Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2020

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (4)

                                              KẺ THÙ
Mấy ai trên đời chỉ có người thương, kẻ mến mộ, mà không có người ghen ghét, ganh tỵ, nên có đốt đuốc đi tìm cũng không thấy người được “mọi người” say mê, tôn thần tượng, mà không có kẻ dèm pha, vu khống, bôi nhọ, thù hằn. Và điều khó thực hiện nhất, chính là làm vui lòng mọi người, và được mọi người làm hài lòng, vừa ý, vì chẳng bao giờ cuộc đời chỉ là mầu hồng yêu thương, mầu xanh hy vọng mà không giăng mắc những áng mây đen kịt đối kháng, những tảng băng sơn thù hận đeo bám phũ phàng.
Vì thế, người thương, kẻ ghét, bạn hữu, đối phương, người thân, kẻ thù là chuyện bình thường, lẽ tự nhiên, mà đã là người, không ai không đối diện và  cảm nghiệm.
Ta đối diện kẻ thù là những người ghét ta. Kẻ thù không chịu đựng nổi ta và từ chối cùng ta đội chung trời, nên ước mong của kẻ thù là ta biến khỏi cuộc đời cho kẻ thù được rảnh, bởi ta là cản trở quan trọng, là chướng ngại đáng kể đối với kẻ thù. Đồng thời với ta, kẻ thù cũng xuất hiện như khối u dơ bẩn, hôi tanh, tồi tệ, nguy hiểm, đe dọa, mà bằng mọi giá ta phải cắt bỏ, hủy diệt sớm bao nhiêu có thể.
Họ có thể là kẻ thù truyền kiếp, vì những khúc mắc “di truyền” từ ngàn đời; họ có thể trở thành kẻ thù, dù trước đó đã một thời là bạn; họ có thể là kẻ thù vì ta dửng dưng không ủng hộ, tiếp tay, nhưng cũng có thể vì ta nhúng tay qúa sâu, qúa sát làm hỏng mưu đồ, kế hoạch, công trình của họ; họ có thể một sớm một chiều trở thành kẻ thù, vì ta làm việc họ đang làm, khi nghĩ ta tranh giành, lấn sân; cũng có thể vì ta không làm việc họ đang làm, và cho rằng ta không cùng phe, đồng minh, tiếp tay với họ.
Kẻ thù còn là người không bao giờ chung một chủ trương, đường lối, nhưng cũng có thể là người tự ý rẽ lối, đổi đường đang khi đi với ta; kẻ thù có thể thù ta vì ích kỷ, tham lam, nhưng cũng có thể là người ta căm thù vì chính ta muốn “ăn tươi nuốt sống”, chiếm đoạt, lợi dụng họ.
Tắt một lời, người thương, kẻ ghét, bạn hữu tâm giao và kẻ thù “truyền kiếp” là chuyện của con người từ ngàn xưa  đến ngàn sau, ở đâu và thời nào cũng có. Chỉ một khác biệt giữa người thân và kẻ thù là người thân thương ta, nên mong ước và nỗ lực mưu tìm hạnh phúc cho ta, còn kẻ thù thì thù ghét ta, tìm mọi cách phá hoại hạnh phúc của ta, vì chỉ mong ta bất hạnh.
Như thế, người môn đệ Đức Giêsu, vì là người, nên cũng có người thương kẻ ghét, cũng có bạn hữu, kẻ thù, cũng có người chúc hạnh phúc, ban bình an, và cũng có kẻ nguyền rủa bất hạnh, và chúc dữ  cho cả đời “xất bất xang bang”.
Đức Giêsu đã nói đến “kẻ thù”, đã gọi tên “kẻ thù”, đã đặt các môn đệ truớc “kẻ thù”, và đã dậy tâm tình và thái độ phải có trước “kẻ thù”. Như thế “kẻ thù” là một thực thể, một đối tượng có thật, những con người “bằng xương bằng thịt” đang sống và chỉ muốn những tai ương, bất hạnh, chết chóc trút đổ trên đời người môn đệ.
Khi căn dặn các môn đệ ”chớ trả thù” (x. Lc 29-30), Đức Giêsu gián tiếp xác nhận “có thù để trả, có oán để báo”. Có kẻ thù để báo oán, trả thù, bởi các môn đệ không tránh khỏi những lần bị người khác xúc phạm, làm tổn thương, đe dọa, truy lùng, bắt bớ, tiêu diệt, và những “người khác” đang tìm hãm hại đó chính là kẻ thù “hữu danh, hữu thực”.
Cũng như khi bảo các môn đệ: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44), Đức Giêsu không ngần ngại khẳng định: như mọi người, người môn đệ của Ngài cũng bị đặt trước kẻ thù, cũng bị kẻ thù đe dọa, tìm hãm hại. Nhưng vấn đề được Đức Giêsu đặt ra chính là phải làm gì trước kẻ thù.
1.   Đức Giêsu bảo phải tránh kẻ thù để bảo toàn mạng sống:
Đức Giêsu rất nhân bản và khôn ngoan, chứ không dại khờ, liều lĩnh. Ngài không ngây ngô liều lĩnh, khi dặn các môn đệ: “Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác” (Mt 10,23), như chính Ngài đã cùng cha mẹ trốn sang Ai Cập khi Hêrôđê tìm giết (x. Mt 2,13-14), đã “lánh qua miền Galilê khi nghe tin ông Gioan bi bắt” ( Mt 4,12), đã “tránh đi và ra khỏi Đền Thờ” khi người Do Thái lượm đá để ném Ngài (x. Ga 8,59), đã thoát khỏi tay những kẻ “tìm cách bắt Người” (Ga 10,39), cũng như khi biết các thủ lãnh Do Thái quyết định giết mình, “Đức Giêsu không đi lại công khai giữa người Do Thái nữa; nhưng từ nơi ấy, Người đến một nơi gần hoang địa tới một thành gọi là Ephraim” (Ga 11,54), và càng về những ngày cuối đời, khi tình hình trở nên căng thẳng và các thượng tế, kỳ mục bằng mọi giá quyết thực hiện cho bằng được âm mưu giết mình, thì Đức Giêsu  thường “lánh đi không cho họ thấy” (Ga 12,36).
Sách Công Vụ các Tông Đồ cũng đã mô tả cặn kẽ hoàn cảnh Giáo Hội bị bách hại và các môn đệ Đức Giêsu đã phải trốn tránh kẻ thù để bảo toàn tính mạng và để có thể tiếp tục thi hành sứ vụ truyền giáo, như trường hợp của tông đồ trưởng Phêrô được thiên sứ đến giải thoát khỏi trại giam (x. Cv 12,6-11), hoặc trường hợp thoát chết của thánh tông đồ dân ngoại Phaolô bởi tay người Do Thái, nhờ sự khôn ngoan của thánh nhân khi gặp trực tiếp vị chỉ huy cơ đội và cho ông này  biết ngài là công dân  Rôma (x. Cv 21-22), cũng như thoát  chết trong “đường tơ kẽ tóc” bởi những người Do Thái đã cùng nhau “thề độc là sẽ không ăn không uống, bao lâu chưa giết được ông Phaolô” (Cv 23,12), nhờ khôn ngoan thu xếp cho người con trai của bà chị, là người nghe được âm mưu hạ sát Phaolô, đến gặp và trình lên vị chỉ huy. Cũng nhờ vị chỉ huy này giải thoát khi đưa Phaolô đi “an toàn đến với tổng trấn Phêlích, hộ tống bởi hai trăm bộ binh, bảy mươi kỵ binh và hai trăm khinh binh” (Cv 23,23-24), với thư giới thiệu đến quan tổng trấn, đại diện chính quyền Rôma.
Tóm lại, trước kẻ thù và trong mọi tình huống bị bách hại, truy lùng, người môn đệ phải lánh mặt, trốn tránh kẻ thù để bảo toàn sự sống và vì sứ vụ. Ngay cả khi đã sa lưới kẻ thù, người môn đệ vẫn phải tìm mọi cách để bảo toàn mạng sống, như các Tông Đồ đã thực hiện, cho đến giờ Thiên Chúa muốn, giờ mà Đức Giêsu theo truyền thuyết đã hiện ra gặp Phêrô trên đường ông trốn ra khỏi thành Rôma giữa cơn bách hại, và trả lời: “Thầy vào thành Rôma để chịu đóng đinh lần nữa – Romam eo iterum crucifigi” cho câu hỏi của Phêrô: “Thầy đi đâu? - Quo vadis Domine?”. Và Phêrô đã hiểu ra ý Chúa muốn ông trở lại Roma để làm chứng đức tin, ở đó thánh tông đồ trưởng đã bị đóng đinh ngược.    
2.   Đức Giêsu bảo “chớ trả thù” nhưng “hãy yêu và cầu nguyện” cho kẻ thù: 
Tin Mừng Mátthêu khẳng định ý muốn của Đức Giêsu, với đòi hỏi: không trả thù, không lấy “mắt đền mắt, răng đền răng”, dù mắt mình bị kẻ thù móc đi, dù răng bị kẻ thù bẻ gẫy, cũng không chống cự người ác khi bị chúng hãm hại (x. Mt 5,38-42).
Không trả thù, không báo oán đã đành, người môn đệ Đức Giêsu còn phải “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi mình” (Mt 5,44).
