Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2020

Chương 5 : Một số hiệp hội và phong trào phò Satan, chống phá Đức Giêsu

 

Chống phá Đức Giêsu và công cuộc cứu rỗi toàn thể nhân loại là lẽ sống, lý do tồn tại của ma quỷ trong thế giới. Cùng lúc chống phá Đức Giêsu, chúng tìm tiêu diệt con người, vì Đức Giêsu là Đấng Cúu Độ mọi người.

Như thế, điều chúng ta phải nằm lòng và đừng bao giờ lãng quên, đó là mục tiêu của ma quỷ là đem lại sự chết, và bất hạnh đời đời cho chúng ta. Cũng vì lầm tưởng ma quỷ sẽ giúp ta thành công, tiếp tay xây dựng hạnh phúc, mà nhiều người đã chạy theo chúng. Có thể chúng làm cho đời ta “lên” trong một thời gian, “bốc” trong một thời điểm, hoặc có khi chúng cho ta cả đời thịnh đạt, nhưng kết quả sau cùng, thành quả chung kết vẫn luôn là tội lỗi, tai ương, hình phạt đời đời ở chốn chỉ có lửa hận thù, khóc lóc và nghiến răng.

Một số người bị ma quỷ lừa phỉnh đã trao gửi trọn vẹn thân xác, linh hồn cho chúng. Những người này quy tụ lại với nhau dưới sự hướng dẫn của chính Satan để cùng nhau làm công việc chống phá Đức Giêsu, phá hoại Giáo hội của Ngài hầu cướp khỏi tay Ngài, khỏi nhà Giáo hội các linh hồn đang cần được cứu rỗi.

1. Hội Tam Điểm

a. Nguồn gốc

Nhiều người gọi Hội Tam Điểm là hội kín, vì thấy họ rất kín đáo, dè dặt với người khác, và chỉ hoạt động rất êm nhẹ, nếu không nói là bí mật. Thực ra, hôm nay Tam Điểm không còn quá kín như ngày xưa, vì ngày xưa, chính quyền và giáo quyền còn nhiều quyền trên cá nhân, nên những thành viên Hội Tam Điểm còn e ngại, nhưng nay với phong trào tự do cá nhân, tự do tin và không tin, tự do sinh hoạt hội đoàn, người ta không còn ngần ngại công khai hóa sinh hoạt vốn từ lâu vẫn được duy trì trong vòng liên đới khép kín.

Tên gọi Tam Điểm là tên gọi Việt Nam muốn nhấn mạnh ba điểm lớn trong chủ trương của họ, đó là: Tự Do, Bình Đẳng và Huynh Đệ, lấy từ lý tưởng của Cách mạng Pháp năm 1789, hoặc cuộc Cách mạng Pháp lấy lý tưởng này từ Tam Điểm? Tên chính của Hội tiếng Pháp là Franc Maçonnerie, tiếng Anh là Free Masonry.

Nguồn gốc sâu xa của Hội Tam Điểm bắt nguồn từ phong trào đòi tự do của công nhân xây dựng các nhà thờ xuất xứ từ Lombardia vào thế kỷ thứ VIII, bành trướng mạnh ở Âu châu vào thế kỷ XI và XII. Các hội viên kết ước với nhau phải giữ kín bí mật nghề nghiệp, từ đó dẫn đến việc hình thành “hội kín thợ xây dựng”. Những hội viên nhất trí giữ bí mật cho nhau, bằng ám hiệu ba dấu chấm ở chữ ký. Đây cũng là lý do mà người ta gọi họ là những người Tam Điểm. Họ cũng dùng hình tam giác ba cạnh đều nhau, thước “êke, compa” như dấu hiệu của Hội.

Để bành trướng, Hội cố xây dựng cho mình một huyền thoại, bằng tự bao phủ mình bởi một màn che bí mật: Càng bí mật, càng hấp dẫn; càng bí mật, càng cho người khác cảm tưởng họ là những bậc siêu phàm, vượt xa thiên hạ; càng bí mật, càng tạo giá trị, và tò mò. Nhờ thế, tuy bị coi là hội kín đáng nghi ngờ, hội viên Tam Điểm vẫn có được một sự ngưỡng mộ nào đó của nhiều người, nhờ may được cho mình chiếc áo kỳ bí, huyền thoại..

Năm 1015, huynh đoàn Tam Điểm đầu tiên được chính thức thành lập tại Strasbourg, Pháp quốc.

Thời Phục hưng, ở Âu châu là thời Hội Tam Điểm bành trướng mạnh trong giới quyền quý, len lỏi sâu trong hoàng gia, giới quý tộc và tạo được tiếng nói có ảnh hưởng không nhỏ trong sinh hoạt chính trị, văn hóa, xã hội, kể cả tôn giáo.

Ngày 24 tháng 6 năm 1717, Hội Tam Điểm được khai sinh chính thức ở Anh quốc, và vài năm sau, James Anderson đã viết cuốn “Điều lệ của Hội” mà người Tam Điểm trân trọng như sách thánh. Cuốn điều lệ quy định chi tiết tổ chức của Hội Tam Điểm. Từ đây, Tam Điểm chính thức là một hội lớn có đường lối, kỷ luật, điều lệ, quy định rõ ràng. Cũng từ thời điểm này, Tam Điểm phát triển mạnh khắp Âu châu, và lan nhanh đến các quốc gia khác. Đến nay thì Tam Điểm có mặt hầu như khắp nơi trên thế giới.

Để được nhận làm hội viên, Tam Điểm cũng đặt ra những giai đoạn phải trải qua, và những điều kiện phải đáp ứng như phải có hội viên bảo lãnh, giới thiệu, phải tình nguyện đóng góp vật chất cho sinh hoạt của Hội, phải tuyệt đối giữ bí mật sinh hoạt và thông tin nội bộ, phải tuân phục cấp trên, phải chu toàn bổn phận được trao, phải trung thành với tổ chức.

Họ tổ chức thành từng “loge”, chi hội, mà người viết xin được dùng chữ “Huynh Đoàn” cho dễ hiểu. Nhiều huynh đoàn địa phương hợp thành huynh đoàn miền. Họ hội họp thường xuyên trong nhà họp riêng của Hội để học hỏi, nghe thuyết trình, chia sẻ những đề tài được cấp trên chọn và hướng dẫn, thường là những đề tài liên quan đến xã hội, chính trị như những chuẩn bị cần thiết cho hội viên hành động sau đó với mục đích khống chế, và điều khiển mọi sinh hoạt của cộng đồng. Họ hay mời những nhân vật nổi tiếng, những người có chức vụ lớn trong xã hội đến diễn thuyết, trình bày quan điểm. Tam Điểm rất nổi bật trong nghệ thuật chiêu dụ những “tai to mặt lớn” trong xã hội.

Về con số hội viên Tam Điểm, đó là một bí mật, vì họ không bao giờ công bố hay có một danh sách chính thức của hội viên. Nhưng một điều chắc chắn là hội viên Tam Điểm không ít, và có mặt trong hầu hết mọi lãnh vực, thành phần, hàng ngũ, ngay cả trong hàng ngũ tín hữu Công giáo.

b. Chủ trương của Tam Điểm

Chủ trương của Tam Điểm là “xây dựng một toà nhà lý tưởng cho nhân loại, và tái lập một trật tự thế giới mới”.

Xây dựng một tòa nhà lý tưởng cho nhân loại, tức khẳng định: Nhân loại đã được tạo dựng, và đang tồn tại là một nhân loại còn nhiều thiếu sót. Và bằng một cách nói tế nhị, Tam Điểm nhận mình là người sẽ tái thiết, xây dựng lại thế giới nhân loại này: một trách nhiệm thật cao cả, vất vả, và khó khăn.

Tâm lý thợ nề, thợ xây khiến họ quay quắt với thế giới loài người còn nhiều việc phải làm, nhiều công trình nhân loại còn dang dở. Những quay quắt đó tự thân rất đúng và đầy ý nghĩa nhân bản, nhưng khi quay quắt không dừng ở tiếp tay, tiếp sức xây dựng, mà đi xa, quá xa đến kiêu căng, ngạo mạn với tham vọng thay Trời làm lại tất cả, thì quả thực quay quắt ấy không còn mang tính nhân bản nữa.

Nghiên cứu Tam Điểm, chúng ta đừng hời hợt, ngây thơ, mê mãn ngưỡng mộ những đường hướng như đổi mới xã hội, thăng tiến con người, bảo vệ nhân quyền, xây dựng tự do, mà quên rằng cốt lõi của những chủ trương, động lực của những hoạt động Tam Điểm là muốn xóa bỏ chỗ đứng của Thiên Chúa.

Khôn khéo, tinh vi hơn các tổ chức triệt hạ Thiên Chúa khác, Tam Điểm không để lộ ý đồ vô thần của họ, bằng cách đặt Thiên Chúa là “kiến trúc sư tuyệt vời”, và họ là những kiến trúc sư nối nghiệp trong công trình xây dựng thế giới.

Mới nghe qua, chúng ta dễ tin rằng: họ là người hữu thần, vẫn tôn thờ Thiên Chúa khi cho Ngài danh dự “Kiến trúc sư số một”. Thực ra, Tam Điểm đã truất phế Thiên Chúa khỏi vị thế Chủ Tạo, Thiên Chúa toàn năng, Thiên Chúa yêu thương, Cứu Độ của loài người, khi đóng khung Ngài vào một lồng kính “kiến trúc sư”. Truất phế Thiên Chúa khỏi chỗ đứng là Cha, là Đấng Cứu Độ, Tam Điểm đã loại bỏ nhanh chóng và gọn nhẹ Thiên Chúa của Đức Giêsu, một Thiên Chúa đã được mặc khải trong Tân ước, qua chính miệng Đức Giêsu. Thiên Chúa của Đức Giêsu ấy không là thiên chúa “kiến trúc sư”, nhưng là Cha giàu lòng yêu thương, khoan nhân, thương xót, quan phòng, cứu độ.

Đây là đòn thâm độc vô cùng lợi hại của Tam Điểm trong công cuộc tàn phá đức tin Kitô giáo, khi giảm thiểu vai trò của Thiên Chúa trong thế giới, và với loài người. Chỉ còn là một kiến trúc sư tài tình, Thiên Chúa chỉ là một bàn tay đóng góp cho tạo dựng, một công trình đã hoàn tất, cần được đóng sổ, sang trang, quên đi. Bản chất vô thần của Tam Điểm rất tinh vi, khó mà nhận ra đối với những người vẫn vương vấn, lưu luyến đức tin Kitô giáo, nhưng đồng thời mon men muốn trở thành hội viên Tam Điểm. Chính vì không nhận ra, những người này, vì tin vị thế Kiến Trúc sư tuyệt vời, tối thượng của Thiên Chúa đã đủ bảo đảm tính hữu thần của Tam Điểm, nên đã nhẹ dạ xin gia nhập Tam Điểm, một tổ chức của Satan.

Tại sao chúng ta gọi Tam Điểm là tổ chức của Satan, do Satan điều khiển, giật dây?

Bởi Tam Điểm hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa của Đức Giêsu, và khi chối bỏ Thiên Chúa, họ chối bỏ Đức Giêsu, chối bỏ Giáo hội của Ngài, và chối bỏ toàn bộ Tin mừng cứu độ. Cần nhắc lại một điều quan trọng, đó là vai trò của “Kiến Trúc sư số một” theo Tam Điểm đã hoàn toàn chấm dứt, không còn ảnh hưởng, không thể tiếp tục can thiệp trong thế giới, vũ trụ. Nói cách khác, Thiên Chúa đã chết với công trình sáng tạo, và giấy khai tử của Ngài là ngày khai sinh của nhân loại ánh sáng với “Tự Do, Bình Đẳng, Huynh Đệ”.

Vì chối bỏ Thiên Chúa, nên Hội Tam Điểm có mục tiêu rõ ràng là đánh phá Giáo hội của Ngài bằng đẩy Giáo hội ra khỏi mọi sinh hoạt của con người, xóa bỏ sự hiện diện mang tính hướng dẫn của Giáo hội trong mọi lãnh vực, giảm thiểu ảnh hưởng của Tin mừng trong đời sống. Tam Điểm cố gắng làm nhạt nhòa khuôn mặt của Đức Giêsu, phai mờ hiến chương Nước Trời, tẩy xóa khỏi lòng người điều răn mới Yêu Thương của Phúc âm: Đồng thời làm mất uy tín Đức Giáo hoàng, các Giám mục, và bôi bác công việc mục vụ của hàng giáo sĩ, đời sống hoạt động tông đồ và chiêm niệm của tu sĩ, sự dấn thân cho Nước Trời của giáo dân. Bằng tất cả mọi phương tiện, và ảnh hưởng trong mọi tầng lớp xã hội, nhất là ở cấp độ lãnh đạo có quyền lập chính sách, thay đổi luật pháp, hủy bỏ truyền thống, phong tục, Tam Điểm tìm cách bứng rễ cây Thánh giá mang lại ơn cứu độ, và các bí tích, lễ nghi phụng vụ là phương tiện kín múc nguồn sống thiêng liêng. Nói tắt một lời, Tam Điểm là vô thần, và kiên quyết chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, khử trừ Đức Giêsu khỏi tâm hồn mọi người.

