Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2020

HẠNH PHÚC CỦA MÙA XUÂN GIA ĐÌNH



Mái nhà, gia đình, gia tộc, tất cả là những hình ảnh đậm nét trong tim óc mỗi người những ngày cuối năm, bởi Tết sắp đến, ai cũng háo hức, nôn nao, bồn chồn, trông ngóng được về nhà, gặp mẹ cha, thăm ông bà. Những ngày cận kề Tết, không ai không mơ được trở về mái ấm “có bóng cha hiền hoà, có tình mẹ rất bao la”, không người nào đi xa, “tha hương nơi đất khách quê người” mà không xao xuyến, bùi ngùi nhớ tổ ấm gia đình, ở đó nồng nàn một tình yêu vô vị lợi, tinh tuyền. Và ngày xuân, chính là ngày làm rộn rã, vui mừng trái tim những đứa con được gối đầu vào lòng mẹ, nhưng cũng là ngày làm tim con thổn thức, nghẹn ngào, vì không được sưởi ấm bởi vòng tay ôm nồng ấm của cha.
Tiếng Anh phân biệt rõ “House” và “Home”. Tuy cả hai đều có thể dịch chung là nhà, nhưng ý nghiã nhà của House hoàn toàn khác ý nghiã nhà của Home, bởi Home ăm ắp ân tình, còn House hoang vắng, trống trải. Hoang vắng, vì House chỉ là nhà để ở, nhà che nắng che mưa, nhưng không có tình yêu, khi người ra kẻ vào không thực sự quan tâm đến nhau, và nếu có chào nhau, thì cũng chỉ là những lời chào ước lệ của thói quen lịch sự, như người ra kẻ vào ở nhà nghỉ, khách sạn ; trống trải vì người ở trong nhà này không gắn bó, liên kết, hiệp thông, hiệp nhất trong một tình yêu ngào ngạt hương hy sinh như thành viên của Home : mái nhà, mái ấm.
Vì lý do này, mà không phải “nhà” nào cũng lôi cuốn, hay cứ là “nhà” thì đi xa sẽ nhớ, bởi thực tế đã có những đứa con bỏ nhà đi, vì không chịu nổi cảnh địa ngục của nhà, những bà mẹ ôm con bỏ nhà đi, vì nhà trở thành nơi giam giữ với đe dọa, trừng phạt, bạo hành, những thành viên của nhà mỗi lần nhớ đến nhà đều run rẩy sợ hãi vì bầu khí ngột ngạt đố kỵ, hận thù. Cũng vì thế, mà ngày Tết, dịp đầu Xuân, con cái chỉ trở về mái nhà, mái ấm có tình mẹ cha, có tình huynh đệ, chứ không tìm về ngôi nhà hoang vu, lạnh lẽo, hay gian nhà hiu quạnh, vắng vẻ tình gia đình.   
Như thế, cái làm cho nhà ấm áp là tình yêu, cái làm cho nhà rôm rả tiếng cười của niềm vui là tình yêu, cái làm cho mọi người trong nhà hạnh phúc là tình yêu, cái làm cho con cái mong mỏi, trông ngóng, háo hức được trở về nhà cũng là tình yêu. Tình yêu biến House thành Home ; tình yêu làm cho ngôi nhà, cái nhà, gian nhà,  khu nhà thành mái nhà, mái ấm ; tình yêu có phép thần làm cho lều tranh siêu vẹo, ổ chuột nghèo khó, vách lá thô sơ thành tổ ấm, tổ uyên ương, nôi hạnh phúc, lều “ông hoàng”. Thế nên nhà thiếu tình yêu, người ta sẽ  không nhớ nhà, không mong về nhà, không thấp thỏm trông ngóng tin nhà, không vội vã, khấp khởi thu xếp trở về gặp người nhà dịp đầu Xuân, dưới mái nhà hạnh phúc.   
Qủa thực, chúng ta không thể xa nhà mà không quay quắt nhung nhớ, nếu ở nhà có ba mẹ như vợ chồng bác phó Thức trong tác phẩm “Anh phải sống” của Khái Hưng và Nhất Linh thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn : Anh Thức, chị Lạc nghèo lắm, tuy cả hai làm phu hồ, nhưng không đủ tiền nuôi ba con nhỏ : cái Lớn, cái Bé, thằng Bò. Đứa lớn nhất mới năm tuổi đã phải trông hai em cho ba mẹ đi làm.
Vào những ngày mưa lớn, nước sông Nhị Hà dâng cao, cuồn cuộn chảy kéo về những thân cây, cành khô trôi từ rừng về. Vớt được những thân cây, cành khô này đem bán cho bà Ký thì được bà cho vay tiền mua gạo cho con. Đứng trên đê Yên Phụ, hai vợ chồng nhìn những thân cây, cành khô trôi mà thèm thuồng, khi nghĩ đến bát gạo cuối cùng, chỉ đủ cho hai con gái ăn bữa chiều nay, nhưng khốn khổ thay, mưa vẫn to, gió vẫn lớn, sấm chớp vẫn đùng đùng và nước sông vẫn cuồn cuộn chảy làm cả hai do dự, vì nguy hiểm đe dọa.
Cuối cùng thì cả hai đã xuống chiếc thuyền nan bơi ra giữa sông để vớt thân cây, cành khô… Bỗng thuyền bị lật sấp, lôi theo cả thuyền và những khúc cây, cành khô đã vớt được. Cả hai vất vả bơi vào bờ, nhưng nước sông cuồn cuộn làm chị Lạc đuối sức. Anh Thức thấy vợ chìm lỉm, vội vàng bơi lại gần, một tay xốc nách vợ, một tay cố bơi vào bờ. Nhưng mưa càng to, nước sông mỗi lúc càng dâng cao dữ dội, và đến lượt anh Thức đuối sức. Lúc này, thì anh không còn có thể vừa xốc vợ vừa bơi, và chị Lạc chỉ còn có thể bám lấy vai chồng. Bất chợt, chị thảng thốt nói với chồng : “Em buông ra cho mình bơi nhé !” khi thấy chồng mệt lả. Anh Thức dứt khoát trả lời : “Không, cùng chết cả”. Bỗng trước mắt chị hiện ra hình ảnh ba con nhỏ lung linh trong dòng lệ : thằng Bò, cái Lớn, cái Bé, và chị biết mình phải buông chồng ra, vì anh không còn có thể kéo được chị, mà chỉ có thể bơi được vào bờ một mình. Và chỉ trong chớp mắt, tình yêu dành cho ba con nhỏ đã cho chị nghị lực để buông vai chồng, và chìm nghỉm trong dòng nước dữ dội, sau lời trăn trối “Anh phải sống”.
Vâng, có được người cha thương vợ, thương con như anh Thức ; có được người mẹ hy sinh cho chồng, cho con như chị Lạc, thì chẳng đứa con nào phải bỏ nhà đi hoang, hay bê tha rượu chè, hút sách, vì tình yêu cha mẹ qúa vĩ đại, lớn lao sẽ dư sức bảo vệ, gìn giữ, chăm sóc, nuôi nấng đàn con nên người trưởng thành, hạnh phúc, và mái nhà sẽ mãi là mái ấm của đàn con suốt cuộc đời chúng.
Hình ảnh gia đình có hạnh phúc của mùa xuân cũng là hình ảnh của gia đình “chim cánh cụt”, mà sinh hoạt của chúng không khỏi làm chúng ta suy nghĩ : Hàng triệu chim cánh cụt cha có nhiệm vụ đứng một chỗ ba tháng liền mà không di chuyển, không ăn uống giữa trời đầy tuyết. Chim cha đứng đó để ấp trứng con, bằng đặt trứng trên hai bàn chân ngóc lên cao để trứng không một giây chạm vào tuyết lạnh. Lãnh nhiệm vụ ấp trứng thay vợ, vì vợ không thể đứng yên một chỗ giữa trời đông giá, càng không đủ sức vừa chịu lạnh vừa nhịn đói suốt ba tháng ấp trứng. Vì thương vợ, chim cánh cụt chồng nhường việc đi kiếm thức ăn cho vợ, vì công tác này được xem như nhẹ nhàng hơn phải đứng yên một chỗ dưới tuyết lạnh thời gian dài để ấp trứng. Đến ngày trứng nở ra chim con, thì chim mẹ mang thức ăn về nuôi con.
Có một điều lạ là khi trở về, chim cánh cụt vợ tìm đến đúng chồng mình, giữa hàng triệu chim cánh cụt cha đứng sát nhau im lìm ấp trứng, mà không lộn chồng, “lộn chuồng”. Cũng như sau này, khi chim con khôn lớn, nếu chẳng may bị lạc, nó tìm về đúng cha mẹ mình giữa bầy chim cánh cụt hàng triệu con chen chúc.
Hình ảnh chim cánh cụt vợ tìm về đúng chồng mình giữa hàng triệu con khác, chim cánh cụt cha thay vợ đứng ấp trứng giữa trời đông tuyết, chim cánh cụt con đi lạc sẽ tìm về chính xác chỗ cha mẹ mình đã nói lên sự gắn bó kỳ diệu của loài chim cánh cụt trong tình yêu gia đình. Chúng yêu nhau và hy sinh cho nhau ; chúng yêu nhau và không phân bì, so đo trước công việc vất vả, nặng nề, nhưng đỡ đần, chia sẻ và sẵn sàng thay nhau tùy sức gánh vác.    
Tóm lại, gia đình chỉ có muà xuân khi có tình yêu, chỉ mang lại hạnh phúc cho mỗi thành viên khi mọi người trong nhà biết hy sinh cho nhau. Thiếu tình yêu, căn nhà sẽ hoang vắng, ngôi nhà sẽ tiêu điều ; thiếu hy sinh, mái ấm sẽ lạnh tanh, mái nhà sẽ trống trải. Và điều này cho chúng ta nhận ra một chân lý, đó là tình yêu gia đình cũng như bất cứ tình yêu nào khác không thể thiếu hy sinh, bởi yêu ai là trao ban, dâng tặng chính mình cho người ấy, bởi tình yêu đích thực chính là ước mơ và quyết tâm thực hiện ước mơ đem lại Hạnh Phúc cho người mình yêu.
Và mỗi độ Xuân về, gia đình luôn là nơi đàn con cháu ngong ngóng trở về đoàn tụ quanh ông bà, cha mẹ, bởi chỉ ở gia đình, chúng ta gặp được tình yêu hy sinh, tình yêu quên mình, tình yêu đón nhận mọi thiệt thòi, tình yêu liều lĩnh trước mọi thử thách, nguy hiểm, tình yêu chịu đựng, xóa mình, tình yêu trao dâng vô điều kiện, tình yêu cho đi mà không chờ được đền đáp, tình yêu trở nên Ơn Gọi, Sứ Mệnh, Lẽ Sống cho duy nhất một mục đích là Hạnh Phúc của người mình yêu.
Với tất cả tâm tình và niềm vui ngày đầu năm mới, cùng Bạn, người viết xin kính chúc Ông Bà, Cha Mẹ, và Gia Đình chúng ta một muà Xuân như ý : Trái Tim đầy Tình Yêu, Cuộc Sống ngợp Tiếng Cười, Gia Đình chan hoà Hạnh Phúc.
Jorathe Nắng Tím      

