Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2020

COVID-19 và KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Những ngày cuối tháng 12 năm 2019, người ta tưởng Corona chỉ đăng ký hộ khẩu ở Vũ Hán, vì virút được coi như có nguồn gốc từ Trung Quốc, và người ở ngoài lãnh thổ của đất nước gần một tỷ rưỡi người này rất “an tâm”, vì nghĩ virút không bao giờ có thể “bén mảng” đến gần nhà mình, nên có rất nhiều thời giờ “thương tâm” cho những nạn nhân ở Vũ Hán. 
Nhưng bất chợt Hàn Quốc, rồi Iran, Ý, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức, Mỹ… chịu chung số phận nghiệt ngã, sau khi virút Corona đổi tên, đổi họ thành Covid-19 đã đến tận nhà xin tạm trú và đẩy thế giới vào một thảm cảnh mới, ở đó, nhiều người rơi vào tâm trạng rất xa lạ, kỳ quặc.
Thảm cảnh đó là cuộc chiến chống đại dịch đang bành trướng nhanh chóng và tàn sát dã man: con số lây nhiễm, tử vong tăng vùn vụt, bệnh viện hết chỗ, dụng cụ y tế thiếu trầm trọng, đội ngũ bác sĩ, y tá không đủ để đáp ứng nhu cầu phục vụ bệnh nhân, chưa kể tình trạng đổ dốc kinh tế chóng mặt đặt người dân trước nhiều đe dọa, và viễn cảnh tương lai rất đen tối.
Chính trong thảm cảnh này, tâm trạng của nhiều người bắt đầu thay đổi: từ mầu xanh hy vọng đổi thành mầu xám thất vọng, từ “thương tâm” thay bằng “nhẫn tâm”, khi ý nghĩ truy tìm thủ phạm, hành động truy sát “vật tế thần” ngày càng dồn dập, sắt máu, bùng nổ thành cao trào “dân tộc cực đoan, qúa khích”, và kỳ thị chủng tộc qua thái độ loại bỏ, hành vi khai trừ và gọi tên, điểm mặt thủ phạm, nghi phạm, kẻ thù.
Thưc vậy, trong bất cứ thất bại, biến cố, sự kiện nào không đem lại thành qủa, người ta luôn cần, và tìm cho bằng được ít nhất một “con vật tế thần”, thủ phạm, tội đồ để được tẩy rửa trong sạch, được hoàn hảo tinh khiết, được trút bỏ mọi mặc cảm có tội, đồng loã, can dự, chung phần. Một thí dụ điển hình:
Trước thế chiến thứ hai kéo dài từ 01.09.1939 đến 02.09.1945, nước Đức đã rơi vào tình trạng kinh tế kiệt quệ, vì phải bồi thường hậu qủa của thế chiến thứ nhất kéo dài từ 28.07.1914 đến 11.11.1918, mà Đức là một trong những tác nhân chính. Hiệp ước Versailles đè nặng trên nước Đức với món nợ không biết đến bao giờ mới có thể thanh toán xong, và dân Đức ngao ngán, chán chường chịu lép vế với nỗi nhục khó gột rửa của kẻ gây chiến nhưng bại trận đang bị thế giới trừng phạt.
Vào những năm trước 1933, khi Adolf Hitler (sinh 20.4.1889, tự vẫn 30.4.1945) nắm chính quyền, thiết lập đảng và chế độ Quốc Gia Xã Hội Đức, gọi tắt là Đức Quốc Xã, người dân Đức đã bị những nhóm Dân Tộc cực đoan nhồi sọ tư tưởng “nước Đức của người Đức thuần chủng” và đẩy nhiều người vào đường lối bài ngoại, cũng như chính sách loại trừ, kỳ thị chủng tộc.
Những người này quy tội người Do Thái đã gây cho nước Đức nhiều tai họa. Họ lên án người Do Thái đã lộng hành, đầu cơ phá hoại, làm tan hoang nền kinh tế, khiến dân Đức phải chịu nhiều thiệt thòi, gánh nhiều thiệt hại. Thế là tội đồ được gọi tên, thủ phạm bị điểm mặt: người Đức nghèo khổ, bất hạnh chính là vì sự có mặt của người Do Thái trên đất nước họ.
Các sử gia cũng như các nhà xã hội, tâm lý đều chung một quan điểm: nếu dân chúng Đức đã không bị đầu độc, dụ dỗ từ nhiều năm trước bởi phong trào bài ngoại, kỳ thị chủng tộc, thì nhà độc tài Adolf  Hitler, và đảng Đức Quốc Xã của ông không thể cướp chính quyền, cũng như không thể thi hành chính sách tiêu diệt người Do Thái, và liều lĩnh thực hiện tham vọng bá chủ thế giới cùng với Ý và Nhật.
Sở dĩ Adolf Hitler đã thành công khi đưa sáu triệu người Do Thái, bất kể đàn bà, trẻ em vào những trại tập trung và lò sát sinh bằng hơi ngạt như Auschwitz, Dachau, Buchenwald, Ravensbrück, Mauthausen, Sachsenhausen, Lichtenburg, Neuengamme… là do sự ghen tức, thù hằn, phẫn nộ đối với người Do Thái trong lòng người dân Đức từ lâu đã bị khơi ngòi và bùng cháy dữ dội biến thành phong trào bài ngoại “long trời lở đất” dẫn đến những hành động kỳ thị, diệt chủng không còn có thể be bờ, ngăn chặn.
Đó là lý do phần đông dân Đức đã yên lặng đồng loã, không muốn ngăn cản đường lối kỳ thị và diệt chủng của Hitler, mà để ông và đảng Đức Quốc Xã của ông thảnh thơi thao túng quyền hành trong cơn say tiêu diệt nhanh, gọn bao nhiêu có thể người Do Thái cho đến khi không còn người Do Thái nào hiện diện trên địa cầu, như lời thề ngạo mạn và phi nhân của Adolf  Hitler.  
Đọc lại lịch sử dân Do Thái, chúng ta thấy đây là một dân tộc đặc biệt thông minh, đoàn kết và cầu tiến. Ngoài ra Do Thái còn là dân riêng được Thiên Chúa Giavê chọn để tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất  giữa các dân tộc thờ ngẫu thần.
Vì tính “riêng biệt, khác biệt, đặc biệt”, mà họ luôn bị các nước lân bang dòm ngó, tìm cách đàn áp, thống trị, xóa tên. Sách Macabê đã ghi lại cuộc bách hại mà anh em nhà Macabê và dân Do Thái phải chịu đựng trước những tấn công tàn bạo của thế lực ngoại bang, ngoại giáo như câu chuyện hai tướng Nicanô và Goócghiát: Cả hai ông được vua sai “đem không dưới hai mươi ngàn quân thuộc mọi sắc dân đi tiêu diệt toàn thể giống nòi Do Thái… Ông Nicanô trù tính bán tù binh Do Thái lấy sáu mươi ngàn ký bạc để nhà vua trả nợ triều cống cho người Rôma. Lập tức ông cho người tới các thành phố miền duyên hải, mời người ta đến mua các nô lệ Do Thái và dạm bán với giá chín mươi tên là ba mươi ký bạc” (2 Mcb 8,9-11).
Thực vậy, chủ trương tiêu diệt người Do Thái đã có từ lâu đời, và thời nào người ta cũng hành xử giống nhau dưới chung một chiêu bài, cùng một khẩu hiệu sặc mùi xương  máu: “Bao lâu người Do Thái còn sống, bấy lâu đất nước chúng ta vẫn chưa được thái bình” (x. 2 Mcb 14,10).
Sở dĩ người viết chia sẻ với Bạn một thoáng suy tư về nạn kỳ thị chủng tộc có thể nẩy mầm, lớn lên, và lan tràn, bành trướng cũng như đại dịch Covid-19, vì trong những ngày này, báo chí cũng như nhiều trang mạng không ngại đề cập đến những dấu hiệu của kỳ thị chủng tộc, của thù hận nòi giống, của quy trách, kết tội rất nông nổi, hồ đồ và nguy hiểm.
Ở Đức, nhiều người Trung Quốc bị dân bản xứ qúa khích công khai bầy tỏ thái độ khinh khi, nguyền rủa, và không ngượng ngùng xỉ vả: Du bist Virus Corona. Du sollst von hier verschwinden! Mày là virút Corona, cút khỏi đây!; ở Mỹ và nhiều quốc gia khác cũng không tránh khỏi cảnh kỳ thị đáng buồn, khi nhiều người Việt bị oan uổng, vì “thiên hạ” tưởng lầm, nhìn lầm là người Trung Quốc đã sỗ sàng hoặc lạnh nhạt “tát nước vào mặt”: “Virus Chinese, get out of here! – Virus Tầu, cút khỏi đây, hoặc Virus Chinese, stay away from me - Virus Tầu, đừng lại gần tao !. Tất cả những xúc phạm trên đều là sự thật đáng buồn và đáng lo ngại đang xẩy ra nhan nhản quanh chúng ta…
Đúng vậy, vì cần một tội đồ, một vật tế thần, một thủ phạm, người ta đã lên án Trung Quốc, miệt thị người Trung Quốc, khinh bỉ dân Trung Quốc, xa lánh cộng đồng Trung Quốc.
