độ C, để thoát được máy “quét tầm nhiệt” của cơ quan an ninh biên phòng vương quốc Anh. Đường giây đã thực hiện đúng quy trình và khế ước khi thành công đưa cháu và các bạn vào nước Anh, thiên đường mà cháu đã mơ ước và nhiều người vẫn theo nhau tìm cách lọt vào, nhưng thay vì đưa vào miền đất sống, họ đã đưa cả nhóm vào quan tài đông lạnh ; thay vì đem cháu và các bạn đến Anh để sống và sống dồi dào, họ đã cho đóng băng  container, để không còn một người sống sót vì lạnh và ngạt thở. Có lẽ cháu đã chết ngay sau khi gửi vội tin nhắn cho ba mẹ ở quê nhà : Con thương bố mẹ nhiều, bên cạnh là lời xin lỗi. Tôi không hiểu sao cháu có thể gửi được tin nhắn này từ một container đông lạnh, đóng kín … Vấn đề này tôi không biết và không thể kiểm chứng, nhưng hoàn toàn dựa theo thông tin từ nhiều báo chí nước ngoài.    
Hình ảnh của cháu và tin nhắn này đã làm rúng động cả thế giới, và làm hàng triệu người phải rơi lệ khóc thương số phận vô cùng bi thương, nghiệt ngã của cháu và các bạn trên hành trình đi tìm đất hứa. Báo chí, truyền hình, cộng đồng mạng, quê nhà, quê người, nhà thờ, chùa chiền, thôn quê, thành phố ở đâu cũng nói về các cháu, viết về các cháu với nhiều tâm tình khác nhau, quan điểm khác nhau, phê phán khác nhau. Ngoài đa số chạnh lòng thương cảm và giận dữ lên án đường giây buôn người bất nhân, còn có những người cho các cháu là khờ dại, không nắm bắt thực tế Âu Châu, không điều nghiên kỹ lưỡng đường giây đưa người ; người khác trách móc các cháu vọng ngoại, không yêu quê hương, không gắn bó với quốc gia dân tộc ; cũng có người lạnh lùng bàng quan coi ba mươi chín thi thể chết cóng là con số nhỏ tí teo, không đáng kể, chẳng thấm tháp gì so với hàng triệu người đã chết trong chiến tranh chống các thứ đế quốc ; lại có người vô cảm đến nhẫn tâm viết trên facebook : “Ham sang giầu, chết ráng chịu, có gì mà than thở”.
Như thế, trước biến cố ra đi của cháu và các bạn, trái tim con người đã không cùng nhịp đập, không cùng nhịp rung. Điều này nói lên một thực tế phũ phàng, rất đau lòng, đó là không phải mọi người đều biết thương khóc, thương cảm, thương hại, thương yêu  thân phận đồng loại, đồng bào, đồng hương, đồng đội đáng thương của mình, Trà My ạ !
Riêng bác, từ lúc đọc tin nhắn của Trà My gửi cho bố mẹ trước khi chết, bác miên man suy nghĩ về một điều khác khởi đi từ tin nhắn của cháu, tin nhắn mà bác trân trọng gọi là “Tin Nhắn Tình Yêu”.

Đó là tin nhắn Tình Yêu, vì chỉ  khi sắp chết ngạt, cháu mới có cơ hội gửi cho mọi người điều cháu muốn nói, đó là ngoài tình yêu, không còn gì được coi là có giá trị ở những phút giây cuối cùng của sự sống. Qua đó, cháu muốn người lớn nhận ra một sự thật là họ đang giết chết những người trẻ vô tội, nhiệt huyết như cháu, khi chỉ biết kiếm tiền, kiếm nhiều tiền, kiếm rất nhiều tiền, mà bất chấp khốn khổ, cơ cực, nợ nần, tủi nhục, đường cùng và mạng sống của người khác. Cháu muốn người lớn nhìn lại lẽ sống của họ, để tự vấn lương tâm, nếu lẽ sống ấy là ích kỷ, gian tham, bóc lột, chiếm đoạt, hưởng thụ ; nếu lẽ sống ấy chỉ là “cái tôi”, “gia đình tôi”, “phe cánh tôi”, mà đốt cháy không ngượng ngùng ngày mai của tuổi trẻ, tương lai của đất nước, hạnh phúc của đồng bào, và đang tâm bán đứng sự sống của người khác để “vinh thân phì gia”. Cháu muốn người lớn thôi đi những bài luân lý, đạo đức trên diễn đàn, bục giảng, vì chỉ trong vài phút cuối đời, cháu đã kịp nhận ra những chiêu trò xảo trá, ma mãnh, ác độc của những con người giả hình, “khẩu Phật tâm xà” đã ru ngủ tuổi thanh xuân và làm ô nhiễm những tâm hồn đơn sơ, trong sáng chưa một lần biết nói dối. Cháu  muốn người lớn ngưng huyênh hoang nhân danh đủ thứ giá trị bằng kỹ năng xử dụng các mỹ từ, xáo ngữ hầu mua chuộc đám đông, mồi chài quần chúng, phỉnh lừa tuổi trẻ. Cháu  cũng muốn người lớn có quyền, có chức đừng cậy vào cơ chế, đừng vịn cớ củng cố kỷ cương, lề luật mà vùi dập không tiếc thương những con người  yếu đuối, lỗi lầm đang cần được thương xót, băng bó, chữa lành. Và cháu muốn người lớn nhớ mãi một điều : không ai bất tử, sống mãi, và ở những giây phút cuối đời, sẽ chỉ còn lại duy nhất một giá trị là Tình Yêu.   
Đó là Tin Nhắn Tình Yêu cháu đã gửi cho những con người từng ngày tập sống yêu thương để ganh ghét không còn là siêu vi trùng tàn phá gia đình, gia tộc, làng xóm, quê hương với tốc độ ánh sáng, bởi  khi gần chết ngạt, cháu đã kịp nhận ra cơn dịch ganh ghét ở quê hương mình đang dậy anh em ruột thịt cách cầm dao giết nhau, dậy vợ chồng  cách đổ xăng đốt sống nhau, dậy cháu chắt  cách dùng giây thắt cổ ông bà. Cháu đã nghe những thảm cảnh giết người hàng loạt liên tiếp xẩy ra gần đây, những màn đánh ghen thô bạo, man rợ, độc ác mà chỉ ở quê mình mới có, và cháu đã kịp lợi dụng những giây phút cuối đời để nhắn gửi mọi người : ở giờ chết người ta mới hiểu hết ý nghiã và giá trị vô cùng cao qúy của Tình Yêu.