Như thế, để xây dựng một tòa nhà nhân loại theo lý tưởng của Tam Điểm, người ta phải bắt đầu đặt nền móng bằng khai tử Thiên Chúa, xóa tên Giáo hội của Đức Giêsu là thành trì bảo vệ chân lý đức tin, và là nơi kín múc mọi ân sủng. Đặt được nền móng vô thần rồi, Tam Điểm mới xây được tòa nhà như họ muốn.

Tòa nhà nhân loại mà Tam Điểm ước mơ và cố thực hiện là tòa nhà có Satan độc quyền, bá chủ nhân loại, khi Thiên Chúa không còn, và cùng với Satan, hội viên Tam Điểm lãnh đạo, điều khiển thế giới.

Khi nuôi tham vọng xây lại tòa nhà lý tưởng cho nhân loại, Tam Điểm học theo Satan kiêu căng, ngạo mạn, muốn bằng Thiên Chúa. Họ thực sự là cánh tay nối dài của Satan, cánh tay nối dài rất văn minh, hiện đại, có khả năng len lỏi vào mọi ngõ ngách sinh hoạt của thế giới loài người để chống lại Đức Giêsu, theo chương trình phá hoại các linh hồn của Satan và bè lũ. Và theo họ, lý tưởng của một thế giới mới là Tự Do, hiểu theo nghĩa ai muốn làm gì thì làm, và không một quyền lực nào, dù từ Thiên Chúa có quyền ngăn cản, hạn chế: Bình Đẳng, nghĩa là ai cũng như ai, không quyền bính, không phẩm trật và Giáo hội là pháo đài quyền bính, phẩm trật điển hình cần phải triệt hạ: Huynh Đệ khi loài người đủ cho loài người, con người lo được cho con người, nhân loại tự giải quyết được những vấn đề của nhân loại, mà không cần đến Thiên Chúa, không cần tìm sự trợ giúp, chở che, quan phòng của bất cứ Đấng Thiêng Liêng, Toàn Năng nào.

Phần hai chủ trương của Tam Điểm là “tái lập một trật tự thế giới mới”. Tái lập trật tự mới, tức phải hủy bỏ trật tự cũ, trật tự đang có, mà trật tự đang có, theo quan điểm của Tam Điểm, chính là trật tự của Tin mừng. Ở đó, Thiên Chúa là Chúa, là Cha, là Đấng Cứu Độ, và loài người là con cái Thiên Chúa, và anh em của nhau.

Một cách cụ thể, Tam Điểm, dưới sự hướng dẫn, và bảo kê của Satan không bao giờ chấp nhận trật tự có Đức Giêsu


 

 

là trung tâm của lịch sử, trật tự có Đức Giêsu là mục đích, là “Trưởng Tử trong các thụ tạo” (Cl 1,15), trật tự mà ở đó tất cả đều quy về duy nhất một mình Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người. Trong trật tự này, mọi sự được tạo dựng nhờ Đức Giêsu, và đang trông đợi Đức Giêsu ngự đến: cũng như “nhờ Ngài, với Ngài, và trong Ngài mà mọi chúc tụng và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng đến muôn thuở muôn đời”.

Nếu nhìn mọi sự và lịch sử nhân loại trong ánh sáng của đức tin, chúng ta nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng tạo thành mọi sự “nhờ Đức Giêsu và hướng về Đức Giêsu”. Vì thế, Satan, tên Cám dỗ, tên Tố cáo tồi tệ đã du nhập sự dữ, tội lỗi, sự chết vào thế gian khi cám dỗ loài người phạm tội chống lại Thiên Chúa. Cũng chính trong bối cảnh cứu vớt con người đã sa ngã, và chuộc lại ân tình đã mất vì phản nghịch, mà chúng ta nhìn ra công trình khôi phục lại kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa, kế hoạch mà Đức Giêsu đã thực hiện nhờ giá máu của Ngài.

Tóm lại, Tam Điểm theo lệnh của ma quỷ phải đập tan trung tâm lịch sử là Đức Giêsu, và làm lại một trật tự mới theo kiểu Satan, ở đó Đức Giêsu bị xóa tên, Giáo hội của Ngài không được hoạt động, và thủ lãnh của loài người sẽ là Satan.

Trật tự mới của một thế giới không có Thiên Chúa, mà chỉ có ngẫu nhiên, tình cờ đã làm nên vũ trụ và con người; một thế giới không có Thiên Chúa, ở đó con người vừa là chủ tế, vừa là bầy tôi vừa là người thống trị; vừa là kẻ bị trị, vừa là chủ vừa là nô; vừa là mục đích vừa là phương tiện; vừa là khởi điểm vừa là cùng đích. Trong trật tự mới chỉ có con người, và không có Thiên Chúa này, cái tôi hữu hạn cứ tưởng mình vô hạn, cái tôi tầm thường cứ nghĩ mình phi thường, cái tôi yếu đuối cứ mơ mình vĩ đại, cái tôi cát bụi cứ cao ngạo cho mình là thượng đế. Một thế giới với trật tự mới nhưng ảo, vì tất cả đều đặt trên và quy về con người vốn dĩ là thụ tạo bất toàn, hữu hạn, yếu đuối, mong manh. Một thế giới với trật tự mới nhưng viển vông, vì con người làm sao chắp nổi đôi cánh để bay lên cao hơn kiếp người vốn dĩ tầm thường, được tạo nên từ đất. Một thế giới mới nhưng mơ hồ, vì đã có ai biết được ngày mai mình sẽ ra sao, khi nào mình chết, chết rồi đi đâu.

Tam Điểm đòi cho bằng được trật tự mới này, và kiêu hãnh cho rằng: chính họ sẽ thực hiện trật tự mới không có Thiên Chúa đó. Bằng mọi nỗ lực của loài người có sự trợ giúp của Satan, Tam Điểm liên kết mọi lực lượng chống phá Đức Giêsu, và huy động tất cả những cảm tình viên, những người không thiện cảm với Giáo hội để làm thành một làn sóng cuốn trôi thành trì đức tin là Giáo hội. Trật tự cũ, dưới mắt hội viên Tam Điểm chính là Giáo hội, với cơ cấu, trật tự của Tin mừng. Tin mừng là một trật tự cứu độ, một trật tự được xây dựng trên lòng hiếu thảo, biết ơn của con người đối với Thiên Chúa, và tình yêu thương, tha thứ dành cho anh em đồng loại. Nền tảng tình yêu của trật tự Tin mừng được bảo đảm bởi chính Thiên Chúa là Tình Yêu, và từ Tình Yêu Thiên Chúa, mọi niềm vui, bình an, hạnh phúc được phát sinh.

Khi chủ trương đánh phá Giáo hội là trật tự của Tin mừng, Satan mượn tay Tam Điểm và những hội kín, hở khác làm lung lay, xáo trộn trật tự đã được chính Đức Giêsu xây dựng cho vương quốc Tình Yêu của Ngài.

Như thế, tận căn bản của chủ trương, Tam Điểm là một hội phục vụ Satan, làm theo chỉ thị của Satan để chống phá Đức Giêsu, trung tâm của lịch sử, và phá đổ trật tự của Tin mừng đã được Đức Giêsu loan báo và thực hiện qua Giáo hội của Ngài. Tính cách bí mật, kín kín hở hở của Tam Điểm đã tạo nhiều huyền thoại có lợi cho ma quỷ, những huyền thoại này đã mê hoặc nhiều người, đánh lừa nhiều người, và nhiều người đã mắc bẫy Tam Điểm, vì cứ ngỡ đó chỉ là một hội có tính khoa học, một tổ chức thăng tiến con người, một đoàn thể nỗ lực bảo vệ nhân quyền, một đường lối vị nhân sinh. Vỏ bọc hoàn hảo của Tam Điểm đã tiếp tay cho Satan thực hiện hữu hiệu mục tiêu của chúng: đánh phá Giáo hội, xóa tên Đức Giêsu trong lịch sử và trong tâm hồn mọi người.

c. Phương án hoạt động của Tam Điểm

Xâm nhập, len lỏi vào mọi cơ cấu, tầng lớp, lãnh vực của đời sống

Phương án đầu tiên Tam Điểm dùng chính là phải tìm mọi cách để có mặt trong mọi sinh hoạt xã hội. Cụ thể là đặt người, cấy người, trồng người Tam Điểm trong mọi cơ cấu, tổ chức, hàng ngũ, lãnh vực để nắm vững tình hình, và ảnh hưởng trên mọi quyết định liên quan đến sinh hoạt của cộng đồng nhân loại. Trong lãnh vực chính trị, hội viên Tam Điểm phải len lỏi vào quốc hội, chính phủ để tham dự vào những quyết định liên quan đến quốc gia, làm sao cho các quyết định đó bị uốn theo đường hướng của Tam Điểm.

Hội viên Tam Điểm có nhiệm vụ kín đáo tạo mọi điều kiện để tiến cử các hội viên khác vào các cơ sở quan trọng có khả năng và quyền lực quyết định những công việc hệ trọng của xã hội. Điểm nhấn của tình Huynh Đệ Tam Điểm hệ tại ở công tác “đưa người, luồn người” vào các cơ quan, cơ sở, cơ chế, cơ cấu này.

Gieo rắc khuynh hưóng Tự Nhiên vô đạo, và Tương Đối thuyết

 

Tam Điểm là vô thần, và chủ trương tất cả là tự nhiên: Tự nhiên có, tự nhiên mất. Vì thế, không có Thiên Chúa nào hết, chỉ có con người là Thiên Chúa của mình, hay đúng hơn Thiên Chúa là con người, nên phải tức khắc chà đạp tất cả việc sùng bái, tôn thờ Thiên Chúa của Kitô giáo, mở màn cho một kỷ nguyên tôn thờ vẻ đẹp nơi con người.

Như thế, Tam Điểm tự cho mình là một tôn giáo Tự Nhiên, phát huy những gì tự nhiên, ngưỡng mộ tự nhiên, và tất nhiên từ chối và xóa bỏ những gì thuộc siêu nhiên để làm một thời đại mới rất tự nhiên.

Để củng cố khuynh hướng Tự Nhiên, Tam Điểm cổ vũ thuyết Tương Đối, nghĩa là: không có gì tuyệt đối, không có gì là không thể thay đổi, thay thế. Thiên Chúa trong trường hợp này là đối tượng bị loại đầu tiên vì Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối thánh thiện, tuyệt đối chân thực, tuyệt đối tốt đẹp, tuyệt đối yêu thương, tuyệt đối toàn năng, tuyệt đối trung tín. Thuyết Tương Đối đặt tất cả trong một trạng thái vô thường, không bền vững, không ổn định, và hệ luận là không có gì là đời đời, vĩnh cửu.

Tôn giáo vì thế đối với Tam Điểm không có giá trị gì, vì Tự Nhiên thuyết và Tương Đối thuyết đã ngang nhiên loại bỏ mọi ý niệm về tuyệt đối, thánh thiêng, tạo dựng là những ý niệm căn bản của tôn giáo.

Phá hủy mọi quyền bính, phẩm trật, nhất là trật tự luân lý trong gia đình và tôn giáo

Vì chủ trương tự do, Tam Điểm không chấp nhận bất cứ trật tự luân lý nào, dù đó là luân lý gia đình, nhưng chủ trương san bằng mọi đẳng cấp quyền bính, phẩm trật trách nhiệm. Một trật tự mới sẽ được tái lập đặt trên nền tảng vô thần, và tham vọng thống trị thế giới.

Loại bỏ mọi ý niệm thần thiêng, mầu nhiệm và ý thức về tội lỗi

Tam Điểm mong lập một trật tự mới đặt trên nền tảng Tự Nhiên, nghĩa là dựa hẳn vào lý trí của con người, mà không cần đến bất cứ một can thiệp, bàn tay nào của thần thánh từ trên cao. Phủ nhận Thiên Chúa trong đời sống con người, Tam Điểm cố gột rửa mọi ý niệm về Thiên Chúa, tội lỗi và mầu nhiệm. Họ nghĩ rằng: khôn ngoan của trí tuệ con người đã quá đủ để mang lại hạnh phúc viên mãn cho con người, mà Tam Điểm là những người có khôn ngoan đó, như những người tiên phong của nhân loại mới.