Người ta cho Trung Quốc đã chế tạo virus Corona với ý đồ làm suy yếu các quốc gia, hầu thực hiện nhanh chóng mộng bá chủ toàn cầu; người ta chỉ thẳng mặt người Trung Quốc là thứ dân tồi tệ, dơ dáy, gian tham, thâm độc, luôn tìm cách lấn chiếm, xâm lăng láng giềng; người ta mạt sát dân Trung Quốc là dân tộc “không chơi được với ai”, tiểu nhân, hèn hạ, bỉ ổi, phản bội.
Ôi thôi, khi “cơm đã không ngon, canh không còn ngọt” thì chẳng còn lời lẽ thô tục nào mà không được dùng để phỉ báng, nguyền rủa, và cứ thế, nồng độ khinh bỉ, lên án càng dữ dội, thì mức độ kỳ thị chủng tộc càng sôi sục dâng cao.
Đứng trước cơn sốt truy tìm thủ phạm đại dịch Covid-19, mà nghi phạm lý tưởng số một được số đông bình bầu, tuyển chọn là Trung Quốc, vì nhiều lý do mang  nhiều mầu sắc từ chính trị đến kinh tế, xã hội, văn hoá, ý thức hệ…, người viết mạo muội chia sẻ với Bạn chọn lựa của riêng mình, trong cương vị con người và con Chúa:
1.   Trên cương vị con người, và với lương tâm ngay thẳng, tôi phải tách  người dân Trung Quốc ra khỏi cơ chế chính trị, hay chính sách của Trung Quốc:
Là con người, như bao con người khác, tôi có bổn phận nhân ái đối với đồng loại. Và bổn phận nhân ái bắt tôi phải tôn trọng nhân phẩm, nhân vị, và quyền sống của người Trung Quốc. Không một “lý do, lý lẽ, lý luận, lý chứng, lý sự” nào cho phép tôi khinh khi, miệt thị, nhất là kỳ thị người Trung Quốc, truy diệt, xóa tên dân Trung Quốc khỏi danh sách “nhân loại” bao lâu tôi còn muốn là người tử tế, người có “lòng nhân”, chứ không là người với “lòng lang dạ thú”.
Tách người Trung Quốc khỏi chính trị Trung Quốc được chủ trương và điều hành bởi những người cầm quyền, tôi giữ được tinh thần của người có lương tâm quân bình và trong sáng, khi không để chính sách của người lãnh đạo chính trị, đường lối của một đảng hay một thiểu số ảnh hưởng trên chọn lựa nhân bản và đạo đức làm người của tôi, khi đồng hoá toàn thể người Trung Quốc với chính sách có thể không phù hợp, hay trái ngược với đòi hỏi chính đáng của con người, để rơi vào thái độ thù nghịch, không thân thiện với tất cả người Trung Quốc.
Đối với chính sách, chế độ chính trị Trung Quốc, tôi có thể không đồng ý, ngay cả chống lại, nếu chính sách ấy xâm phạm quyền tự quyết, và nền độc lập của nước tôi; nếu đường lối ấy không tôn trọng con người, bởi là con dân một nước, tôi phải yêu quê hương, thương nòi giống, và gìn giữ giang sơn; là con người, tôi có quyền bầy tỏ quan điểm, chính kiến bất đồng, kể cả có hành động chống lại những thể chế phủ nhận con người, và quyền làm người của đồng loại tôi.
Vì thế, tôi sẽ bất công với người Trung Quốc, nếu tôi đồng hoá họ với chính sách Trung Quốc mà tôi không ủng hộ, bởi rất có thể, chính họ cũng đang bất mãn với chính sách đang làm khổ họ ngay trong nhà họ. Tôi cũng không được phép đồng hoá họ với những người nắm giữ quyền hành ở Trung Quốc mà tôi không ưa, không thích, bởi rất có thể chính họ là nạn nhân đang bị những người này đàn áp, bóc lột, ức hiếp ngay trên đất nước họ. Trong mọi trường hợp, tôi phải thận trọng để không hàm oan và đối xử bất công với những người dân Trung Quốc vô tội, là nạn nhân đáng thương và đau khổ, cơ cực hơn tất cả.
2.   Là người Kitô hữu, cùng với Giáo Hội và trong Giáo Hội, chúng tôi không được phép ủng hộ và thực thi chủ trương bài ngoại, kỳ thị chủng tộc, diệt chủng phi nhân:
Trước hết, vì Thiên Chúa chúng tôi tôn thờ là Thiên Chúa Tình Yêu, đạo chúng tôi theo là đạo Bác Ái, giới luật chúng tôi phải tuân giữ là giới luật Yêu Thương, hành trang chúng tôi phải có trên đường là hành trang Nhân Ái, công nghiệp chúng tôi phải đệ trình trước Nhan Thánh Thiên Chúa ngày phán xét là lòng tốt chúng tôi đã sống, việc tốt chúng tôi đã làm cho người khác, nhất là những người anh em, chị em bé nhỏ nhất đang lâm cảnh đói khát, rách rưới, đau yếu, tù đầy, thất học, bị bạc đãi, bỏ rơi, bị vu khống, đàn áp, bóc lột, cả những người bị coi là khách lạ, không nhà, vất vưởng lang thang (x. Mt 25,31-45).
Là người môn đệ Đức Giêsu, chúng tôi được kêu gọi để “trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện”, bằng sống lòng thương xót, bao dung, tha thứ, và cầu nguyện cho cả kẻ thù, làm ơn cho cả kẻ ngược đãi, bách hại mình (x. Mt 5,43-48), bởi có sống như thế, có cư xử như thế, chúng tôi mới được gọi là con Thiên Chúa, vì Cha chúng tôi, “Đấng ngự trên trời hằng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).
Vì thế, chủ trương kỳ thị không bao giờ đồng thuận với con đường Bác Ái, và hành trình Yêu Thương của người Kitô hữu; chính sách diệt chủng mãi mãi đối nghịch với giới luật của Đức Giêsu, và tinh thần bài ngoại, gây chia rẽ các dân tộc, tạo hố sâu hận thù giữa các quốc gia là điều Giáo Hội nghiêm cấm và lên án nặng nề, vì trái với giáo lý đức tin.
Đàng khác, ơn gọi và sứ mệnh của người Kitô hữu là đến với các dân tộc để loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân hậu, và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Ngài (x. Mt 28,19), nên kỳ thị chủng tộc, hay bài ngoại, diệt chủng là điều không thể quan niệm trong Kitô giáo.
Chưa kể chúng tôi luôn mong đợi một ngày trên quê hương đời đời, ở đó, Đức Giêsu được muôn dân, muôn nước ngợi khen, vì Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước, mọi dân (Kh 5,9).  
Vâng, là người Kitô hữu, chúng tôi phải yêu mến mọi người, và nhất định không để rơi vào cạm bẫy của chủ nghiã kỳ thị chủng tộc sẽ đưa đến bạo lực phủ nhận con người, làm tổn thương nhân vị, nhân phẩm, tước đoạt nhân quyền và hủy diệt sự sống của người khác, dưới những chiêu bài, khẩu hiệu “có cánh”, nghe rất kêu, nhưng nguy hiểm vì chứa đầy nọc độc.
Thực vậy, lịch sử nhân loại đã dậy chúng ta nhiều bài học đắt giá, và một trong những bài học phải mua bằng máu và cái chết tức tưởi của nhiều triệu trẻ em vô tội, phụ nữ yếu đuối, tuổi trẻ đầy nhựa sống, cả tuổi già khôn ngoan, kinh nghiệm, đạo đức trong các lò sát sinh của chủ nghiã kỳ thị chủng tộc, diệt chủng tàn ác, phi nhân dưới thời Đức Quốc Xã của nhà độc tài Adolf  Hitler.
Bài học ấy phải được ôn lại trong những ngày đại dịch, khi mầm kỳ thị chợt lớn nhanh, bùng phát, lây lan như nhất quyết so tài, đọ sức tàn phá với virút Corona; bài học ấy phải được dậy cho thế hệ đàn em, ngay trong tâm dịch, khi tinh thần dân tộc cực đoan, qúa khích đùng đùng nổi lên như bão lửa, đang cố vượt xa tốc độ hủy diệt của Covid-19; bài học ấy còn phải được nhắc đi nhắc lại cho mọi người, khi cám dỗ loại trừ một sắc dân, tiêu diệt một chủng tộc bất thình lình nhen nhúm từ ích kỷ, ganh ghét, thù hận, do lo sợ trước virút đại dịch.  