Đây thực là điều làm tim người môn đệ nhức nhối, vì đòi hỏi của Đức Giêsu không những ngược giòng với thói đời, ngược lại những gì con người thường nghĩ, thường làm, mà còn vượt xa cả Lề Luật, vì Luật Môsê cho phép: “Mắt đền mắt, răng đền răng”, và “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù” (Mt 5,38.43).
Qủa thực, Đức Giêsu đã muốn các môn đệ của Ngài vượt qua những gì con người nghĩ, vượt qua những gì con người làm, và đòi các ông trở nên con cái Thiên Chúa, và hoàn thiện như Thiên Chúa là Đấng yêu thương và rộng lòng tha thứ, Đấng làm mưa nắng trên cả kẻ dữ, người lành (x. Mt 5,45.48).
Đây thực là đòi hỏi vượt qúa sức con người, vì tự sức, con người không thể vượt qua giới hạn “con người”, không thể vượt qua tình trạng bất toàn, yếu đuối cố hữu của con người để đạt tình trạng hoàn thiện như Thiên Chúa, cũng không thể vượt qua  tình trạng “con người” để trở thành “con Chúa”, để rồi tất cả đòi hỏi trên đều bị coi như “bất khả thi”, không làm được vì vượt mức, vượt sức, và  không thể vượt qua.
Tất nhiên, “đối với Thiên Chúa thì không có gì là không thể làm được” và với ơn phù trợ của Ngài, chúng ta không được tự cho phép mình thất vọng và bỏ cuộc trước khi vào cuộc, nhập cuộc, bởi nếu Đức Giêsu đã  đưa ra đường lối yêu thương triệt để là phải “yêu cả kẻ thù”, thì Ngài cũng đã tiên liệu khi lượng sức con người, để giới luật mới của Ngài không trở thành một lý thuyết “không tưởng, ảo tưởng, hoang tưởng, chỉ có trong tưởng tượng”. Trái lại, giới luật mới ấy phải khả thi, có thể thực hiện, với ơn của Ngài và cố gắng của con người, vì đó là giới luật sống cho con người, đường con người phải đi, điều kiện để đi theo Chúa, và nếp sống của người được chọn làm con cái Thiên Chúa.
Thực vậy, Đức Giêsu đòi người môn đệ của Ngài không trả thù ai, không báo oán ai, vì Ngài muốn những ai đi theo Ngài phải có lòng thương xót đến độ “cây lau bị giập, không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi”, “để muôn dân đặt niềm hy vọng ở danh Ngài” vì Ngài là Thiên Chúa của lòng thương xót (Mt 12,20-21).
Khi kêu gọi người môn đệ yêu kẻ thù, Đức Giêsu không đòi phải yêu kẻ thù  bằng tình yêu ở mức độ dành cho người ta yêu, yêu ta, như tình nhân, người thân trong gia đình, cũng không đòi ta phải yêu kẻ thù cùng một cách như khi ta yêu thương cha mẹ, yêu vợ con, thương bạn bè chí cốt, tri kỷ, vì đức ái có trật tự theo nghiã vụ, bổn phận, có thứ tự theo nấc thang ưu tiên, như ta phải yêu kính cha mẹ vì đó là bổn phận được quy định trong giới răn thảo kính cha mẹ; ta phải yêu chồng, thương vợ, chăm sóc, giáo dục con cái vì là bổn phận từ bản chất của bí tích hôn phối, ta phải yêu thương những người được Bề Trên trao phó, vì đó là tình yêu của trách nhiệm.
Riêng với kẻ thù, Thiên Chúa đòi chúng ta yêu kẻ thù bằng tình yêu của ý chí, nghiã là, cứ bình thường, ta không thể yêu người luôn tìm làm khó, làm khổ ta; cứ theo tính tự nhiên, kẻ thù phải là người ta trả thù, báo thù, vì kẻ hận thù ta cũng là kẻ ta căm thù, nhưng giới luật mới muốn ta vượt lên trên tình cảm tự nhiên, vượt khỏi những suy tính bình thường trong tương quan giữa người với người, vượt xa những cung cách, thái độ của người thường trong sinh hoạt đời thường, để vươn lên và chạm tới Thiên Chúa là Tình yêu, mà Tình Yêu thì không ganh ghét, không loại trừ, “không nóng giận, không nuôi hận thù”, nhưng “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,5.7).
Sở dĩ Thiên Chúa muốn chúng ta không hận thù, không trả thù, nhưng chỉ yêu thương, kể cả người thù ghét, bách hại chúng ta, bởi Ngài muốn chúng ta chạm đến chính Ngài, trở nên con Ngài, hiệp nhất nên một với Ngài, mà Ngài là Tình Yêu vô cùng, Tình yêu tuyệt đối, nên dù một hạt bụi của lòng ghen ghét, thù hận, bạo lưc cũng không thể tồn tại ở Ngài. Nói cách khác, nếu không vì mục đích trở nên hoàn thiện, để làm con Thiên Chúa; nếu không muốn chúng ta “ở lại trong Ngài như cành nho gắn liền với cây nho” (x. Ga 15,1-5), nên một với Ngài như Ngài với Cha Ngài là một, để chúng ta cũng được nên một với Ba Ngôi Thiên Chúa (x. Ga 15,9-10), thì Đức Giêsu đã không đòi chúng ta phải tha thứ, phải yêu thương mọi người, kể cả kẻ thù, bởi điều kiện để được nên một với Thiên Chúa là Tình Yêu, đòi hỏi để là con thừa kế của Thiên Chúa Tình Yêu không cho phép chúng ta sống như “con người tự nhiên” với “yêu ghét tự nhiên” khi “chỉ yêu thương kẻ yêu thương mình”, “chỉ chào hỏi anh em mình” (Mt 5,46-47), vì như thế sẽ chẳng khác gì người chưa thuộc về Chúa, chưa lên đường đi với Chúa với uớc mơ hoàn thiện hầu xứng đáng được gọi là con Thiên Chúa, Đấng vô cùng  thánh thiện vì giầu lòng thương xót. 
Đòi người môn đệ đi theo mình phải yêu cả kẻ thù, Đức Giêsu có ý nói đến tình yêu của ý chí, vì đây mới thực là tình yêu của người môn đệ, khi “từ bỏ và vác thập giá mình để đi theo Chúa”, bởi yêu kẻ thù là hành vi của từ bỏ: bỏ tình cảm tự nhiên muốn gây hấn, muốn trả thù, muốn trả đũa kẻ thù; từ chối xử đẹp kẻ thù theo luật “mắt đền mắt, răng đền răng”, nợ máu phải trả bằng máu, nợ  mạng sống phải trả bằng mạng sống, nhưng chấp nhận vác thập giá mình, tức tự ép mình không căm thù, tự ghìm mình không nổi nóng, phẫn nộ, tự trói mình để bạo lực không bùng phát, tự khép mình để bản năng không vùng vẫy, tung hoành khi phật ý, mất lòng, bị kẻ thù  xử ép, hãm hại.
Kêu gọi người môn đệ vượt xa những gì thuộc tự nhiên để vươn đến siêu nhiên bằng yêu thương kẻ thù bằng chính ý chí, Đức Giêsu đề cao tự do của người đi theo Ngài, khi họ chọn hy sinh chính mình, chọn quên mình, chọn giảm thiểu “cái tôi vĩ đại, tuyệt vời” để chấp nhận vượt qua tình cảm tự nhiên “ghét kẻ thù”, để đạt được tình cảm siêu nhiên là yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình là chọn lựa của người môn đệ.
Thực vậy, Đức Giêsu đòi người môn đệ phải yêu kẻ thù, dù Ngài biết không dễ. Ngài muốn sinh hoạt tình cảm của người môn đệ không dừng lại ở biên giới tự nhiên, nhưng phải vượt qua ranh giới  tự nhiên để đi vào vùng đất siêu nhiên mà Thiên Chúa mời gọi với ý chí. Chính ý chí, tức lòng muốn mãnh liệt, là khả năng chọn lựa làm cho tư tưởng, lời nói, việc làm của người môn đệ có giá trị siêu nhiên, vì bất cứ tư tưởng, lời nói, việc làm nào để có giá trị trước Thiên Chúa đều đòi ở con người chọn lựa tự do của của ý chí.
Một cách thiết thực và cụ thể, khi yêu kẻ thù, chúng ta yêu vì Thiên Chúa muốn chúng ta yêu, mặc dù “tự nhiên” chúng ta không muốn yêu. Và vì Thiên Chúa muốn, nên chúng ta muốn như Thiên Chúa muốn, bằng “bảo ý chí hãy muốn yêu kẻ thù” như Thiên Chúa muốn để làm vui lòng Ngài. Và khi “cố muốn” như Thiên Chúa muốn, chúng ta được lớn lên trong tình yêu của Thiên Chúa và bước gần hơn đến “hoàn thiện” của con cái Ngài, như thánh ý của Ngài.  
Như thế, tình yêu kẻ thù không còn ở lãnh vực tự nhiên, tình trạng tự nhiên của con người, nhưng đi vào siêu nhiên, tiến về hoàn thiện của con cái Thiên Chúa. Tình yêu này là cao điểm của đức ái, nên là thách đố cam go, khó vượt qua, thử thách  bầm mình, rướm máu của những ai muốn trở nên môn đệ  Đức Giêsu.