Tóm lại, phương án của Tam Điểm rất “trí thức, tế vi, sâu sắc”, nên không để lộ một cách quá thô thiển, và lố bịch chủ trương vô thần. Họ khéo dùng những cách thức bề ngoài rất nhân bản, để che giấu mục đích tôn thờ con người, đúng hơn là chính họ và báng bổ Thiên Chúa, Giáo hội.


Mục đích “tôn thờ con người”, thoạt nghe, ai cũng tưởng nhân bản, vị nhân sinh, phục vụ con người, tranh đấu cho nhân quyền cách chính đáng, nhưng thực chất là hạ thấp con người, chà đạp con người vì lấy khỏi con người một trời mầu nhiệm, thánh thiêng, cướp con người khỏi vòng tay âu yếm, chở che của Thiên Chúa, và biến con người thành những đứa mồ côi đói rách, mất quân bình.

Tuy thế, không mấy người đủ nhạy bén để khám phá mục đích phi nhân của Tam Điểm ngay những phút đầu, và nhiều người, kể cả người Công giáo cũng dành cho Tam Điểm cảm tình và coi Tam Điểm chỉ là một hội trí thức, nhân bản, không có gì đáng ngại, và có thể giao lưu, gia nhập. Đó là lý do làm cho nhiều người Công giáo đã trở thành hội viên của Tam Điểm.

d. Giáo quyền và Tam Điểm

Giáo hội Công giáo khẳng định: Tam Điểm là tổ chức vô thần có mục đích chống phá Đức Giêsu và Giáo hội của Ngài. Đó là cánh tay nối dài của Satan, là lực lượng của ma quỷ. Chính vì thế, sẽ không bao giờ có hợp tác, hòa hoãn, thương lượng giữa Công giáo và Tam Điểm. Lập trường này rất dứt khoát, và nhiều Đức Giáo hoàng đã lên án, cùng ra vạ tuyệt thông cho những tín hữu gia nhập hội Tam Điểm:

    Đức Giáo hoàng Clêmentê XII, ngày 28.4.1738 với tông hiến “In Eminenti” đã kết án hội Tam Điểm và ra vạ tuyệt thông cho những ai gia nhập hội vô thần này.

    Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XIV lên án Tam Điểm với tông hiến “Providas” năm 1751.

    Đức Giáo hoàng Piô VII tái khẳng định việc lên án Tam Điểm và vạ tuyệt thông cho những ai gia nhập hội với tông hiến “Ecclesiam a Jesu Cristo” năm 1821.

    Đức Giáo hoàng Lêo XII với tông hiến “Quo Graviora” ngày 13.3.1825 cũng gay gắt lên án Tam Điểm.

    Đức Giáo hoàng Piô VIII với tông hiến “Traditi” ngày 21.5.1829 quả quyết sai lầm và nguy hại của Tam Điểm.

    Đức Giáo hoàng Piô IX nhắc lại phán quyết về Tam Điểm, và án lệnh tuyệt thông dành cho những ai gia nhập Tam Điểm của các vị tiền nhiệm.

    Đức Giáo hoàng Lêô XIII với Tông hiến “Humanum Genus” ngày 20.4.1884 tái khẳng định Tam Điểm là hội của Thần Dữ, và cấm mọi tín hữu giao lưu, gia nhập.

 

    Các Đức Giáo hoàng Piô X (1903-1914), Bênêđíctô XV (1914-1922), Piô XI (1922-1939) đều đồng thanh lên án Tam Điểm, và duy trì vạ tuyệt thông.

    Đức Giáo hoàng Piô XII đã quả quyết trong diễn từ ngày 23.5.1958 khi nói về Tam Điểm tại hội nghị mục vụ: “Cội rễ của lạc giáo nằm trong các chủ thuyết khoa học vô thần, duy vật biện chứng, duy lý thuyết, phong trào tục hóa và tổ chức Tam Điểm là Mẹ của tất cả những chủ thuyết sai lạc này”.

    Đức Giáo hoàng Piô XII cũng đưa vào Giáo Luật năm 1917, khoản 2335 vạ tuyệt thông cho tất cả những ai gia nhập hội Tam Điểm, và những hội tương tự. Vạ tuyệt thông này chỉ có thể được giải bởi Tòa Thánh.

    Đức thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trong Bộ giáo luật mới được tu chỉnh năm 1983 cũng tái khẳng định lập trường cứng rắn của Giáo hội đối với Tam Điểm. Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin do Đức Hồng y Joseph Ratzinger, sau này là Giáo hoàng Bênêđíctô XVI ngày 26.11.1983 trong “Tuyên ngôn về Tam Điểm” đã nêu rõ: các nguyên tắc của tam Điểm hoàn toàn không phù hợp với giáo lý Đức Tin của Giáo hội, nên việc gia nhập Tam Điểm bị nghiêm cấm. Tín hữu nào gia nhập Tam Điểm thì rơi vào tình trạng mắc tội nghiêm trọng, và cấm không được lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, theo tinh thần của khoản 1374 của Giáo Luật: Bất cứ ai gia nhập vào tổ chức chống lại Giáo hội đều bị phạt vạ với hình thức tương xứng. Ai đề cao những tổ chức này hay điều hành: tham gia đều bị nghiêm cấm.

Tóm lại, Giáo hội mãi mãi lên án Tam Điểm và cấm con cái mình gia nhập, hoạt động trong tổ chức này, vì đó là công cụ hữu hiệu, tay sai đắc lực của Satan nhằm chống phá Giáo hội của Đức Giêsu. Một lần nữa, chúng ta đừng để mình bị lừa bởi Tam Điểm, bởi họ có thể trình bày các chân lý thánh thiện, nhưng lại dựa trên thuyết Tự Nhiên, và Tương Đối, nên không bao giờ phù hợp với chân lý Đức Tin của Giáo hội. Satan có thể đánh lừa chúng ta qua những nhãn hiệu “chân lý thánh thiện, lý tưởng nhân bản”. Chúng ta phải tỉnh táo, vì Tam Điểm là tổ chức có đường hướng, bài bản, năng lực, ảnh hưởng, kỹ thuật, kỷ luật chặt chẽ, cộng thêm sức hấp dẫn mang tính huyền thoại nên lôi cuốn nhiều người.

2. Hội kín “Vương quốc Satan”

Khác với Tam Điểm với vỏ bọc nhân bản, ôn hòa, hội “Vương Quốc Satan” thành lập vào năm 1923 tại Luân Đôn chủ trương thô bạo, hung dữ, quá khích, cuồng tín, say máu khi hoạt động chống phá Đức Giêsu và Giáo hội của Ngài. Hội này thuộc hội kín, rất ít người biết về hội này. Hội viên phải thề trung thành và tuyệt đối giữ bí mật về sinh hoạt của hội. Đa số thuộc lớp trẻ lao động, ít học, nhưng cấp lãnh đạo lại là những người trí thức, nhưng căm thù Đức Giêsu và toàn tâm toàn lực làm việc cho Satan.

Hội chủ trương đánh phá Công giáo, và tìm cách lật đổ ngôi vị Giáo hoàng bằng mọi cách, kể cả làm hại thân xác ngài như đầu độc, hãm hại, giết chết. Chủ trương công khai bạo lực, hội xúi bẩy người ta gây đổ máu. Máu đổ càng nhiều, vương quốc Satan càng lan rộng, vì máu con người, sự đau khổ, chết chóc chính là thành quả hoạt động của Satan và những người làm tay sai cho hắn.

Hội đặt Đức Giêsu là kẻ thù, và kết án Ngài là kẻ đã phá hoại thế giới loài người khi đem đến Tin mừng. Với họ Tin mừng là thuốc độc đã làm con người ngu muội, u mê, trở nên những con người mất tự do, mất quyền làm chủ đời mình, mất hạnh phúc, khoái lạc. Đức Giêsu với họ là người đã ngăn cản bước tiến của nhân loại, và triệt phá mọi cố gắng vươn lên của con người.

Giáo hội là tay sai của Đức Giêsu, nên cùng số phận bị tiêu diệt như Ngài. Vì thế, mọi công tác của hội đều nhắm vào Giáo hội để triệt hạ sớm bao nhiêu có thể pháo đài đức tin và luân lý, như tường chắn cản trở bước tiến của nhân loại.

Hội này hoạt động theo từng tiểu tổ thường là năm người. Họp mỗi tuần một lần, và nội dung cuộc họp chỉ là báo cáo thành quả đánh phá Giáo hội Công giáo. Bất cứ hành động đánh phá nào cũng được ghi như chiến công lừng lẫy, dù đó là việc viết một lá thư nặc danh cáo gian, tố oan một giáo dân, tu sĩ hay linh mục. Hội không chủ trương đánh phá lớn, nhưng chủ trương đánh nhỏ, nhưng nhiều để làm hoang mang đối phương qua những phiền nhiễu thường xuyên và liên tục.

Nghi thức thề nguyền được diễn ra một năm một lần, địa điểm không bao giờ được báo trước. Các hội viên tụ tập chung quanh một thiếu nữ trần truồng, biểu tượng của Satan là mẹ của quyền lực. Thiếu nữ được chọn trong số các hội viên do cấp lãnh đạo theo lệnh của Satan. Thiếu nữ trần truồng nằm ngửa trên một bàn thờ trải khăn đỏ, nến đốt quanh bàn thờ, và các hội viên thứ tự nghiêm trang cúi mình thờ lạy, vừa đi chung quanh bàn thờ vừa đọc lời thề: “Tôi xin thề phục vụ vị lãnh đạo thế giới có tên là Satan, chỉ có ngài mới thực là thủ lãnh tối cao, chỉ có ngài mới thực là vị thủ lãnh tối cao, chỉ có ngài mới thực là vị thủ lãnh tối cao…”. Đây là công thức, và nghi thức thề nguyền nhận Satan làm chúa tể, và hứa trung thành với Satan. Hội viên đọc mãi câu: “Chỉ có ngài là thủ lãnh tối cao” cho đến khi người cuối cùng làm xong nghi thức thề nguyền. Kết thúc nghi thức là tất cả các hội viên đồng loạt quỳ và sấp mặt xuống đất khi thiếu nữ trên bàn thờ ngồi dậy và bước xuống khỏi bàn thờ. Thiếu nữ thong thả đi vào buồng trong và mặc đồ, rồi trở lại sinh hoạt bình thường như các hội viên khác. Hội viên nữ nào được chọn làm “mẹ quyền lực” sẽ được kính trọng như hội viên có đẳng cấp, và rất hãnh diện.

Một năm một lần, hội viên tuyên hứa lại niềm tin và lòng trung thành phục vụ của mình với Satan, và họ làm nghi thức trong bầu khí rất huyền bí, trang nghiêm, trịnh trọng.

3. Hội “Thánh lễ đen của Satan”

Hội này, ngoài những lời thề như từ bỏ tin vào Thiên Chúa duy nhất, từ bỏ mầu nhiệm đức tin Kitô giáo, tự nguyện tận hiến thân xác, linh hồn cho một mình thủ lãnh Satan, hứa sống và hành động như ý muốn của Satan, nhất là nhân danh Satan quyết tâm tiêu diệt Đức Giêsu, Giáo hội Công giáo và các bí tích, hội còn đặt trọng tâm vào việc cử hành thánh lễ thờ phượng Satan được gọi là thánh lễ đen. Thành lễ đen được rập khuôn theo thánh lễ của Giáo hội Công giáo, do phát xuất từ sáng kiến của một linh mục bất mãn Giáo hội và tự nguyện bán linh hồn cho Satan. Ông này chứng tỏ lòng căm phẫn cao độ của mình đối với Giáo hội bằng cách biến thánh lễ mà trước đó ông dâng khi còn là linh mục thành lễ đen thờ phượng Satan.

Lễ đen được bắt đầu bằng tuyên xưng lòng trung thành với Satan và ý chí tuân phục hắn, tiếp là những bài đọc bốc lửa căm thù Đức Giêsu, có khi là bài giảng bôi bác Giáo hội Công giáo. Phần hiệp lễ, chủ tế sẽ làm tình với một hội viên nữ được chỉ định trước đó trên giường được trải khăn trắng có rải đều bánh thánh của thánh lễ Công giáo. Nữ hội viên này đại diện cho Nữ Thần Bóng Tối, thần được thủ lãnh Satan đặc biệt sủng ái. Thường lễ đen được tổ chức vào ngày thứ sáu đầu tháng, cũng có thể được tổ chức thường xuyên hơn, vài lần trong tháng.