Và bài học đạo đức nhân bản ấy, cũng là bài học luân lý căn bản sẽ nâng đỡ niềm hy vọng của chúng ta vào một tương lai xa, sau cuộc sống này, trong hạnh phúc vĩnh cửu, ở đó, chúng ta được đứng trong hàng ngũ của một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ…(Kh 7,9). Đám đông ấy “sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khi nóng hành hạ nữa” (Kh 7,16), cũng không còn đại dịch Covid-19 đe dọa, làm sợ hãi, vì “Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh. Và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 7,17).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020

COVID-19 và QUÊ HƯƠNG TÔI

Trưa hôm nay 17.03.2020, lệnh phong toả toàn quốc, như biện pháp chiến tranh toàn diện chống dịch Covid-19, mà tổng thống Emmanuel Macron đã công bố vào 20 giờ hôm qua 16.03.2020 chính thức có hiệu lực. Hơn một trăm ngàn cảnh sát được huy động để kiểm soát, và ngăn chặn việc đi lại, tụ tập không lý do cần thiết của tòan dân trên toàn nước.
Chấp hành lệnh phong toả, tôi bật khóc nhớ về quê hương tôi, nơi đó dân tôi cũng đang hoảng loạn, lo lắng không kém gì Âu Châu, nơi tôi định cư.
Tôi bật khóc không chỉ vì lo lắng cho dân tôi đang bấn loạn trong đại dịch, mà còn thương nhớ và biết ơn những người thân, bạn hữu đã quên lo cho mình, mà liên tục nhắn gửi tâm tình với những dặn dò đầy ắp tình yêu chăm sóc, như mẹ hiền lo cho đứa con tha hương những ngày loạn lạc. Tôi không khóc sao được khi người thân không lo cho mình, mà lo cho tôi, một người ở nước ngoài có an sinh xã hội trăm phần trăm bảo đảm, trong khi ở quê nhà, hệ thống bảo hiểm còn nhiều khó khăn, vì dù sao đất nước tôi cũng còn nhiều hạn chế. 
Tôi cũng đã khóc vì cảm kích trước những tấm lòng hy sinh, qủang đại, nặng tình nghiã của đồng bào tôi trước đại hoạ Covid-19 và đồng ruộng miền Tây bị xâm  mặn, khô hạn, khi rất nhiều người thuộc đủ thành phần đã thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách” giúp đỡ dân lành gặp nạn, chia sẻ miếng cơm manh áo với người nghèo khốn khổ.
Và nước mắt của tôi khô dần trước những tin vui: đất nước tôi khống chế thành công đại dịch, ngăn chặn hoàn toàn sức bành trướng vũ bão của virút Covid-19, bằng chứng là con số tử vong, cũng như người bị lây nhiễm ở nước tôi rất thấp so với các nước, nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Ý, Iran, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Mỹ, Anh…  
Ở vào thời điểm ngồi viết những dòng này, Việt Nam, quê hương tôi vẫn được nhìn nhận là quốc gia đang thành công trong công cuộc chống dịch, và tôi hãnh diện với bạn bè nước ngoài…
Nhưng, bỗng một nỗi lo chưa thể gọi tên trào dâng trong tôi, làm tôi ứ nghẹn, một nỗi sợ chưa thể xếp loại làm tim tôi se thắt, và chân tay rụng rời.
Sở dĩ nỗi lo chưa gọi được thành tên, nỗi sợ chưa xếp được thành loại, vì lo sợ ấy còn hỗn mang, mông lung, mặc dù đã làm cổ tôi rát khô, mắt tôi mờ, tim tôi lạc nhịp.
Tôi lo sợ cho những người bán vé số nghèo, mà bữa cơm dưa mắm cho đàn con dại chỉ trông vào những tấm vé số được bán trong ngày. Vì nghèo, và vì là lao động duy nhất của cả nhà, người cha bán vé số rất có thể đã nhiễm virút Corona, nhưng không dám khai báo, vì biết khai báo sẽ bị đem đi cách ly, và những ngày cách ly sẽ là những ngày đàn con thơ phải nhịn đói.
Tôi lo sợ cho những người nghèo “buôn thúng bán bưng”, mà virút dù có đuợc nhận ra trên thân thể cũng vẫn “tự nguyện” câm nín, thinh lặng, cẩn mật che giấu, vì một lý do duy nhất: không đi bán, tiền đâu nuôi sống chồng đau, con dại?
Tôi lo sợ cho những bác phu hồ nghèo luống tuổi, mà từ sáng sớm đã phải lam lũ, quần quật dưới nắng mưa, nên sức đề kháng rất yếu ớt, dễ trở thành mồi ngon cho virút đang gây ra đại dịch. Các bác phu hồ nghèo này, cũng như những cô chú, và các em bé ăn xin có biết mình bị lây nhiễm cũng chẳng dám khai báo để được chữa trị, chỉ vì sợ cách ly, không có tiền để trang trải từ tiền nhà cuối tháng, đến tiền ăn hằng ngày, chưa kể tiền hụi chết, hụi sống của đời nghèo rất phức tạp, nhiêu khê, mà chỉ những ai đã nghèo, đang nghèo mới hiểu nổi.
Tôi lo sợ cho người dân nghèo vùng sâu vùng xa, và anh chị em người dân tộc trên cao nguyên hoang vu, hẻo lánh mà đời sống qúa giản dị đến đáng thương, qúa đơn sơ đến chẳng có gì, qúa nghèo nàn đến không nhìn rõ hiện tại, nói gì tiên liệu tương lai, nên virút Côrôna, Cô Vi hay Cô gì đi nữa, họ cũng chẳng quan tâm, vì chẳng có gì được coi là quan trọng, và không còn gì để phải bận tâm, trong khi ngô khoai cho bữa ăn chiều còn chưa lo được.
Tôi lo sợ cho rất nhiều người già cám cảnh neo đơn vì nghèo, vì không tài sản, nhà đất, nên con cháu bỏ rơi, quên lãng đã từ chối vào bệnh viện vì không có tiền, và cũng không muốn trở thành gánh nặng cho ai, vì mặc cảm và tự ái tuổi già.
Tôi còn lo sợ cho những em bé đánh giầy, “bị chăn giắt” ăn xin, cả những em bé bị người lớn lạm dụng tình dục đổi lại bằng chút “tiền còm” ít ỏi chỉ đủ ngày hai bữa cơm canh. Các em biết gì mà đề phòng lây nhiễm, có gì để mất mà gìn giữ, thận trọng, nên Covid-19 hay Covid bao nhiêu đi nữa cũng không làm các em nao núng, sợ sệt, vì đối với các em, cái đói rã họng, cái đói lả người, cái đói tái tê đã là cái đáng sợ nhất trên đời rồi.
Tôi cũng lo sợ cho những công nhân ở quê lên tỉnh bỗng rơi vào tình trạng thất nghiệp, bế tắc kinh tế, đường cùng sinh hoạt vì nhà máy đóng cửa, xí nghiệp thiếu nguyên liệu do hậu qủa không thể tránh của đại dịch. Họ sẽ làm gì khi lây nhiễm? Thưa sẽ chịu trận, vì niềm tin cạn kiệt, do gánh đời qúa nặng trên đôi vai gầy không thể cam, nên đành gục đầu, qụy ngã trong câm lặng.
Vâng, tôi lo sợ một ngày khi những con người nghèo khổ, vô danh tiểu tốt, bần cùng của xã hội ở đất nước tôi thình lình đồng loạt bị phát hiện dương tính, bị cơ quan chức năng khám phá đã lây nhiễm virút Covid-19; tôi lo sợ đám đông nghèo lúc này còn có thể ẩn mình, tránh né, lẩn trốn, nhưng đến một ngày, ổ virút nổ tung, Covid-19 vỡ oà như ong vỡ tổ; tôi càng lo sợ đám trẻ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm đã không thể hiểu nguy hiểm của virút đại dịch, để tự bảo vệ, và  không làm lây lan sang người khác.      
Vâng, tôi lo sợ lắm, mặc dù bạn bè vẫn trấn an, chính phủ Việt Nam vẫn khuyến cáo đừng hoang mang, hoảng loạn, vì đại dịch có thể bành trướng, “tác yêu tác quái” ở đâu, nhưng Việt Nam thì không có cửa cho virút hoành hành, nhờ tự giác cao độ của toàn dân, nhờ khả năng của các nhà khoa học, nhờ tinh thần phục vụ tận tụy, quên mình của các bác sĩ, y tá, nhân viên các bệnh viện, trung tâm cách ly, trạm xá. Đó là chưa kể biện pháp luôn kịp thời và hữu hiệu của chính phủ, cũng như khả năng tiên liệu, dự phòng rất khoa học của các cơ quan hữu trách trong công cuộc phòng chống đại dịch.  
Không  giấu được nỗi lo sợ nếu chẳng may dịch bùng nổ dữ dội từ những người nghèo, vì nghèo nên không khai báo “đã bị lây nhiễm” vì sợ cách ly; lo sợ dịch vỡ oà kinh hoàng từ những người nằm sát đáy xã hội bị lây nhiễm bất ngờ cùng lúc ồ ạt bị phát hiện;  lo sợ dịch Covid-19 bể tung tàn khốc từ những người già, người thất học, người dân tộc không biết, cũng không quan tâm virút đại dịch, nên lây nhiễm mà không hay, dương tính mà không hề biết để được chữa trị.