Đó là Tin Nhắn Tình Yêu cháu gửi bố mẹ và gia đình đang chết ngất vì tiếc thương cháu, cũng là tin nhắn Tình Yêu cháu gửi tất cả mọi người, đăc biệt các bạn trẻ đang đau khổ vì tình yêu ; đang xất bất xang bang, tơi tả, te tua vì yêu thương người khác mà bị mất mát, thiệt thòi, lạm dụng ;  đang hết mình, hết tình cho đi mà không được đền đáp. Qua tin nhắn Tình Yêu, cháu nhắn gửi họ, những tâm hồn tan nát vì yêu thương ấy hãy can đảm để tiếp tục yêu thương, mà không chùn bước trước thử thách của vô tình, vô ơn, ruồng rẫy ; hãy bền chí yêu thương mà không buông xuôi, đầu hàng trước thách đố của hiểu lầm, đố kị ; không bỏ cuộc, bỏ hàng ngũ của những con người được sinh ra để yêu thương trước những bất công, phản phúc của chính những người mình yêu thương, xây dựng. Cũng qua tin nhắn Tình Yêu, cháu khuyến khích những những người đang yêu nhau hãy biết trân qúy tình cho nhau, hãy trân trọng từng giây phút yêu thương của hiện tại, và đừng bao giờ quên rằng : quà tặng vô giá và vĩnh cửu của con người, chính là Tình Yêu cho nhau. Và bác nghĩ, chỉ ở vào những phút cuối của cuộc đời, cháu mới cảm nghiệm trọn vẹn giá trị tuyệt đối của Tình Yêu. Có phải vậy không cháu ?
Đêm nay là đêm thứ bảy Trà My và các bạn bỏ cuộc chơi làm người, miễn cưỡng đi vào cõi chết, ở vùng đất chết, trong quan tài sắt to đùng, thô kệch, bẩn thỉu đã được đồng loại thiếu tình yêu chỉnh độ đông lạnh nhiều giờ trước khi tất cả các cháu biến thành “thây ma, xác chết” vì lạnh cóng và ngạt thở. Bác nghe tim mình se thắt, bâng khuâng trước giòng tin nhắn ngắn ngủi nhưng vô cùng nhiệm lạ của cháu. Cháu đã không nhắn một tin kêu gọi báo thù ; không gửi lại cho người sống tin nhắn uất hận, căm phẫn ; cũng không nhắn gửi cáo trạng, tố khổ, kể tội, nhưng vắn tắt : 
“Con xl (xin lỗi) bố mẹ nhiều, mẹ  ơi”, “Mẹ ơi, con xl mẹ, mẹ ơi”, “con thương bm (bố mẹ) nhiều”.
Cháu đã nhắn tin Xin Lỗi bố mẹ, ở thời điểm 22 giờ 28 phút ngày 22 tháng 10, năm 2019 (giờ GMT), là giây phút hấp hối, cùng lúc cháu viết thêm : “Con chết vì không thở được”.
Viết lời Xin Lỗi người yêu thương mình, cháu đã thể hiện Tình Yêu ở mức độ cao nhất, bởi trong tình yêu, biết và dám xin lỗi người mình yêu là cao điểm của tình yêu, mà không phải cứ yêu là làm được. Thực vậy, tuy là đứa con ngoan, nhưng chỉ ở giây phút cuối đời, cháu mới hiểu hết sự nhiệm lạ của lời Xin Lỗi trong Tình Yêu, vì chỉ ở giây phút bi hùng này, cháu mới thấy rõ Xin Lỗi là cái thiếu nghiêm trọng đã làm nhiều cuộc tình đứt gánh, nhiều ân tình phải gạt lệ chia xa.
Trà My và các bạn thân mến,
Với bác, Trà My là phát ngôn viên của cả nhóm đã thay mặt các bạn gửi cho những người còn sống tin nhắn Tình Yêu vô cùng nhiệm lạ : nhiệm lạ của lời Xin Lỗi, nhiệm lạ của lời Yêu Thương trước giờ chết. Sở dĩ nhiệm lạ, vì tin nhắn ấy không khác tin nhắn của Đức Giêsu trước giờ chết trên Thánh Giá ; vì cũng trong giây phút hấp hối, Ngài đã thều thào gửi tin nhắn cho Thiên Chúa, Cha Ngài : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây là tin nhắn Tình Yêu của Thiên Chúa Tình Yêu đã tha thứ cho hết mọi người, kể cả những người đã vu khống, cáo gian, lên án, hành hạ, đóng đinh mình ; tin nhắn Tình Yêu của Chiên Thiên Chúa đã chịu thay, gánh thế, xóa tội cho nhân loại bằng cái chết tang thương, tức tưởi, ô nhục.
Vâng, bác không thể quên các cháu, vì các cháu rất giống Đức Giêsu, Đấng bác tôn thờ, khi các cháu cũng chết ngoài đường, chết tức tưởi, tang thương, chết cô đơn, câm lặng vì sự độc ác của đồng loại như Ngài, và tin nhắn, như lời trăn trối sau cùng của các cháu cũng đạt cao điểm của Tình Yêu, dạt dào Tình Yêu, ngút ngàn Tình Yêu như Ngài, chỉ khác Ngài là Thiên Chúa nên nhắn cho con người tin vui Tha Tội, còn các cháu là con người nên nhắn gửi mọi người lời Xin Lỗi, Yêu Thương.
Cùng với mọi người, bác ký thác Trà My và các cháu trong Thiên Chúa là Tình Yêu và Sự Sống. Xin cho các cháu được an nghỉ đời đời và hẹn gặp các cháu một ngày trên Thiên Đàng không còn tỵ nạn, trốn chạy, sợ hãi, đói khát, cóng lạnh, chia lià và nước mắt khổ đau.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

HÀNH TRANG VÀO ĐỜI SAU

Tháng Mười Một gợi nhớ nhiều về sự chết, người chết, và cũng nhắc nhớ sẽ đến phiên mình chết một ngày : xa gần không biết, ở đâu không hay, cách nào không rõ, nên mỗi năm khi tháng cầu cho các linh hồn về, nghe lòng như chùng lại, tim se thắt, xót xa, và cổ họng đắng chát phận buồn “con người biết mình phải chết”.