Và công việc cụ thể để làm chứng tình yêu kẻ thù mà  Đức Giêsu đề nghị các môn đệ thực hiện ngay chính là cầu nguyện cho kẻ thù. Cầu nguyện cho kẻ thù không chỉ là cầu nguyện để kẻ thù không còn cơ hội hận thù, trả thù, không còn điều kiện gây khó khăn, bực bội, không còn khả năng bôi bác, vu khống, đánh phá chúng ta, mà quan trọng hơn là đặt vào tay Chúa hận thù của kẻ thù, để Chúa hoá giải, biến sự dữ thành sự lành, đổi mới tâm hồn gian ác của kẻ thù và đổi mới cả trái tim còn e ngại vượt qua ranh giới tự nhiên để yêu được kẻ thù, thay đổi cả con tim còn ngao ngán, ngượng ngùng bao dung, tha thứ kẻ ngược đãi, bách hại của chính chúng ta.
Cầu nguyện cho kẻ thù là việc làm rất đẹp lòng Thiên Chúa, vì đây đích thực là việc làm của tình yêu ý chí, hành vi quên mình, hành động bỏ mình, tự nguyện vác thập giá mình vì muốn thực thi thánh ý Yêu Thương của Thiên Chúa, và lệnh truyền của Đức Giêsu.
Cầu nguyện cho kẻ thù còn là của lễ cứu độ, vì máu từ trái tim của người môn đệ được hoà vào máu sinh ơn cứu độ của Đức Giêsu chịu đóng đinh ở giây phút hấp hối khi Ngài cầu xin với Chúa Cha: “Lậy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34), và lời cầu nguyện cho kẻ thù của người môn đệ sẽ minh chứng hùng hồn chọn lựa qủa cảm của tâm hồn sẵn sàng “làm trái ý mình”, để “làm theo ý Đấng  sai mình” (x. Ga 6,38).  
Vâng, khi đáp trả lời mời gọi “Hãy theo tôi” của Đức Giêsu, nhà truyền giáo không còn theo ý mình nữa, vì đi theo Đức Giêsu, người môn đệ sẽ được đổi mới toàn diện để trở nên hoàn thiện vì yêu thương như Thiên Chúa, được đổi mới để  thánh thiện, vì xót thương như Thiên Chúa, được nâng lên từ con người thành con Chúa vì yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù, để rồi người môn đệ, nhà truyền giáo không còn nhìn thấy chung quanh, trước sau mình hàng hàng lớp lớp kẻ thù, cũng không phải bận tâm chuyện trả thù, không còn phải  xao xuyến, lo lắng đến mất ăn, mất ngủ vì sợ kẻ thù, nhưng sẽ nhận ra chỉ còn một kẻ thù nguy hiểm, đó là “mâu thuẫn nội tâm, căng thẳng nội tại” làm tâm hồn bất ổn, bất an, khi phải sống  tình trạng “giằng co” giữa đòi hỏi của người môn đệ là “phải yêu và cầu nguyện cho kẻ thù” và “khuynh hướng, tình cảm tự nhiên” cũng như cám dỗ muốn trả thù, ăn thua đủ, và loại trừ, tiêu diệt kẻ thù, mà tất cả các môn đệ, cũng là nhà truyền giáo, người Kitô hữu trên đường theo Đức Giêsu ít nhiều đã cảm nghiệm.         
Xin Đức Giêsu phục sinh ban cho các nhà truyền giáo trái tim tràn đầy yêu thương và qủa cảm của Chúa, để làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu đến quên mình, xóa mình, hiến mình khi “gồng mình” yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi, bách hại mình (x. Mt 5,44).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

THỜI ĐẠI BỊ ĐE DỌA

Sau tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, thủ tướng Anh quốc Boris Johnson, nay đến tổng thống Pháp Emmanuel Macron lên tiếng đặt vấn đề “Trung Quốc” trong bối cảnh của dịch Covid-19 tính đến hôm nay 18.04.2020 đã lấy đi hơn 140.000 sinh mạng, 2.135.410 người bị lây nhiễm, và 4,4 tỷ người trên thế giới, tức 57% dân số toàn cầu phải áp dụng chế độ cách ly xã hội.
Trước số tử vong, lây nhiễm làm ngộp thở, nền kinh tế đổ dốc không thắng, sinh hoạt xã hội ngưng trệ, đảo lộn tạo nên tâm trạng bất an, hoảng loạn, nhiều giả thuyết ban đầu nay được đặt thành đề tài nghiên cứu, nhiều dấu hiệu bất thường nay được đem ra điều tra, làm rõ, nhiều điều không cần nói, không nên nói khi quan hệ ngoại giao còn bình thường nay được thẳng thừng yêu cầu xử lý từ miệng  các nhà lãnh đạo. Và người ta bắt đầu đặt chính quyền Trung Quốc thành một “ẩn số” để thế giới cùng truy tìm “lời giải”, đáp án.
Có rất nhiều dấu hiệu đưa đến nghi vấn Covid-19 thuộc chương trình vũ khí vi trùng được sản xuất bị “rò rỉ” hoặc “tung ra” từ Vũ Hán, Trung Quốc trong ý đồ làm tê liệt, sụp đổ các quốc gia đối thủ hầu thực hiện tham vọng bá chủ thế giới của nhà cầm quyền Trung Quốc. Những dấu hiệu, và cách hành xử đáng nghi ngờ  của chính quyền Trung Quốc không những lôi kéo chú ý của giới lãnh đạo nhiều quốc gia, mà còn là câu chuyện ngày càng sôi nổi của quần chúng, đám đông thuộc mọi giai cấp, thành phần, trình độ.
Người viết không lạm bàn chính trị, chỉ mượn tình hình Covid-19 và khuynh hướng thế giới để được chia sẻ  một vài suy tư về tương lai nhân loại:
1.   Nhân loại đang bước vào thời kỳ bị đe dọa nặng nề của chiến tranh:
Đe dọa lớn nhất mà thế giới nhận ra sau nạn dịch Covid-19 là chương trình phát triển bí mật vũ khí sinh học, vũ khí vi trùng. Chỉ một con vi khuẩn mang tên Corona, hay Covid-19 mà thế giới đã chịu hậu qủa rất nặng nề: tử vong hằng trăm ngàn trong một thời gian qúa ngắn, kinh tế suy sụp, với một tương lai mờ mịt, nhiều khó khăn.
Bên cạnh hậu qủa đang phải gánh chịu là đe dọa thường xuyên của vũ khí sinh học, vũ khí vi trùng tương tự như Covid-19, hay ngàn lần nguy hiểm, do khả năng tàn phá nhiều và nhanh. Những vũ khí “vô hình”, vũ khí nổ tung thế giới mà không ai nghe gì, tiêu diệt nhân loại mà không người nào hay biết trở thành đe dọa liên  lỷ và kinh hoàng, vì chỉ khi “ngộp thở” mới biết mình sẽ tắt thở trong vài giây do những vũ khí khó nhận diện, khó khống chế, và hầu như không thể kiểm soát vì tính đột biến “muôn hình vạn trạng” mà một số quốc gia đã có sẵn trong tay.
Qủa thực, chỉ một chút suy nghĩ, người ta cũng mừơng tượng tương lai thế giới  bị đe dọa ở mức trầm trọng đáng lo ngại, nếu thực sự Covid-19 nằm trong ý đồ “thăm dò, và thử sức” của Trung Quốc; chỉ một thoáng suy tư, người ta cũng thấy nguy cơ bị hủy diệt của một thế giới liên tục bị đe dọa bởi tham vọng bá chủ được hậu thuẫn và thực hiện bằng những phòng thí nghiệm  vũ khí sinh học, những chương trình tiêu diệt hàng loạt, những chiến lược, chiến thuật tàn sát đồng loại  phi nhân ngoài sức tưởng tượng. 
2.   Các quốc gia cần nhau để tồn tại, nhưng  chủ nghiã dân tộc qúa khích phá vỡ công trình “thế giới sống chung hoà bình”:
Không ai có thể chối cãi các quốc gia cần nhau để phát triển, vì thế giới ngày càng trở nên như một đại gia đình, mà mọi thành viên liên đới, tương trợ và ảnh hưởng trên nhau. Một quốc gia chiến tranh sẽ đem đến cho các nước láng diềng nhiều khó khăn, chẳng hạn như phải gánh vác lượng người tỵ nạn bỏ nước tránh bom đạn, hay tránh chế độ độc tài, diệt chủng…
Vì thế, chủ trương chung của các nước là thiết lập quan hệ tốt đẹp trong tinh thần tương trợ và tôn trọng chủ quyền, để tất cả cùng tồn tại, cùng phát triển. Tuy thế, bên cạnh cố gắng này, người ta gặp phải sức đối kháng dữ dội của những nhóm dân tộc qúa khích. Những nhóm này ngày càng nhiều và hoạt động hăng say, với chủ trương loại trừ người ngoại quốc, không giúp đỡ các quốc gia chậm tiến, hay đang lâm chiến nhiều khó khăn, bế tắc, nhưng bảo thủ, và bảo vệ tối đa quyền lợi người dân bản xứ, với một tinh thần bài ngoại qúa khích, kỳ thị cực đoan.
Những nhóm này có mặt ngày càng nhiều trong quốc hội, chính phủ các nước và không ít  người dân bị dụ dỗ đi vào đường lối dân tộc qúa khích nguy hiểm này, một bất lợi lớn cho công trình xây dựng  hoà bình, hợp tác phát triển giữa các dân tộc, quốc gia, như điều kiện không thể thiếu cho một thế giới văn minh.