Đây chỉ là một trong số nhiều hội kín có mục đích chống phá Đức Giêsu và Giáo hội. Chúng ta biết được những hội này qua những hội viên đã may mắn thoát ra khỏi hội. Những người này đã kể lại, nhưng danh tính của họ, cũng như chứng từ của họ thường được giữ kín, vì lý do an toàn cá nhân, bởi kỷ luật của những hội kín thờ Satan này giống nhau ở điểm: phải triệt hạ những kẻ đào ngũ, tự ý ra khỏi hội.

4. Những phong trào phò Satan và chống Đức Giêsu

Có rất nhiều phong trào phò Satan và chống Đức Giêsu cho từng thành phần, lứa tuổi, lãnh vực: Người trẻ thì có phong trào trẻ, trí thức có phong trào trí thức, lao động có phong trào lao động, phụ nữ có phong trào phụ nữ… Thường những phong trào chống Đức Giêsu và Giáo hội Công giáo có chung một điểm: tôn sùng cá nhân, bảo vệ triệt để nhân quyền, và tục hóa những lễ nghi phụng vụ của Giáo hội Công giáo:

a. Tôn sùng cá nhân

Vì cho rằng: Đức Giêsu và Giáo hội của Ngài xúc phạm đến cá nhân, đàn áp cá nhân, hủy diệt cá nhân khi đề cao cộng đoàn, làm nổi bật Hội Thánh. Cá nhân bị quên lãng, chưa kể bị hành hạ, như điều kiện phải có để là người tín hữu: “Ai muốn theo ta, hãy bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta” (Mc 8,34), một thứ điều kiện phi nhân, một thứ lệnh truyền ác độc, một thứ đòi hỏi dã man, xúc phạm cá nhân, làm tổn thương nhân vị. Chỗ khác, Ngài nhắc nhở: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12,25).

Vì thế, Đức Giêsu, đối với những phong trào này, thực là người phế bỏ nhân vị, coi thường nhân phẩm khi chỉ chăm lo lợi ích chung của cộng đoàn, mà hy sinh không thương tiếc cá nhân. Hình ảnh các tín hữu của Giáo hội sơ khai, thời các tông đồ một lần nữa làm những người này phẫn nộ khi “Các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu” (Cv 2,44). Tất cả đều không thể chấp nhận được, vì cá nhân bị tan biến trong cộng đoàn, và đánh mất chính mình cách toàn diện. Với những người chủ trương phong trào chống Đức Giêsu, thì cá nhân phải là thượng đế của chính mình, và không ai, không quyền lực nào có quyền trên cá nhân, bởi theo chủ trương của Satan: “Cái Tôi” là tất cả, là thượng đế của chính mình và chúng ta phải tôn thờ “Cái Tôi”.

b. Bảo vệ triệt để nhân quyền

Nghe qua, chúng ta tưởng phong trào này thực sự bảo vệ nhân quyền, nhưng nội dung bảo vệ không như chúng ta nghĩ. Trái lại, bảo vệ nhân quyền được định nghĩa như bảo vệ quyền muốn làm gì thì làm, quyền sống sa đọa, trác táng, quyền hủy bỏ chính đời sống, quyền sát hại sự sống của con người. Nhân quyền được hiểu một chiều tiêu cực, nghĩa là hủy hoại, tàn phá, hưởng thụ vô lối cuộc đời. Nhân quyền được hiện thực hóa qua việc thoải mái phá thai, hủy bỏ sự sống, với lý luận: tôi có quyền trên thân xác tôi, tôi có quyền trên sự sống của tôi, trên sự sống tôi đã làm nên, tạo thành.

Khi cổ vũ nhân quyền, từ những quyền của trẻ em, phụ nữ, người già, các phong trào này loại bỏ hình ảnh bác ái của Giáo hội, khi gán cho Giáo hội khuôn mặt gian ác luôn vi phạm nhân quyền. Đặc biệt họ tấn Công giáo hội trong luật hôn nhân Công giáo với ràng buộc Bí tích không gì có thể tháo gỡ giữa vợ chồng. Phong trào ly dị đã lợi dụng cơ hội này để lên án tính khắt khe, phi nhân của Giáo hội khi Giáo hội cương quyết giữ lập trường “hôn nhân bất khả phân ly”.

Đời sống độc thân của tu sĩ, giáo sĩ cũng là đích nhắm của nhiều chống đối, khi họ lên án sự chậm tiến, lạc hậu, xơ cứng của Giáo hội trong việc duy trì luật độc thân đối với tu sĩ, giáo sĩ. Họ cho rằng: Nhân quyền bị chà đạp khi người đi tu phải sống tình trạng căng thẳng vì nhu cầu sinh lý, là nhu cầu rất bình thường của con người không được thỏa mãn. Bằng mọi giá, phong trào chống Đức Giêsu lôi kéo dư luận ủng hộ một cuộc giải phóng đời tu bằng liên tục và đều đặn khơi dậy vấn đề độc thân, như một đề tài ăn khách, cốt tạo ra những khủng hoảng mới cho những tâm hồn tận hiến.

Như thế, nhân quyền được bảo vệ bởi những phong trào phò Satan, chống Đức Giêsu chỉ là quyền con người được tự do xúc phạm Thiên Chúa, quyền hận thù đồng loại, quyền tiêu diệt chính bản thân mình, vì hệ quả của tất cả các thứ nhân quyền ấy đều quy chiếu vào việc tôn thờ Satan, phục vụ “cái tôi” tham lam, kiêu căng, hưởng thụ, và phủ nhận, khai tử Thiên Chúa là nguồn mạch của Chân-Thiện-Mỹ, Ơn Cứu Độ, Sự Sống, Tình Yêu, Bình An, và Hạnh Phúc đời đời.

c. Chuyển tải sứ điệp của Satan qua các phương tiện truyền thông đại chúng

Satan tuy biết mình đã thua, nhưng vẫn cố vùng vẫy chống lại Đức Giêsu. Hắn chống lại Đức Giêsu bằng chuyển tải đến mọi người, nhất là người trẻ qua những phương tiện, đặc biệt các phương tiện truyền thông đại chúng. Truyền thanh, truyền hình, internet, cả âm nhạc, nghệ thuật đều được chúng khai thác qua tay những người đi theo chúng để lồng vào đó sứ điệp của Satan. Nhiều lời ca biểu lộ lòng ngưỡng mộ Satan, nhiều phóng sự, truyện phim quảng bá sức mạnh của ma quỷ.

d. Đồng hóa tôn giáo với mê tín dị đoan

Các phong trào này đồng hóa mầu nhiệm tôn giáo với mê tín, đồng hóa việc phụng thờ Thiên Chúa như bổn phận hiếu thảo của thụ tạo đối với Đấng Chủ Tạo với sinh hoạt dị đoan. Họ không nhìn nhận sinh hoạt phụng vụ là bổn phận của con người ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa, Đấng hằng thương yêu, chăm sóc, che chở mình. Trái lại, tất cả những nghi thức Phụng vụ, Bí tích, sinh hoạt đạo đức đều bị coi là cổ hủ, lạc hậu, chậm tiến, cản trở văn minh nhân loại.

Một khi đã gieo được vào lòng mọi người hạt cỏ dại “tôn giáo là thuốc phiện”, người ta sẽ không còn gặp khó khăn trong việc loại trừ, xóa bỏ tôn giáo ra khỏi tâm hồn, và đời sống con người. Quần chúng thì ngại suy nghĩ, tìm tòi, nhận định, nên chỉ cần biết sử dụng kỹ thuật tuyên truyền một cách nhuần nhuyễn, người ta sở hữu, và cống nộp các linh hồn cho ma quỷ cách dễ dàng, mà không mất nhiều công sức. Chiến thuật đồng hóa phụng vụ với mê tín, dị đoan là chiến thuật tinh vi, và hữu hiệu có khả năng đánh gục nhiều linh hồn nhẹ dạ.

e. Tục hóa những nghi lễ Phụng vụ

Phụng vụ là sinh hoạt thờ phượng của con người đối với Thiên Chúa, mà nội dung là tâm tình yêu mến, biết ơn, phó thác, nài xin ơn cứu độ nơi Thiên Chúa là Cha từ ái. Tâm tình con thảo được diễn tả bằng lời ngợi khen, tiếng hát cảm tạ, cử chỉ tôn kính, thờ lạy, thái độ cung kính, quy phục. Phụng vụ còn bao gồm các Bí tích là những dấu chỉ bên ngoài của một thực tại ơn sủng. Hơn thế nữa, Thánh lễ là cao điểm, và là trung tâm của sinh hoạt đức tin, ở đó chính Đức Giêsu vừa là chủ tể, vừa là lễ tế dâng lên Chúa Cha để đền tội cho mọi người. Vì thế, Phụng vụ không là hình thức tế tự suông, nhưng là mầu nhiệm đức tin, mầu nhiệm Đức Giêsu, mầu nhiệm hiệp thông của mọi thành phần trong Giáo hội, nên các lễ nghi Phụng vụ của Giáo hội hiện thực sự hiện diện sống động của Thiên Chúa ở giữa con người, với nguồn tình yêu và ơn sủng phong phú, dồi dào của Ngài. Đời sống tín hữu qua Phụng vụ được Kitô hóa, nghĩa là được biến đổi để trở nên sự sống của Đức Giêsu như thánh Phaolô viết: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà chính Đức Kitô sống trong tôi”.

Chủ trương tục hóa nghi lễ Phụng vụ của Giáo hội Công giáo, các phong trào chống phá Đức Giêsu cố gắng trình bày cho mọi người: Phụng vụ chỉ là trò lừa gạt người già, con nít, lễ nghi trống rỗng, vô nghĩa, không ích lợi, vì không có gì là thánh thiêng, mầu nhiệm.

Để thực hiện mau chóng mục tiêu “tục hóa Phụng vụ”, các phong trào này cố gắng biến Phụng vụ thành lễ hội, Thánh lễ thành buổi họp mặt bình thường, và những việc đạo đức khác được coi như phong tục, sinh hoạt truyền thống dân gian.

 

Một vài thí dụ điển hình tục hóa thánh lễ:

    Họ đề nghị các linh mục thay những bài đọc trong thánh lễ trích từ Kinh thánh bằng những bài viết của danh nhân, cổ nhân, với mục đích làm cho cộng đoàn phụng vụ quen dần những bài đọc không phải Lời Chúa, và với thời gian, những tư tưởng lệch lạc, không phù hợp tín lý sẽ được công bố thay cho Tin mừng của Đức Giêsu.

    Họ đề nghị hát thêm trong Thánh lễ những bài hát ca tụng lòng yêu nước, tình huynh đệ, nghĩa đồng bào, tình cha mẹ với mục đích biến Thánh lễ trở thành cuộc biểu dương thuần túy những đức tính nhân loại.

    Các ngày lễ phụng vụ cũng bị thay thế, sửa đổi ý nghĩa, như lễ các Thánh, và lễ các Linh Hồn ngày nay đã bị tục hóa để trở thành Halloween, lễ của Ma quỷ, lễ “xưng hùng xưng bá” của Satan, biểu dương lực lượng của hỏa ngục, khi trẻ em hóa trang thành quỷ dữ từng đoàn đi khắp xóm làng, đường phố rộn ràng nhảy múa, la hét inh ỏi.

Người viết muốn dừng lại ở lễ hội Halloween để cùng bạn đọc đào sâu về nguồn gốc và chủ trương của lễ hội mới lạ này: Như chúng ta biết, Tam Điểm đề cao chương trình tục hóa các lễ Công giáo bằng nỗ lực thúc đẩy công luận ủng hộ đường hướng xóa bỏ bao nhiêu có thể dấu vết của Kitô giáo trong văn hóa Âu châu. Họ tìm mọi cách giảm thiểu, làm lu mờ văn minh Kitô giáo trong đời sống xã hội. Cụ thể là người ta đề nghị thay tên các ngày lễ nghỉ trong năm, như lễ Hiện Xuống, lễ Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ hồn xác về trời bằng những tên trần tục khác. Bên cạnh đó, người ta tìm cách làm cho những ngày lễ này không còn là dịp thuận tiện cho các sinh hoạt Kitô giáo, chẳng hạn như thủ tướng Pháp Jean Pierre Raffarin đã đề nghị người Pháp đi làm ngày thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, mà trước đó là ngày lễ nghỉ, để lấy tiền làm “qũy tương trợ” giúp người già, trong khi các giáo phận từ xưa đến nay có truyền thống tổ chức những cuộc gặp gỡ quan trọng, và quy mô của giáo dân trong giáo phận vào cuối tuần của lễ Hiện xuống, vì là cuối tuần dài gồm ba ngày nghỉ: Thứ bảy, Chúa nhật, Thứ hai, và thời tiết thường rất đẹp. Cắt mất ngày Thứ hai sau lễ Hiện Xuống như thế sẽ cản trở trầm trọng sinh hoạt của Giáo hội Công giáo.