LỜI NGUYỆN NGÀY CUỐI NĂM

Hôm nay ngày cuối năm. Còn ít giờ nữa Chúa cho con sống thêm một tuổi, bước vào một năm mới, được đồng hành với vũ trụ và cùng mọi người đang sống viết thêm những giòng mới, trang mới của lịch sử nhân loại.
Tâm tình đầu tiên con dâng Chúa trong ngày cuối năm là hạnh phúc được tiếp tục sống, khi nhớ đến nhiều người thân đã ra đi trong năm cũ, nhiều nạn nhân đã không còn được có mặt đón Giao Thừa, vì bị giết chết oan uổng, bị thủ tiêu do tranh chấp quyền lợi, bị mất mạng vì lòng người gian ác.
Tâm tình cảm tạ Chúa cho con được sống một năm mới cũng nhắc nhở con lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ, ân nhân, bạn hữu, cả những người có một lúc nào đó bị con coi là đối thủ, kẻ thù nay đã rời bỏ cuộc đời, giã từ đời sống, đi vào đời sau. Con cúi đầu cám ơn tình yêu, lòng tốt, ân tình họ đã dành cho con, nhờ đó mà đời con mới có hôm nay. Con không muốn quên một ai, dù chỉ gặp một vài phút trong đời ; con không muốn quên bất cứ điều gì, vật gì, việc gì họ đã chia sẻ, khuyên dậy, trao tặng, và làm cho đời con nên tốt đẹp, xứng đáng hơn, ích lợi hơn. Và con xin được ký thác tất cả những người đã ban cho con hạnh phúc trong lòng thương xót vô hạn của Chúa.
Cũng trong tâm tình cảm tạ, con không khỏi tiếc nuối, hối hận về những sai trái, khuyết điểm của năm qua, không chỉ đối với Chúa và Giáo Hội, mà đối với tất cả mọi người con đã gặp, đã cùng làm việc, cùng sống, cùng đi trên hành trình cuộc đời. Điều con ân hận hơn cả là những xúc phạm đã làm tổn thương, đau khổ những người yêu thương con, những người con có bổn phận yêu thương và trách nhiệm trên hạnh phúc của họ. 
Bên cạnh những hối tiếc ấy, con còn phải đấm ngực ăn năn vì những phán đoán tiêu cực về người khác, những tham lam bất chính, những ganh ghét, ích kỷ, những kiêu căng ngạo mạn, những toan tính đê hèn, những hành vi bất xứng. Và lậy Chúa, để chuộc lại những lỗi lầm đã gây thiệt hại cho anh em, con xin bỏ qua hết và cầu nguyện cho những ai đã khinh ghét, ganh tị, ruồng bỏ, vu oan, hãm hại con trong năm cũ, vì chính con cũng đã gây nhiều đau thương cho anh em con. 
Cũng như những năm trước, vào ngày cuối năm, con tính sổ với Chúa rất lâu, rất nhiều, rất chi tiết, nhưng rồi Năm Mới đến, đến rồi giạt trôi thành năm cũ sau mười hai tháng, 365 ngày, nhưng rồi con vẫn thấy mình dậm chân tại chỗ, vẫn “chứng nào tật nấy”, vẫn lình bình, lầy lội với những khuyết điểm, lầm lỗi quen thuộc, tưởng như kinh niên.
Còn ít giờ nữa thôi trước giây phút Giao Thừa, con dám mạo muội trình lên Chúa thiếu sót mà năm nào con cũng quên, cũng không đặt thành tiêu điểm, cũng không quan tâm đủ, sau khi xét mình, hối hận, ăn năn, bởi chỉ vì hối tiếc thôi, mà không dự phóng một kế họach khả thi, chỉ nuối tiếc thôi mà không quyết tâm thực hiện một công việc cụ thể, chính xác, rõ ràng, con đã dậm chân tại chỗ suốt năm, từ ngày cuối năm ngoái cho đến ngày cuối năm nay, và chắc chắn cũng sẽ không tiến thêm một bước nhỏ nào, từ  ngày cuối năm nay cho đến ngày cuối năm mới sắp bước vào.
Thực vậy, con cần biết rõ : Chúa muốn con làm gì trong Năm Mới, bởi không biết rõ Chúa muốn con làm gì, không nắm vững thánh ý của Chúa trên con, con sẽ như người lấy xe ra khỏi nhà, nổ máy xe, mà không biết mình sẽ đi đâu, đến nơi nào, gặp gỡ ai ; không biết phải làm gì, được làm gì và làm được gì trong Năm Mới ; con cũng sẽ như người đứng tại chỗ mà quay tít như con vụ, để rồi sẽ lăn đùng, té ngã vì choáng váng, chóng mặt.
Có nhiều lúc con lười biếng nên ngụy biện : Chúa có nói gì đâu mà biết điều Chuá muốn ; cũng đôi khi con ngạo mạn và tự lừa dối : sống sao thấy được thì thôi, chứ Chúa đâu có đòi hỏi gì. Thế là con tự cho phép mình tháo khoán, buông thả, lè phè, khi sống “không lẽ sống”, sống “không lý tưởng”, sống “không làm việc” Chúa muốn con làm.      
Tạ ơn Chúa đã cho con nghĩ đến ngày Chúa ngự đến phán xét con trong ngày Chung Thẩm, đang khi con tính sổ cuối năm trước mặt Chúa, để con được trầm mình trong quang cảnh không phải ngày cuối năm, nhưng là ngày cuối đời , khi Chúa “đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên thần theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như Mục Tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng : Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thưở tạo thiên lập địa. Vì xưa ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; Ta trần truồng, ccá ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. Bấy giờ những người công chính sẽ  thưa rằng : “Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu ?”.  Đức Vua sẽ đáp lại rằng : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,31-40).       
Qủa thực, hôm nay ngày cuối năm, Tin Mừng thánh Mátthêu cho con biết rõ không những điều Chúa muốn nơi con, việc Chúa muốn con làm, những con người Chúa muốn con gặp gỡ, yêu thương, phục vụ, để qua Lời Chúa, con không còn nghi ngờ, phân vân về Thánh Ý Chúa, không còn có thể dựa vào phán đoán tự cho là khôn ngoan của mình để tự lừa dối, đánh lạc hướng con đường Chúa muốn con đi, nhưng Thánh Ý được trình bày rất rõ, rất sáng, rất chính xác. Thánh Ý đó chính là bổn phận của con người, nghiã vụ của con Chúa, hạnh phúc Nước Trời được bảo đảm trăm phần trăm.
Vâng lậy Chúa, ngày cuối năm, Chúa dậy con điều con phải làm trong Năm Mới, sau những phút giây hối tiếc chuyện cũ của năm cũ, những khoảnh khắc ăn năn tội lỗi của năm tháng vừa trôi qua : yêu thương và phục vụ những anh chị em bé nhỏ, hèn mọn, xấu số, bất hạnh hơn con.
Họ là địa chỉ con phải đến để gặp gỡ, đối tượng con phải tìm để phục vụ, nhiệm sở con phải thi hành sứ vụ. Cũng chính ở họ, con tìm được niềm vui ; nhờ họ con nhận ra giá trị của cuộc sống ; cùng với họ, con đi về Hạnh Phúc đời đời, nhất là qua họ, con nhận ra chính Chúa, bởi Chúa đã tự đồng hoá mình với những ai bé nhỏ, hèn mọn, nghèo nàn, bị bạc đãi, bỏ rơi, khinh bỉ nhất trong anh em con.
Xin cho con biết biến những hối tiếc, ăn năn về những lỗi lầm của năm cũ thành những bước chân đến với người anh em kém may mắn hơn con trong năm mới ; biết quên đi những xui xẻo, thất bại và nỗi buồn của năm cũ để nhớ đến niềm vui trên đôi mắt ngây thơ của những em bé mồ côi mà trái tim được đổi mới trong năm mới của con có thể đem lại ; biết lau khô và tạm biệt những giọt nước mắt “than thân trách phận” của năm cũ trên mặt con để hạnh phúc của người cô thế bị đời lãng quên, bóc lột, đàn áp được nẩy mầm nhờ đôi bàn tay quảng đại tận tụy vun trồng của con. Và trong tất cả cố gắng ấy, chính Chúa mới là Đấng làm cho ước mơ và mọi việc được thành tựu, bởi con đây là “đầy tớ vô dụng, đã chỉ làm việc bổn phận” mà ông chủ là Thiên Chúa  trao phó (x. Lc 17,10).
Jorathe Nắng Tím       