Phải chết một ngày vì là con người, bởi đã là người thì phải chết như án lệnh từ đời đời cho cả loài người, và cứ thế, người trước kẻ sau, bất phân mầu da, tiếng nói, tuổi tác, giai cấp, trình độ…, người người nối đuôi nhau, tiếp theo nhau nhận lệnh lên đường “đoàn tụ với tổ tiên, ông bà” bỏ lại cuộc sống, giã từ trần gian, đi vào cõi chết, mà không thể trì hoãn, gia hạn hay khiếu nại, thắc mắc, cũng không kéo được ai theo mình, hay mang theo được sự gì dù cỏn con, bé bỏng, nhẹ nhõm, ngay cả như hơi thở trước ngưỡng cửa vào thế giới hoàn toàn xa lạ, bí mật, chưa một lần tham quan, khảo sát …
Nhìn người chết vô hồn, bất động, cứng đơ, lạnh lẽo, ai cũng hiểu chết là chấm hết mọi chức vụ, dù người ấy có đang tại chức Giáo Hoàng, Giám Mục chính toà, nguyên thủ quốc gia, chủ tịch, giám đốc ; chết là chấm dứt mọi uy quyền, dù người ấy đang nắm giữ quyền sinh sát toàn thế giới, hay là nhà độc tài “hét ra lửa, thở ra khói” làm mọi người phải rụng rời, kinh sợ ; chết là kết thúc mọi chiến dịch vận động tìm kiếm  của cải, thành công, vinh quang, huy chương, bằng tưởng thưởng ; là đóng lại mọi ước mơ, kế hoạch, đồ án, chương trình, dù là những kế hoạch “kinh thiên động địa”, hay những chương trình “chuyển núi rời non”. Nhưng đồng thời chết cũng là trả hết nợ đời, trút bỏ gánh sầu buồn, tủi nhục của một đời nghèo đói, thất học, không gia thế, địa vị, bị người đời khinh khi, vùi dập, khai thác, bóc lột, lợi dụng ; chết cũng là giã từ những uất nghẹn khi bị người đời chụp mũ oan sai, vu khống hồ đồ, lên án oan uổng, và chết cũng là gửi lại đời những đẳng cấp, số má, bon chen, đấu đá, thị phi, tranh giành.  
Nhưng nếu chết là hết, là dấu chấm hết to đùng làm “đứng hình, tắt phim” tất cả và thực sự không còn gì sau dấu chấm hết này nữa thì coi như đã xong, đã hoàn tất mọi việc, mọi sự, và không còn gì lấn cấn, vướng víu : người giầu có, uy quyền, khỏe mạnh đã may mắn hưởng một đời hạnh phúc, còn người nghèo khổ, hèn hạ, tật nguyền thì đành chịu đã không may mắn trải qua một đời làm người bất hạnh, để chết rồi người may mắn, kẻ xui xẻo cũng như nhau ở kiếp tro bụi hư vô, không còn là bất cứ sự gì nữa, và cũng chẳng phải bận tâm lo nghĩ nhân qủa, thưởng phạt.
Trái lại, có nhiều dấu hiệu, nhiều điềm lạ, nhiều biến cố cho thấy : chết không hết, xác có tan rữa đấy, nhưng hồn vẫn còn đây. Trong giấc ngủ nửa mơ nửa tỉnh, người thân tuy đã chết nhưng vẫn thênh thang về gặp ; trong lời kinh tưởng nhớ, vẫn thấy gắn bó, gần gũi như ngày xưa những bóng hình đã khuất ; khói nhang quyện “hương lòng” trước bàn thờ, di ảnh người quá cố vẫn nghe xôn xao, se thắt nỗi  nhung nhớ, niềm tiếc thương… Phải rồi, người chết vẫn sống, vì linh hồn con người bất tử, người chết vẫn còn quanh đây, vì cuộc sống dương thế đã không chỉ toàn là bụi tro, nhưng còn là những “thiêng liêng, đời đời, tuyệt đối”.
    Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã khẳng định chân lý này :
·      “Nếu người ta được cả thế gian, mà mất sự sống đời đời thì nào có ích lợi gì ?” (Mt 9,26)
·       “Qủa thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. Còn về vấn đề kẻ chết sống lại, thì các ông không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao ? Người phán : Ta là Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác và Thiên Chúa của Giacóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống” (Mt 22,30-32).
·      “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ… Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,3.12).   
·      “Anh em chớ mừng vì qủy thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).
Đức Giêsu nói cho chúng ta, những người biết mình sẽ phải chết, nhưng không biết chết là gì, và chết rồi đi đâu điều này, đó là tất cả mọi người sẽ sống lại sau khi đã chết, có một sự sống vĩnh cửu, không bao giờ bị gián đọan sau sự sống này, có một vương quốc thuộc về Thiên Chúa sau cuộc sống dương thế, có một phần thưởng  lớn lao, có một danh sách ghi tên những người được ở trên trời, và Thiên Chúa là Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa của người sống. 
Nhưng vấn đề quan trọng ở đây là phải có điều kiện nào để được hưởng những điều Đức Giêsu  vừa kể, sau khi chết. Đây chính là “bí mật cứu độ” của Thiên Chúa đã được Đức Giêsu mặc khải cho những người bé mọn, vì trong thế giới của những kiêu căng, quyền lực, hưởng thụ, xa hoa, bí mật này dù có được công bố trên mái nhà, người ta cũng không mấy quan tâm, như Đức Giêsu đã nhiều lần lên tiếng : “Vậy, tôi phải ví người của thế hệ này với ai ? Họ giống ai ? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói : Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa ; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than”. Thật vậy, ông Gioan Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo : “Ông ta bị qủy ám”. Con Người đến cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo : “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Lc 7,31-34). “Ai có tai nghe thì nghe” (Lc 8,8).
1.   Điều kiện thứ nhất :  tin nhận Thiên Chúa là Tình Yêu không đổi dời, vô cùng và đến cùng :
Như người con thứ hoang đàng trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” đã có thể đứng dậy, lên đường trở về, vì anh đã tin Cha lúc nào cũng một mực yêu thương : yêu thương khi con ngoan ngoãn, vâng lời, yêu thương cả khi con ngang ngược, bất hiếu đòi chia gia tài khi cha còn sống ; vì anh đã tin tình Cha vô cùng bao la, hải hà, để yêu anh đến tận bước chân cuối cùng ở đường cùng “thân tàn ma dại”, sau khi đã ăn tiêu hết sạch tiền bạc, và lâm cảnh túng thiếu, phải đi ở đợ và chỉ dám ao ước lấy cám heo mà nhét cho đầy bụng (x. Lc 15,11-20).