3.   Chủ nghiã bành trướng, bá chủ là tai ương lớn của nhân loại:
Hiện giờ thì Trung Quốc rất “mang tiếng” về chủ trương bành trướng, đường lối xâm lăng, chiến thuật “cả vú lấp miệng em”, dùng bạo lực thôn tính lãnh thổ các nước láng giềng, trong đó có biển đảo của Việt Nam. Bằng chứng là từ nhiều năm nay, đường lưỡi bỏ Biển Đông mà Trung Quốc ngang nhiên nhận chủ quyền, ngang ngược vẽ lại hải đồ khi xóa những đảo thuộc Việt Nam khỏi bản đồ Việt Nam và đặt vào lãnh hải của mình đã gây sóng gió trên thế giới, đặc biệt những nước liên quan.
Qủa thực, chủ trương và những hành động của Trung Quốc không lương thiện và thân thiện chút nào với các nước láng diềng. Chính Nhà Nước Trung Quốc với chủ trương bành trướng, xâm lăng trên đã làm mất đi hình ảnh đẹp về một dân tộc có nền văn hoá lâu đời và phong phú, và làm cho người Trung Hoa định cư ở các nước không còn được “nhìn” một cách thiện cảm, đáng tin cậy.
Tất nhiên, không chỉ có Trung Quốc nuôi mộng bá vương, mà còn những quốc gia khác cũng không từ bỏ giấc mộng bá chủ thế giới này. Và đó chính là nỗi lo của nhân loại, khi “chiến tranh các vì sao” nổ tung, kéo theo một thế giới bị tàn khốc tiêu diệt.   
Tóm lại, chúng ta đang sống trong một thế giới nhiều đe dọa, mà đe doạ lớn là hoạ bị tiêu diệt vì vũ khí sinh học, vũ khí vi trùng được dùng khi có chiến tranh, mà nguyên nhân phát sinh chiến tranh chính là chủ nghiã dân tộc cực đoan và  mộng xâm lăng, bành trướng.
Covid-19 là cơ hội cho chúng ta suy nghĩ, nhận định, và tiên liệu.
Chúng ta đã suy nghĩ và nhận định thế giới cần hoà bình, tương trợ và hợp tác để sống chung hạnh phúc, và cùng nhau phát triển, nhưng tham vọng của một số quốc gia không luôn tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện lý tưởng đó.
Chúng ta cũng nhận ra nguy hiểm của những khả thể chiến tranh và sức phá hoại vô cùng kinh khủng của nó, nếu chẳng may xẩy ra.
    Chúng ta còn nhận diện khuynh hướng thu mình, khép mình để đi đến tự lập toàn bộ của nhiều quốc gia, và nhất là chúng ta đang đối diện với đe dọa của chủ nghiã dân tộc cực đoan đưa đến kỳ thị chủng tộc và chủ trương bành trướng, bá chủ của những nước lớn.
Sau cùng, chúng ta khám phá ra rằng không Thượng Đế nào, không quyền lực siêu nhiên nào đầy đọa con người, làm khổ con người, nhưng chính con người đầy đọa, làm khổ, đe dọa nhau.
Vấn đề còn lại: chúng ta phải tiên liệu thế nào, phải chuẩn bị tương lai làm sao để thế giới không tiếp tục chìm sâu vào một tương lai đầy đe dọa?
Nhiều người bi quan cho rằng sẽ khó tránh khỏi một đại chiến thế giới và số người chết sẽ là điều không ai dám nghĩ đến. Riêng người viết, với tinh thần lạc quan, và niềm tin tưởng vào Ơn Trên hy vọng một thay đổi có lợi cho toàn thế giới sau trận dịch Covid-19, bởi qua những ngày cách ly ở mọi cấp độ quốc gia, thế giới, vấn đề đã được phần đông các nhà lãnh đạo nhận diện và những biện pháp cần thiết để bảo vệ sinh tồn của nhân loại, cũng như chủ quyền độc lập  và thịnh vượng của các quốc gia cũng đã được đặc biệt quan tâm.
Tuy thế không thể thiếu ý thức của mỗi người về sự cần thiết cấp bách của một nền văn minh tình thương và văn minh sự sống. Đó là hai nền văn minh có chung một mục đích, một đường lối, một hoạt động: phục vụ con người.
Thiếu văn minh tình thương, hận thù sẽ thống trị và đẩy con người đến bạo lực tiêu diệt. Bỏ quên văn minh sự sống, sự chết sẽ trấn áp, hoành hành và con người sẽ chỉ còn là những con số được thêm bớt dễ dàng trên biểu đồ của sức mạnh tiêu diệt.
Hai nền văn minh như hai mặt của lòng nhân ái, mà bất cứ xã hội loài người nào không có, bất cứ một tập thể, cộng đồng “con người” nào coi thường, hoặc từ chối, hủy bỏ đều sẽ đi đến hủy diệt, vì duy nhất lòng nhân ái bảo dảm cuộc sống chung hoà bình giữa con người với con người, nhờ chung một tình người; duy nhất  lòng nhân ái giải quyết tốt đẹp mọi mâu thuẫn, căng thẳng giữa các quốc gia, bởi giá trị của một dân tộc, nét cao qúy của một đất nước hệ tại đời sống lương thiện, nếp sống nhân đạo như đòi hỏi của lương tâm ngay thẳng, quân bình.     
Ước mơ thế giới ra khỏi muà đe dọa để bước vào mùa bình an; thoát khỏi những ngày tháng cách ly để đi đến gặp gỡ thân thiện, hợp tác chân thành trên cơ sở cùng phát triển, cùng hạnh phúc.
Jorathe Nắng Tím

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (3)

NHÀ TRUYỀN GIÁO TRƯỚC THẤT BẠI

Không ai sống mà không nếm mùi thất bại, không ai hoạt động mà tránh khỏi những ngày u ám, những đêm buồn rười rượi vì công không thành, danh không toại, và chẳng mấy người dám vỗ ngực xưng tên: đời tôi không bao giờ thất bại.
Nhà truyền giáo là người, nên cùng chung số phận “có thành công, có thất bại” ấy; nhà truyền giáo là người hoạt động, nên hiểu thế nào là nhiêu khê của công việc, ê chề của chương trình bị đình trệ, dở dang, cay đắng của công trình bị phá hủy, sụp đổ. Không những thế, nhà truyền giáo là người của công chúng, người  của cộng đoàn, người thuộc về đám đông, nên còn thấm thiá hơn nhiều người khác gánh nặng nề, và chén đắng khó uống của những lần thất bại, ở đó thiên hạ nhao nhao phê bình, chỉ trích, đối phương hả hê và lợi dụng lên án, vùi giập. Đó là chưa kể sứ vụ của nhà truyền giáo không luôn dễ, vì là công việc của Thiên Chúa nhưng được thực hiện qua con người, và với con người có tự do.
Đọc Tin Mừng, chúng ta thấy không chỉ con người thất bại, các môn đệ thất bại, mà cả Thiên Chúa cũng thất bại.
Thiên Chúa thất bại khi công trình tạo dựng con người vì yêu thương đã bị chính con người phá đổ. Một thất bại lớn cho Thiên Chúa khi Ađam và Evà đã không tin rằng Ngài thương yêu ông bà, nên đã bất tuân lệnh Ngài và ăn trái cấm; một thất bại đáng buồn cho Thiên Chúa, khi ông bà nguyên tổ đã sử dụng tự do và quyền tự quyết của mình để làm theo lời dụ dỗ của Thần Dữ chống lại lệnh Thiên Chúa; một thất bại chua cay cho Thiên Chúa khi thấy con mình phải trở nên nghèo nàn, sợ hãi, lẩn trốn, vì xấu hổ sau khi phạm tội bất trung; một thất bại nặng nề cho Thiên Chúa khi con người không ở lại với Thiên Chúa trong địa đàng và không theo chương trình đã được Ngài đã sắp đặt từ đời đời cho hạnh phúc viên mãn của con người, là con cái với quyền thừa kế (x. St 3).
Vì thất bại với hai người đầu tiên của nhân loại, Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa mới xuống thế làm người để chuộc lại hậu qủa của thất bại khởi đầu lịch sử nhân loại. Nhưng chính công trình cứu chuộc của Đức Giêsu với hơn ba mươi năm ở thế gian cũng không tránh khỏi những thất bại.
Đức Giêsu thất bại trong việc đào tạo các môn đệ, bằng chứng những ngày cuối đời, Nhóm Mười Hai thân tín, rường cột đã bỏ rơi Ngài: người thì phản bội, người thì chối “không biết ông ấy là ai”, những người khác thì “cao bay xa chạy”, lo thủ thân, bảo toàn tính mạng. Ngài thất bại đối với thần quyền, thế quyền, vì cả hai đã “hợp đồng, cộng tác” để tiêu diệt Ngài, và các thượng tế, kỳ mục, và nhóm Pharisêu đã thành công khi đưa đẩy Philatô ký án tử hình đóng đinh Ngài. Ngài thất bại với quần chúng, vì không giữ được họ đi đến cùng và bảo vệ Ngài những ngày lâm nạn, nhưng tất cả đều quay lưng, trở mặt. Ngài thất bại khi giáo lý của Ngài không lôi cuốn được bao nhiêu người, và hoàn toàn thất bại khi chịu đóng đinh, chôn trong huyệt sâu, mộ tối…
Vâng, nếu công trình của Thiên Chúa còn thất bại vì tôn trọng tự do của con người, nếu Đức Giêsu còn thất bại vì con người, dù sứ vụ của Ngài là yêu thương và cứu chuộc họ, thì những người thuộc về Thiên Chúa, môn đệ Đức Giêsu làm sao tránh khỏi thất bại khi thi hành sứ vụ được trao?