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019

ĐẦU XUÂN, NHỚ QUÊ HƯƠNG

Là con dân Việt, dù xa quê hương vạn dặm, tôi vẫn một niềm nhung nhớ quê cha đất tổ, trường xưa, làng cũ, mái ấm đơn sơ ấp ủ tuổi thơ ; vẫn nôn nao niềm vui ngày Tết và khấp khởi hạnh phúc đón Năm Mới trước bàn thờ Chúa và tổ tiên giây phút Giao Thừa.
Với niềm nhung nhớ, nôn nao, khấp khởi ấy, đêm nay tôi hướng lòng về quê hương ngàn đời yêu dấu có tên Việt Nam, ở đó, có mồ mả ông bà, cha mẹ, anh chị, có bạn bè năm xưa cùng quê, cùng lớp ; ở đó đang vươn cao niềm hy vọng của tuổi trẻ ra sức phấn đấu để đi kịp bạn bè năm châu, mà chiến thắng vô địch bóng đá  SEA Games 2019 vừa qua đã là bằng chứng hùng hồn ; ở đó còn có những con người rất nghèo nhưng trong sạch, liêm khiết ; có những dáng dấp mảnh khảnh, bé nhỏ, tưởng yếu đuối, nhưng vô vàn can trường, qủa cảm đang sống cho và vì hạnh phúc của người khác như những cô giáo chôn đời ở buôn làng hẻo lánh vì tương lai của đám trẻ người dân tộc thiểu số, những chị y tá đồng lương không đủ ăn, nói chi đến áo quần, phấn son ngày đêm tận tụy quên mình bên những bệnh nhân nghèo, cô thế ; ở đó có những bà mẹ lưng còng bán vé số nuôi đàn con học đại học, những người cha “xe ôm”, phu hồ chai sạn sương gió, nắng mưa để hằng ngày có bữa ăn đạm bạc cho vợ con ở nhà ; ở đó cũng có những tấm lòng vui vì được phục vụ, hạnh phúc vì được chia sẻ, trao ban, và ở đó, ngày ngày dân tôi vẫn vui vẻ chuyện trò, vẫn niềm nở đón tiếp, vẫn rộn rã chung vui, vẫn ân tình, hào sảng, vẫn lạc quan, hồn nhiên, vẫn hy vọng, nhẫn nại, vẫn tự tại, ung dung, dù bóng tối vẫn rình rập, đêm đen vẫn bủa vây, mây mù vẫn giăng kín.    
Nhưng cùng lúc, khi hướng về quê hương vào những ngày “năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến”, tôi không tránh khỏi nghe mắt mình cay sè một nỗi đau khôn tả : tôi đau nỗi đau của dân tôi bị bóc lột đến tận xương tủy, bị ăn chặn đến bắp ngô lép, củ sắn sùng, bởi những đại quan tham ô như hai bộ trưởng và nhiều quan chức lớn trong đại án AVG mà tòa án Hà Nội vừa tuyên xử ngày 28 tháng 12/2019 ; tôi đau nỗi bất hạnh của dân tôi, khi người bệnh bị chính quan chức bộ Y Tế bắt mua thuốc giả, như  Nguyễn Thị Thu Thủy, quản lý Dược của Bô Y Tế đã cho dân uống thuốc trị ung thư giả, vừa bị khởi tố ngày 18 tháng 12, hay như Nguyễn Thị Minh Châu, trưởng phòng tổ chức hành chính bộ Giáo Dục, bị khởi tố ngày 29 cùng tháng 12/ 2019, vì lợi dụng chức quyền để làm giầu khi cấp bằng đại học giả ; tôi đau nỗi lo của dân tôi khi thực phẩm không còn được kiểm soát, và người ta giết dần dân tôi bằng hóa chất độc hại biến thịt heo thối rữa thành thịt bò tươi ngon, biến trái cây xanh lè thành qủa thơm chín mọng, nên nhà thương nào cũng chật kín, chen chúc xếp hàng lấy vé khám bệnh từ 3 giờ sáng, và bệnh viện nào cũng ồn ào, huyên náo như trẩy hội.  
Tôi còn đau nỗi khổ của dân tôi luôn bị những nhóm lợi ích, gồm những người gian ác, có tiền có quyền lừa bịp, bán đứng ; tôi đau nỗi buồn của những gia đình đang êm ấm bỗng bị côn đồ ập vào nhà cướp của, đè phụ nữ ra hãm hiếp, rồi giết chết, những đứa em bị anh trai đâm chết chỉ vì dăm thước đất hương hảo, những nữ sinh bị hiếp ngay trong lớp học, bị đánh hội đồng giữa sân trường, giờ ra chơi, và không ít những thiếu nữ bị những người đáng tuổi cha chú bắt cóc, hãm hiếp đến kiệt sức, rồi xiết cổ bằng cây côn sắt, như trường hợp nạn nhân Cao Mỹ Duyên, nữ sinh trong vụ án với sáu án tử hình mà toà án Điện Biên vừa xét xử ngày 29 của tháng cuối năm 2019.
Tôi cũng đau nỗi xót xa của những người dân hiền lành, những hàng xóm tử tế, thân thiện, ăm ắp tình làng nghiã xóm đã bị đâm chết vô tội, vì can gián, khuyên bảo vợ chồng đang mâu thuẫn, như vụ án vừa xẩy ra ngày 26 tháng 12/2019, ở Thái Nguyên, trong đó cả bốn người hàng xóm đã bị anh chồng là Hoàng Văn Chín, 43 tuổi đâm chết, khi những nngười này ngăn cản anh trong khi anh hành hung và dùng dao giết vợ là bà Ma Thị Hồng.
Bên cạnh nỗi lo, nỗi buồn, nỗi xót xa làm đau, tôi còn sợ hãi trước hiện tượng rất mới ở những tháng cuối năm, khi trẻ em vị thành niên trong nước thi nhau nhẩy lầu, uống thuốc, cắt gân máu tự tử với thư tuyệt mệnh, mà hầu hết đều chung một nguyên nhân, đó là không chịu nổi áp lực của người lớn, và xã hội.
Chính hiện tượng tự tử ở tuổi thiếu niên rất mới này bắt tôi khựng lại giòng suy tư đau buồn về bất hạnh của dân tôi, và đặt tôi trước một vấn đề lớn hơn, đó là tương lai của dân nước.