Một khi tin tình yêu Thiên Chúa không đổi dời như tình con người dành cho nhau nay còn mai mất, hôm nay nồng nàn, ngày mai hờ hững, sớm mai sôi nổi, chiều về đã lạnh tạnh, hay khi vui thì đam mê, tha thiết, lúc buồn thì ngao ngán, dửng dưng, con người mới an tâm đi vào đời sau, mới tin tưởng bước vào đời đời, mà không hoang mang, sợ hãi bóng đêm sự chết; có tin Thiên Chúa là Cha nhân hậu, luôn trung tín với tình yêu bao dung dành cho con cái mình, con người mới bình an nhắm mắt, xuôi tay từ bỏ thân xác tro bụi để đi vào lòng Đấng đã tạo dựng nên mình vì yêu thương ; có tín thác ở Thiên Chúa, Đấng chỉ muốn băng bó, chữa lành, giải thoát và cứu độ ; Đấng “không đành bẻ gẫy cây lau bị giập, chẳng nỡ tắt đi tim đèn còn leo lét” (Mt 12,20), con người yếu đuối, tội lỗi ở giờ chết mới dám ngước mắt thân thưa trước Thiên Chúa như người con trở về : “Lậy Cha, con đã đắc tội với  Trời và với Cha” (Lc 15,18).     
2.   Điều kiện thứ hai : yêu thương anh em như chính mình đã được Thiên Chúa yêu thương :
Có một điều không thể chối cãi, đó là ai cũng có khả năng yêu thương, mà không ai có thể tị nạnh : người khác có khả năng yêu thương hơn tôi, hoặc tôi không biết yêu thương, không yêu thương “giỏi” như người khác. Trái lại, quà tặng đồng đều của Thiên Chúa cho mọi người là khả năng yêu thương, nên bất cứ ai, ở thời nào và ở đâu, trẻ già lớn bé, giầu nghèo, sang hèn, bất kỳ chỗ đứng nào trong gia đình, xã hội cũng đều có khả năng yêu thương như nhau và được Thiên Chúa mời gọi yêu thương như Ngài.
Vì thế, Đức Giêsu đã không đề ra một danh sách những hành trang con người phải mang theo đến trước Nhan Thiên Chúa khi chết, hay những tặng vật con người phải chuẩn bị để biếu xén, mua chuộc Thiên Chúa như con người thường làm đối với người có quyền, có chức, có ảnh hưởng ở thế gian, nhưng Ngài đã chỉ đưa ra một hành trang duy nhất mà con người phải mang theo khi chết, nếu muốn được vào Nước Trời, được sự sống đời đời, đó là Tình Yêu dành cho đồng loại.
Vì tất cả đã nhận đồng đều tình yêu để yêu, nên ai nấy, dù quyền cao chức trọng đến đâu, cũng phải đệ trình Thiên Chúa việc làm yêu thương của mình ; vì tất cả đã nhận cùng một vốn liếng Tình Yêu như nhau, nên không ai, dù thuộc phẩm trật cao cả đến cỡ nào, cũng không được miễn trừ trả lời việc làm sinh sôi nẩy nở nén bạc tình yêu ; vì tất cả đã được đồng đều trao ban tình yêu để yêu như ơn gọi, sứ vụ, nên không ai tránh được câu hỏi về quá trình yêu thương của mình trước Thiên Chúa ; vì tất cả  khi chết đều phải bỏ lại mọi người, mọi sự, mọi vương trượng, mũ mão, quyền lực, tiền của, danh vọng, nên ai cũng sẽ chỉ trơ trọi một mình với Tình Yêu là hành trang duy nhất; vì tất cả đã phải như nhau trở về tro bụi, khi tất cả những gì thuộc vật chất đã tiêu tan, nên ai nấy chỉ còn lại linh hồn thiêng liêng với tình yêu bất tử là hình ảnh của Thiên Chúa hằng sống, đời đời.
Như thế, con người hoàn toàn như nhau  trước Toà Thiên Chúa, khi ai cũng như ai : không mang được gì, cho dù cả thế giới là của mình ; không thể mua chuộc, mánh mung, đút lót, vì tất cả những gì đã có đều trở thành hư vô, và ai nấy chỉ còn lại Tình Yêu là hành trang để đi vào cõi hằng sống ; chỉ còn Tình Yêu là gia sản có giá trị, được phép mang theo ; chỉ còn Tình Yêu là thông hành phải xuất trình để được nhận vào Nước Trời ; chỉ còn Tình Yêu là dấu hiệu để được nhận ra là Con Thiên Chúa ; chỉ còn Tình Yêu là “gien ADN” để được khai sinh trong gia đình Thiên Đàng, và chỉ còn Tình Yêu để được  nghe  chính Đức Giêsu từ Toà vinh quang phán:
“Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thưở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát,các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu ; các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”… Và Ta bảo thật : “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho ta vậy” (Mt 25,34-36.40).   
Qủa thực, niềm an ủi và hy vọng duy nhất của con người biết mình phải chết là sẽ được chết trong Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót, như người đầy tớ mắc nợ vua kia mười ngàn yến vàng, bị đòi đến trước mặt Vua, nhưng không có gì để trả, đã sấp mình xuống bái lậy xin Vua rộng lòng hoãn lại kỳ hạn. Vua “chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ” (Mt 18,27). Tha hết món nợ kếch xù cho anh, Đức Vua chỉ mong anh cũng biết xót thương anh em như vậy. Nhưng rất tiếc cho anh, thay vì tha cho người bạn chỉ mắc nợ một trăm quan tiền, món tiền không là gì so với mười ngàn yến vàng anh vừa được Đức Vua xóa nợ, anh đã “mê muội, ích kỷ, ki bo, tàn ác, nhẫn tâm” đến độ cứ tống anh bạn mắc nợ kia “vào ngục cho đến khi trả xong nợ”, dù anh bạn khốn khổ, túng quẫn ấy đã sấp mình xuống và hết lời van xin. Và cái kết không ngờ đã đến với anh, khi Đức Vua biết chuyện đã cho đòi y đến và bảo : “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao ?”. “Rồi Đức Vua nổi giận, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho Vua” (Mt 18,32-34). Và Đức Giêsu đã kết luận : “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 35).      