Tin Mừng kể lại nhiều thất bại của các môn đệ:
1.   Các môn đệ thất bại vì hiểu lầm đường lối, ý muốn của Đức Giêsu khi đi theo Ngài:
Tuy đáp lại lời mời gọi “Hãy theo tôi” của Đức Giêsu một cách dứt khoát, triệt để ngay phút đầu gặp gỡ Ngài (x. Mt 4,20), nhưng không mấy người trong nhóm đã hiểu rõ ý muốn và đường lối đích thực của Đức Giêsu.
Đó là lý do của nhiều ảo tưởng chính trị, quyền lực, chức tước khi “đầu quân” theo Đức Giêsu đã nhen nhúm trong các ông, như hai anh em con ông Dêbêđê đã xin trước hai chỗ quan trọng nhất trong vương quốc tương lai của Đức Giêsu mà các ông hoàn toàn lầm tưởng (x. Mt 20,20-23).
Đó là chưa nói đến não trạng quan chức theo tinh thần thế tục mà các môn đệ hằng đeo đuổi cho đến khi Đức Giêsu thẳng thắn nói với các ông: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai qủan dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20, 25-27). Cũng như người thanh niên giầu có đã lầm tưởng tiền bạc không cản trở việc trở nên hoàn thiện, khi đến xin theo Đức Giêsu, và anh đã thất bại “buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (Mt 19,22).
Tưởng cũng nên nhắc lại thất bại của Phêrô, Giuđa, khi hai ông một chối Thầy, một bán Thầy những ngày cuối đời của Đức Giêsu. Sở dĩ hai ông thất bại khi phản bội Thầy, một phần vì các ông không hiểu đường lối của Thầy mình. Bằng chứng là Giuđa đã nuôi mộng phục quốc, đánh đuổi quân Rôma khi theo Đức Giêsu, và Phêrô đến giờ chót vẫn một mực can ngăn Đức Giêsu đi vào đường Thương Khó, để rồi bị qưở trách: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà của loài người” (Mt 17,23).
Nhà truyền giáo cũng sẽ không hơn các môn đệ, và một số thất bại trên đường truyền giáo cũng phát xuất từ tình trạng chưa hiểu hay hiểu lầm ý muốn và đường lối của Thiên Chúa khi đi theo Ngài. Chỉ một việc chọn công trình làm vinh danh Chúa thay vì chọn Chúa thôi cũng đã làm nhà truyền giáo rơi vào nguy cơ thất bại, bởi có những lúc, nhà truyền giáo hụt hẫng, thất vọng vì không làm được những gì mình khao khát, mơ ước thực hiện trong đời làm môn đệ của mình cho vinh danh Chúa, để rồi tự ty nghĩ rằng mình đã thất bại nặng nề khi đầu tư lầm đời mình, đi sai đường khi theo Chúa, chỉ vì không làm được việc mình muốn làm để vinh danh Chúa.
Thất bại này rất tang thương, và nguy hiểm vì là thất bại rất tàn phá, thất bại của nội tâm, thất bại trong đáy sâu tâm hồn, thất bại của chọn lựa lẽ sống, và tất cả đều là hậu qủa của hiểu lầm, hiểu sai ơn gọi của mình là chọn Chúa, chọn một mình Chúa thôi, mà không nghĩ gì đến việc phải làm, công tác được trao, chức vụ được ủy thác, bởi những hoạt động ấy, việc ấy, chức tước, vai trò ấy không là đối tượng của chọn lựa ở người được chọn, không là đối tượng của đời truyền giáo. 
2.   Các môn đệ thất bại vì bị thế gian ghen ghét, kiếm chuyện, phá đám, khi thi hành sứ vụ:
Không phải đến đâu, gặp ai, người môn đệ của Đức Giêsu cũng được niềm nở, ân cần đón tiếp và chăm chú lắng nghe giảng dậy. Bằng chứng là Đức Giêsu đã cảnh báo các môn đệ khi sai các ông đi truyền giáo về rủi ro bị người ta từ chối không mời vào nhà, hay khinh khi, bạc đãi: “Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại”, và Ngài không quên nhắc các ông: “Này Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữabầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,14.16). 
Tuy được cảnh báo, nhưng thế gian ngày đêm săn lùng, phá hoại, nên người môn đệ khó tránh khỏi thất bại, vì có lúc sao lãng thiếu khôn ngoan như rắn, hoặc chưa đủ đơn sơ như bồ câu.
Người môn đệ còn thất bại dưới con mắt người đời, vì bảo vệ sự thật giữa thế gian đầy xảo trá, gian dối; bảo vệ công lý trong một xã hội đầy bất công; tranh đấu cho văn minh sự sống giữa một thế giới bạo lực, phò Thần Chết, như Gioan Tẩy Giả đã bị chém đầu, mất mạng vì đã can đảm lên tiếng can ngăn vua Hêrôđê khi ông cướp vợ của anh trai mình (x. Mt 14,3-12).   
3.   Các môn đệ thất bại vì  yếu đuối:
Là người, ai cũng yếu đuối. Chính yếu đuối làm chúng ta nhiều phen thất bại. Phêrô yêu mến Chúa, nên mới tuyên xưng đức tin một cách hùng hồn: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16) và thề thốt: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”, nhưng rồi ông đã chối, mặc dù đã được Đức Giêsu cảnh báo: “Thầy bảo thật anh: nội đêm nay gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (Mt 26,34-35). 
Và không chỉ một mình Phêrô, mà “tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy” (Mt 26,35), và tất cả đã cùng chạy trốn,  bỏ rơi Thầy, trừ Gioan.
Các môn đệ đã thất bại vì yếu đuối, như thánh Phaolô đã viết về cảm nghiệm yếu đuối của chính mình: “Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,19). Chính vì sự thiện muốn mà không được làm, mà người môn đệ đã rơi vào thất bại.
4.   Các môn đệ thất bại vì thiếu đức tin:
Tin Mừng Máccô kể: một người trong đám đông có đứa con bị qủy ám đã chạy lại nói với Đức Giêsu: “Tôi đã nói với các môn đệ Thầy để họ trừ tên qủy đó, nhưng các ông không làm nổi”, và Đức Giêsu đã than thở về tình trạng đức tin yếu kém của các môn đệ: “Ôi thế hệ cứng lòng, không chịu tin! Tôi phải ở cùng các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa?” (Mc 9,18-19). Và khi chỉ còn lại Thầy trò với nhau, các môn đệ hỏi riêng Ngài: “Tại sao chúng con không trừ nổi tên qủy ấy?” Người đáp: “Giống qủy ấy, chỉ cầu nguyện mới trừ được thôi” (Mc 9,28-29).
Chẳng thế mà nhiều lần các môn đệ đã xin Đức Giêsu thêm đức tin cho các ông, và dậy các ông cầu nguyện (x. Lc 17,5 ; 11,2-4).  
5.   Thất bại của các môn đệ là do ý muốn của Thiên Chúa:
Không phải tất cả thất bại của người môn đệ, nhà truyền giáo đều do con người, nhưng thất bại còn do ý muốn của Thiên Chúa.
Khi Ladarô, em của hai cô Mácta và Maria đau nặng, hai cô đã cho người khẩn báo Đức Giêsu để xin Ngài về chữa cho ông em, nhưng hai cô đã hoàn toàn thất bại, khi Đức Giêsu đã không về khi Ladarô còn sống, mặc dù Ngài có thể về, như Tin Mừng Gioan đã ghi rõ: “Đức Giêsu qúy mến cô Mácta, cùng hai người em cô là cô Maria và anh Ladarô. Tuy nhiên, sau khi được tin anh Ladarô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở” (Ga 11,5-6).
Sự chậm trễ của Đức Giêsu chắc hẳn là thất bại lớn đối với hai chị em Mácta, Maria là những môn đệ thân tín của Ngài, nên “khi vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Mácta liền ra đón Người” và phụng phịu “bắt đền”: “Nếu có Thầy ở đây, thì em con đã không chết” (Ga 11,21). Nhưng không ai biết được ý của Đức Giêsu là không đến khi Ladarô còn sống, nhưng chỉ đến Bêtania, khi Ladarô đã chết để gọi ông sống lại sau bốn ngày trong mồ. Ý muốn này Đức Giêsu đã tỏ ra cho các môn đệ đi cùng Ngài, khi nói với các ông: “Ladarô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin” (Ga 11,15).
Như thế, thất bại của chị em cô Mácta, Maria lại là thành công của Đức Giêsu, khi Ngài làm cho “nhiều kẻ tin vào Người” sau khi cho Ladarô sống lại, như Tin Mừng đã qủa quyết (Ga 11,45).