Không giấu được nỗi sợ nếu chẳng may ngày tai ương, buổi khốn khó đại dịch xẩy đến cho quê hương đã gánh lắm thương đau, đã chịu nhiều gian truân, thử thách, nên lúc này đây, tôi thực sự lo, khi Âu Châu nơi tôi đang sống rơi vào tình trạng chiến tranh, mà toàn dân phải hy sinh rất nhiều để có thể chiến thắng virút Covid-19 đang đe doạ nặng nề tính mạng và đời sống an bình của rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Ngước mắt nhìn trời đêm nay, trăng sao lác đác, như niềm hy vọng ló dần. Cùng với toàn dân Việt Nam ở quê hương, cũng như hải ngoại, tôi nguyện cầu Ơn Trên ban bình an cho dân tộc, đất nước tôi, một dân tộc mà lịch sử tuy đậm nét hào hùng, nhưng vô vàn thương đau, một giang sơn gấm vóc, nhưng đất nước vẫn còn nhiều gập ghềnh gian khổ.
Ước mơ của tôi đêm nay khi nhắn gửi các vì sao rải rác trên bầu trời, chính là quê hương tôi thoát đại dịch, đất nước tôi không bị phong toả toàn diện như Pháp, Ý, đồng bào tôi không phải mếu máo, “dở khóc dở cười” vì mất việc không lương, hay tức tưởi “nửa sống nửa chết” vì mất người thân, xa gia đình, thân quyến. 
Và với niềm tin, xin Thiên Chúa ban bình an cho đất nước con, gìn giữ quê hưng con, để không người dân Việt nào phải khóc nỗi đau chết chóc, nỗi buồn cách ly, nỗi lo đại dịch.
Jorathe Nắng Tím  

COVID-19 và TRUYỀN GIÁO

Khi đại dịch toàn cầu Covid-19 làm ngưng trệ một cách đáng kể sinh hoạt bình thường của đại đa số các quốc gia, tạo ảnh hưởng tiêu cực trên an sinh của phần lớn nhân loại, chúng ta thấy con người thật bé nhỏ, dòn mỏng, và lúc nào cũng có thể trở thành nạn nhân đáng thương của bất kỳ sức mạnh tàn phá nào.
Cùng chung số phận và cùng chia sẻ những vấn đề của con người, Giáo Hội không bao giờ cho phép mình đứng ngoài những khó khăn, vất vả, những băn khoăn, thao thức, những lo âu, khắc khoải, cũng như những cố gắng, phấn đấu của cộng đồng nhân loại. Trái lại, trong mọi hoàn cảnh, đoàn thể “môn đệ của Đức Giêsu” luôn là những  người tích cực dấn thân, sẵn sàng tiên phong đi hàng đầu trong nỗ lực phục vụ và đem lại cho con người sự sống, bình an, và hạnh phúc, vì sứ vụ của Giáo Hội là đồng hành cùng nhân loại và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ Đức Giêsu” (Mt 28,19).
Trong tâm bão của đại dịch Covid-19, hình ảnh của Đức Thánh Cha Phanxicô lặng lẽ bước đi như người lữ hành khiêm tốn trên đường phố vắng vẻ của Rôma bị phong toả toàn diện, đến qùy trước bàn thờ, ngước nhìn Thánh Giá và Đức Trinh Nữ Maria nài xin ơn cứu thoát cho toàn thể nhân loại. Ngắm nhìn gương mặt sốt sắng cầu nguyện của ngài, ai cũng thấy Đức Thánh Cha muốn được mang hết nhân loại đang khổ đau, lo lắng, hoảng lọan vì đại dịch trong trái tim mục tử yêu thương, cảm thông, chăm sóc của ngài.
Cùng với Đức Thánh Cha, các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân toàn cầu, ngoài kinh nguyện xin ơn cứu thoát và bình an, đều tìm cách đóng góp công sức vào việc cứu nguy, cứu trợ các nạn nhân bị lây nhiễm, và tiếp sức ngăn chặn dịch bệnh lây lan với chính quyền và tất cả những người thiện chí, thiện nguyện. Sự kiện mới nhất trong tuần này, với 6 linh mục Ý, một linh mục Mỹ qua đời vì đại dịch, hai mươi bốn nữ tu Ý cùng một giám mục Pháp, đức cha Emmanuel Delmas, giám mục giáo phận Angers phải nằm viện điều trị, và nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ bị cách ly vì “dương tính” trong khi thi hành sứ vụ và do làm việc trong các trung tâm y tế, bệnh viện, trạm xá săn sóc bệnh nhân Covid-19 đã làm chứng sự có mặt chia sẻ và hoạt động bác ái cụ thể, sống động của toàn thể dân Chúa bên cạnh mọi người để phục vụ mọi người.
Trong bối cảnh này, người viết xin chia sẻ một vài suy tư về sứ mệnh truyền giáo, như căn tính của Giáo Hội, mà ở bất cứ hoàn cảnh nào, “lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”, Giáo Hội vẫn trung thành và hăng hái “rao giảng Lời Chúa” (x. 2 Tm 4,2). Nếu không, Giáo Hội không còn là Giáo Hội của Đức Giêsu vì không thực hiện lệnh lên đường truyền giáo là bài sai duy nhất của Đức Giêsu đã trao tận tay các thánh Tông Đồ là những môn đệ trực tiếp của Ngài:Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,19-20).
1.   Truyền Giáo là căn tính của người Kitô hữu:
“Căn tính” là cái cho phép một thực thể hiện hữu. Thí dụ: căn tính của con người là linh hồn và thân xác, bởi nếu chỉ có hồn mà không có xác, con người không hiện hữu, nhưng thiên thần có mặt, vì thiên thần là thụ tạo chỉ có linh hồn thiêng liêng, mà không có xác thể vật chất. Trái lại, nếu chỉ có thể xác do các hợp chất làm nên, con người cũng không hiện hữu, nhưng con vật có mặt, vì con vật không có linh hồn, mà chỉ là vật chất.
Vì thế, để là người, để con người hiện hữu, để một “con người  chính danh, đúng nghiã” có mặt, thực thể ấy phải cùng lúc được tạo nên bởi hồn và xác, được gọi là căn tính của con người, vì thiếu một trong hai, con người không hiện hữu.
Truyền giáo sở dĩ là căn tính của người Kitô hữu, vì khi mang Đức Kitô, người tín hữu không mang “Thiên Chúa làm người” cho riêng mình, nhưng được Đức Giêsu đích thân chọn làm môn đệ để trao phó sứ mệnh mang Thiên Chúa cho mọi người, nên được rửa tội chỉ vì phần rỗi của riêng mình, làm người có đạo chỉ để nắm chắc chiếu khán vào thiên đàng, đi đạo để không bị mất linh hồn, sa hoả ngục thì người Kitô hữu đã không hiểu gì về ơn gọi làm Kitô hữu, sứ vụ của người Kitô hữu, trách nhiệm của người Kitô hữu mà mình đang là, đang mang, đang được Thiên Chúa kỳ vọng, và loài người đặt niềm tin tưởng.
Đàng khác, để cứu toàn thể nhân loại khỏi chết đời đời, Đức Giêsu cần đến các môn đệ, tức người Kitô hữu là những người dấn thân đi theo Ngài, để được Ngài biến đổi  trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài, thuộc trọn về Ngài để được Ngài sai đi làm cho muôn dân biết Ngài, thuộc về Ngài và trở nên “đồng hình đồng dạng với Ngài” như chính người môn đệ được thánh hiến và sai đi. 
Như thế, “con đường Kitô” cũng là ơn gọi, sứ mạng của người Kitô hữu là mang Đức Giêsu và làm cho mọi người thuộc về Đức Giêsu, trở thành môn đệ của Ngài, chi thể của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội.
Đó là lý do Giáo Hội không bao giờ bỏ quên việc truyền giáo, coi thường sứ mạng truyền giáo, xếp chương trình truyền giáo xuống hàng thứ yếu bên cạnh những công việc quản trị hành chánh, tổ chức nội bộ. Nhìn vào các thư chung, và công việc của các giáo phận, chúng ta thấy ngay truyền giáo luôn được đặt hàng đầu, ưu tiên số một, bởi đây là sức sống của Giáo Hội, niềm vui của người môn đệ và là vinh danh Thiên Chúa, khi “muôn dân trở thành môn đệ” của Ngài (Mt 28,19).
2.   Giáo Hội không ngừng truyền giáo, không sao lãng sứ mạng Tông Đồ trong bất cứ hoàn cảnh, tình thế nào:
Vì Truyền Giáo là căn tính của Giáo Hội, nên không một khoảnh khắc, thời điểm nào, dù là một giây, tâm hồn tông đồ, trái tim môn đệ, cuộc đời người Kitô hữu có thể ngừng nghỉ truyền giáo, có thể đình chỉ việc truyền giáo, có thể xếp lại việc truyền giáo, có thể thay thế truyền giáo bằng một công việc khác. Trái lại, trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng nào, dưới bất cứ áp lực, ảnh hưởng nào, Giáo Hội vẫn luôn luôn và mãi mãi là Giáo Hội truyền giáo do Lời Hứa bảo đảm của Đức Giêsu, Đấng sáng lập và gìn giữ Giáo Hội: “Thầy ở với anh em mọi ngày đến tận thế” (Mt 8,20).