Riêng lễ hội Halloween, xuất xứ từ người Celtes từ thế kỷ thứ VIII, được Tam Điểm ở Bắc Mỹ rầm rộ phát động khoảng đầu thế kỷ XIX, nhưng không mấy thành công, đến năm 1921, nhờ sự tiếp tay của Tam Điểm Âu châu, lễ hội Halloween đã lan rộng khắp nơi với một tốc độ chóng mặt.

Sở dĩ, người viết dùng chữ “chóng mặt” là vì Halloween đã thành công đến nỗi rất nhiều thiếu nhi, thiếu niên Công giáo ở Việt Nam cũng ra sức mừng lễ Halloween năm nay 2014 một cách hoành tráng, tưng bừng với sự ủng hộ của quý vị phụ huynh. Nhiều người Công giáo đã không biết đây là công trình của Satan đang tìm cách xóa khỏi tâm óc người trẻ hình ảnh các Thánh của Thiên Chúa, vương quốc Nước Trời, và thay vào đó vương quốc của Satan với thần dân của hắn là ma quỷ, bởi mục đích của lễ hội Halloween - 31 tháng Mười, một ngày trước lễ các Thánh của Giáo hội Công giáo, là biểu dương sức mạnh của Satan và hỏa ngục.

Tham gia lễ hội Halloween, chúng ta tưởng mình văn minh, theo kịp thời đại, nhưng thực ra, chúng ta là những người nhẹ dạ đã sa bẫy Satan, mà không biết:

    Sa bẫy khi từ nay lễ kính các Thánh, và cầu nguyện cho các linh hồn không còn trọng lượng bên cạnh lễ Halloween là lễ “hiển linh” của Satan và bè lũ. Bằng chứng là con em Công giáo ngày càng mất ý thức về hai ngày lễ mùng 1 và mùng 2 tháng 11 của lịch Phụng vụ, vì đã tập trung tất cả vào Halloween, ngày 31 tháng Mười là lễ mừng Satan và ma quỷ.

    Sa bẫy khi các Thánh và các Linh Hồn bị lãng quên: đúng hơn bị đồng hóa với ma quỷ.

    Sa bẫy khi người có đạo tiếp tay phổ biển “văn hóa Satan”, giới thiệu vương quốc và sức mạnh của thần dữ, đồng thời đóng góp phát huy sự bành trướng công khai của ma quỷ trong sinh hoạt đời sống con người.

    Sa bẫy khi vô tình để con em không còn xa tránh, ghét bỏ, sợ hãi ma quỷ vì chúng đáng kinh tởm, nhưng làm cho ma quỷ trở nên thân thiện, gần gũi, khi để con em “làm quen” những hình ảnh kinh dị, hung bạo, dữ tợn, gớm ghiếc của ma quỷ, qua hành động chấp nhận cho con em hóa trang làm ma quỷ trong đêm lễ hội Halloween: ngày của quỷ. Và “cái nhìn” thân thiện sẽ mở lối cho tất cả các chung chạ thân mật khác dồn dập tiếp nối.

    Sa bẫy Satan khi gián tiếp thỏa hiệp với Satan trong công trình của hắn, mà quên đi lời thề hứa: Từ bỏ Satan và mọi việc của hắn. Halloween với nội dung “giới thiệu, loan báo Satan, và biểu dương sức mạnh của ma quỷ, hỏa ngục” nếu không phải công việc của Satan thì là công việc của ai? Không lẽ của Thiên Chúa? Chúng ta sẽ trả lời thế nào về lời tuyên xưng Đức Tin và từ bỏ ma quỷ của chúng ta ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, gia nhập Giáo hội Đức Giêsu?

Vì thế, người tín hữu theo Đức Giêsu phải tỉnh táo, bén nhạy trước những mưu mô của ma quỷ, vì không tỉnh thức, chúng ta khó có thể thoát được cạm bẫy của chúng.

Thực vậy, phong trào tục hóa ngày lễ Phụng vụ, lễ nghi phụng vụ ngày càng lan rộng đã làm mất đi ý thức tôn giáo, ý nghĩa thiêng liêng, mầu nhiệm nơi nhiều người, đồng thời xóa bỏ ý niệm về tội lỗi, thưởng phạt, thiên đàng, hỏa ngục, và hẳn nhiên Thiên Chúa là mục tiêu cuối cùng phải đánh đổ.

Tóm lại, có rất nhiều tổ chức lớn nhỏ, kín hở, ít ảnh hưởng, hay nhiều thế lực nhưng cùng một mục đích: tiêu diệt Hội Thánh của Đức Giêsu và chính Ngài từ thời này đến thời kia tiếp nối nổi lên trong lòng thế giới loài người. Đức Giêsu đã nói trước với các môn đệ về viễn cảnh này:

“Tôi tớ không hơn chủ. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,20). “Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường. Hơn nữa sẽ đến giờ kẻ giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa” (Ga 16,2). “Thầy đã nói với anh em những điều này, để khi đến giờ họ hành động, anh em nhớ lại là Thầy đã nói trước với anh em” (Ga 16,4). “Họ” chính là những tay sai của Satan. “Họ” chính là những hội viên của tổ chức chống Đức Giêsu, phò ma quỷ. “Họ” chính là những người thuộc Tam Điểm, Vương Quốc Satan, Lễ đen, Kỷ nguyên của Satan… “Họ” chính là cảm tình viên của những phong trào tục hóa mọi điều thánh thiêng, phá đổ trật tự của Tin mừng, triệt hạ thành trì Đức Tin là Giáo hội. “Họ” chính là những con người chấp nhận bán linh hồn cho Satan để hoạt động cho Satan. “Họ” chính là những trái tim rực lửa hận thù Đức Giêsu là Ánh Sáng, Tình Yêu, Bình An, Ơn Cứu Sống đời đời.

Cuộc chiến giữa con người và ma quỷ là cuộc chiến khốc liệt, khốc liệt vì ma quỷ đã dùng chính con người để nghênh chiến chống lại con người, sau khi tuyên chiến với Đức Giêsu. Thánh Gioan trong thị kiến đã thấy con Mãng Xà là hình ảnh của Satan ban quyền cho Con Thú là những người bán linh hồn cho ma quỷ khi gia nhập các hội chống phá Đức Giêsu và phò Satan. Những “Con Thú” ám chỉ những người hoạt động cho ma quỷ trong các tổ chức, hội đoàn, phong trào được Thần Dữ điều khiển, bảo trợ:

“Bấy giờ, tôi thấy một Con Thú từ dưới biển đi lên: nó có mười sừng và bảy đầu: trên mười sừng đều có vương miện, và trên các đầu có danh hiệu xúc phạm đến Thiên Chúa. Con Thú tôi trông thấy thì giống như con báo, chân nó như chân gấu, mõm như mõm sư tử. Con Mãng Xà ban cho nó quyền năng và ngai báu của mình cũng như một quyền hành lớn lao. Một trong các đầu của nó dường như đã bị giết chết, nhưng vết tử thương của nó đã được chữa lành. Bấy giờ toàn thể trái đất thán phục đi theo Con Thú. Họ thờ lạy con Mãng Xà vì nó ban quyền hành cho Con Thú, và họ cũng thờ lạy Con Thú mà rằng: “Ai sánh được với Con Thú, và ai có thể giao chiến với Con Thú?”. Nó đã được ban cho cái mồm ăn nói huyênh hoang và phạm thượng… Nó mở miệng nói phạm thượng đến Thiên Chúa, đến danh Người, đến Lều thánh của Người, và những Đấng ở trên trời… Mọi người trên mặt đất sẽ thờ lạy nó, đó là những người từ thuở tạo thiên lập địa không được ghi tên trong Sổ Trường Sinh của Con Chiên đã bị giết… Tôi thấy một Con Thú khác từ đất đi lên. Nó có hai sừng giống như sừng chiên, và nói năng như một Con Mãng Xà. Nó thi hành tất cả quyền bính của Con Thú thứ nhất, trước mặt Con Thú ấy, và làm cho đất, cũng như những người sống trên mặt đất thờ lạy Con Thú thứ nhất, mà vết tử thương đã được chữa lành. Nó làm những dấu lạ lớn lao, khiến cho ngay cả lửa từ trời cũng rơi xuống đất trước mặt người ta. Nhờ những dấu lạ mà nó được quyền làm trước mặt Con Thú, nó mê hoặc những người sống trên mặt đất, bảo họ tạc tượng thờ Con Thú mang vết thương gươm đâm mà nay đã hồi sinh. Nó được quyền thổi thần khí vào tượng Con Thú, khiến tượng Con Thú cũng nói được và ra lệnh giết những ai không thờ lạy mình. Nó bắt mọi người, không phân biệt lớn nhỏ, giàu nghèo, tự do hay nô lệ, phải tích dấu trên tay hữu hoặc trên trán. Không ai có thể mua bán, nếu không mang dấu tích đó, tức là tên Con Thú hoặc con số tương đương với tên nó (Kh 13,1-17).

Đó là toàn cảnh về Satan tức Con Mãng Xà và hoạt động của hắn trên những người thuộc về hắn: “Con Thú từ biển” tượng trưng các thế lực thù nghịch, tay sai của Satan bách hại Giáo hội và “Con Thú từ đất đi lên” chỉ các ngôn sứ giả hiệu, trá hình.

Satan dùng những Con Thú để thực hiện kế hoạch lôi kéo loài người tôn thờ mình, và xa lìa Thiên Chúa. Và trong thực tế đã có rất nhiều người chạy theo Con Thú, các tổ chức tay sai ma quỷ để phụng sự Con Mãng Xà Satan. Thật khủng khiếp cảnh tượng con người bị bó buộc khắc tên Satan trên trán, trên tay, nếu không muốn bị ma quỷ quấy nhiễu. Hình ảnh này cũng thật đáng sợ, vì không ít người đã vì sợ quyền lực của Satan mà phải tôn thờ Satan và chạy đến cầu cứu Satan. Vì thế, Kinh thánh không ngừng cảnh báo chúng ta: “Đây là lúc dân thánh cần phải có lòng kiên nhẫn và đức tin”, (Kh 13,10), đồng thời “phải có sự khôn ngoan” (Kh 13,18).

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

CON YÊU MẸ VÌ Ở ĐÂU CÓ MẸ, Ở ĐÓ CÓ CHÚA GIÊSU

 

Hạnh phúc của con là có Mẹ, và hạnh phúc của Mẹ là có con… Nhưng hạnh phúc ấy còn lớn gấp bội, khi con có Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, và Mẹ cùng lúc có hai con : một con Thiên Chúa, một con nhân loại, để con nhân loại của Mẹ được chung với Mẹ và Chúa Giêsu một mái ấm, một tình yêu, một thao thức, ước mơ, một  hạnh phúc Thiên Đàng.

Hạnh phúc có Mẹ là Mẹ Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người là hạnh phúc vô cùng vĩ đại mà con hay vô tình lãng quên. Bởi có Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, đứa con phàm nhân bé nhỏ của Mẹ sẽ được ở với con Thiên Chúa chí tôn, chí thánh  của Mẹ, và nhờ Mẹ, con được ơn phúc của Thiên Chúa  bao phủ, như Mẹ đã khiêm tốn nhận mình là “phận nữ tỳ hèn mọn” được mọi đời khen là người diễm phúc (x. Lc 1,48) ; bởi có Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, đứa con thiếu thốn, nghèo đói của Mẹ đã được Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã được lòng dạ khiêm hạ của Mẹ cưu mang ban của cải đầy dư (x. Lc 1,53) ; bởi có Mẹ là Mẹ Ngôi Lời Thiên Chúa, đứa con nhút nhát, non dại của Mẹ đã được sức mạnh của Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa mà Mẹ sinh ra làm người ở giữa nhân loại ban ơn phù trợ, khi Ngài biểu dương sức mạnh (x. Lc 1,51) ; bởi có Mẹ là Mẹ Đức Giêsu, Ánh Sáng muôn dân, nên đêm tối thế gian không còn dầy đặc, nhưng vỡ toang, khi “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” trong suốt cuộc đời con (Ga 1,5) ; bởi có Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ, mà đứa con nhẹ da, yếu đuối, dễ lầm lỗi của Mẹ đã nhận được hết ơn này đến ơn khác từ “nguồn ân sủng và sự thật” là Đức Giêsu, con yêu dấu của Mẹ (x. Ga 1,14-16) ; bởi có Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và Mẹ con, mà đôi mắt mù loà của con được Thánh Thần mở ra để nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu, con Mẹ, “vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người” (Ga 1,14) ; bởi có Mẹ là Mẹ Đấng Thiên Chúa sai đến, mà đứa con bất toàn, bất hảo, bất xứng của Mẹ đã “tin vào danh Ngài” và “được Ngài ban cho quyền trở nên con Thiên Chúa” (x. Ga 1,12).