Tin Mừng Gioan còn làm nổi bật ý muốn của Thiên Chúa trong thất bại của các môn đệ: Tuy là những ngư phủ lành nghề, thế mà cả đêm, các ông đã “không bắt được gì cả” (Ga 21,3). Trước thất bại nghề nghiệp của các ông, Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra, và bảo các ông: “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá”, và các ông đã đánh được mẻ cá “khủng”, đầy những cá (Ga 21,6). Như thế  thất bại “không bắt được gì sau một đêm dài vất vả lưới cá của các môn đệ đã nằm trong thánh ý của Thiên Chúa, khi Ngài muốn tỏ cho các ông biết: Vâng lời Thầy, các ông sẽ gặt nhiều kết qủa.
Công Vụ các Tông Đồ còn cho chúng ta thấy thánh ý của Thiên Chúa trong những thất bại của con người, như trường hợp Saolô, được đổi tên thành Phaolô sau này, ngã ngựa trên đường đi Đamát bắt bớ người có đạo. Và chúng ta nhận ra thánh ý này qua đối thoại trong một thị kiến giữa Thiên Chúa và ông Khanania, người môn đệ của Chúa ở Đamát được Chúa trao phó nhiệm vụ săn sóc và chữa lành đôi mắt mới bị mù của Saolô:
Khanania thưa với Chúa: “Lậy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho dân thánh Chúa tại Giêrusalem. Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa”. Nhưng Chúa phán với ông: “Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ítraen. Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta” (Cv 9,13-16).  
Vâng, là môn đệ Đức Giêsu, nhà truyền giáo sẽ không tránh được những thất bại do nhiều nguyên nhân, mà một số nguyên nhân chính đã được trình bầy ở trên.
Vấn đề của nhà truyền giáo không phải thành công hay thất bại, cho bằng  thái độ được chọn trước thành công, thất bại. Bởi nếu cuộc đời nhà truyền giáo đã được tận hiến cho Đức Giêsu chịu đóng đinh và sống lại trong sứ vụ làm chứng, thì sẽ không có gì làm nhà truyền giáo chao đảo, thất vọng, mất tinh thần, cũng không có gì làm cớ cho nhà truyền giáo tự đắc, kiêu căng, vì nếu Chúa muốn, nếu là chương trình của Chúa thì công trình nào của nhà truyền giáo đã hoàn thành, đang thi công hay sẽ thực hiện thình lình bị “vỡ toang, dẹp bỏ, thay thế”, nhà truyền giáo cũng vẫn bình an nhìn thất bại, mà ai cũng thấy được đó bằng đôi mắt phó thác, tin yêu, đôi mắt của người đầy tớ hèn mọn chỉ biết làm điều Chủ muốn, chỉ biết cố gắng hết sức mình, chỉ biết cống hiến tất cả  khả năng với ước mơ duy nhất chu toàn bổn phận  để làm vui lòng Chủ.
Cũng với đôi mắt phó thác, tin yêu, nhà truyền giáo sẽ khiêm tốn đón nhận thất bại như hồng ân của Thánh Ý, khi thất bại vì mình, đến từ mình, do mình thiếu sót, thiếu khôn ngoan, vội vã, bồng bột, hăng say, liều lĩnh, kể cả háo thắng, háo danh. Vấn đề là trước thất bại, nhà truyền giáo nhận ra mình yếu đuối, để dựa vào sức mạnh của Chúa và vượt qua thất bại.   
Trên đường truyền giáo, thánh Phaolô đã cảm nghiệm yếu đuối của mình trước thất bại, vì hơn ai hết, thánh tông đồ dân ngoại đã nhiều phen khốn đốn tang thương vì thất bại đủ kiểu, đủ cách do người đời ganh ghét cũng có, mà do anh em trong nhà cũng có, như có lần Ngài viết cho giáo đoàn Côrinthô: “Tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tầu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em” (2 Cr 11,23-26).
Tất cả đều là thất bại hoặc khả thể, rủi ro đưa đến thất bại duới mắt người đời mà thánh Phaolô đã gánh chịu, và thánh nhân kết luận: “Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi” (2 Cr 11,30).
Như thánh Phaolô, nhà truyền giáo không chỉ có quyền tự hào về những yếu đuối của mình trong thành qủa truyền giáo mà còn “phải” tự hào mình yếu đuối trong cả những thất bại, để như ngài, chúng ta vượt qua thất bại vì tin vào lời Đức Giêsu: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào, vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi” (2 Cr 12,9-10). 
Trên đường truyền giáo, người môn đệ Đức Giêsu sẽ không tránh khỏi những thất bại: thất bại trong tương quan với Bề Trên, với anh em, với đồng đạo, đồng bào, dân ngoại, thất bại nội tâm không ai biết, thất bại bên ngoài ai cũng hay, thất bại trong công trình công khai, sừng sững, lồ lộ, thất bại thiêng liêng, tinh thần từng ngày gặm nhấm. Thế nên trong mọi thất bại, trước mọi thất thế, nhà truyền giáo cần đôi mắt tín thác và đơn sơ để nhận ra Thiên Chúa đã làm gì sau khi thất bại vì nguyên tổ phản bội, Đức Giêsu đã phản ứng thế nào trước những thất bại, các thánh Tông Đồ đã xử sự làm sao khi không thành công?        
Thiên Chúa đã tiếp tục yêu thương và lên kế hoạch cứu chuộc loài người; Đức Giêsu đã yêu thương đến cùng và tha thứ cho tất cả; các tông đồ đã “hết lòng yêu mến anh em” (2 Cr 2,4), dù tim có se thắt, nước mắt có chan hoà, tâm can có quay quắt, xót xa vì thất bại đủ kiểu, do đủ người.
Vâng, chỉ có Đức Ái giúp nhà truyền giáo vượt qua thất bại; chỉ có lòng mến là thuẫn đỡ bảo vệ nhà truyền giáo khi rơi vào khủng hoảng “làm gì cũng không thành công”; chỉ Tình Yêu Đức Giêsu là sức mạnh thúc bách nhà truyền giáo tiếp tục hành trình yêu thương sau những lần gục ngã vì thất bại; chỉ lòng yêu mến anh em biến thất bại của nhà truyền giáo thành lễ tế hy sinh đẹp lòng Chúa; chỉ lòng xót thương, bao dung  đem lại bình an sâu lắng khi nhà truyền giáo thất bại, vì  chỉ “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7), bởi trong bất cứ thất bại nào cũng có tác nhân làm nên thất bại, trước bất cứ thất bại nào, người ta cũng tìm cho kỳ được tên tội đồ, và “con vật tế thần” cần thiết, nhất là bất cứ thất bại nào cũng làm khổ đau, nhục nhằn, buồn  giận, thất vọng.  
Vì thế, đức mến rất cần thiết để vượt qua những đố kị, nghi ngờ, đổ tội, vu khống, lên án, hận thù, bạo lực khi chúng ta thất bại; đức mến không thể thiếu để nâng chúng ta đứng dậy, khi chúng ta ngã lòng, giận hờn, căm phẫn, trách mình, thù người khi thất bại; đức mến không thể vắng mặt khi chúng ta thu mình trong cô đơn, khép mình trong sầu buồn khi thất bại, bởi duy đức mến trong Đức Giêsu, chúng ta, những nhà truyền giáo mới Vui Mừng khi thất bại vì có niềm hy vọng, mới kiên nhẫn Chịu Đựng mọi tủi nhục khi thất bại vì có Đức Giêsu chịu đóng đinh đồng hành, mới chuyên cần Cầu Nguyện khi thất bại, vì tin sức mạnh và ơn phù trợ chúng ta ở nơi danh Chúa, là Đấng sai chúng ta  đi loan báo, làm chứng Tin Mừng cứu độ.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (2)

NHÀ TRUYỀN GIÁO LÀ NGƯỜI PHÚC ĐỨC
Tin Mừng Mátthêu ghi lại rất rõ những căn dặn của Đức Giêsu khi sai các môn đệ lên đường truyền giáo. Ngoài sứ vụ loan báo “Nước Trời đã đến gần” (Mt 10,7), các vị còn được mời gọi cho đi nhưng không những gì đã nhận được nhưng không, mà  năng quyền “chữa lành người đau yếu, làm cho người chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma qủy” là một trong những gì các môn đệ đã được Đức Giêsu ban cho nhưng không. Bên cạnh sứ vụ với năng quyền này, Đức Giêsu còn muốn các môn đệ của Ngài là những người chúc phúc lành, ban bình an cho mọi người trên đường truyền giáo: “Vào nhà nào, anh em hãy chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10,12). Điều này đặt cho nhà truyền giáo một đòi hỏi mới: phải trở nên người có Đức để có thể giữ được Phúc của Thiên Chúa và ban cho mọi người.
Thực vậy, nhà truyền giáo không nhận sứ vụ rồi lên đường như “người máy”, và oang oang loan báo Tin Mừng như chiếc loa vô hồn, vô cảm phát ra âm thanh mang tính tuyên truyền, xáo rỗng, nhưng nhà truyền giáo loan báo Đức Giêsu, con người - Thiên Chúa sống động, bằng làm chứng qua chứng từ sống động của chính đời sống nhà truyền giáo.
Vì thế, người được nghe Tin Mừng, được giới thiệu Nước Trời, được mời gọi đón nhận Đức Giêsu sẽ khó có thể nhận ra những gì nhà truyền giáo loan báo, rao giảng, trình bầy, nếu con người, và đời sống của nhà truyền giáo không phù hợp với sứ vụ và nội dung của sứ điệp. Và điều này ảnh hưởng không nhỏ trên công cuộc truyền giáo của người môn đệ Đức Giêsu.