Ở với anh em mọi ngày đến tận thế để không ngày nào của Giáo Hội thoái hoá thành ngày “không thao thức truyền giáo, không nỗ lực truyền giáo”; ở với anh em mọi ngày đến tận thế để không ngày nào của Giáo Hội được phép là ngày “rong chơi, thư giãn” mà quên hiệp tâm, hiệp lực truyền giáo;ở với anh em mọi ngày đến tận thế để  không ngày nào đoàn dân Chúa trên đường lữ hành có thể ươn lười, buông xuôi, hay hèn nhát gạt bỏ bổn phận truyền giáo ra khỏi hành trình đời sống mình.
Vì thế, cho dù giữa tâm đại dịch Covid-19, hay rơi vào bất cứ phong ba, bão táp nào kinh khủng hơn nữa, Giáo Hội vẫn kiên tâm thi hành sứ vụ truyền giáo, vẫn một lòng trung thành với Ơn Gọi được sai đi, và sứ mạng “làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Đức Giêsu”.
3.   Giáo Hội truyền giáo dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần:
Giáo Hội không ra đi một mình, người tín hữu không lên đường đơn độc, nhưng đi với nhau, đi với toàn thể Dân Thiên Chúa, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Đấng mà Đức Giêsu đã hứa ban trước khi Ngài rời bỏ thế gian về với Chúa Cha: “Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật…” (Ga 14,16-17), “Đấng đó sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26). 
Vì thế, trong mọi thay đổi của tình thế, hoàn cảnh, trước mọi thử thách, khó khăn, giữa mọi nguy hiểm, thách đố, Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần. Chính Thánh Thần sẽ dậy Giáo Hội phải làm gì, nói gì, hành động cách nào. Và việc quan trọng nhất là đồng hành với Giáo Hội trong công cuộc truyền giáo, ở đó, Chúa Thánh Thần luôn có mặt để hướng dẫn, chỉ bảo, “sửa chữa  mọi sự trong ngoài” cho xứng đáng và đẹp lòng Thiên Chúa.
Vâng, ở vào hoàn cảnh hiện nay, giữa nạn dịch Covid-19, khi việc truyền giáo tưởng như bị ngưng trệ, đình chỉ, nhiều người tín hữu tỏ vẻ lo âu, nghi ngại về công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Có người thất vọng và vẽ ra bức tranh “ngày mai tiêu điều của một Giáo Hội không còn có thể truyền giáo”.
Rơi vào ý nghĩ tiêu cực và thái độ đầu hàng, buông xuôi trên, vì thấy những hoạt động truyền giáo xem ra đang bị đe dọa, gián đọan, thay đổi, chúng ta nên cẩn trọng, vì cạm bẫy của ma qủy được cài đặt không xa chúng ta bao nhiêu.
Thận trọng để tín nhiệm ở Hội Thánh là Hiền Thê yếu dấu của Đức Giêsu; thận trọng để phân định chính xác: sứ mệnh truyền giáo không thay đổi, nhưng phương thức truyền giáo luôn được thích nghi với hoàn cảnh, thích ứng với đòi hỏi không ngừng biến chuyển, đổi mới của thời đại, tình thế, và con người.
Đồng thời thận trọng để nắm vững điều căn bản : không thể truyền giáo mà không liên tục sáng kiến.
Bởi truyền giáo không là hoạt động riêng lẻ, tách rời, nhưng là hoạt động của toàn Thân Thể mầu nhiệm Đức Giêsu, nên truyền giáo là hoạt động của tình yêu, truyền giáo thể hiện tình yêu, truyền giáo làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, giới thiệu Đức Giêsu là “Dung Mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót”, mà tình yêu luôn đòi sáng kiến, như hai người càng yêu nhau, họ càng có nhiều sáng kiến để tỏ tình và làm vui lòng nhau. Vì thế, sáng kiến trong truyền giáo, sáng kiến để truyền giáo hữu hiệu, sáng kiến để mang lại thành qủa tốt đẹp là điều mà bất cứ nhà truyền giáo, hay bất cứ Kitô hữu nào cũng mong đợi, nỗ lực tìm kiếm, và quyết tâm thực hiện.
Thực vậy, hơn lúc nào hết, ngay trong tâm bão của đại dịch, Giáo Hội muốn nhắc nhở tất cả con cái mình đừng quên ơn gọi truyền giáo là căn tính của người Kitô hữu; đừng hiểu lầm: Giáo Hội không còn trung thành, hay giảm thiểu nhiệt tâm, sa sút nhiệt huyết với sứ vụ truyền giáo, nhất là phải tin tưởng tuyệt đối ở Chúa Thánh Thần, Đấng luôn hiện diện cùng Giáo Hội trên hành trình truyền giáo.
Và để tuyệt đối tin tưởng ở Giáo Hội và cùng Giáo Hội lên đường truyền giáo ngay lúc này và ở đây, giữa tâm dịch Covid-19, chúng ta cần xác tín, như thánh tông đồ dân ngoại đã củng cố niềm tin, tinh thần truyền giáo, đốt nóng lòng nhiệt thành truyền giáo của Timôthê, môn đệ ngài và giáo đoàn Corinthô bằng những lời dậy dỗ và kinh nghiệm truyền giáo đầy thuyết phục:
a.   Thần Khí ở với chúng ta trên đường truyền giáo, và chúng ta phải dựa vào Ngài:
Vì Thiên Chúa chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ. Vậy anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Thiên Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi, để loan báo Tin Mừng (2 Tm 1,7-8).
b.   Chúng ta là những con người bất xứng, nhưng được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng:
Khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người qúy phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt, không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người (1 Cr 1, 26-29).
c.    Gian truân và hy vọng là lương thực của nhà truyền giáo:
Trên đường truyền giáo, chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang  nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi (2 Cr 4,8-10).
d.   Truyền giáo là rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh:
Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ (1 Cr 1,22-23).
Vâng, trong hoàn cảnh khó khăn, bất lợi, không thuận tiện cho việc truyền giáo, như hiện tình đầy đe dọa của Covid-19, mỗi người Kitô hữu cần hồi tâm để xác tín sứ mệnh truyền giáo được Giáo Hội trao phó, và ý thức: chính trong hoàn cảnh và ở thời buổi các sinh hoạt truyền giáo như bị khựng lại ở cấp giáo phận, giáo xứ, lại là lúc mỗi người Kitô hữu được Giáo Hội trao trách nhiệm quan trọng và nặng nề hơn, được Giáo Hội tín nhiệm, tin tưởng và sai “ra xa, ra sâu hơn”, đến những nơi mà vì hoàn cảnh, cộng đòan không  cùng đến được, tập thể không thể cùng có mặt, đoàn thể không thể cùng đặt chân,  mà chỉ từng người, riêng lẻ từng cá nhân “Kitô hữu” mới có thể len lỏi hiện diện rao giảng, và làm chứng.
Người Kitô hữu cũng cần phát huy tinh thần Hiệp Thông và Vâng Phục các Đấng Bản Quyền, vì Hiệp Thông và Vâng Phục trong hoàn cảnh khó khăn, thời buổi không thuận tiện cho việc truyền giáo của Giáo Hội chính là thực hiện truyền giáo cách tuyệt vời, hữu hiệu và đẹp lòng Chúa hơn cả. Bên cạnh là đời sống cầu nguyện và thực thi Đức Ái giữa gia đình, thân hữu, làng xóm, xí nghiệp, công ty, cộng đoàn giáo xứ…   
Trong thinh lặng của bầu khí căng thẳng vì đại dịch Covid-19, tôi nghe tiếng Mẹ Giáo Hội nhắc bảo: Phần con, hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của con (2 Tm 4,5). Và tận đáy sâu tâm hồn nghe xôn xao, rộn ràng niềm vui truyền giáo, hạnh phúc tông đồ, khi mỗi ngày được “trở nên tất cả cho mọi người” (1 Cr 9,22), để bằng mọi cách cùng Giáo Hội cứu được mọi người.
Jorathe Nắng Tím   

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO (10)


                       Suy Niệm 10 : “TRỞ NÊN TẤT CẢ CHO MỌI NGƯỜI” (1 Cr 9,22)
Được sai vào đời để làm chứng Đức Giêsu cho đời, người môn đệ bắt buộc phải đi trên đường đời của người đời, phải chia sẻ, và chung vai gánh vác việc đời của người đời, phải hiểu biết và cảm thông những chuyện đời của người đời, như Đức Giêsu, để cứu chuộc nhân loại đã vào đời làm người, và sống đời người cách trọn vẹn như người trần thế, ngoại trừ tội lỗi (x. Pl 2, 7).
Vì thế, trở nên “tất cả cho mọi người – Omnia omnibus” để chinh phục mọi người là phương châm hoạt động truyền giáo đem lại nhiều kết qủa như thánh Phaolô đã viết trong thư gừi giáo đoàn Côrinthô : “Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã triở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài Lề Luật của Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Kitô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1 Cr 9,19-23).