Bên cạnh những đặc ân nhận được từ Đức Giêsu, “nguồn ân sủng và sự thật của Thiên Chúa” nhờ Mẹ, qua Mẹ, vì Mẹ, con còn được có Mẹ, để có Chúa trong cơn quẫn bách, và giờ lâm chung :

1.   Nhờ Mẹ, con có Chúa trong gian truân, thử thách trên dòng đời:

Tin Mừng Gioan kể lại phép lạ đầu tiên của Đức Giêsu ở tiệc cưới Cana, khi “sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước” (Ga 2,6) đã được Đức Giêsu biến thành rượu ngon.

Ngay từ đầu trình thuật, thánh sử Gioan đã nhấn mạnh đến hai nhân vật quan trọng, đó là Đức Giêsu và Đức Maria : “Trong tiệc cưới có thân mẫu của Đức Giêsu. Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự” (Ga 2,1-2). Cả hai mẹ con giữ vai trò quan trọng và nổi bật hơn cả đôi tân hôn, bởi thánh Gioan đã muốn dùng tiệc cưới ở Cana hôm ấy để trình bầy Giao Ước tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại, và trong Giao Ước này, Đức Maria giữ một vai trò rất quan trọng. Chẳng thế mà danh xưng “Mẹ” đã được dùng đến 4 lần trong trình thuật : các câu 1,3 với danh xưng “Mẹ Đức Giêsu”, và danh xưng “Mẹ” trong câu 5 và 12.           

Vai trò quan trọng của Đức Maria được nhận thấy trong tương quan giữa Mẹ với  Thiên Chúa và giữa Mẹ với nhân loại. Với nhân loại, Mẹ đã tinh tế thấy họ “hết rượu”, tức hoàn cảnh khó khăn, quẫn bách, nguy hiểm của con người ; với Thiên Chúa, Mẹ đã kín đáo, tế nhị can thiệp khi nói với Con Thiên Chúa : “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3) ; về phiá nhân loại, Mẹ đã bảo các gia nhân : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5), về phiá Thiên Chúa, Mẹ thinh lặng, nhưng hiểu rõ hết bí mật cứu thế của Đức Giêsu khi Ngài trả lời : “Giờ của con chưa đến” (Ga 2,4), tức thời điểm của cuộc thương khó chưa đến nhưng đã cận kề, và biết chắc Đức Giêsu, con Mẹ sẽ làm như lời Mẹ xin.      

Vâng, ở đâu có Mẹ, ở đó có Thiên Chúa, như tiệc cưới Cana có Mẹ, nên có Chúa hiện diện cứu giúp, làm phép lạ cho nước hoá thành rượu ngon, để niềm vui ngày cưới của vợ chồng mới và hai họ được trọn vẹn.

2.   Nhờ Mẹ, con có Chúa ở với con trong giờ lâm tử :

Nếu phép lạ hoá nước lã thành rượu ngon ở tiệc cưới Cana là phép lạ đầu tiên của Đức Giêsu đã làm để “bầy tỏ vinh quang của Người, và các môn đệ đã tin vào Người” (Ga 2,11), thì phép lạ người gian phi cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu trên đồi Canvê  được Ngài xóa hết tội và hứa nước Thiên Đàng “ngay hôm nay” đã là phép lạ cuối cùng Đức Giêsu làm khi còn sống để muôn dân, muôn nước hết mọi thời, ở mọi nơi, chứ không chỉ riêng các môn đệ, tin Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất đích thực của nhân loại, và vinh danh Ngài như viên đại đội trưởng đã kêu lên “Qủa thực, người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15,39), khi thấy bóng tối bao phủ mặt đất… Mặt trời ngưng chiếu sáng. “Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa” (x. Lc 23,44-45).

Người gian phi có phúc ấy chính là con, đứa con nhân loại tội lỗi của Mẹ, đứa con nhờ có “Mẹ đứng đó” dưới chân Thánh Giá của con Thiên Chúa đang hoàn thành công trình Cứu Chuộc loài người mà được tha thứ, xóa hết tội,và được hứa cho vào Nước Trời ngay hôm nay (x. Lc 23,43).

Qủa thực, nếu không có Mẹ đứng đó, không có Mẹ chia sẻ, thông phần đau khổ với Đức Giêsu, con Mẹ thì chắc gì người gian phi là con đã đủ can đảm mà thưa với Đức Giêsu : lậy Đức Giêsu giầu lòng thương xót, xin nhớ đến con trong Nước Ngài.

Cùng với toàn thể con cái Mẹ khắp năm châu, bốn bể, con ngợi khen Mẹ nhân lành, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ nhân loại. Nhờ Mẹ là Mẹ Thiên Chúa mà chúng con, con cháu Evà ở chốn khách đầy “được sống, được vui, được cậy” ; nhờ Mẹ là Mẹ Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, mà chúng con “đang ở nơi khóc lóc”, “được thấy Đức Giêsu, con lòng Mẹ đầy phúc lạ” ; nhờ Mẹ hiện diện và đồng hành với tình mẫu tử dạt dào những lúc nguy nan, thử thách, chúng con mới nhận được hồng ân từ nguồn ơn sủng là Đức Giêsu, con Mẹ ; nhờ Mẹ đứng đó, ở giờ con lâm tử, máu châu báu của Đức Giêsu, con Mẹ mới rửa sạch linh hồn nhơ nhớp, dơ bẩn của chúng con và cho chúng con được nên “trắng hơn tuyết”, hầu xứng đáng chiêm ngưỡng Thiên Nhan.

Xin cho chúng con đừng bao giờ quên : ở đâu có mẹ, ở đó có Thiên Chúa ; ở đâu có mẹ, ở đó có Chúa Giêsu, con Mẹ là nguồn ân sủng và sự thật của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, để đời chúng con mãi là bài ca dâng Mẹ: “Lậy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đồng trinh… Mẹ chính là Nữ Vương, là Trạng Sư, là Mẹ con”.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Chương 4 : Chiến thuật cám dỗ của ma quỷ

Ma quỷ là loài xảo quyệt tinh ranh, nên chiến thuật cám dỗ loài người của chúng cũng rất tinh vi, khó lường.

I. Chiến thuật của ma quỷ

Người ta lầm tưởng: ma quỷ lộ nguyên hình, nói ra tiếng để cám dỗ loài người. Chính vì lầm tưởng, mà nhiều người bị quỷ dụ, bị ma dắt mà vẫn không hề biết, bởi biệt tài của chúng là giấu mặt, tránh né để không bị lật tẩy, lộ diện, và hành động theo nguyên tắc: ném đá giấu tay, vì chúng là loài gian xảo.

1. Chiến thuật giấu mặt, ẩn mình

Vì ma quỷ biết khai thác chiến thuật lẩn mặt, tránh lộ diện, mà nhiều người không mất cảm tình với ma quỷ, không đề phòng ma quỷ, không tránh xa ma quỷ, dù chính chúng đang âm mưu, hay đang làm hại mình, trái lại vui vẻ giao lưu, tiếp tay làm việc, ủng hộ ma quỷ, vì không nhận ra những khuôn mặt được hóa trang tài tình, những cánh tay nối dài khéo giấu, và những vòi bạch tuộc được trá hình của chúng.

Trong sách Sáng thế, Satan đã không hiện nguyên hình thần dữ, bởi hiện nguyên hình thần dữ, chắc chắn Evà sẽ bỏ chạy, vì Satan quá kinh tởm, gớm ghiếc, xấu xa: bởi hiện nguyên hình quỷ dữ, Ađam sẽ bế bổng Evà, mà “bán sống bán chết” chạy, vì ma quỷ quá kinh dị: bởi hiện nguyên hình ác quỷ, cả hai ông bà nguyên tổ sẽ hét lớn cầu cứu Thiên Chúa, và sự thể sa ngã đã không xảy ra.

Nhưng Satan ranh mãnh đã giấu mặt, che đậy bản chất gian xảo, lưu manh, lừa bịp của mình để Evà, Ađam tin chúng thật thà, đáng tin: Satan đã giấu bộ mặt thật ghen tuông, thù hận con người để Ađam, Evà không ngần ngại thân thiện, chuyện trò, mời mọc, chia sẻ, tâm sự với hắn; Satan đã giấu sự thật bạo lực, phá hoại của mình, để Evà tưởng hắn hiền lành, dễ thương: Satan giấu nhẹm lý lịch lưu manh, gian ác với nghề nghiệp “lừa đảo, tố cáo, phản bội” của mình, để Evà và Ađam tin hắn là người tử tế, có ăn học, biết điều, tử tế: Satan cẩn thận che đậy hành tung quấy nhiễu loài người, để hai ông bà tin hắn là người hàng xóm nhân đức, có lòng tốt đối với mọi người: Satan bọc kỹ ý đồ lôi kéo con người lún sâu trong bất hạnh, và theo hắn xuống nơi đọa đày, trừng phạt là hỏa ngục, để nguyên tổ loài người lầm tưởng hắn là người công chính, bác ái, vị tha. Với quyền năng của mình, Satan đã che giấu thật kỹ, thật kín tông tích, hành tung, ý đồ của mình, để ông bà nguyên tổ sập bẫy hắn giăng. Khả năng của Satan là giấu mặt, giấu tay, nên có bị hắn ném đá vỡ toang đầu, sưng u trán, nạn nhân là con người vẫn vui vẻ thân thiện với hắn, vì không biết chính hắn là kẻ đã chủ mưu hành hung mình.

Trong Tân ước, ma quỷ tỏ ra rất ngại nói về mình, rất sợ phải tự khai, và làm mọi cách để che giấu hành tung. Đức Giêsu đã lấy quyền Thiên Chúa để bắt chúng phải nói về mình, như trong trường hợp Ngài chữa người bị quỷ ám: “Người hỏi nó: “Tên ngươi là gì?”. Nó thưa: “Tên tôi là đạo binh, vì chúng tôi đông lắm” (Mc 5,9).

Các vị có năng quyền trừ quỷ cũng chia sẻ chung kinh nghiệm là ma quỷ rất miễn cưỡng phải nói ra bất cứ điều gì liên quan đến chúng, đặc biệt là tên của chúng. Đối với ma quỷ, tiết lộ về mình là một thất bại thê thảm. Ngay cả khi đã bị bắt buộc nói tên mình, chúng vẫn bực bội, khó chịu nếu phải nhắc lại. Việc làm khó khăn nhất của nhà trừ quỷ là bắt cho bằng được ma quỷ phải nói, dù chúng không muốn nói, tránh né phải nói. Phải biết tên nó là gì, có bao nhiêu đứa đang ở trong nạn nhân, chúng nhập vào người này bằng cách nào, chúng định ở bao lâu, tại sao chúng nhập vào… là những câu hỏi nhà trừ quỷ luôn ép buộc ma quỷ ẩn mình trong nạn nhân phải trả lời.

Có những tên quỷ ương ngạnh, cứ lì lợm, im thin thít. Có những tên quỷ ma le hơn tìm cách đánh lạc hướng, làm chia trí nhà trừ quỷ bằng nói những chuyện vu vơ, không liên quan. Cũng không thiếu những tên quỷ hung dữ cố tình ra oai để đe dọa nhà trừ quỷ bằng vật nạn nhân nằm sõng sượt trên đất, bất tỉnh như chết rồi… Nói chung, ma quỷ rất ngại phải tự khai lý lịch, tự nói về mình, tự thú việc làm gian ác, tự kiểm điểm hành vi phá hoại, bởi bản chất của ma quỷ là gian dối, và giấu mặt, ẩn mình là độc chiêu quen thuộc của tên xảo trá, lưu manh.

Vì thế, chúng ta không lạ gì, khi luật bảo mật, không được tiết lộ bất cứ thông tin nội bộ nào ra ngoài, và phải tuyệt đối tránh để bị người khác phát hiện luôn là luật vàng của các hội kín phò ma quỷ, hoạt động dưới quyền ma quỷ, được ma quỷ hỗ trợ. Làm theo lệnh của chúng, những hội kín này áp dụng độc chiêu giấu mặt, tránh xuất hiện nguyên hình để bảo mật tuyệt đối mọi âm mưu đen tối làm hại con người. Nhờ giấu mặt, tránh lên tiếng, và giữ bí mật, ma quỷ và những người theo chúng cám dỗ dễ dàng những người chung quanh mà không mấy vất vả, khó nhọc.