Tôi lo cho tương lai của dân tôi, khi nhận ra : không chỉ tuổi trẻ bất hạnh đi tìm cái chết, vì không chịu nổi áp lực từ người lớn, mà nhiều người lớn cũng đang “muốn chết” vì không chịu nổi nhiều thứ áp lực rất kinh khủng, nặng nề.
Có những thứ áp lực từ bên ngoài như đòi hòi bức bách của một xã hội vật chất, tiêu thụ, thực dụng. Trong xã hội, mà đồng tiền là giá trị cao nhất, có sức mạnh vô song, không gì có thể chống lại, và nguyên tắc sinh hoạt của xã hội ấy là : người có tiền luôn có quyền, có lý, thì người nghèo, người không có của chỉ còn là cặn bã, nô lệ ; trong xã hội mà kẻ có tiền làm được tất cả vì xã hội coi những kẻ có tiền là thượng đế, như gặp thấy nhan nhản đó đây những bảng hiệu “có cánh”  : “khách hàng là thượng đế”, thì “nhân, lễ, nghiã, trí, tín” chỉ còn là hàng dổm, phế phẩm cần loại bỏ.
Vì sống trong xã hội đòi phải có tiền, cần phải có tiền, nên đồng tiền tạo nên áp lực rất nặng nề trên đời sống. Nặng nề khi thương trường trở thành chiến trường ; nặng nề khi muốn có tiền phải đấu đá, tranh giành, thủ đọan, bất chính, bất công, bạo lực ; nặng nề khi để có tiền, người ta phải bán rẻ lương tâm, hủy bỏ lương thiện, từ chối lương tri. Đồng tiền còn đẩy con người đến tham lam vô độ, và làm con người xa cách nhau vì “ganh ăn tức ở”, ghen ghét, đố kỵ, hận thù.
Nhưng có lẽ áp lực lớn nhất, căng thẳng nhất do xã hội vật chất gây ra, chính là con người không còn tin nhau. Không còn tin nhau khi đồng tiền làm người này nghi ngờ người kia, người kia ngờ vực người nọ, chỉ vì ai cũng dành phần lợi vật chất về mình, ai cũng tham, cũng muốn nhiều tiền và rất nhiều tiền. Cũng vì tham mà Nguyễn Văn Đông đã không tin em trai mình là Nguyễn Văn Hải nên đã vung dao giết nhiều người của gia đình em trai ; cũng vì không tin nhau, mà các phe nhóm rình rập trừ khử nhau để tránh hậu họa phản bội, vợ chồng đầu độc nhau, để bóc gỡ nguy cơ bất trung, bất tín, bởi một xã hội vắng bóng niềm tin là một xã hội nặng nề áp lực, vì không gì căng thẳng, ngột ngạt hơn khi phải sống với người mình không tin, không tin mình.
Những ngày cuối năm là thời điểm kết toán thu họach, tính sổ lời lỗ. Công ty, xí nghiệp tư nhân cũng như cơ quan Nhà Nước, tổ chức từ thiện, tôn giáo, cũng như gia đình, bản thân mỗi người, tất cả đều chọn một thời khắc dừng lại, nghỉ chân ở những này cuối năm để nhìn lại, xem lại, suy tính lại, sắp xếp lại, phân bổ lại, kế hoạch lại sao cho hợp tình, hợp lý, tốt đẹp, hài hoà, và đạt chỉ tiêu, hiệu qủa.
Thiết tưởng sẽ là một sắp xếp hợp lý, khi dân nước không còn chịu áp lực nặng nề của lòng tham không đáy của những quan chức tham ô chiếm đoạt tài sản quốc gia, bóc lột xương máu của đồng bào để vinh thân phì da ; sẽ là một phân bổ hợp tình, khi lòng tham được kiểm soát, giới hạn một cách có nhân văn, để không ai là sát thủ, không ai là nạn nhân, vì mâu thuẫn quyền lợi vật chất ; sẽ  là một kế hoạch xứng tầm, khi quyền lợi của mọi người được tôn trọng và bảo đảm, để không ai vào bệnh viện để được chữa trị lại chết, vì phải uống thuốc giả, không còn những sinh viên được đào tạo bởi những ông thầy không học mà có bằng tiến sĩ, cao học.
Vâng, Năm Mới là cơ hội thuận tiện để xem lại lối sống duy vật chất, tôn thờ đồng tiền, thần tượng kẻ giầu sang đang được ưa chuộng trên quê hương, để thang giá trị nhân bản được tái lập, hầu đem lại cuộc sống có giá trị nhờ tính nhân văn, nhân ái ; Năm Mới là khởi điểm cần thiết tìm lại động cơ phát triển các tương quan đặt trên niềm tin, lẽ công bằng, tình tương thân tương ái, hầu bảo đảm một đời sống an bình, hạnh phúc cho đất nước, dân tộc.  
Trước thềm Năm Mới, tuy còn đầy dẫy những chuyện buồn ở quê hương ; lôm côm những đại án tham quan ; tang thương, đẫm máu những cảnh giết lát, hãm hại  trong nhà ngoài ngõ, tôi vẫn vững một niềm hy vọng : đất nước tôi sẽ khá hơn trong Năm Mới, khi mọi người ý thức : chúng ta chỉ có thể khá hơn, nếu bớt tham lam, bớt ganh ghét, bớt cạnh tranh bất chính, bớt lấy thịt đè người, bớt nham hiểm thủ đoạn, bớt hành xử phi nhân, bớt coi người nghèo, kẻ yếu là sâu bọ, đồ bỏ, bớt hống hách, cửa quyền, bớt côn đồ, bạo lực. Bởi chỉ bớt những thứ độc hại đó, đất nước mới lành mạnh, đồng bào mới hạnh phúc, quê hương mới bình an, và Xuân về mới rạng ngời, tươi sáng.
Bởi thế, lời chúc Năm Mới dâng về Quê Hương, kính gửi về Đất Mẹ của tôi sẽ chỉ là niềm Mơ Ước : “Dân Việt từ nay biết thương nhau hơn, tin nhau hơn, cho Hạnh Phúc bất tận của Mùa Xuân quê hương”.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2019