Thánh tông đồ dân ngoại đã táo bạo khi mạnh dạn tuyên bố và sống phương châm : “trở nên tất cả cho mọi người để bằng mọi cách cứu được một số người”. Lòng khao khát các linh hồn đã đốt cháy tâm can thánh nhân, và ngài đã không còn biết làm gì tốt hơn là trở nên giống mọi người để cứu mọi người.
Nhưng tại sao phải trở nên giống mới chinh phục được ?
Bởi có giống nhau mới dễ đến với nhau ; có ít khác biệt, khoảng cách xa lạ, mới rút ngắn, ngại ngùng mới được thu nhỏ, và làm gần nhau hơn. Đó là lý do các nhà truyền giáo đã học sống như người bản xứ khi đến rao giảng, đã dìm mình vào văn hóa của dân bản địa, đã cố gắng trở nên giống họ bao nhiêu có thể, khi ở giữa họ, để có thể loan báo Tin Mừng và giới thiệu Đức Giêsu.
Một nhà truyền giáo không hội nhập, một thừa sai không hoà mình vào cuộc sống ở nơi mình rao giảng, một người môn đệ từ chối chia sẻ hoàn cảnh sống, điều kiện sống của người mình được sai đến để phục vụ sẽ không thể chinh phục được ai, không cảm hóa được người nào, và công cuộc truyền giáo sẽ nhanh chóng bế tắc, thất bại.
Cũng như Đức Giêsu, để chinh phục và cứu độ con người, đã xuống thế làm người, và trở nên con người trăm phần trăm, ngoại trừ tội lỗi, nhà truyền giáo cũng được mời gọi trở nên tất cả cho mọi người để chinh phục mọi người, hầu đem đến cho họ ơn cứu rỗi.
Như thế, để trở nên tất cả cho mọi người, hay trở nên mọi sự cho mọi người một cách  chính đáng và hữu hiệu, nhà truyền giáo phải đáp ứng những đòi hỏi sau :
1.   “Hoàn toàn tự do, không lệ thuộc ai” :
Hoàn toàn tự do, và không lệ thuộc ai, vì bất cứ lý do gì, thì chọn lựa “trở nên tất cả cho mọi người” của nhà truyền giáo mới có giá trị, bởi người ta có thể “phải” trở nên thế này cho người này, “phải” trở nên thế kia cho người kia, vì cả người này người kia đều có quyền khống chế, áp đạt, đều có khả năng trói chặt, đều có lý do ràng kỹ, đều có bằng chứng để đe dọa, uy hiếp, làm áp lực.
Vì thế, không phải tất cả các nhà truyền giáo đều hoàn toàn được tự do để “trở nên mọi sự cho mọi người”, bởi có vị đã lỡ thuộc về một người, có vị đã lỡ “dính trấu” với vài người, có vị đã bị kết nạp vào một nhóm người, để “nhất cử nhất động” đều bị canh chừng, giám sát, giới hạn, xử lý…
2.   Tự nguyện trở nên tất cả cho mọi người :
Có tự do chưa đủ, nhà truyền giáo còn phải tự nguyện liều thân, dấn thân, hiến thân, vì trở nên “cái khác” mình đang là, đang có, để “giống” cái người khác đang là, đang có đòi một khả năng xóa mình, quên mình, và một tinh thần vị tha quảng đại ở mức độ anh hùng, khi  khiêm tốn, hiền lành ra khỏi “cái tôi” độc tôn, độc tài, độc quyền, độc diễn, và qủa cảm chấp nhận tự thay đổi, tự nguyện thích nghi, vui lòng thích ứng với những gì mình chưa quen, chưa biết, cả những gì mình không thích, không hợp, vì không thuộc về mình, không làm mình dễ chịu, thoải mái, mà để đạt được đích tới : “trở nên tất cả cho mọi người”, nhà truyền giáo sẽ phải vất vả phấn đấu, và hy sinh rất nhiều.     
3.   Với mục đích chinh phục con người cho phần rỗi của con người và vinh danh Thiên Chúa :
Trong cuộc sống, không thiếu những người sẵn sàng làm bất cứ việc gì để lấy lòng người họ cần cho mục đích riêng tư. Như tên lừa đảo, hay anh chàng “sở khanh, đào mỏ” có thể “diễn sâu” bất cứ màn kịch nào để “cưa đổ” kiều nữ đại gia, vì mục đích chiếm đoạt tài sản, sau khi đã lấy lòng, và chiếm đọat thân xác mỹ nhân.
Nhà truyền giáo trở nên mọi sự cho mọi người chỉ với duy nhất một mục đích là hạnh phúc  Nước Trời của người khác và để Thiên Chúa được vinh danh hơn,  ngoài ra không vì bất cứ một mục đích riêng tư hay cộng đồng nào khác. Ở đây, chinh phục không còn ý nghiã “lấy lòng, chiếm hữu tình cảm, khống chế tự do, khuynh loát ý chí, lèo lái, đẩy đưa, mua chuộc”, nhưng là đồng hành với tình huynh đệ được chia sẻ, và trao đổi, hướng dẫn với lòng tôn trọng tự do.
Nhà truyền giáo vì nhắm tới hạnh phúc thiêng liêng của người khác, và để “danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa được hiển trị, ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, sẽ không mưu lược để thống trị, không thủ đoạn để áp chế, không kế sách để quyến rũ, mồi chài người khác dưới bất cứ hình thức và bằng bất cứ phương tiện nào, bởi làm như thế, nhà truyền giáo ngang nhiên phản bội sứ vụ truyền giáo của mình khi xâm phạm tự do và xúc phạm quyền chọn lựa của người khác, điều mà Thiên Chúa luôn nghiêm cấm và nặng lời khiển trách.
Như thế, để “trở nên tất cả cho mọi người” như ý Chúa muốn, nhà truyền giáo phải loại trừ tất cả ý nghĩ  tìm tư lợi, và loại bỏ mọi thái độ, việc làm kiếm chác vinh dự, xây dựng uy tín cá nhân, mà chỉ giữ trong mình một thao thức, khắc khoải, ước mơ là hạnh phúc của con người và vinh quang của Thiên Chúa.
Thực vậy, để tránh hiểu sai ý nghiã của “trở nên tất cả cho mọi người”, nhà truyền giáo cần xác tín những đòi hỏi căn bản trên, để không nghĩ rằng mình phải “sống đời” như người đời đang sống, phải “chịu chơi” như người đời ăn chơi, phải “xả ga, tới bến” như người đời đang thí thân, bạt mạng, hầu đem đến ơn cứu rỗi cho họ.
Bởi có nhà truyền giáo lầm tưởng : để rao giảng hữu hiệu cho đám thanh niên, phải dám “xả láng, sáng về sớm” như họ ; để dẫn dụ đám trẻ mới lớn ở thành phố, không gì hay hơn là cùng chúng nhẩy đầm, hát karaoke, ăn nhậu phố đêm, hát hò inh ỏi ; để hướng dẫn chị em doanh nhân, không gì  lôi cuốn hơn là xài hàng hiệu, góp cổ phần buôn bán, chơi hụi kiếm lời, tham gia du lịch nước ngoài ; để cải tạo đám gia trưởng khô khan, nguội lạnh, không gì chắc ăn hơn là gầy sòng ăn nhậu, kể chuyện tiếu lâm, tấu hài ; để làm chứng Giáo Hội đi kịp thời đại, không gì ấn tượng hơn là ăn mặc “à la mode”, ăn diện hợp thời trang, ăn uống nhà hàng sang trọng, ăn ở tiện nghi hạng nhất, hàng đầu ; để không mặc cảm xa rời quần chúng, đạt chuẩn “nắm rõ dân tình”, không gì sáng giá hơn là la cà từ quán càphê đầu xóm đến qúan thịt chó cuối làng và rôm rả những chuyện “không đầu không đuôi”, nặng mùi “đầu đường xó chợ” ; để được gọi là người hiểu xa biết rộng, có khả năng lãnh đạo cộng đoàn, không gì để được người đời nể nang hơn là chơi xe hơi, điện thoại đời mới, bữa ăn có rượu ngoại “hàng xách tay” ; để được giới trẻ thần tượng, đi theo, không gì thu hút hơn là để tóc dài rồi  búi lại cho ra vẻ thiền sư, guru ; để người đời dễ gần gũi, cảm thông, không gì sôi nổi hơn là dùng chính ngôn ngữ báng bổ đến chóng mặt của cánh bụi đời đường phố. Và hậu qủa bất ngờ là nhà truyền giáo đánh mất chính mình lúc nào không hay.
Đánh mất chính mình, vì lầm tưởng để mình được cuốn trôi theo trào lưu là kéo về với mình quần chúng ; vong thân, mất mình, vì ảo tưởng hoà đồng, tan biến với đám đông là chiếm hữu được đám đông ; lạc mất đời mình, vì ngây thơ hoặc qúa tự tin nghĩ rằng trở nên như mọi người  sẽ làm cho mọi người trở nên như ý mình muốn. Rất tiếc lại là ý nghĩ, việc làm và thất bại của một số nhà truyền giáo nhẹ dạ, cả tin và thiếu tinh thần truyền giáo đích thực 
Thực vậy, Đức Giêsu nhiều lần đã qủa quyết : môn đệ của Ngài không thuộc về thế gian, dù ở giữa thế gian để làm cho thế gian nhận biết Thiên Chúa là Cha và là Đấng Cứu Độ (x. Ga 15,19). Ngài còn cảnh báo các môn đệ : “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16).