Các nhà trừ quỷ cũng chia sẻ: khi bắt đầu trừ quỷ, ma quỷ cố gắng hết sức để không bị phát hiện, hay ít nhất là che giấu bao nhiêu có thể mức độ trầm trọng của việc nó làm. Ma quỷ cố làm cho người ta thấy “không phải hắn, không phải việc của hắn làm, không phải tai họa do hắn gây ra”. Và nếu không phải hắn, tức là Thiên Chúa đã tạo nên sự dữ, khốn khó, bất hạnh này cho con người. Là tên tố cáo gian xảo, ma quỷ sẽ cáo gian, đổ tội cho Thiên Chúa những việc làm gian ác của chúng, hầu làm cho con người bực bội, oán trách Thiên Chúa, đồng thời mất niềm tin, mất niềm hy vọng và tình yêu ở Thiên Chúa là mục tiêu cuối cùng của ma quỷ.

Đây cũng là cách tốt nhất để chúng ta phân biệt được đâu là ma quỷ, đâu là việc của ma quỷ, và những vấn đề thuộc phạm vi tâm lý, như tâm bệnh… bởi ma quỷ thì luôn che đậy, giấu giếm, và làm hết sức có thể để ẩn mình, trong khi người bị bệnh tâm thần thì ngược lại rất muốn người khác chú ý, quan tâm đến mình, nên có gì nói hết.

2. Chiến thuật “ném đá giấu tay”

Người công chính không làm bất cứ điều gì mờ ám, chỉ ma quỷ và những người đi theo chúng mới xài chiến thuật “ném đá giấu tay”, nghĩa là chính mình chủ mưu, hành động, nhưng lại dùng tay người khác, đội lốt kẻ khác. Ma quỷ không chỉ là loài xảo quyệt, mà còn là hạng trơ trẽn, trâng tráo, táo tợn, nên chẳng lạ gì khi chúng làm đủ điều gian ác, mà vẫn kênh kiệu khoe khoang “bàn tay sạch, không vấy máu”: khi dẫn con người cùng ngụp lặn với chúng trong vũng bùn sa đọa, trác táng, mà vẫn vênh váo “chính chuyên, trong sạch”: khi giăng bẫy giật sập danh dự, uy tín, sự nghiệp, tương lai của người khác, mà vẫn giả vờ phẫn nộ lên án bạo lực, kết án người thiếu bác ái, từ tâm. Ma quỷ rất khéo giấu bàn tay lông lá vấy máu bằng dùng bàn tay nối dài của người khác: khéo “đánh bùn sang ao” và lấp liếm tội ác của mình bằng vỏ bọc tuyệt vời.

Vấn đề của chúng ta là ma quỷ dùng bàn tay ai để nối dài bàn tay chúng? Khuôn mặt ai để che giấu bộ diện nham hiểm, ác ôn của chúng? Trái tim ai để ghen ghét, hận thù? Trí óc ai để sáng kiến những trò độc ác, dã man? Tài năng của ai để không ngừng đáp ứng những đòi hỏi của thời đại cho mục đích diệt vong của chúng?

II. Ma quỷ cần con người

Ma quỷ một đàng vì thuộc loài thụ tạo thiêng liêng, nên không có thân xác như con người, đàng khác, vì muốn giấu kín lý lịch hành tung, nên không hoạt động một mình, mà cần đến con người, vừa là đối tượng để cám dỗ, vừa là phương tiện để cám dỗ. Sự ma mãnh của ma quỷ đã biến con người thành lý hình, đao phủ của con người. Chúng không bận tâm phải xuất đầu lộ diện, nhưng xúi bẩy để con người tự xử, tự hành hạ, tiêu diệt lẫn nhau.

1. Ma quỷ chiêu dụ cộng tác viên

Vì mục đích của ma quỷ là lôi kéo nhiều bao nhiêu có thể, trong một thời gian nhanh nhất người đi theo chúng, nên ma quỷ tận dụng mọi điều kiện, phương tiện của chúng và của loài người để thực hiện mục đích đen tối. Chúng biết: dùng chính con người để cám dỗ con người là độc chiêu, thượng sách, bởi con người dễ tin nhau hơn tin quỷ, dễ nghe nhau hơn nghe quỷ, dễ đua chen, bắt chước, ganh tị nhau hơn ganh tị, bắt chước, đua chen với quỷ. Người với nhau, dù sao cũng dễ dàng, thuận lợi!

Cần con người để cám dỗ con người, ma quỷ phải chiêu mộ cảm tình viên, ứng viên, thành viên…, nghĩa là từng giai đoạn dẫn đến từng mức độ, cho đến khi nào con người bán hẳn linh hồn, nhường hẳn quyền sử dụng đời sống của họ cho ma quỷ. Bằng nhiều cách khác nhau, ma quỷ làm cho con người bắt đầu bằng có cảm tình, rồi thán phục, ngưỡng mộ, say mê, thần tượng, chết sống với chúng, hoàn toàn làm theo lời chúng, và hy sinh đến cùng vì chúng. Ở đây, chúng ta chỉ có khả năng nêu ra một vài độc chiêu mộ quân của ma quỷ, nhưng đó chỉ là những chiêu chúng ta thấy được. Chúng còn vô số các chiêu độc khác, tinh vi, mới mẻ, hiện đại hơn gấp bội:

a. Những món quà của Satan

Vì có gốc gác là thiên thần thiêng liêng, quyền lực, Satan vẫn giữ bản tính thiêng liêng của mình, nên vẫn có thể ban một số năng lực, làm một số điềm thiêng dấu lạ cho những người đi theo hắn. Là kẻ dối trá, xảo quyệt, Satan làm cho người lãnh nhận quà tặng của hắn sung sướng, hân hoan như nhận được hồng ân vô cùng cao quý, nhưng thực chất những món quà của Satan ban chỉ là tai ương, đổ vỡ, khổ sở, bất hạnh mà người theo hắn và nhận của hắn sẽ khám phá không lâu sau.

Vì là loài thiêng liêng, nên ma quỷ biết con người đang cần gì, đang ở trong hoàn cảnh nào: Người bị xiết nợ, thì ma quỷ đề nghị tiền: người thất tình, bị vợ bỏ, bồ đá, thì ma quỷ hiến kế tán tỉnh người yêu trở về: người đang tranh giành với đồng nghiệp chức tước, ma quỷ không bỏ lỡ cơ hội đưa ra một phương án hành động trăm phần trăm sẽ đem lại chiến thắng.

Đừng coi thường ma quỷ, vì chúng có quyền lực, và làm được “những việc kỳ lạ”, mà chúng ta cứ ngỡ đó là những đặc sủng của Thánh Linh. Ma quỷ có thể cho người theo nó tài chữa bệnh nan y cách lạ lùng, hữu hiệu: có thể làm cho chồng bỏ vợ phải trở về, và nhiều việc khác thường.

Kinh thánh cho chúng ta thấy: ma quỷ có thể làm những việc phi thường, chẳng khác gì việc phi thường của Thiên Chúa, như các phù thủy đã bắt chước Môsê làm phép lạ trước triều đình Pharaon: “Đức Chúa phán với Môsê và Aharon rằng: “Nếu Pharaon bảo các ngươi: Hãy làm một phép lạ xem, thì ngươi hãy nói với Aharon: Anh cầm cây gậy của anh, ném xuống trước mặt Pharaon, và gậy sẽ hóa thành một con rắn to”. Ông Môsê và Aharon liền đến với Pharaon và làm như Đức Chúa đã truyền. Ông Aharon ném cây gậy của mình xuống trước mặt Pharaon và bề tôi của vua: gậy hóa thành một con rắn to. Pharaon cũng triệu các hiền sĩ, pháp sư đến; và các phù thủy Ai cập cũng dùng phù phép của mình mà làm như vậy: mỗi người ném cậy gậy của mình và gậy hóa thành một con rắn to” (Xh 7,8-12).

Nếu Môsê và Aharon đã làm theo lời của Thiên Chúa, dựa vào quyền năng Thiên Chúa, và gậy của Aharon đã hóa thành con rắn to, thì các phù thủy Ai cập đã làm theo lời của ai, dựa vào quyền lực của ai? Tất nhiên các phù thủy không thể dựa vào quyền năng và làm theo lời Thiên Chúa của Môsê, và điều dễ hiểu là họ đã dựa vào quyền lực của ma quỷ. Điều đó chứng tỏ rằng: ma quỷ ban cho con người một số quyền lực của chúng để thực hiện một số việc lạ lùng. Nhưng có một chi tiết rất quan trọng, đó là: “Gậy của Aharon đã nuốt gậy của họ” (Xh 7,12), tức gậy của phù thủy, để nói lên uy quyền tối thượng của Thiên Chúa.

Tiếp theo là phép lạ “nước biến thành máu” Môsê và Aharon đã làm như Thiên Chúa truyền: “Ông Aharon giơ gậy lên và đập nước sông, trước mặt Pharaon và bề tôi của nhà vua. Tất cả nước sông liền biến thành máu. Cá dưới sông bị chết, sông ra hôi thối, và người Ai cập không thể uống nước sông được nữa: trong cả nước Ai cập chỗ nào cũng có máu. Nhưng các phù thủy Ai cập cũng dùng phù phép của mình mà làm như vậy” (Xh 7,20-22).

Trong Công vụ Tông đồ đã kể câu chuyện một người đầy tớ gái có khả năng biết trước, thấy trước nhiều chuyện, mà người ta gọi là khả năng thấu thị: nhờ vậy đã đem lại nhiều lợi nhuận cho chủ của cô. Đây là một quà tặng của Satan ban cho cô, khi Satan ở trong cô. Khả năng phi thường đó đã biến mất khi Phaolô trừ quỷ ra khỏi cô. Nhưng cũng vì thế, Phaolô và Xila đã bị bắt giam, vì ông chủ của đầy tớ có khả năng thấu thị nhờ ma quỷ này đã tố cáo Phaolô gây mất trật tự công cộng (x. Cv 16,16-24).

Tóm lại, ma quỷ có thể chiêu quân bằng ban cho những người này khả năng làm được những việc phi thường, đem lại nhiều lợi nhuận, của cải, bổng lộc, thành công, chức tước, ảnh hưởng, danh vọng, địa vị xã hội. Nhiều người rất thành công, vì chấp nhận làm việc cho ma quỷ; nhiều người rất thành đạt, vì nhận ma quỷ là quân sư, quan thầy; nhiều người gây được uy tín, vì có ma quỷ chống lưng; nhiều người có ảnh hưởng lớn và rộng, vì có ô dù của ma quỷ; nhưng tất cả đều phải trả chung một giá, cái giá rất đắt, đó là phải thuộc về chúng trọn vẹn. Thuộc về chúng có nghĩa là thuộc về sự dữ, tội ác; thuộc về hàng ngũ chống lại Thiên Chúa là sự sống, tình yêu, sự thật, và an bình; thuộc về lực lượng của tối tăm luôn săn lùng các linh hồn cho vương quốc hỏa ngục.

b. Đe dọa, trấn áp

Ma quỷ là loài xảo quyệt, tráo trở, nên đổi mặt liên tục. Chúng vừa ngon ngọt dỗ dành, vừa đe dọa, trấn áp, làm cho người ta sợ phải đi theo. Nếu có người đi theo ma quỷ vì được ma quỷ rủ rê bằng ban quà tặng, cho nhiều may mắn, thành công, thì cũng có người đi theo chúng vì bị chúng đe dọa, trấn áp.

Là loài gây sự dữ, tìm bất hạnh cho con người, ma quỷ không trân trọng tự do và quyền lợi của mỗi người, cũng như không đếm xỉa gì đến nỗi đau, nỗi khổ của con người, nhưng chỉ tìm cách can thiệp vào đời tư của người khác một cách lố bịch, trơ trẽn để con người phải nhượng bộ, thúc thủ đi theo. Đó là lý do chúng không ngượng ngùng dùng quyền lực tối tăm của mình để đe dọa con người, cho đến khi con người buông tay, bỏ cuộc và đành nhắm mắt đi theo chúng. Không thiếu những người đã bị ma quỷ quấy nhiễu, nhưng đã không đủ kiên cường chống lại đến cùng, để rồi phải thua cuộc và đau khổ đầu hàng chúng.

Ma quỷ có quyền lực làm cho con người thành công khi o bế, quyến rũ, mua chuộc con người, và chúng cũng dùng quyền lực để làm con người thất bại, khi giở quẻ đe dọa, trấn áp, làm con người hoảng sợ và đi theo. Nói chung, cách nào để con người từ bỏ Thiên Chúa đi theo chúng, thì ma quỷ đều khai thác, tận dụng, nên sẽ có lúc chúng ngọt ngào, êm ái, dễ thương, nhưng cũng có lúc chúng dữ tợn, hung bạo, nạt nộ, thách thức. Tất cả chỉ là chiến thuật tùy thời, tùy hoàn cảnh, và tùy đối tượng.