Kinh nghiệm cho thấy, ngay phút đầu gặp gỡ, nhà truyền giáo đã được nhận diện và “cảm nhận” bởi những người vừa được nhà truyền giáo chào thăm, chúc bình an; ngay phút đầu gặp gỡ, những người được rao giảng đã có thể đánh giá tư cách, thái độ của nhà truyền giáo khi đến với họ; ngay phút đầu gặp gỡ, những người  chung quanh nhà truyền giáo đã nhận định về con người nhà truyền giáo, và cũng ngay từ phút đầu gặp gỡ, hình ảnh nhà truyền giáo đã ghi sâu vào tâm khảm người được rao giảng Tin Mừng: một hình ảnh được đặt trên nền tảng phúc đức.
Sở dĩ đại đa số đánh giá nhà truyền giáo trên cơ sở phúc đức, mà không đánh giá trên những tiêu chuẩn khác, vì phần đông đều cho rằng nhà truyền giáo là người mang phúc đến cho họ, người chúc phúc cho họ, và để  bảo đảm giá trị ơn phúc nơi người ban phúc, đám đông muốn  người chúc phúc, người ban bình an ấy phải là người đức độ, người đạo hạnh, người có đức. 
Là người mang phúc đến cho người khác, người ta không mong nhà truyền giáo giỏi giang, khoa bảng, lịch lãm, quyền thế, giầu có vật chất, hay đẹp như người mẫu, nhưng họ chỉ mong nhà truyền giáo là người có đức. Cũng như không ai đòi hỏi nhà truyền giáo phải thế này thế kia, phải có điều kiện này điều kiện nọ, nhưng luôn tìm kiếm ở nhà truyền giáo một con người đức độ.
Đức ở đây được hiểu là thái độ sống của một người. Như người làm phúc, làm từ thiện, thái độ làm phúc, làm từ thiện của họ quan trọng hơn “việc phúc, việc thiện” họ làm, vì người nhận ơn phúc sẽ hạnh phúc gấp bội từ thái độ thân thiện, dễ thương, chia sẻ, cảm thông, tôn trọng của người làm phúc. Chính thái độ có “đức” của “người cho” làm ấm lòng “người nhận”; cung cách yêu thương, gần gũi của người ban phát mới thực sự an ủi, nâng đỡ người đang lâm cảnh khốn cùng, vì trong mọi tình huống, không gì có thể thay thế được trái tim đức độ ăm ắp tình người.
Vì thế, người ta luôn tự cho phép mình đánh giá người đem phúc đến cho họ, qua Nhân Đức của người ấy, định lượng đức độ, phẩm hạnh của người ấy qua cung cách, thái độ, bởi tuy làm việc phúc thiện, thực hiện điều tốt lành, nhưng làm với cung cách “kẻ cả”, trịch thượng, thực hiện với thái độ hống hách, thiếu tôn trọng người nhận, thì người làm phúc không được coi là người  phúc đức, và tất nhiên không được kể là người đáng qúy, đáng tin cậy.
Đức Giêsu sau khi sống lại đã hiện ra và ban Bình An phục sinh của Ngài cho các môn đệ để Bình An ở với các ông và cũng để các ông ban Bình An ấy cho những người các ông gặp gỡ, rao giảng trên đường truyền giáo.
Như các môn đệ, nhà truyền giáo đã nhận ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh, nhưng để ơn Bình An ở mãi với mình, nhà truyền giáo không những phải đón nhận “Hơi Thở của Thiên Chúa”, mà Đức Giêsu phục sinh đã “thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần” (Ga 20,22) liền ngay sau khi ban Bình An cho các ông, nhưng còn phải giữ Hơi Thở ấy trong mình, và sống bằng Hơi Thở ấy.
Giữ Hơi Thở và sống bằng Hơi Thở của Thiên Chúa trong đời mình, nhà truyền giáo mới có thể là người có phúc như Đức Maria, để có Chúa và đem Chúa cho mọi người; thở bằng Thần Khí Thiên Chúa, nhà truyền giáo mới lớn lên với cây phúc được trồng trong tâm hồn, cây phúc mà Đức Giêsu muốn nhà truyền giáo hằng ngày chăm bón để sinh hoa kết trái, chứ không như cây vả đã bị Ngài trách mắng, vì chỉ có lá mà không sinh qủa (x. Mt 21,19).
Sống bằng Hơi Thở của Thiên Chúa, nhà truyền giáo mới có thể trở nên người  người có đức để bảo quản ơn phúc nhận được từ Thiên Chúa, bởi ơn phúc không thể tồn tại, nếu thiếu dưỡng khí của Chúa Thánh Thần, nguồn của mọi ơn phúc.
Sống bằng Hơi Thở của Thiên Chúa, nhà truyền giáo mới nhận ra ơn phúc cao cả, trổi vượt nhất trong các ơn phúc là đức mến, như thánh Phaolô đã qủa quyết (x. 1 Cr 13,1-3), và chọn đức mến để xây dựng mình thành người phúc đức.  
Chính đức mến làm cho nhà truyền giáo luôn ở trong ơn phúc và bình an của Đức Giêsu; làm cho cây phúc trong tâm hồn nhà truyền giáo lớn nhanh và xum xuê hoa trái; làm cho đời nhà truyền giáo trở thành người chúc phúc cho mọi người, người đem Bình An của Chúa cho mọi người, bởi “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7) là tất cả những gì cần thiết để trở thành nhà truyền giáo đích thực, người môn đệ trung tín đầy ơn phúc.
Với đức mến, nhà truyền giáo không chỉ lớn lên trong ơn phúc, và bình an của Đức Giêsu phục sinh, mà còn làm cho những người được gặp gỡ, lắng nghe nhà truyền giáo rao giảng cũng nhận được phúc lành và ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh từ tay nhà truyền giáo, nhất là tin nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót qua đời sống phúc đức của các vị.
Với đức mến là Nhân Đức cao vời, tuyệt hảo, cốt lõi của Tin Mừng, nhà truyền giáo sẽ tinh tế nhận ra một trong những lý do mà người khác đã không “xứng đáng” với ơn bình an được ban, cũng như đã không đón tiếp và nghe lời nhà truyền giáo (x. Mt 10,13-14), chính là nhà truyền giáo đã không để họ nhận ra mình là người có đức, do thái độ và cung cách không phù hợp với người được sai đi để loan báo Tin Mừng và chúc phúc, ban bình an của Thiên Chúa.     
Tóm lại, Phúc luôn đi đôi với Đức. Phúc là ơn lành, ơn huệ, hạnh phúc, bình an. Đức là tư cách của người ban, và cũng là thái độ của người lãnh nhận. Người không có Đức mà ban Phúc thì làm người nhận Phúc nghi ngờ giá trị của Phúc. Người nhận Phúc mà không xây dựng tâm hồn thành ngôi nhà có Đức thì Phúc có đến cũng ra đi, có vào cũng quay gót, không ở lại, nên Phúc đòi cả người cho, người nhận, Phúc muốn cả người ban phát lẫn người thụ hưởng đều phải nuôi cây Đức, đều phải sống có tấm lòng.
Vâng, chỉ có trái tim yêu thương mới nuôi được cây Đức, chỉ có đức mến mới làm cây Đức sinh hoa kết trái xum xuê, bởi duy nhất đức ái mới nối kết, quy tụ, hiệp nhất; duy nhất đức mến trong Đức Giêsu mới biến đổi cả nhà truyền giáo và người được loan báo Tin Mừng thành môn đệ đích thực, chính danh; duy nhất Hơi Thở của Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi mới đổi mới tất cả chúng ta, những người đang rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh, và những người đang được nghe giới thiệu Đức Giêsu đã chết và sống lại, để tất cả được Thiên Chúa chúc phúc và được gọi là “người phúc đức”, như lòng Chúa mong uớc.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (1)

                        NHÀ TRUYỀN GIÁO LÀM CHỨNG CHỨ KHÔNG ĐỐI CHỨNG 
Trên đường Truyền Giáo, nhà truyền giáo rất dễ rơi vào thái độ căng thẳng, ăn  nói cường điệu, đanh thép và lý luận cứng cỏi, nặng nề làm cho người chung quanh có cảm tưởng nhà truyền giáo không còn làm chứng, nhưng đối chứng với quyết tâm dành cho được phần thắng về mình.
Sở dĩ nhà truyền giáo rất dễ mất hướng làm chứng và trệch sang đường đối chứng  khi truyền giáo, vì không phải lúc nào người nghe cũng lắng nghe nhà truyền giáo với thiện chí, cũng đón nhận với tấm lòng, cũng học hỏi với tâm hồn lương thiện. Trái lại, có nhiều người tiên thiên đã tìm kẽ hở để hạch hỏi trước khi tìm hiểu, tra vấn kiểu tra khảo trước khi truy tìm chân lý, và “bầy binh bố trận” để đưa nhà truyền giáo vào thế bí, đường cùng. Những người này đặt nhà truyền giáo vào một tình huống rất tế nhị, dễ gây bức xúc, bực bội, và đẩy nhà truyền giáo từ phong cách làm chứng chuyển sang thái độ đối chứng, từ chất giọng hiền lành, nhỏ nhẹ biến thành cung giọng chua chát, khó chịu.
Nhà truyền giáo rơi vào tình trạng bức xúc khi giáo lý bị phản biện cách vô lý, khó chịu khi giáo huấn bị phê bình trắng trợn, và đó là nguyên nhân khiến tâm lý  của nhà truyền giáo chao đảo, xao động đưa đến tình trạng lên giọng đối chứng như giải pháp cần thiết để hộ giáo, bênh vực đức tin.