Lậy Đức Giêsu, Đấng từ bi, nhân hậu, con biết con sẽ chết, nhưng không biết bao giờ chết và chết cách nào. Vì nhiều tội, lắm lầm lỗi, đầy thiếu sót, ngập khuyết điểm, nên con sợ giờ chết, sợ Chúa thịnh nộ từ chối con, không cho con đứng về phiá bên phải của những người lành được chúc phúc vì  họ đã sống một đời yêu thương, thực hành lòng thương xót.
Vì sợ nên con run rẩy sấp mình van xin Chúa thương xót, tha cho con món nợ Tình Yêu khổng lồ mà con biết sẽ không sao trả nổi. Và để được Chúa chạnh lòng thương, tha thứ, con hứa sẽ không “độc ác” như người đầy tớ không có lòng thương xót trong Tin Mừng mà chính Chúa đã kể, nhưng còn ngày nào được sống trên dương thế này, con sẽ cố gắng thực hiện từng bước Yêu Thương, Tha Thứ trên đường về đời sau.
Xin Chúa thương xót và nhớ đến chúng con trong Nước Chúa, nếu hành trang của chúng con ở giờ chết còn nhẹ tênh, chưa xứng đáng, Chúa nhé !
Jorathe Nắng Tím

DA - KÊU, KẺ ĐI TÌM

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXXI Thường Niên, Năm C            
Tin Mừng kể về nhiều người giầu : có người thanh niên giầu đã “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi” khi nghe Đức Giêsu đề nghị : “Anh chỉ thiếu một điều, là hãy bán đi những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời” (Mc 10, 21-22) ; có người giầu khi sống thì “lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”, nhưng dửng dưng với người nghèo tên Ladarô “mụn nhọn đầy mình, nằm trước cổng nhà ông”. Dưới âm phủ, sau khi chết, người giầu này chỉ dám nài xin : “Lậy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát ; vì ở đây, con bị lửa thiêu đốt khổ lắm !”, nhưng Ápraham trả lời : giữa thiên đàng và hoả ngục “đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (x. Lc 16,19-31) ; có người giầu “nứt tường nứt vách” hớn hở tự nhủ mình : “Hồn ta ơi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !”. Nhưng Thiên Chúa bảo ông : “Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?” (Lc 12, 19-20) ; cũng có người giầu tên là Da - Kêu, “đứng đầu những người thu thuế, và là người giầu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng lại đông, mà ông ta lại lùn. Ông ta liền chạy tới phiá trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó. Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông : Này ông Da - Kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông. Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người” (Lc 19,2-6).
Ông Da - Kêu đã không giống những người giầu được kể : ông không “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi”, như người thanh niên giầu có sau khi nghe lời đề nghị của Đức Giêsu, nhưng ông “vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người” vào nhà mình ; ông không phải xuống hoả ngục vì đã không từ tâm thương xót người nghèo “mụn nhọt đầy mình nằm trước cổng nhà ông” như người phú hộ. Trái lại, ông được Đức Giêsu ngước nhìn lên và nói với ông : “Này ông Da -Kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”, và trong bữa ăn, Đức Giêsu còn nói về ông ta rằng : “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,5.9-10) ; ông cũng không như người giầu khác bị chê là “đồ ngốc”, vì không biết nội trong đêm nay, thần chết sẽ đến lấy mạng, nhưng ông đã thưa với Chúa rằng : “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo ; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19,8).  
Cũng là người giầu, cũng tham ô, hối lộ, “chiếm đoạt” tài sản của thiên hạ cách này cách khác như chính ông thú nhận (x. Lc 19,8), nhưng Da- Kêu đã hoàn toàn không rơi vào tình trạng rầu rĩ bỏ đi sau khi gặp Đức Giêsu của người giàu thứ nhất, không rơi xuống hoả ngục để rồi “bị lửa thiêu đốt khổ lắm” (Lc 16,24) như người giầu thứ hai, cũng không phải “bất đắc kỳ tử” trong đêm mà không mang theo được xu teng nào của người giầu thứ ba.
Nhưng tại sao, Da -Kêu lại may mắn hơn những người giầu này ?
1.   Vì Da- Kêu muốn tìm biết Đức Giêsu là ai ?
Cả ba người giầu tạm gọi là “không may mắn” đều đã không muốn tìm biết Đức Giêsu là ai, ngay cả anh thanh niên giầu có, anh đến hỏi Đức Giêsu cách thức để được sự sống đời đời và khẳng định những điều kiện Đức Giêsu đưa ra như : “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, chớ làm chứng gian, hãy thờ cha kính mẹ” (Mc 10,19), anh đều có tất cả, khi trả lời Ngài : “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ” (Mc 10,20). Nhưng anh quên một điều : Thiên Chúa cần anh tìm biết Ngài, vì chính Thiên Chúa sẽ đổi mới anh, thánh hoá anh, cứu độ anh, chứ không phải lề luật, nhân đức, bởi Đấng anh phải tìm, chính là Đức Giêsu, con người Thiên Chúa, chứ không đến hỏi thăm Đức Giêsu để tìm một bí quyết, một quy tắc, một phương cách, hay khoe khoang công trạng, nhân đức, vì chỉ một mình Ngài là Đường, Sự Thật, Sự Sống, và Đấng Cứu Độ.
Da - Kêu đã không tìm ai, tìm sự gì ngoài “tìm xem cho biết Đức Giêsu là ai” (Lc 19,3), vì ông khao khát muốn biết rõ Đấng mà nhiều người đang đổ xô đi theo, đang say mê nghe Ngài giảng dậy, đang nhận được từ Ngài vô số ơn lành hồn xác. Ông được thúc bách “đi tìm xem cho biết Ngài là ai”, và chính khi đi tìm cho biết Ngài là ai, ông đã bước trên con đường có Ngài đang đi tìm ông. Một hạnh phúc bất ngờ mà ông không thể biết trước, đó là chính Thiên Chúa đi tìm ông, đến gặp ông khi ông vừa lên đường đi tìm Ngài !
2.   Vì Da - Kêu đã hiện thực ước muốn đi tìm Thiên Chúa của mình :
Ước muốn đi tìm để “xem cho biết Đức Giêsu là ai”, Da - Kêu đã không chỉ ước mơ xuông, ước ao để đó, ước muốn chờ thời, nhưng thực hiện ước muốn đó bằng “chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó” (Lc 19,4). Với trí thông minh, và tài tính toán, ông biết địa điểm nào Chúa sắp đi qua ; với ý chí sắt đá và nhiệt tình cao độ, ông thoăn thoắt leo nhanh lên cây sung cao, quyết nhìn thấy Ngài.