ĐỨC GIÊSU, CÂY CẦU HÒA BÌNH

 
         LỄ ĐỨC MARIA – MẸ THIÊN CHÚA - Cầu nguyện cho Hoà Bình Thế Giới
Người ta chỉ có thể giao thông, qua lại giữa hai bờ của một giòng sông, hai bên của một thung lũng, vực thẳm bằng một cây cầu. Cầu làm cho hai bên, hai bờ xa cách gần lại nhau ; cho hai bên, hai bờ cách trở thông thương với nhau ; cho hai bên, hai bờ bế tắc không còn tường ngăn, rào cản. Cầu làm được công việc nối kết, nối liền, nối lại trên, vì bản chất của cầu là nối : nối hai bên, nối hai bờ, nối hai đầu, nối hai bến.
Đức Giêsu là Cây Cầu nối Thiên Chúa với Con Người, nối thiên tính với nhân tính, nối thiên đàng với trần gian, nối đời người hữu hạn, yếu đuối, tội lụy với Thiên Chúa vô cùng, toàn năng, thánh thiện, nối cuộc đời làm người chóng qua, như hoa sớm nở tối tàn với hạnh phúc làm con Thiên Chúa trong cuộc sống vĩnh cửu, bất diệt. Ngài còn là Cây Cầu  nối sự chết là bất hạnh lớn nhất, và đáng sợ nhất của con người với Thiên Chúa là “sự sống lại và là sự sống” (Ga11,25), nối tương đối của phận người với tuyệt đối của Thiên Chúa, nối trái tim ích kỷ, hay ganh ghét của mỗi người với trái tim tràn đầy yêu thương, bao dung, nhân hậu của Thiên Chúa.
Đức Giêsu là Cây Cầu nối được tất cả, vì Ngài là Thiên Chúa làm người, bởi chỉ có thể nối được Thiên Chúa với con người, khi vừa là người vừa là Thiên Chúa ; chỉ có thể nối được Đất với Trời khi vừa là Thiên Chúa ngự trên trời vừa làm người sống dưới đất ; chỉ có thể nối được sự chết với sự sống, khi vừa là Thiên Chúa hằng sống vừa là con người phải chết .
Và qủa thực, chỉ một mình Ngài mới là Cây Cầu nối kết giữa Thiên Chúa thánh thiện và con người tội lỗi, Cây Cầu nôi liền giữa Thiên Chúa giầu lòng thương xót và con người luôn cần được xót thương, Cây Cầu chuyển tải sự sống  của Thiên Chúa là Tình Yêu đến cho con người phải chết và khổ đau, bất hạnh. Ngài thực là Cây Cầu Giao Hoà, Cây Cầu Cứu Độ đem lại Bình An của Thiên Chúa cho con người, như lời hát của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh : “Bình An dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2,14), và như Đức Giêsu sau khi Phục Sinh đã nói với các tông đồ : “Thầy ban cho anh em Bình An của Thầy” (Ga 14,27).
Đây là Bình An của Thiên Chúa, Bình An từ Trời, Bình An từ sự chết và sống lại của Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ, Bình An mà thế gian không có, “không ban được” (Ga 14,27). Đây là Bình An của thiên đàng, Bình An của Ba Ngôi Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc  tuyệt vời, vô tận cho nhân loại.
Khi ban Bình An của mình cho nhân loại, Thiên Chúa muốn con người được hưởng ngay hôm nay, và tại dương thế này Hạnh Phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa ; được chung hưởng ngay trong cuộc sống trần thế này Hạnh Phúc thiên đàng với thần thánh trên trời, bởi từ nay, vì có Đức Giêsu làm người, có Cây Cầu Hoà Giải, Cây Cầu Cứu Độ là “Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23), Thiên Chúa và Con Người không còn xa tít tắp, không còn cách trở khó khăn, không còn bất khả giao lưu, gặp gỡ, nhưng con người được tha thứ, được hoà giải với Thiên Chúa, được Thiên Chúa kêu gọi đi theo Ngài, ở lại với Ngài, lớn lên trong Ngài, “đồng hình đồng dạng”. Với Ngài, trở nên một với Ngài.
Đây là cốt lõi của mầu nhiệm Giáng Sinh, khi Thiên Chúa làm cho con người được chung phần “thiên tính” với Ngài, khi ban cho con người vinh dự làm con Thiên Chúa. Cao vời khôn ví ở cốt lõi mầu nhiệm Thiên Chúa xuống thế làm người để mang đến cho con người toàn thể thiên đàng, ban cho con người trọn vẹn Hạnh Phúc của triều thần thiên quốc là Bình An của Thiên Chúa Ba Ngôi, và quan trọng hơn cả là được yêu thương bằng chính tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi và được ở  ngay trong nhà của Ba Ngôi Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23), “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9).
Vì thế, Bình An của Giáng Sinh, cũng là Bình An của Phục Sinh : Quà Tặng vô cùng qúy báu của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đã ban cho con người. Thiên Chúa ban Bình An, vì không có gì qúy cho con người hơn Bình An, không hạnh phúc nào vĩ đại với con người hơn hạnh phúc được Bình An, không niềm vui nào sâu sa, bền bỉ, vững chắc cho con người hơn được sống Bình An. Bình An là món quà Thiên Chúa chọn cho con người, nên không thể là món quà dổm, rẻ rúng, tầm thường, nhưng tuyệt với qúy báu, vì là chính Thiên Chúa làm người.
Khi ban Bình An cho các tông đồ, Đức Giêsu phục sinh đã ban chính mình Ngài, chính con người Thiên Chúa mới sống lại sau cuộc khổ hình và tử nạn để cứu chuộc nhân loại, và Bình An của Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa, Vua Bình An ấy sẽ ở lại đến tận thế với nhân loại, và với mỗi tâm hồn đón nhận Ngài (x. Mt 28,20).
Chọn ngày đầu năm là ngày kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đồng thời là ngày cầu nguyện cho Hoà Bình Thế Giới, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta :
1.   Đức Maria chính là Mẹ của Thiên Chúa :
Vì trong Đức Giêsu cả hai bản tính Thiên Chúa và loài người cùng hiện diện, nên không có Đức Giêsu chỉ là loài người, hay Đức Giêsu chỉ là Thiên Chúa như Công Đồng Êphêsô năm 431 đã tuyên tín.
Chính vai trò Cây Cầu nối Đất Trời, sứ mạng nối Thiên Chúa với Nhân Loại của Đức Giêsu còn cho chúng ta xác tín hơn Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, và Đức Maria, vì là Mẹ của Đức Giêsu, khi sinh hạ Ngài ở Bêlem, nên cũng là Mẹ Thiên Chúa, vì Đức Giêsu vừa là người vừa là Thiên Chúa.
2.   Nhân loại chỉ có Hoà Bình khi đón nhận Thiên Chúa trong đời sống :
Thế giới khao khát hoà bình, nhưng Hoà Bình chỉ có mặt và bền vững khi ơn Bình An của Thiên Chúa tràn đầy, nói cách khác : không có Chúa, sẽ không có hoà bình, bởi trái tim con người luôn có ganh ghét nằm phục, có tham vọng bất chính đóng quân, có đố kỵ, hận thù đóng chốt. Vì thế, không dễ để yêu thương, không đơn giản để tha thứ, không đủ qủang đại, thân thiện để xây dựng những cây cầu thông cảm, những nhịp cầu nối kết giữa người với người, như Cây Cầu Hoà Giải, Yêu Thương là Đức Giêsu. Vì thế, phải có Chúa, phải gắn bó với Cây Cầu Hoà Giải, Cứu Độ là Đức Giêsu, Đấng sẽ đổi mới trái tim, tâm hồn mỗi người để tất cả  trở nên những cây cầu hoà giải, yêu thương như Ngài cho thế giới nền Hoà Bình chân chính, trường tồn.
Cùng với Giáo Hội trong ngày đầu năm mới, chúng ta phó thác cuộc sống trong tay Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Cây Cầu Hoà Giải, Cứu Độ là Đức Giêsu, và xin Mẹ dạy chúng ta biết xây cầu hơn xây tường : xây những cây cầu thân thiện thay vì xây những bức tường ganh ghét ; xây những cây cầu bác ái, bao dung thay vì xây những bức tường đố kỵ, thù hận ; xây những cây cầu tình người, tình nghiã, tình thân, tình vợ chồng, tình phụ tử, tình mẫu tử, tình huynh đệ, tình bạn hữu, tình đồng hương, tình đồng đạo, tình làng nước thay vì xây những bức tường giam hãm, cô lập, ngăn cách, chia lià, đọan tuyệt, khai trừ, tẩy chay, thanh trừng, tiêu diệt. Bởi chỉ với Cây Cầu nối kết Thiên Chúa và Con Người, Cây Cầu liên kết mọi người với nhau trong Thiên Chúa làm người, thế giới mới có được hoà bình, chúng ta mới được sống những tháng ngày bình an, vì Bình An ở ngoài Thiên Chúa sẽ chỉ là bình an nhất thời, tạm bợ, vay mượn, vá víu, nếu không muốn nói là “bánh vẽ”, giả tạo, vu vơ, mơ hồ, che giấu ích kỷ, ganh ghét, tham vọng, và thủ đọan đàn áp, thống trị.
Cầu nguyện cho hoà bình thế giới, chính là cầu nguyện cho mọi người biết mở lòng đón nhận Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, con của Đức Maria, Cây Cầu Hoà Giải với ơn Bình An đích thực là hạnh phúc của Thiên Chúa Ba Ngôi cho nhân loại.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