Khẳng định như thế, Đức Giêsu không ngần ngại cho các môn đệ biết : Anh em không dễ chơi với thế gian đâu, vì con cái thế gian ma lanh hơn con cái sự sáng, nên con cái sự sáng là anh em không dễ gì “ăn” được thế gian, khi chung đụng, đối đầu với chúng. Đó cũng là lời cảnh tỉnh đối với những nhà truyền giáo nghĩ mình “toàn năng”, có thể đổi mới, “thánh hoá” người khác bằng những phương tiện, phương án của riêng mình, mà quên một điều quan trọng : ngoài Thiên Chúa và những phương tiện thiêng liêng Chúa ban, các vị không thể tự mình làm được gì. Chưa kể, nhiều khi những phương tiện, phương án được “vô tình, vô ý, ngây ngô, nhẹ dạ” sử dụng để truyền giáo lại là những vũ khí của ma qủy, thế gian được ngụy trang “hàng hiệu thiên đàng”, được dán nhãn “chế tạo từ hãng xưởng Giáo Hội”, nhưng thực chất lại là sản phẩm được chế tạo từ gang thép của xảo trá, tham lam, từ lửa của ganh ghét, hận thù, từ hóa chất của bạo lực, từ nọc độc của kiêu căng.
Chính vì thế, thiện chí ban đầu của nhà truyền giáo rất dễ biến thành thất chí ở đọan sau, nếu không ăn rễ sâu trong Ơn Gọi và Sứ Vụ ; lý tưởng “trở nên tất cả cho mọi người” dễ biến thành ảo tưởng, nếu tâm hồn nhà truyền giáo không luôn bừng cháy lửa yêu mến các linh hồn và tình yêu Thiên Chúa ; công cuộc hội nhập, hoà nhập, thâm nhập vào nếp nghĩ, nếp sống, tâm tư, thao thức của người khác để chuyển tải ơn Cứu Rỗi cho họ dễ biến thành công cốc, nếu trái tim nhà truyền giáo không nồng nàn nhiệt huyết tông đồ và bước chân truyền giáo không được thúc bách, nâng đỡ bởi Thánh Thần Tình Yêu.
Vâng, hơn bao giờ hết, trào lưu tục hoá, phong trào “cào bằng” Đời - Đạo, để Đời cũng tốt, Đạo cũng đẹp đang gieo nhiều “ý nghĩ quá đời, ngôn từ quá đời, thái độ, việc làm qúa đời, lối sống qúa đời” trong đời sống nhà truyền giáo, và dần dà biến nhà truyền giáo thành những chuyên viên mị dân, những nhân viên mồi chài, mua chuộc hơn thuyết phục, bắt quy hàng, thần phục hơn chinh phục bằng làm chứng, để hướng dẫn người khác cùng đi về Chân - Thiện - Mỹ tuyệt đối là chính Chúa, với tinh thần tôn trọng tự do chọn lựa của mỗi người, và tình yêu phục vụ quên mình cho hạnh phúc đích thực của người mình rao giảng Tin Mừng, loan báo Nước Trời, giới thiệu và làm chứng Đức Giêsu.
Mùa Chay là mùa trở về : trở về nguồn mạch của đời sống Kitô hữu là Đức Giêsu, trở về bản chất của Ơn Gọi Kitô hữu là Truyền Giáo. Mùa Chay cũng là mùa lên đường, mùa ra đi, ra sâu, ra xa để Tin Mừng Nước Trời được đi vào tâm hồn mọi người, tiến sâu trong lòng thế giới, khi người môn đệ, nhà truyền giáo ý thức : “trở nên tất cả cho mọi người” không vì mục tiêu chiếm hữu, thống trị, lợi dụng cho lợi ích bản thân, nhưng như thánh tông đồ dân ngoại, mỗi nhà truyền giáo cần xác tín và tuyên xưng với niềm vui truyền giáo : “Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng (1 Cr 9,22-23). Đồng thời khiêm tốn tự cảnh tỉnh : “Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị lọai (1 Cr 9,27).
Jorathe Nắng Tím 

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

COVID-19 và GIỮ ĐẠO

Chưa bao giờ một vi khuẩn bé tí teo, mới cuối năm ngoái còn “vô danh tiểu tốt” bỗng trở thành mối đe dọa toàn cầu, khi làm mọi người hoảng loạn, hoang mang, do sức công phá kinh khủng nhanh chóng và tàn bạo.  
Sức công phá vũ bão không những đang làm rối loạn, điên đảo toàn bộ sinh hoạt  của con người trong các lãnh vực sức khỏe, giáo dục, chính trị, kinh tế, xã hội… mà còn làm đảo lộn sinh hoạt tâm linh, hoạt động thờ phượng của các tôn giáo trên khắp địa cầu.
Vì lệnh cấm tập trung, hội họp do sợ bị lây nhiễm, các nhà thờ bị đóng cửa, thánh lễ không được cử hành cho cộng đoàn, các lớp giáo lý tạm ngưng, nhiều giáo phận cho phép xưng tội tập thể, và ngay tại Rôma, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng thay đổi hầu như toàn bộ sinh hoạt mục vụ của Ngài, và chấp hành những biện pháp ngăn chặn virút đại dịch được chính quyền Ý ban bố.
Đứng trước sức xâm lấn ngạo mạn, ngang ngược của Covid-19, và những biện pháp mục vụ được đưa ra bởi các đấng bản quyền, không ít người tín hữu đã có những cảm nghĩ  trái chiều.
Có người cho rằng những biện pháp như đóng cửa nhà thờ, hạn chế sinh hoạt tông đồ giáo dân, ngưng các lớp giáo lý, chỉ cho phép rước lễ bằng tay… là những hành động biểu lộ một đức tin yếu kém, một tinh thần nhu nhược chạy theo chỉ đạo, hướng dẫn của thế gian, thế quyền, mà không biết lợi dụng cơ hội khó khăn, thử thách của dịch bệnh để làm chứng đức tin, sống tinh thần qủa cảm, anh dũng, bất khuất của tiền nhân Tử Đạo.
Có người cho rằng chính lúc này, hơn bao giờ hết, Giáo Hội phải chứng tỏ là Giáo Hội của Đức Kitô, Giáo Hội có Chúa Kitô, một Giáo Hội vượt trên tất cả đe dọa, dù đe dọa đó đến từ đâu, và điều phải làm là kiên cường sống chết, liều lĩnh hi sinh với những gì Giáo Hội đang là, đang có, mà không cần phải thay đổi, thích nghi cho phù hợp. Hơn nữa, những kiểu cách “chạy theo xu hướng thế tục”, răm rắp tuân hành chỉ thị của thế quyền sẽ chỉ làm giảm thiểu lòng tin của người tín hữu vào ơn phù trợ của Thiên Chúa.
Thực ra, không chỉ ở Việt Nam, mà ngay giữa thánh đô Rôma, sau khi lệnh đóng cửa các nhà thờ trong toàn giáo phận Rôma của Đức Giám Qủan Rôma, cũng có những phản ứng tương tự, không chỉ từ thành phần tín hữu, mà còn từ một vị hồng y có thế giá. Ở Pháp cũng không tránh được tình trạng này, khi một giám mục giáo phận lên tiếng không đồng ý với việc đóng cửa nhà thờ, hạn chế các sinh hoạt phụng vụ của các giáo phận khác.
Đứng trước đại dịch và những quyết định của các đấng bản quyền, người viết, với tư cách một tín hữu xin được chia sẻ với Bạn một vài suy tư:
1.   Giáo Hội là Mẹ luôn che chở, bảo vệ sự sống của con mình:
Nếu nhìn Giáo Hội là một cơ chế cứng cỏi, một cơ cấu hành chánh chặt chẽ, một pháo đài giáo lý mang tính phòng thủ, chiến đấu, chúng ta sẽ không thể hiểu được ý nghĩa cũng như giá trị của những quyết định mục vụ trước những đe dọa chính sự sống của giáo dân do Covid-19 mang lại.
Khi quyết định đóng cửa nhà thờ, ngưng các sinh hoạt phụng vụ, Giáo Hội hành xử như người mẹ yêu thương con, bằng tình mẫu tử bao la, và với quyền bảo vệ bằng bất cứ giá nào sự sống của đàn con, vì chỉ một mình mẹ là người đã cho các con sự sống.
Khi quyết tâm bảo vệ sự sống của đoàn chiên, Giáo Hội xác tín: Thiên Chúa là Sự Sống, là Thiên Chúa hằng sống, là Đấng ban sự sống cho muôn loài, nên sự sống là món qùa qúy báu con người nhận được từ Thiên Chúa. Vì lẽ đó, Thiên Chúa luôn trân trọng và gìn giữ sự sống mà người đã ban cho nhân loại.