Ước muốn “đi tìm biết Thiên Chúa là ai” đã thúc bách ông lên đường khi chạy tới phiá trước. Ông không ngồi lì một chỗ rồi ước mơ, không nằm ở nhà rồi mơ ước, nhưng bỏ bàn thu thuế, bỏ văn phòng làm việc, bỏ bàn nhậu “1,2, 3 Dzô” để “chạy tới phiá trước”. “Chạy tới phiá trước” diễn tả từ bỏ chỗ đang đứng, ra khỏi nơi đang ở, rời hẳn tháp ngà đang yên ấm để ra xa, ra sâu, ra vùng ngoại biên lạ lẫm, nhiều rủi ro, ra với người khác còn xa lạ, chưa quen biết bên ngoài. Hơn thế nữa, ước muốn ấy còn thôi thúc Da - Kêu hăm hở leo lên cây, nghiã là cố gắng vươn cao, hướng thượng, nâng tâm hồn và cuộc sống lên một tầm cao xứng đáng.
Vâng, Da - Kêu là người giầu tội lỗi, như bao người giầu, người nghèo tội lỗi khác, bởi đâu cứ nghèo là thánh thiện, cứ giầu là tội lỗi. Điểm then chốt ở đây là Đức Giêsu đã gọi : “Da - Kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”, trong bỡ ngỡ ngợp tràn hạnh phúc của một người tội lỗi được Thiên Chúa đích thân đến gặp trên đường đi tìm Ngài : Đức Giêsu đã dừng lại ngay dưới gốc sung, gọi đúng tên, và ngỏ ý ở lại nhà Da - Kêu, khi ông ẩn mình trên cành sung cao chiêm ngắm Ngài. Và còn ngạc nhiên hơn nữa trong niềm vui òa vỡ khi Đức Giêsu tuyên bố : “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9), bởi chính Thiên Chúa là Mục Tử dong duổi đi tìm con chiên bị lạc mất (x. Lc 15,4-7), người cha nhân hậu ra đầu ngõ ngóng bóng con trở về (x. Lc 15,20), Đấng Cứu Độ đến giữa loài người để hiến mạng sống làm giá cứu chuộc mọi người, và mãi mãi Ngài đợi chờ và đích thân đến gặp “trong ước muốn và ở những bước đầu của hành trình đi tìm Ngài” của những con người tội lỗi là chúng ta, như đã gọi tên, đến nhà, ở lại và chúc phúc cho người giầu Da - Kêu năm xưa ở Giêrikhô.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2019

TRƯỚC DI ẢNH NGƯỜI QÚA CỐ

                               Lễ cầu nguyện cho các Linh Hồn
Ngày xưa còn trẻ, mỗi lần đi đám tang, tôi chẳng bao giờ nghĩ phận mình cũng sẽ chết như người chết nằm trong quan tài trước mặt, và tỉnh bơ coi như người khác chết, còn ta bất tử… Lớn lên, rồi già theo thời gian lạnh lùng rảo bước, tôi nhận ra ở mình những dấu hiệu gần đất xa trời như đầu óc lẩm cẩm, chân bước liêu xiêu, mắt mũi, ruột gan, tim phổi thường xuyên bất ổn, lúc này tôi mới giật mình hoảng hốt : rồi một ngày không xa cũng sẽ đến phiên khép mình lặng lẽ trong quan tài buồn thảm.
Kinh Thánh  không ngừng nhắc nhở con người phải chết. Ngay từ chương 3 của Sách Sáng Thế, Thiên Chúa đã phán : “Vì từ đất ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19), đến thánh Tông Đồ dân ngoại trong thư gửi giáo đoàn Corinthô cũng nhắc lại chân lý ngàn đời, không thay đổi này : “Mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết” (1 Cr 15,22).
Hôm nay nhìn lên di ảnh của ông bà, cha mẹ, họ hàng thân thuộc, bạn hữu xa gần trong ngày lễ cầu cho các linh hồn, tôi đọc được qua ánh mắt các vị những gì các vị muốn nói:
1.   Các vị cũng đã sợ chết, như chúng ta đang sợ.
Sợ ra đi một mình vào thế giới hoàn toàn xa lạ ; sợ bỏ lại người thân, cuộc đời ; sợ lỗi lầm còn chồng chất, tội khiên còn ngập tràn ; sợ “Chúa im hơi lặng tiếng” “bắt con phải chết cùng quân tội lỗi, với phường ác nhân” (Tv 28,1.3) ; sợ “Chúa chấp tội”  thì làm sao con đứng vững ? (x.Tv 130,3), sợ “bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ” (Tv 31,13).
2.   Các vị đã hy vọng như chúng ta đang hy vọng :
Hy vọng  trong Đức Giêsu phục sinh, như thánh Phaolô dậy : “vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Kitô cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng nơi Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,17-19).
Hy vọng được sống lại với Đức Giêsu : “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người : đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8). “Anh em đã được cùng mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết” (Cl 2,12).
Hy vọng  được Chúa thứ tha mọi lỗi lầm, “vì Người là Đấng từ bi, và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương. Người không xử với ta như ta đáng tội, và không trả cho ta theo lỗi của ta” (Tv 102, 8-10).
Hy vọng Chúa là người cha nhân hậu đã không chấp tội con mình, nhưng tình cha trước sau như một, vẫn “chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ”  người con hoang đàng thống hối khi con còn ở đằng xa trên đường về, lại sai đầy tớ “mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”  (Lc 15,22-24).       
3.   Các vị đã cầu xin  ơn thương xót như chúng ta đang kêu cầu ơn thương xót cho các vị :
Ở giờ lâm chung, khi miệng lưỡi đã tê cứng, thân xác chết dần, các vị chỉ có thể ú ớ, thều thào như người tử tội bị đóng đinh bên phải Đức Giêsu : “Lậy Đức Giêsu, xin nhớ đến con trong Nước của Ngài” (Lc 23,42), và như những người bệnh tật, bị qủy ám ngày xưa đã sấp mặt trên đường đón Chúa đi qua và tha thiết khẩn nài : “Lậy Đức Giêsu, xin thương xót con !” .
Cùng với các vị và cho các vị, cùng toàn thể  Hội Thánh chúng ta dâng lời cầu : “Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ, cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng, vui vẻ vô cùng. Amen”.