MÁI NHÀ NGÀY XUÂN


Những năm tháng còn bé, ở nhà với cha mẹ, không ai nghĩ đến hạnh phúc được ở nhà, có nhà, về nhà, nhưng khi lớn khôn vào đời, rồi bôn ba, phiêu bạt đó đây, người ta mới hiểu thế nào là hạnh phúc có được mái nhà, niềm vui được ở nhà với mẹ cha, và nỗi nhớ  nhà quay quắt những ngày đầu năm, Tết đến.
Qủa thế, không người con nào quên được nhà mình vào dịp đầu xuân : nhà mình rộn ràng, xôn xao những ngày trước Tết ; nhà mình được sơn phết, dọn dẹp, trang hoàng ; nhà mình sân trước vườn sau gọn gàng, sạch sẽ ; nhà mình khói hương ngào ngạt bàn thờ tổ tiên ; nhà mình ấm cúng chuyện trò bên nồi bánh chưng, bánh tét ; nhà mình mai, đào rực rỡ, hoa trái xum xuê ; nhà mình khấp khởi mong ngóng anh trai, chị gái từ xa về ; nhà mình rộn rã tiếng cười và chất ngất hạnh phúc đoàn tụ, yêu thương .
Chẳng thế mà cứ mỗi độ Xuân về, người xa quê lại chạnh lòng nhớ quê, người đi xa tìm về mái ấm, người tha hương thổn thức niềm thương nỗi nhớ mái nhà xưa, làng quê cũ, với gốc tre, bụi chuối, khóm trúc, luống khoai, rặng dừa. Và nhớ hơn cả là hình bóng ông bà, cha mẹ đã khuất với rất nhiều kỷ niệm ấm êm những năm tháng được sống với ông bà, cha mẹ.
Như bất cứ người con nào, chúng ta gắn bó với nhà mẹ cha, vì ở đây, chúng ta được sinh ra và nuôi lớn ; ở đây chúng ta được học làm người và từ đây chúng ta bước chân vào cuộc đời sau nhiều năm được chuẩn bị kỹ lưỡng, nên trách làm sao được, khi đứa con bị người ta đuổi ra khỏi nhà cha mẹ mình đã uất ức, điên cuồng phản ứng dữ dội ; khi cả nhà lăn lộn, hoảng lọan vì bị cưỡng chế ra khỏi nhà, trước khi nhà bị giật sập, san bằng theo lệnh quy họach. Cũng thế, không ai đã không khỏi ngậm ngùi, tiếc xót khi bất đắc dĩ phải bán nhà mẹ cha, miễn cưỡng phải chia năm xẻ bẩy mái ấm gia đình, bắt buộc phải để người xa lạ chiếm cứ, phá rỡ ngôi nhà tổ vô cùng qúy báu, thân thương.
Vâng, nhà cha mẹ, còn gọi là nhà tổ thực là một kho báu qúy giá mà không gì có thể mua được, đối với những đứa con có tâm hồn, và hiếu thảo. Sở dĩ phải có tâm hồn, vì ở vào cái thời thực dụng tận chân răng này, thì cha mẹ chưa chết, con cái đã nhao nhao đòi bán nhà chia của, hay ngọt ngào dụ dỗ cha mẹ nhường nhà đang ở, để những đứa con tham lam “chia năm xẻ bẩy” mái ấm, nhà tổ. Đây là sự thực đáng buồn ngày ngày xẩy ra trong xã hội hôm nay, bởi nhan nhản  những cha mẹ già chỉ ao ước được nhắm mắt trong ngôi nhà của mình đã tạo nên bằng mồ hôi nước mắt, thế mà cũng không được toại nguyện, vì những đứa con không có tâm hồn và bất hiếu của thời đại  thực dụng.
Vì thế, giữ được nhà tổ, giữ được mái ấm của cha mẹ đã xây dựng không còn là việc dễ làm và chuyện dễ có hôm nay nữa, bởi tiền của đã trở thành yếu tố quyết định, vượt xa giá trị gia đình, cũng như tương quan giữa các thành viên trong gia đình không còn mang tính thiêng liêng, bất khả xâm phạm, khi cha mẹ không còn được yêu kính, phụng dưỡng hết lòng, anh lớn không còn được em út yêu mến, vâng phục, và trật tự, nề nếp, gia phong bị đảo lộn, hủy hoại một cách khủng khiếp và tận gốc rễ. Những thảm cảnh tội ác gia đình như anh giết em, con hãm hại mẹ, cháu xiết cổ ông bà đến tắt thở, mà báo chí hằng ngày phải ngao ngán đăng tải là bằng chứng cho tình trạng xuống dốc của gia đình và số phận hẩm hiu của Mái Nhà.   
Nhưng không có mái nhà để nhớ, không còn mái nhà để ước mơ trở về, không nhà tổ để niềm hy vọng một ngày được sống lại kỷ niệm ấu thơ, niên thiếu trong chính nơi mình đã được sinh ra, được ẵm bế yêu thương, được chăm nom, dạy dỗ, nhất là được thở làn khí năm xưa của cha mẹ một đời tận tụy, hy sinh vì đàn con thơ dại, được hít hà mùi hương dịu dàng của cây mận “cổ thụ” gần giếng phiá sau nhà do chính tay mẹ trồng, được trèo lên cây xoài do tay cha chăm bẵm, và nhắm mắt tưởng nhớ tình cha ngọt ngào, những người con vô phúc xa nhà, xa quê cảm thấy hụt hẫng, chênh vênh, như thiếu vắng một cái gì quan trọng lắm trong cuộc đời mình.  
Không có mái nhà để nhớ, không còn mái nhà để thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người con xa xứ, xa quê sẽ buồn lắm mỗi độ Xuân về, vì Xuân găn liền với Nhà, Xuân không thể “không nhà”, Xuân chỉ rực rỡ, rộn ràng, nao nức, khấp khởi, vui tươi, hạnh phúc khi Xuân có Nhà, Xuân có người nhà, Xuân đón người đi xa về nhà, Xuân ngóng đợi người nhà ở xa, Xuân quây quần, tụ họp mọi người trong nhà. Không có nhà, Xuân bất hạnh vì thiếu tình cha, tình mẹ ; không còn nhà, Xuân thất thểu vì không bến đỗ bình yên ; không được ở trong nhà, Xuân cô đơn, lạc lõng ; không được vào nhà, Xuân ngậm ngùi, nức nở phận lang thang.   
Hôm nay Xuân về, là người con xa xứ, con kính cẩn cúi mình trước Chúa Xuân, là niềm vui của mọi người !
Xin Chúa Xuân ban cho dân con “Mái Nhà Quê Hương, Dân Tộc” an bình, cho mọi gia đình có mái  ấm yêu thương, cho cha mẹ già an nhàn trong nhà mình, cho con cái, cháu chắt quây quần, xum họp quanh ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, cậu mợ, anh chị em dưới mái nhà tổ an vui. Và con thiết tha xin Chúa Xuân ban hơi ấm mùa Xuân, và tình Xuân hy vọng cho tất cả những ai không nhà, vì bất cứ lý do nào.
Jorathe Nắng Tím
        