Khi chọn Ápraham làm tổ phụ dân riêng, Thiên Chúa đã ban cho ông Isaác, con trai duy nhất khi ông và vợ ông đã luống tuổi (x. St 17,15-19), để ông biết: Thiên Chúa từ nay ông tôn thờ là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa ban sự sống. Ngài còn đi xa hơn, khi cho thiên sứ đến ngăn tay ông, không để  ông  làm tổn thương sự sống của con trai Isaác, khi ông vâng lời đem Isaác lên núi, giết đi làm của lễ tế Giavê Thiên Chúa, như tập tục tế sống con người cho các thần trong các tôn giáo ngẫu thần thời đó (x. St 22). Một lần nữa, Thiên Chúa mặc khải cho ông và dân riêng: Ngài không muốn của lễ dâng Ngài là mạng sống con người, vì sự sống con người là điều qúy giá trước mặt Ngài, bởi do chính Ngài đã trao ban.   
Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu cũng đã khẳng định: Ngài không để kẻ trộm, người chăn chiên thuê hay sói rừng hãm hại hay lấy đi mạng sống của chiên Ngài, nhưng cứng rắn qủa quyết : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên” (Ga 10,11).
Chúa chiên nhân lành là Đức Giêsu không giống như “kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy” (Ga 10,10), hay như “người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán lọan” (Ga 10,12). Nhưng Ngài “tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18), để “cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10,10).
Như thế, mục đích hy sinh của Mục Tử nhân lành là chiên của ông được sống và sống dồi dào. Dồi dào đây là được no nê, ấm áp, được yêu thương, cưng chiều, được hạnh phúc, bình an.
Hình ảnh Mục Tử nhân lành là Giáo Hội với các Đấng Bản Quyền với quyền yêu thương, chăn giắt. Sở dĩ là quyền yêu thương chăn giắt, vì chăn giắt không yêu thương sẽ không là mục tử nhân lành như lòng Chúa mong ước, nhưng sẽ chỉ được gọi là kẻ chăn thuê, hay tên ăn trộm.  
Do đó, quyết định của Mục Tử trước những nguy hiểm đe doạ sự sống của đoàn chiên, như đại dịch Covid 19 đang đe doạ tính mạng của mọi người phải được hiểu là quyết định xuất phát từ tình yêu mục tử đối với đoàn chiên, từ bổn phận bảo vệ đoàn chiên khỏi nguy cơ bị giết hại, và chúng ta hãy tín thác vâng phục thi hành, với lòng yêu mến, biết ơn.
2.   Phải thận trọng phân định giá trị của Lề Luật và giá trị của Con Người :
Khi bực bội, khó chịu trước những quyết định đóng cửa nhà thờ, hạn chế thời gian cử hành phụng vụ, hoặc các biện pháp khác nhằm tránh lây nhiễm và bảo vệ tính mạng cho cộng đoàn, chúng ta vô tình rơi vào tinh thần vị luật của các luật sĩ qúa khích và Pharisêu cực đoan bảo thủ ngày xưa đã phản bác, bắt bẻ Đức Giêsu khi Ngài chữa người bị bệnh bại tay trong ngày sabát là ngày cấm làm việc theo luật Môsê (x. Lc 6,6-10 ; Mc 3,1-6)   
Trả lời họ, Đức Giêsu khẳng định: ưu tiên luôn dành cho con người, cho sự sống và hạnh phúc của con người. Cũng như khi các môn đệ bứt lúa để  ăn vì đói, khi băng qua một cánh đồng trong ngày sabát, Ngài đã lên tiếng bênh vực các ông trước lời khiển trách nặng nề của những người Pharisêu vị luật: con người có giá hơn Lề Luật, bởi “ngày sabát  được tạo ra cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát. (Mc 2,27).
Thực vậy, hạnh phúc của con người đang sống là điều lành, việc tốt con người phải làm cho nhau, và được đặt thành ưu tiên, bởi đó chính là vinh danh đích thực  của Thiên Chúa (x. Mt 12,9-14 ; Lc 6,6-10); đồng thời là đòi hỏi của Giới Luật mới Yêu Thương.  
     Nay Covid-19 ập tới, đe dọa tính mạng của con người, thì luật đi lễ ngày Chúa Nhật, cũng như nề nếp sinh hoạt phụng vụ, tất cả đều có thể được thay đổi, đình chỉ, tạm ngưng, vì lợi ích chung của đoàn chiên. Và điều này không được hiểu như hành vi bất tuân lệnh Thiên Chúa, hay vi phạm giới luật của Ngài.
Thái độ bất mãn với giáo quyền trong việc đình chỉ sinh hoạt phụng tự cũng nói lên tinh thần gắn bó sai lệch của chúng ta vào những nghi thức bên ngoài, mang nặng tính phô trương, biểu dương lực lượng, để rồi đức tin bị “điều kiện hoá” bởi những hình thức không luôn cần thiết, mà không ăn rễ sâu, nhờ đời sống nội tâm cầu nguyện, và thực hiện Đức Ái, trong khi cầu nguyện thì không bị lệ thuộc bất cứ hoàn cảnh nào, và Đức Ái thì không thế lực, chướng ngại, sức mạnh nào có thể hạn chế, ngăn chặn.
3.   “Thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật”.
Đức Giêsu, bên bờ giếng Giacóp đã chẳng nói với người phụ nữ Samari: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hoặc tại Giêrusalem… Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4,21-26).
Nói như thế không có nghiã chúng ta phủ nhận Giáo Hội hữu hình, chối từ giáo phận, phủ nhận giáo xứ, nhà thờ, và rút lui vào “cái tôi”, co cụm, một mình khép kín với thần khí và sự thật.
Hoàn toàn không, vì Giáo Hội là một gia đình, một cộng đồng yêu thương, đoàn lữ hành đang cùng bước đi, nên Gắn Bó, Hiệp Thông với Đầu là Đức Giêsu và với nhau là những chi thể của Thân Thể mầu nhiệm là đòi hỏi tiên quyết.
Là người Kitô hữu trong Giáo Hội, chúng ta không lên thiên đàng cô đơn, cô độc, lủi thủi một mình, nhưng lên với nhau, cùng nhau lên, cùng nhau về Nước Trời, cùng nhau thực hiện hành trình về Nước Thiên Chúa, dưới sự lãnh đạo của Đức Giêsu, Mục Tử và sự cộng tác của các Đấng Bậc được Thiên Chúa tuyển chọn để quản trị, chăm nom, dẫn giắt đoàn chiên được trao phó.  
Do đó, Hiệp Thông là yếu tính của Giáo Hội, Hiệp Nhất là đòi hỏi của người Kitô hữu, nên trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, người tín hữu phải gắn bó, hiệp nhất, hiệp thông với tất cả mọi thành phần trong Giáo Hội, vì đức tin của Giáo Hội là hiệp nhất, hiệp thông.
Chính vì có hiệp nhất trong Giáo Hội mà chúng ta mới thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật được, cũng không phải lệ thuộc vào một đền thánh, đền thờ hữu hình ở một nơi chốn nào. Chính nhờ đức tin hiệp thông của Giáo Hội, mà chúng ta được hoàn toàn dự phần, được trọn vẹn tham dự vào sức sống và tình yêu của Giáo Hội, là Hiền Thê yêu dấu của Đức Giêsu, trong những hoàn cảnh không thể  đến nhà thờ, không thể sinh hoạt phụng tự, không thể cử hành  thánh lễ…
Vâng, Covid-19 đặt chúng ta, những người Kitô hữu vào một hoàn cảnh mà phần đông chưa bao giờ thấy. Ở vào hoàn cảnh đặc biệt này, chúng ta cần hiểu biết chính xác ý nghiã và giá trị đức tin của các quyết định từ các đấng bản quyền, để không ai, không thế lực thần dữ nào có thể lợi dụng tình thế hầu làm suy yếu ở chúng ta đức tin, và lòng tin tưởng, tín nhiệm ở Mẹ Hội Thánh.
Bởi trong những thời khắc khủng hoảng, thời điểm tinh thần dễ bị chao đảo, lung lay, ma qủy nhất định sẽ không bỏ qua cơ hội đánh phá Đức Ái giữa đoàn chiên và Mục Tử trong Giáo Hội, bằng khủng bố tinh thần Hiệp Nhất, và triệt hạ tinh thần Hiệp Thông bằng dấy lên ngọn lửa kiêu căng, bất tuân phục.  
Hiệp cùng Hội Thánh Việt Nam và toàn cầu, chúng ta xin Chúa cứu thế giới khỏi đại dịch Covid-19 nguy hiểm, và  ban bình an cho tất cả mọi người trên thế giới.
Lời cầu nguyện chân thành ấy chắc chắn sẽ đẹp lòng Chúa gấp bội, nếu chúng ta cùng nhau cầu nguyện trong tinh thần hiệp thông với Giáo Hội và tinh thần Vâng Phục của đoàn chiên biết và lắng nghe tiếng Mục Tử của mình, những mục tử nhân lành như lòng Chúa mong ước: biết rõ chiên mình, gọi tên từng con, “mang vào mình mùi chiên”, và sẵn sàng hi sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).
  Jorathe Nắng Tím