Thực vậy, vì Tin Mừng không biên giới, và sứ mệnh của nhà truyền giáo là đi khắp tứ phương thiên hạ làm chứng Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã chết và đã sống lại, đồng thời làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Đức Giêsu (x. Mt 28,19-20), nên nhà truyền giáo không có lựa chọn khi lên đường truyền giáo, nghiã là không tự mình chọn “người nghe”  Tin Mừng, không tự mình chọn địa điểm làm chứng Đức Giêsu, không tự mình chọn trình độ, thành phần, giai cấp người được loan báo Nước Trời. Trái lại, nhà truyền giáo chỉ biết mình là người được sai đi đến nơi Đức Giêsu muốn, với đám đông gồm đủ mọi sắc dân, chủng tộc, văn hoá, chính kiến, trình độ, hoàn cảnh… để làm chứng Đức Giêsu, Thiên Chúa giầu lòng thương xót, Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại.
Do đó, khó có thể tránh những đối kháng công khai hoặc kín đáo, nổi cộm hoặc ngấm ngầm từ những người nghe Tin Mừng, vì không phải tất cả đều thiện tâm, thiện chí, chân thành đi tìm Chân Lý và đón nhận Tin Mừng, nhưng điều cốt yếu họ tìm là “vạch là tìm sâu”  kiếm chuyện để phản biện, đối chứng, lý sự hơn thua với nhà truyền giáo.
Chẳng thế mà Đức Giêsu đã có lần than thở: “Tôi phải ví thế hệ này với ai? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi lũ trẻ khác, và nói: Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không đấm ngực khóc than”. Thật vậy, ông Gioan đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo: “Ông ta bị qủy ám”. Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Mt 11, 16-19). Chỗ khác Ngài còn nói: “Ai có tai thì nghe!” (Mc 4,9), khi thấy có những người  thờ ơ, hờ hững đối với Tin Mừng được loan báo, vì hạnh phúc của họ.    
Những ghi nhận trên là sự thật hằng ngày mà nhà truyền giáo phải đối diện. Và không nhà truyền giáo nào đã không trải nghiệm những căng thằng trong một tình huống “chẳng đặng đừng”  khi bị cám dỗ rời bỏ “làm chứng”  để chuyển sang “đối chứng”; biện chứng.
Kinh nghiệm của nhà truyền giáo hôm nay cũng là kinh nghiệm qúy báu của các thánh tông đồ hôm xưa, mà thánh tông đồ trưởng Phêrô đã ân tình chia sẻ: Trong khó khăn, thử thách, “Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến. Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy  luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3,14-16).
Trả lời cũng như loan báo, đặt vấn đề, kể lại, thực hành trong đời sống, tất cả đều là làm chứng, nên trả lời những vấn nạn về Đức Giêsu, và giáo huấn của Ngài là một trong những công việc quan trọng của nhà truyền giáo.
Có rất nhiều vấn nạn, và vấn nạn nào cũng đặc thù, đặc biệt, bởi không ai giống ai, không ai suy nghĩ như ai, không ý hướng của người nào giống người nào, và nhà truyền giáo được mời gọi sẵn sàng đáp ứng tất cả các vấn nạn đôi khi rất phức tạp đó để làm chứng Đức Giêsu.
Vấn đề ở đây là cách thức trả lời những vấn nạn thiện tâm, chân thành, và những “bắt bẻ” có hậu ý, ác ý sao cho xứng hợp với sứ vụ loan báo và làm chứng Tin Mừng của nhà truyền giáo.
Thánh tông đồ Phêrô đã không ngần ngại đưa ra phương án rất chính xác, rõ ràng trong thư thứ nhất của ngài:
1.   “Luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai”:
Cái khó, cái khổ của nhà truyền giáo là phải trả lời cho bất cứ ai, kể cả những người hạch hỏi, phản biện không vì thiện tâm, “đối chứng”, lý sự không với lương tâm ngay thẳng, bởi nhà truyền giáo tin rằng: bổn phận gieo và tưới là của nhà truyền giáo, còn cho mọc lên là của Thiên Chúa, như Phaolô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Côrintô: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3,6), nên “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai” để hạt giống Tin Mừng được gieo và tưới, với niềm hy vọng Thiên Chúa sẽ cho mọc lên một ngày không xa, cho lớn lên xum xuê trên mảnh đất tâm hồn của người đối thoại, chất vấn mà bề ngoài lúc này xem ra như chưa được cầy xới, chuẩn bị. 
2.   “Chất vấn về niềm hy vọng của anh em”:
Tuy thế, Thánh tông đồ trưởng không đề nghị nhà truyền giáo trả lời tất cả mọi vấn nạn, nhưng chỉ trả lời những chất vấn về niềm hy vọng của nhà truyền giáo nơi Đức Giêsu. Điều này có nghiã nội dung chất vấn được giới hạn ở niềm hy vọng nơi Đức Giêsu để phù hợp với sứ vụ loan báo và làm chứng Tin Mừng của nhà truyền giáo.
Thực vậy, nếu nhà truyền giáo mê man trả lời tất cả mọi vấn nạn thuộc đủ mọi lãnh vực đời sống thì nhà truyền giáo đang biến mình thành “tự điển bách khoa”, điều mà Đức Giêsu không trao phó cho các vị khi kêu gọi, thánh hiến và sai đi. Nếu nhà truyền giáo nghĩ mình phải thông biết mọi sự trên đời để mọi người phải bái phục khối óc tuyệt vời, đỉnh cao trí tuệ của mình, thì nhà truyền giáo đang tự tách mình  ra khỏi sứ vụ loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh, điều duy nhất Đức Giêsu ký thác ở nhà truyền giáo khi trao “bài sai”. Nếu nhà truyền giáo cứ phải trả lời  hết mọi vấn nạn thuộc đủ thể loại từ chính trị, xã hội, văn hoá đến thương mại, kinh doanh… thì ơn gọi làm tông đồ, làm môn đệ Đức Giêsu của nhà truyền giáo không còn thuần khiết, minh bạch, nhưng bắt đầu vẩn đục, u ám, vì việc làm không còn ngay thẳng theo đường ơn gọi, nhưng loạng quạng ra khỏi qũy đạo của bài sai truyền giáo.
Do đó, chỉ niềm hy vọng vào Đức Giêsu đã chết và đã sống lại mới là nội dung các đáp án, trả lời của nhà truyền giáo, vì các vị được chọn để làm chứng Chân Lý cứu độ duy nhất này.
3.   “Nhưng phải trả lời cách  hiền hoà và với sự kính trọng”:
Không gì đẹp hơn ở nhà truyền giáo tâm hồn hiền lành, khiêm nhường, và thái độ hiền hoà, kính trọng người khác. Con người của nhà truyền giáo luôn là tấm gương mang tính thuyết phục rất cao, là lời chứng hùng hồn, thu hút hơn tất cả, là đường cao tốc và nhịp cầu ngắn cho mọi người đến với Đức Giêsu, mà hiền hoà và tôn trọng người khác là đức tính trổi vượt, quan trọng và “truyền giáo hữu hiệu” nhất.  
Cũng thế, người ta rất sợ và tránh xa những nhà truyền giáo dữ tợn, hung hăng, ngông nghênh, xấc xược, coi thường mọi người, vì không gặp được ở những nhà truyền giáo này hình ảnh Đức Giêsu - Mục Tử nhân lành, người cha nhân hậu, Thiên Chúa nhân từ, Đấng Cứu Độ nhân ái.
Vì vậy, trong mọi trường hợp, dù “đau đầu, nhức óc”, dù muốn nổi sùng, gắt gỏng đến đâu trước những chất vấn “không ra làm sao” của nhiều người, nhà truyền giáo vẫn phải cố giữ bình tĩnh để hiền hoà, và tôn trọng người khác, bởi đó là đòi hỏi của sứ vụ.  
Thánh Phêrô, vì hiểu nỗi khổ của nhà truyền giáo trước những nghịch cảnh trên đường truyền giáo khi bị lôi kéo vào đối chứng thay vì làm chứng, đã nhắc nhủ với tâm tình của Tông Đồ trưởng: “Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng  anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Kitô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống, bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác” (1 Pr 16-17).
Giữ lương tâm ngay thẳng cũng là giữ mình ở trong ơn gọi tông đồ, và trong sứ vụ loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh, bởi chỉ bước đi ngay thẳng trên đường được sai đi, với sứ vụ được trao phó, nhà truyền giáo mới có thể “không sợ, không xao xuyến để sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm Hy Vọng của mình trong Đức Giêsu đã chết và sống lại”, và mới có thể giữ mãi tâm tình và thái độ hiền hoà, tôn trọng người khác khi  làm chứng Tin Mừng cho muôn dân, mà không cần phải căng thẳng lý sự, bực bội đối chứng.
Xin Đức Giêsu phục sinh ban cho các nhà truyền giáo ơn hiền lành, khiêm nhường tận đáy lòng, và trái tim bác ái, vị tha để trong mọi sự, mọi tình huống, với mọi người, các vị “luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng” của các ngài ở Đức Giêsu “một cách hiền hoà và với sự kính trọng” trên con đường truyền giáo không biên giới. 
Jorathe Nắng Tím