THÁNH GIUSE TRONG GIA ĐÌNH THÁNH

Mỗi lần chiêm ngắm Gia Đình của Đức Giêsu, chúng ta không khỏi ngạc nhiên về thánh Giuse, khuôn mặt quan trọng của Thánh Gia nhưng luôn mờ nhạt, kín đáo, âm thầm, và yên lặng. Không một lời về ngài, ngoại trừ “là người công chính” (Mt 1,19), còn tất cả các lời khác về ngài đều  là những Lời trong mơ, Lời thì thầm trong giấc ngủ.
Tin Mừng lễ Thánh Gia làm nổi bật thái độ chăm chú lắng nghe và hăng hái thực hiện Lời Thiên Chúa của thánh Giuse khi tường thuật tỉ mỉ về cuộc chạy trốn trước  lệnh truy lùng gắt gao của vua Hêrôđê, sau khi biết các đạo sĩ đã tìm đường khác về nhà, mà không trở lại Giêrusalem để gặp lại và cho Vua hay về nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra :
Khi các đạo sĩ đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho Giuse rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đế khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy ! Ông Giuse liền trỗi dậy và đang đêm, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà …” (Mt 2,13-15)
Thái độ của thánh Giuse cho chúng ta nhớ lại thái độ tuyệt đối vâng lời Thiên Chúa của Môsê đã đem vợ con về lại Ai Cập, khi Đức Chúa phán với ông ở Mađian : “Đi đi, hãy trở về Ai Cập, bởi vì mọi kẻ tìm cách làm hại mạnh sống ngươi đã chết cả rồi” (Xh 4,19).
Như Môsê, thánh Giuse đã tin tưởng tuyệt đối vào Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành. Ngài là con người của đức tin, khi đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa, vào Lời Thiên Chúa và không nghi ngại lên đường với Hài Nhi và mẹ Ngài trốn khỏi cơn giận dữ và truy lùng tìm giết Hài Nhi của vua Hêrôđê, để bảo vệ tuyệt đối ngai vàng.
Như Đức Maria, người nữ có phúc hơn mọi người nữ đã kiên trì trong đức tin từ buổi Truyền Tin đến Lễ Hiện Xuống, ngang qua đường Thánh Giá và biến cố Phục Sinh, thánh Giuse đã không ngừng chú tâm lắng nghe Lời Thiên Chúa chỉ bảo, hướng dẫn để từng ngày, và ở bất cứ tình huống nào, ngài vẫn trung tín chu toàn bổn phận làm cha nuôi Đấng Cứu Thế, và làm bạn thanh sạch Đức Trinh Nữ Maria trong chương trình cứu độ mầu nhiệm.
Suốt đời làm gia trưởng, Thánh Giuse đã chỉ được nghe thiên sứ nói cho biết điều Thiên Chúa muốn trong giấc ngủ, giữa cơn mơ, và Tin Mừng ghi lại ba lần Ngài được báo mộng :
Lần thứ nhất khi thánh Giuse phân vân muốn bỏ Đức Mẹ cách kín đáo để giữ thanh danh cho Đức Mẹ khi thấy Đức Mẹ có thai : Đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-21). Và ngài đã đón Đức Mẹ về nhà mình, như Lời sứ thần dậy.
Lần thứ hai là lệnh thiên sứ truyền phải trốn qua Ai Cập, và ngài cũng nhanh chóng tuân hành, thực hiện (x.Mt 2, 13-15).
Lần thứ ba là, sau khi vua Hêrôđê băng hà, thiên sứ lại hiện ra với ông Giuse bên Ai Cập, báo mộng cho ông rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi. Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen” (Mt 2,19-21). 
Biến cố Lời Thiên Chúa được nói với thánh Giuse trong giấc ngủ, giữa giấc mộng cho chúng ta thấy : đức tin là ơn sủng của Thiên Chúa, nhưng đức tin luôn đặt chúng ta trước một chọn lựa, và chọn lựa này không luôn dễ, bởi đức tin không luôn minh bạch, rõ ràng, chắc chắn, như kết qủa của khoa học thực nghiệm được  “cân, đo, đong, đếm”, nhưng đức tin đòi chúng ta phó thác ở Thiên Chúa khi đức tin được trình bầy và mời gọi trong tình trạng “luôn đủ ánh sáng để chúng ta thấy, đồng thời đủ bóng tối để chúng ta tin”, bởi nếu thấy rõ mồn một, nhìn được tỏ tường trên dưới, ngang dọc, thì cần gì đến tin, như khi ta gặp gỡ, chuyện trò, ăn uống với một người nào rồi, thì ta đâu cần phải tin vào lời của người khác nói về người này nữa. Cũng vậy, đức tin luôn đòi sự liều lĩnh dấn thân, tín thác của ta vào một mình Thiên Chúa, nhờ đó, hành vi đức tin mới có giá trị cứu rỗi, và như thế mới được gọi là đức tin.
Sở dĩ gia đình của thánh Giuse, Mẹ Maria và Đức Giêsu được gọi là gia đình thánh, không phải vì gia đình gồm toàn thánh, nhưng vì gia đình gồm những người luôn chú tâm lắng nghe Lời Thiên Chúa, tin vào Lời Chúa và đem ra thực hành, như Đức Giêsu đã qủa quyết trong Tin Mừng : “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).
Vâng, Thánh Gia hôm nay mời gọi chúng ta lắng nghe Lời Thiên Chúa và thực hành Lời hằng sống ấy bằng yêu mến cha mẹ như bài đọc thứ nhất nhắc nhở : “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu… Hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già ; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người. Vì lòng hiếu nghiã với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con… Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa. Thiên Chúa sẽ nhớ đến con, ngày con gặp khốn khó, và các tội con sẽ biến tan” (Hc 3, 3-4.12-15), và thực hiện điều Thiên Chúa muốn trong tương quan với các thành viên gia đình, cũng như với anh chị em trong cộng đoàn, như thánh Phaolô căn dặn trong bài đọc thứ hai : “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà, nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3, 12-14).  
Nơi thánh Giuse, người gia trưởng của đức tin, chúng ta noi gương chú tâm lắng nghe và trung thành thực thi Lời Thiên Chúa, bằng nhạy bén nhìn ra những dấu chỉ của Thiên Chúa trong lịch sử, cũng như qua con người. Với thánh Giuse, chúng ta học nhìn mọi sự, mọi biến cố với đôi mắt Đức Tin, và như ngài, chúng ta tập đi trên con đường tự do, bởi chỉ có Lời Thiên Chúa mới cho chúng ta được tự do đích thực trong Đức Tin.
Lạy thánh Giuse, vị gia trưởng rất yêu mến của Thánh Gia !
Xin  phù hộ và ban tràn đầy niềm vui trên ông bà, cha mẹ chúng con, và cho chúng con biết học với Thánh Cả gương thinh lặng xóa mình, bài học kín đáo quên mình, thái độ âm thầm hiến mình cho hạnh phúc của mọi người trong gia đình thân yêu của chúng con.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2019

TẠI SAO CHÚNG TA BỊ LỪA TIỀN ?