4.   Các vị đã bình an phó thác linh hồn trong tay  Chúa là Cha toàn năng và  giầu lòng thương xót, trước sự hiện diện từ mẫu của Đức Mẹ :
Vừa lặp lại lời cầu nguyện của Đức Giêsu trên thánh giá, giờ hấp hối : “Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46), các vị vừa nắm chặt tay Đức Mẹ và bình an trút hơi thở cuối cùng, trong lời kinh thuộc lòng từ tấm bé : “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen”.
Vâng, ở giờ lâm tử, chỉ còn Đức Mẹ là Đấng ủi an, trạng sư bênh đỡ có thần thế trước mặt Thiên Chúa, và là Đấng duy nhất biết con đường  ngắn nhất, nhanh nhất, dễ nhất đưa kẻ có tội về với Chúa Giêsu, nên vai trò của Đức Mẹ cực kỳ quan trọng ở giờ phút quyết định số phận đời đời của mỗi người. Vì thế, hạnh phúc của những ai yêu mến Đức Mẹ là được chết bình an trong tay Mẹ và được cùng Mẹ đi gặp Chúa Giêsu, Con Mẹ yêu dấu, khi linh hồn ra khỏi xác.
Tháng các Linh Hồn, như Bạn, tôi nhớ lắm và cầu xin ơn tha phần phạt cho những người khi còn sống đã yêu thương, cưu mang, sinh dưỡng, giáo dục, cứu giúp, nâng đỡ, ủi an, bênh vực  tôi trên hành trình cuộc sống của họ ; những người khi sinh thời đã đau khổ, nhục nhã, bị tổn thương, chịu thiệt thòi cách này cách khác vì tôi ; những người lúc sống đã vì tôi mà xa Chúa, do tôi mà mất đức tin ; những người ở dương gian đã không nhận được ở tôi lòng trắc ẩn, tình huynh đệ, việc làm bác ái ; những người khi còn sống đã có lúc kỳ vọng ở tôi rất nhiều, để khi chết mới thấy tôi chẳng có gì, chẳng ra gì, nhưng tội lỗi, tầm thường, và rất bất xứng ; cả những người tôi đã một lần ganh ghét, thù hận, giận dỗi hoặc giận dỗi, thù hận, ganh ghét tôi.
Tôi nhớ tất cả các vị và cúi mình cảm tạ, xin thứ lỗi !
Tôi thành kính tưởng niệm và cùng Hội Thánh thiết tha nguyện cầu cho tất cả các vị ơn Thương Xót và Bình An trong Đức Giêsu, là Thiên Chúa từ bi và nhân hậu  đến “để tìm và cứu những gì đã hư mất” (Lc 19,10) ; là Mục Tử nhân lành “đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10) ; là Đấng đã nói với Mácta, khi gọi Ladarô, em cô ra khỏi mồ : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).   
Trong niềm hy vọng vào Đức Kitô phục sinh, tôi hẹn gặp tất cả các vị trong Nước của “Thiên Chúa từ bi, nhân hậu, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung” luôn rộng lòng xót thương kẻ có tội.
 Jorathe Nắng Tím

“TRẺ ĐẸP” MÃI VÌ YÊU THƯƠNG

Mừng Kính Các Thánh Nam Nữ
Là người, ai cũng thích trẻ đẹp, kể cả người luống tuổi cũng níu kéo tuổi trẻ, sắc đẹp của mình bằng chạy đến mỹ viện, cậy nhờ son phấn, trong nuối tiếc thời thanh xuân trẻ đẹp, vì trẻ đẹp là ước mơ khôn nguôi của mọi người.
Trẻ là mơ ước, vì tuổi trẻ hào phóng, quảng đại ; người trẻ dễ gần, dễ thương, dễ cảm thông, chia sẻ ; đời trẻ hăng say, không sợ nguy hiểm, bất chấp thử thách, gian nguy, thế hệ trẻ tràn đầy sức sống, niềm vui, hy vọng. Bên cạnh mơ ước “trẻ” là ước mơ “đẹp”, vì người đẹp được chiêm ngưỡng, yêu thương, ca tụng ; nét đẹp luôn làm phấn khởi lòng người, và sắc đẹp ở đâu và thời nào cũng  là lợi thế không thể chối cãi.
Nhưng thực tế cho thấy mơ ước vẫn mãi là ước mơ, nếu chẳng may không được sinh ra với nhan sắc mặn mà, để một thời được đời gọi là “người đẹp” ; và  một điều không thể tránh, đó là mai ngày tuổi già ập đến, tóc bạc, da nhăn, lưng còng, chân mỏi, và “trẻ đẹp” hờ hững bỏ đi như những giòng sông buồn, cô quạnh.
Chính trong nỗi buồn của những giòng sông cuộc đời không còn trẻ đẹp, Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta những con người không bao giờ hết đẹp, và chẳng bao giờ già nua, những con người đã thực hiện trọn vẹn ước mơ trẻ đẹp của đời mình, vì không chỉ trẻ đẹp mãi dưới ánh mắt, mà còn trong trái tim của Thiên Chúa và loài người. Họ là những con người thánh !
Trước hết, Đức Giêsu giới thiệu những “con người thánh” là những người được Thiên Chúa chúc phúc : họ được chúc phúc vì nghèo khó, hiền lành, công chính, nhân hậu, hay xót thương, trong sạch, yêu mến và xây dựng hoà bình, và bị vu khống, bách hại vì danh Chúa (x. Mt 5, 3-12).
Nhưng có phải họ nghèo khổ, hiền lành, bị bách hại … vì lười biếng, ngu ngốc, khờ dại, hay thiếu khôn ngoan, khéo léo trong cuộc sống không ?
Thưa họ chịu thiệt thòi, thua kém người đời đến nỗi trở nên nghèo khó, bị rơi vào cảnh sầu khổ, bị thiên hạ hàm oan, lên án, chịu mất mát, lép vế, xử tệ vì yêu thương những người anh em của mình. Có người trong số họ nghèo vì quảng đại chia sẻ, sầu buồn vì mang lấy gánh nặng tang thương của người khác, bị hồ đồ tố cáo vì quên mình phục vụ, bị oan uổng kết án vì hết lòng xót thương và hết tình bênh vực, cứu giúp người cô thế, bần cùng, không tiếng nói. Cuộc đời họ trở thành những trang sử bi hùng, không vì “vinh thân phì gia” nhưng vì người khác đang cần trái tim chạnh lòng thương xót và bàn tay chia sẻ của họ ; tiếng tăm, danh dự, chỗ đứng của họ bị đe dọa, bôi nhọ, giật sập vì sự sống và hạnh phúc của những anh chị em “thấp cổ bé miệng” bị đời đàn áp, bóc lột.