    Qua mang xã hội, và truyền hình an ninh chính thống, hằng ngày chúng ta xem, nghe không biết bao nhiêu vụ lừa đảo kỳ tình. Có những chiêu lừa bị  rồi vẫn không tin đó là sự thật ; có những màn lừa, thấy rồi cũng chưa dám nghĩ người ta có thể lừa giỏi đến thế. Và kết thúc mỗi câu chuyện lừa, người ta đều  được nghe  lời cảnh báo, dặn dò : phải  thận trọng đề phòng, phải đề cao, cảnh giác !
Nhưng đề phòng thế nào được khi chính người bị lừa đảo, trước đó đã là người đi tìm cho bằng được kẻ lừa đảo để được “gửi thân gửi phận”, như một thời người ta chen chúc nhau gửi tiền vào một công ty lừa đảo, vì tiền lời hàng tháng cao ngất ngưởng , hoặc hết lời năn nỉ, dấm dúi tiền cho đám cò, để được làm thân với tên lừa đảo siêu hạng và tự nguyện nộp hết gia sản cho hắn, vì mê man lãi xuất cực kỳ cao. Đề phòng đã khó, cảnh giác còn khó hơn, bởi dù có nghi ngờ, nghi vấn, nghi hoặc thế nào đi nữa, nhưng khi bị dụ dỗ, lại thấy người này người kia hớn hở “đầu tư”, góp vốn, nạn nhân bị lừa đảo thường đổi ý, tự trấn an, khi xóa đi ý nghĩ tiêu cực về tên lừa đảo chính hiệu, để rồi tự mình sa vào cạm bẫy.
Như thế, phương án tránh bị lừa không chỉ nằm ở “đề phòng, cảnh giác”, nhưng hệ tại ở một nguyên nhân khác, sâu sa hơn, nằm ngay trong ta, có sức thôi thúc, điều khiển quyết định của ta. Đó là lòng tham trước bả tiền bạc.
Quan sát các cú lừa ngọan mục của những Siêu Lừa thời đại, chúng ta nhận thấy lòng tham là mục tiêu được nhắm, lòng tham là đích phải đạt, bởi chỉ lừa được thiên hạ khi khơi dậy thành công ở thiên hạ lòng tham. Lòng tham như cò súng, nếu bật được cò, thì mới có con nhạn trúng đạn, mới có nạn nhân sập bẫy lừa đảo.
Qủa thực, lòng tham ở mỗi người là mồi ngon của đám thợ săn lừa đảo. Chúng biết hầu hết đều tham : nghèo thì tham để giầu, giầu thì tham để giầu hơn ; thiếu thì tham để có, có thì tham để thừa, bởi lòng tham thì vô tận, không đáy : có bao nhiêu cũng còn thiếu, có bao nhiêu cũng chẳng thừa. Và được mấy người biết mình đủ, nên đa số không biết dừng thu gom, vun vén, chắt bóp, nhặt nhụm của cải cho mình. Đó là cơn cám dỗ dai dẳng, kín đáo nằm phục trong tâm hồn mỗi người, mà không phải ai cũng đủ khả năng chiến thắng, vượt qua.
Không dễ vượt qua, vì lòng tham mạnh hơn lý trí, khi bầy ra một tương lai huy hoàng của người “không làm ăn vất vả, nhưng được ngồi mát, ăn bát vàng”, bởi lòng tham bao giờ cũng liên minh với tính lười biếng : không làm mà có ăn. Vì muốn giầu nhanh, bốc lẹ, mà lòng tham sẵn sàng lao vào bẫy lừa của “vốn nhỏ, nhưng lãi xuất cao chót vót”, đầu tư nhỏ giọt nhưng lời đậm, lãi kếch sù.
Không dễ chiến thắng, vì lòng tham lấn át ý chí, khi làm cho ý chí trở nên yếu đuối, suy nhược trước bả giầu sang, để sẵn sàng gạt đi những dấu hiệu, khả thể của thất bại trước những mạo hiểm liều lĩnh được thúc đẩy, hướng dẫn bởi lòng tham không đáy. Ý chí trong hoàn cảnh này còn bị tấn công bởi những người chung quanh cũng tham lam vô độ. Những lôi kéo, dục dã, đề nghị của nhân tố bên ngoài có sức tạo nên áp lực nặng nề, để nạn nhân mủi lòng, nhẹ dạ a dua theo.
Có rất nhiều trường hợp ta bị lừa vì chạy theo người chung quanh, hoặc nghe hàng xóm trầm trồ ca ngợi đường giây lừa đảo, mà chính họ không hề biết. Chẳng thế mà một trong những chiêu lừa có hiệu qủa cao của các tay “siêu lừa” là chúng luôn có dưới tay một đạo quân cò mồi “khéo mồm, dẻo miệng”.
Như thế, lòng tham làm lý trí lu mờ, dù lý trí có nhận ra nguy hiểm ; làm ý chí yếu đuối, dù ý chí trước đó cũng đã “mạnh mẽ” từ chối điều không nên làm. Không mấy người sau khi bị lừa, đã đau đớn, thờ thẫn thốt lên : “Lúc đầu, mình đã không muốn góp vốn, không muốn liều rồi, nhưng không hiểu sao lại đâm đầu vào, để chết đẹp, mất hết !”.
Thế mới biết mãnh lực của lòng tham. Nó có thể đánh gục cả lý trí, ý chí và xô đẩy cả những người được coi là khôn ngoan, đạo đức, kinh nghiệm, từng trải vào bẫy lừa tang thương.
Trong cuộc chơi lừa đảo thiếu văn hoá, đạo đức, và không nhân văn này, cả kẻ lừa đảo và người bị lừa đảo đều bị lòng tham khống chế, điều khiển : kẻ lừa đảo “lừa” người khác vì tham lam, mong có nhiều tiền nhờ trúng mánh, người bị lừa đảo “bị lừa” cũng vì tham lam, mong thu về món tiền lớn, nhờ trúng qủa. Trúng mánh hay trúng qủa đều là sản phẩm của cuộc chơi lừa đảo được kích động, kích cầu bởi lòng tham.
Tóm lại, khi lòng tham không được be bờ, ngăn chặn, nó sẽ bùng nổ và làm đảo lộn cuộc sống vốn bình yên, bởi đã có nhiều cuộc đời mất lẽ sống, mất lý tưởng, mất sự nghiệp, mất thanh danh, mất người thân, mất gia đình, có khi mất cả mạng sống, vì liều lĩnh gieo mình xuống vực thẳm của tham lam, khi nghe lời đường mật của những kẻ lừa đảo.
Ý thức lòng tham là nguyên nhân chính khiến chúng ta bị lừa đảo, chúng ta cần đặt ra  hàng dậu cần thiết để tránh những bước chân sa đà lọt bẫy :
1.                      Chúng ta cần kiểm soát lòng tham bằng ý thức lương thiện, công bình :
Ý thức công bình nhắc nở chúng ta tôn trọng quyền lợi của người khác, và lương thiện trong mọi hành vi. Với ý thức này, chúng ta sẽ không để lòng tham nổi cộm, bành trướng, khi dễ dàng đầu tư, góp vốn vào những thương vụ không trong sáng, thiếu minh bạch, bởi bất cứ phi vụ lừa đảo nào cũng có những dấu hiệu của bất công, bất chính : bất công vì chiếm đọat quyền lợi của ai đó, ở chỗ nào đó, và bất chính ở phương cách thực hiện, như khi góp vốn ít mà tiền lời qúa nhiều, chúng ta hiểu ngay : đây là một hành vi bất thường, vì không bình thường như pháp luật cho phép, nên xác xuất bất chính, bất công ắt phải rất cao.
2.                      Chúng ta cần be bờ tham vọng bằng “biết đủ” và giới hạn đúng mức các nhu cầu :
Tham vọng thì ai cũng có, bởi ai cũng muốn tiến thân, tiến tới, tiến nhanh tiến mạnh, nhưng nếu chiều theo tham vọng, thì tham vọng sẽ nhận chìm chúng ta trong biển sâu của chính tham vọng, khi chúng ta đánh mất chính mình vì mê mải chạy theo nó. Cũng như nhu cầu với con người thì vô cùng, vô tận, nếu không biết giới hạn đúng mức các nhu cầu, người ta sẽ đuối sức vì chạy theo giòng chảy không bao giờ ngưng nghỉ của nhu cầu.
Vì thế, người hạnh phúc là người biết be bờ tham vọng, không để tham vọng trở thành sóng thần cuốn trôi , bằng ý thức “biết đủ”, bởi “tri túc hà thời túc”, có biết đủ mới nhận mình đủ, còn người không bao giờ biết mình đủ, nghiã là không có khả năng tự giới hạn những nhu cầu sẽ chẳng bao giờ bình an, hạnh phúc vì luôn thấy mình thiếu, mãi mãi thấy mình chưa đủ. Và vì thấy còn qúa nhiều nhu cầu chưa được đáp ứng, nên sẽ suốt đời tham lam cố tìm cho đủ, cố tìm cách thoả mãn mọi nhu cầu, nhưng rất tiếc, tham vọng thì không cùng, nhu cầu thì vô tận, nên sẽ không bao giờ đủ đối với người không “biết đủ” cho mình.
Rơi vào vòng xóay của tham vọng không đáy và nhu cầu bất tận, chúng ta vô tình lạc vào vùng của tham lam, ở đó cạm bẫy lừa đảo giăng đầy, phủ kín.
Tóm lại, bao lâu còn sống, chúng ta còn phải đối diện, đối đầu với những chiêu trò lừa đảo đủ loại, nào là lừa tình bằng những lời ngọt ngào, có cánh, nào là lừa tiền bằng những thủ đoạn đánh thức lòng tham, và khả thể sập bẫy  hoàn toàn tùy thuộc sự tinh tế, khôn ngoan, và khả năng làm chủ bản thân của mỗi người. Khả năng làm chủ đó dựa trên ý thức lương thiện, công bình để giảm bớt lòng tham luôn hừng hực sôi nổi, và trên chọn lựa “biết đủ cho mình” để giới hạn cách hợp lý các nhu cầu trong cuộc sống.
Với tinh thần “tri túc hà thời túc”, và quyết tâm giới hạn các nhu cầu, chúng ta sẽ giảm thiểu mãnh lực của lòng tham là nguyên nhân chính đưa ta vào cạm bẫy của vô số những kẻ lừa đảo tiền bạc, mà xã hội hôm nay dường như không còn đủ khả năng kiểm soát, chế tài.
Jorathe Nắng Tím