Tóm lại, những con người thánh luôn thiệt thòi nhiều, mất mát nhiều, thua lỗ nhiều vì anh em ; họ khổ nhiều nỗi, truân chuyên đủ mặt, vất vả đủ kiểu cho sự sống và tương lai của nhiều người, và dưới con mắt người đời, họ là những người không khôn, không khéo. Và một điều chắc chắn : họ đã không nghèo khổ, nhục nhằn, chịu oan sai, lên án, nếu đã ích kỷ co cụm, lo cho thân mình, mà không xả thân gánh vác việc thiên hạ, hy sinh vì hạnh phúc của tha nhân, chạnh lòng thương xót anh chị em cùng khốn. 
Nhưng phúc cho họ, vì chỉ một mình Thiên Chúa biết họ khôn, vì họ yêu thương và họ được Thiên Chúa ủi an, được nhìn thấy Thiên Chúa, được Nước Trời làm gia nghiệp và phần thưởng lớn lao trên trời. Và vì có Thiên Chúa, có Nước Trời, họ đạt trọn vẹn ước mơ trẻ đẹp trong Thiên Chúa là Tình Yêu .
Qủa thực, trong Tình Yêu, Thiên Chúa là mùa xuân vĩnh cửu mãi mãi làm tươi trẻ tuổi thanh xuân của họ, để họ không bao giờ phải già nua, vì tình yêu luôn làm họ tươi trẻ. Chính tình yêu đã làm tâm hồn một thánh Giáo Hoàng Phaolô II trở thành mùa xuân bất tận của tuổi trẻ thế giới, dù tuổi đời của Ngài cao và sức khoẻ  tiêu hao, tàn tạ những năm cuối đời. Ai có thể nói tâm hồn của vị thánh Giáo Hoàng của thế kỷ XX này già nua, cằn cỗi, lạc hậu, bảo thủ ? Ai có thể tìm ra những tiêu cực của tuổi già ở vị thánh của giới trẻ thời đại, ngay cả trên giường bệnh ? Những phong trào trẻ trên khắp thế giới được khai sinh từ “tinh thần trẻ”  Gioan Phaolô II, những đại hội giới trẻ thế giới hằng năm từ sáng kiến của vị giáo hoàng suốt đời thao thức làm trẻ trung Đức Tin ở giới trẻ lôi cuốn hàng triệu bạn trẻ khắp nơi về gặp gỡ, chia sẻ làm chứng điều này, bởi chỉ có tình yêu Đức Giêsu mới làm tươi trẻ mãi cuộc đời của những con người thánh như ngài.
Một con người thánh khác, cũng cùng thời đại chúng ta, là Mẹ Têrêsa Calcutta. Nhìn vào cuộc đời của Mẹ, ai dám bảo đó là cuộc đời không đẹp ? Trái lại, mọi người đều trầm trồ ca ngợi Mẹ là con người sống đẹp, sống cuộc đời rất đẹp khi yêu thương và hiến thân phục vụ những con người bị xã hội xô đẩy xuống đáy vực thẳm cuộc đời. Thử hỏi hoa hậu nào đẹp hơn Mẹ ? Mỹ nhân nào đáng yêu, đáng mến hơn Mẹ ? Và một lần nữa, chính tình yêu Đức Giêsu đã làm đẹp mãi con người và cuộc đời con người thánh Têrêsa Calcutta.
Mừng kính các Thánh nam nữ, chúng ta chiêm ngưỡng cuộc đời tươi đẹp của các vị, nhưng quan trọng hơn cả là nhận ra đâu là “bí quyết” đã làm các vị trẻ mãi không già, đẹp hoài không phôi pha, tàn tạ. Bí quyết đó là Tình yêu : tình yêu đã cho các vị được trẻ mãi khi hiện diện sống động và hạnh phúc trong Thiên Chúa và trong tâm hồn anh chị em mình ; tình yêu đã làm các vị đẹp mãi đời đời, vì được Thiên Chúa trang điểm bằng Hồng Ân, và nét đẹp kiều diễm, tráng lệ, thánh thiện của các vị không ngừng thôi thúc, lôi cuốn trái tim người khác nôn nao muốn trở nên giống các vị.
Vâng, khi chiêm ngắm các Thánh nam nữ trên trời, chúng ta mới nhận ra : chỉ Tình Yêu mới bảo đảm đời đời nét trẻ đẹp của chúng ta, vì chúng ta chỉ trẻ mãi, đẹp mãi trong trái tim và cuộc đời của những người chúng ta yêu thương, phục vụ với tình yêu, và vì tình yêu ; chúng ta chỉ  tươi trẻ và xinh đẹp trong sự sống và hạnh phúc mà chúng ta đã cưu mang, xây dựng nơi người khác ; chúng ta chỉ hiện diện với niềm vui rạng rỡ của tuổi trẻ, và sức hấp dẫn lạ thường của nhan sắc trong người khác, bên những bó lúa vàng lung linh nước mắt hy sinh, và óng ánh mồ hôi của tháng ngày yêu thương, phục vụ ; và chúng ta, những con người tội lỗi, chưa đạt đến độ “làm người thánh” như các Thánh nam nữ sẽ chỉ thực sự được trẻ mãi không già, đẹp hoài không xấu, khi  tìm đến và ở lại trong Thiên Chúa là Tình Yêu không đổi dời, không lừa dối, không dập dờn lên xuống, nhưng trước sau vẫn một tình Cha thương con, vẫn một lời hứa : “tất cả những gì của Cha là của con” (Lc 15,31), vẫn đời đời  một mực trân qúy và “đi tìm cho kỳ được” những gì đã mất (Lc 15,4), vẫn luôn hào sảng “mở tiệc ăn mừng, vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, 23-24).
Chính ở Tình Yêu đời đời bất diệt, không đổi thay, nhưng trung tín đến cùng và sâu thẳm tận cùng của Thiên Chúa, dù chúng ta yếu đuối, thay đổi không ngừng, phản bội không hổ thẹn, mà cuộc đời chúng ta được bảo đảm luôn trẻ, đẹp, vì chính Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ nhân hậu sẽ làm tươi trẻ, xinh đẹp cuộc đời mau già nua, héo úa của chúng ta, như đã làm cho các Thánh được bất tử trong tuổi trẻ và sắc đẹp thánh thiện của hồng ân “được làm người để sống yêu thương như Thiên Chúa là Tình Yêu”.
Jorathe Nắng Tím