Ma quỷ thường tấn công vào những lãnh vực:

Sức khỏe

Khi chúng có quyền gây rối loạn tâm thần, và những chứng bệnh thể lý. Có những cơn đau đớn không căn cớ, siêu âm thì không thấy gì, nhưng chạy đến Thánh Giá và cầu nguyện thì cơn đau biến mất.

Tình cảm

Ma quỷ có thể gây những xích mích, đụng độ vô cớ, vô duyên giữa vợ chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em. Chúng tạo hiểu lầm, mâu thuẫn, đào sâu hố chia rẽ, bất hoà, vì những lý do “chẳng đâu vào đâu” giữa những người thương yêu nhau, với mục đích làm đổ vỡ lứa đôi, tan nát gia đình, gẫy vụn tình huynh đệ, nát bấy lòng nhân ái.

Công việc làm ăn, nghề nghiệp

Có những người tự nhiên làm ăn thua lỗ, dẫn đến khánh kiệt, phá sản, vì những lý do “chẳng ra làm sao”. Ma quỷ tạo những nghi ngờ, vô trách nhiệm, lười biếng, trộm cắp, bất tín, bất trung trong hàng ngũ nhân viên, cộng sự viên thân cận, đối tác để phá nát bầu khí thân thiện, trong sáng và trung tín trong công sở, kinh doanh. Mục đích của ma quỷ là làm cho không ai tin ai, không ai thương ai, không ai tôn trọng ai, ngược với giới luật yêu thương của Thiên Chúa.

Niềm vui sống

Ma quỷ làm con người tự nhiên cảm thấy chán đời, không muốn sống, và bất mãn với chính mình và mọi người. Tình trạng rút vào vỏ ốc cô độc là hiện tượng thường gặp trước khi ma quỷ đẩy con người đến chán nản, tuyệt vọng là điểm mà ma quỷ muốn con người đặt chân tới. Chính ở điểm tuyệt vọng mà con người sẽ tự hủy diệt mình, vì không tìm được cho mình một lẽ sống.

Tóm lại, khi cần bắt con người đi theo, ma quỷ có thể sử dụng chiến thuật đe loi, nạt nộ, làm áp lực bằng gây thiệt hại, tổn thất trong những lãnh vực vừa kể, cốt để con người khiếp sợ quyền lực của chúng mà ngoan ngoãn đi theo, làm tay sai cho chúng. Như thánh Gióp, nhiều vị thánh đã bị ma quỷ kiếm chuyện, quấy nhiễu, hành hạ, vì các ngài tín trung phụng thờ Thiên Chúa. Thái độ kiên trung bám chặt Thiên Chúa đã đánh bại mọi tấn công của ma quỷ, và chiến thắng luôn thuộc về những ai ngước nhìn Thánh giá và kêu cầu danh thánh Giêsu, Danh thánh mà khi nghe, tà thần phải chạy trốn, ma quỷ phải khiếp run.

c. Gây bất mãn để con người tự nguyện bỏ Giáo hội

Giáo hội là nhà của Thiên Chúa, trong nhà này, con người được bảo vệ, yêu thương, chăm sóc; trong nhà này, con người ở với Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giàu lòng thương xót, và con người chẳng phải thiếu thốn gì. Nói cách khác, Giáo hội là Đức Giêsu, Đấng ở lại với loài người cho đến tận thế để cứu độ mọi người. Vì thế, ma quỷ cần gây hấn, chống Giáo hội để triệt tiêu nguồn ơn cứu độ là Đức Giêsu mà chúng luôn căm thù.

Là mục tiêu chống phá của ma quỷ, Giáo hội bị ma quỷ khiêu khích, quậy phá bằng mọi cách có thể. Một trong những chiến thuật là gây bất mãn trong lòng người tín hữu đối với Giáo hội để họ tự ý rời bỏ Giáo hội. Gây bất mãn bằng khơi dậy những mâu thuẫn nội bộ, bôi bác những thiếu sót, khuyết điểm, yếu đuối của những người lãnh đạo, tạo hiểu lầm, đố kỵ giữa đồng đạo với nhau, để làm lòng người tín hữu sôi sục bất bình, bất hòa, bất mãn dẫn đến bất kham, bất tuân phục, bất trung, bất nghĩa.

Ma quỷ cần đánh Giáo hội, đó là điều Đức Giêsu đã cảnh báo các môn đệ: “Người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em: anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì Danh Thầy” (Mt 24,9), nhưng đồng thời, Ngài cũng trấn an: “Thầy ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20), để quỷ hỏa ngục có muốn đánh phá, Giáo hội thầy xây trên tảng đá Phêrô cũng không hề hấn gì (Mt 16,18).

2. Ma quỷ dùng những người tình nguyện theo chúng

Đến đây chúng ta đồng ý với nhau: ma quỷ có thể làm được một số “điềm thiêng dấu lạ” để lòe con người, nhưng chúng không có quyền can dự vào ý chí tự do của con người, cũng như không được quyền lấy đi sự sống của con người. Điều này có nghĩa: Quyền quyết định tối hậu vẫn thuộc về con người, và mỗi người vẫn có toàn quyền, và khả năng để từ chối lời mời mọc đi theo chúng, hay từ khước sợ hãi chúng khi chúng ép buộc phải đi theo. Thiên Chúa không để con người bị cám dỗ vượt sức, và luôn ban dồi dào phương tiện, vũ khí thiêng liêng là ơn sủng do việc cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích, gắn bó với Giáo hội, kết hợp với Đức Giêsu là Đường, Sự Thật, Sự Sống, Tình Yêu, và Hạnh Phúc thật.

Như thế, ma quỷ không tự ý sử dụng con người theo ý chúng, không tự ý chiếm hữu trái tim, trí óc, đôi tay con người để thực hiện công việc của chúng, vì chúng không có quyền gì trên tự do chọn lựa của con người, và chỉ khi con người tự do chấp thuận đi theo chúng, tự nguyện làm tay sai cho chúng, tự mình đầu quân làm cánh tay nối dài của chúng, và tự ý nhận làm công việc của chúng thì ma quỷ mới thực hiện được ý đồ “đội lốt con người, mượn tay con người” để hành động chống lại Chân - Thiện - Mỹ, chống lại chính Thiên Chúa, Đấng Chủ Tạo yêu thương.

Và đây là danh sách những người hoặc toàn tâm toàn ý theo ma quỷ, hoặc miệng nói không theo, nhưng theo chúng trong đời sống:

a. Những người bị ma quỷ mê hoặc đã tự nguyện bán linh hồn cho chúng

Không thiếu những người vì cần thành công, thành đạt, thành danh trong đời sống, đã để đời mình trong tay ma quỷ, và cho ma quỷ được toàn quyền sử dụng đời sống đó cho mục đích phá hoại của chúng. Như Giuđa vì thấy cơ đồ Cứu Thế của Thầy mình suy sụp, đổ vỡ, đã hướng về thành công của thần dữ, khi thấy sức mạnh của thế gian nổi lên như cuồng phong những ngày cuối đời Thầy mình. Ma quỷ đã chiếm cứ linh hồn ông ngay khi ông sợ sức mạnh của thần dữ, và tự nguyện bỏ Thầy đi theo ma quỷ đón gió, chờ thời. Nhưng kết quả đã không như Giuđa ước mơ: ma quỷ đã dùng ông, và đã bỏ ông ngay sau đó. Ông chỉ nhận ra mình là “miếng chanh đã bị vắt kiệt”, khi các thượng tế trả lời: “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!” (Mt 27,4), khi ông đem ba mươi đồng, giá bán Thầy trả lại cho họ.

Người ta tự nguyện bán linh hồn cho ma quỷ có thể vì cần sự trợ giúp tức khắc của chúng, có thể vì bất mãn Giáo hội, căm thù Đức Giêsu, có mâu thuẫn với người của Hội Thánh: cũng có thể vì không biết bám víu vào ai, chạy đến nơi nào trong cơn thử thách, thất vọng. Ma quỷ rất ma mãnh. Chúng biết lúc nào là thời điểm thuận tiện để đánh gục lòng trông cậy, niềm tin tưởng, phó thác của con người ở Thiên Chúa.

Những người tự nguyện làm cánh tay nối dài của ma quỷ được chúng o bế khi họ làm đúng theo ý chúng: nhưng khi việc đã xong, họ sẽ không còn được sủng ái, nhưng ma quỷ sẽ đẩy họ đến chỗ tự diệt, bởi ở ma quỷ chỉ có sự dữ, tai ương, bất hạnh, nên hạnh phúc ở chúng là nhất thời, tình yêu là giả dối, niềm vui là trá hình, tương lai là “bánh vẽ”. Và người ta không thể tìm thấy điều gì tốt đẹp ở chúng ngoài đau khổ, chết chóc, hình phạt đời đời.

Trong xã hội hôm nay có những hội kín gồm những người tự nguyện đi theo ma quỷ làm tay sai cho chúng. Họ là thành viên của những hội do Satan chỉ đạo, với duy nhất mục đích chống phá Thiên Chúa, làm hại con người. Những hội Tam Điểm, Đạo Binh Satan, Kỷ Nguyên của Satan là những hội “nửa hở nửa kín” có nhiều hoạt động kịch liệt chống phá Đức Giêsu và Giáo hội của Ngài. Bên cạnh là những hội kín trăm phần trăm với điều lệ gắt gao, bó buộc thành viên của Hội phải toàn tâm, toàn ý, toàn lực làm việc cho chúng trong công cuộc tàn phá thế giới loài người, như hội “Chúng ta phải đóng đinh Giêsu một lần nữa”, “Giáo hội, kẻ thù của văn minh nhân loại”, “Lễ đen của Satan”.

Khi dùng tay con người, ma quỷ thoải mái che giấu mặt thật gian ác, nham hiểm của mình và giữ bàn tay mình thật sạch, dù đã bê bết nhuốm máu người vô tội, bởi đã có tay loài người nhuốm máu đồng loại thế cho.

b. Những người miệng nói không theo ma quỷ, nhưng theo chúng trong đời sống

Đám người này không ít, vì không phải dấn thân, lộ mặt, mang tiếng “theo ma quỷ”, vì miệng họ luôn bai bải khước từ ma quỷ, nhưng trong thực tế, bất cứ công việc nào ma quỷ nhờ đến, họ cũng sẵn lòng làm. Họ là những người hữu thần trên lý thuyết, nhưng vô thần trong đời sống, nhận có Thiên Chúa trên môi miệng, nhưng trong đời thường thì quy phục, tôn thờ ma quỷ và ủng hộ công việc của chúng. Nhiều nhà độc tài khét tiếng như Hitler, Mussolini... chủ trương diệt chủng, sát hại đồng loại thuộc hàng ngũ này, khi mạnh miệng tuyên xưng mình có đạo, tôn thờ Thiên Chúa, nhưng trong đời thường họ là những đồ tể giết người không gớm tay. Còn rất nhiều những người đi theo ma quỷ trong đời sống, mà người ta khó có thể nhận ra lý lịch, tung tích theo ma quỷ của họ. Họ có thể là những người nhân danh nhân quyền để kín đáo hạ bệ Thiên Chúa, nhân danh con người để đốn hạ Đấng đã tạo nên con người. Những tiên tri giả, những kẻ cướp chiên đội lốt mục tử, những sói dữ trá hình len lỏi giữa đàn chiên, tất cả đều là những người theo ma quỷ, mà miệng cứ huyênh hoang thuộc về Giáo hội, đi theo Đức Giêsu.

c. Những người thực dụng “làm tôi hai chủ”

Những người này có khuynh hướng sống thực dụng: Bên nào mạnh, phe nào có lợi thì theo, nên lúc theo Chúa, khi theo Quỷ, tùy mức độ lợi nhuận kiếm được từ Chúa, từ Quỷ.

Đời sống của họ cũng lấp kín bằng thờ thánh, lễ lạy, kinh sách, nhưng cùng lúc họ cũng góp mặt trong sinh hoạt của bóng tối như tin ma thuật, ngồi cốt lên đồng, chơi bùa ngải, bói toán, tin kiêng dị đoan. Những hành động “theo ma quỷ” này thường được họ coi là “không quan trọng, vì không chối bỏ đức tin: không ảnh hưởng đến cộng đoàn, vì có tính cá nhân, và không đụng chạm đến uy tín của Giáo hội. Nghĩ và chủ trương “lập lờ” giữa Chúa và Quỷ như vậy là sai, và ngụy biện, vì những lý do sau đây:

Khi nhận lãnh Bí tích Rửa tội, chúng ta không những tuyên xưng từ bỏ ma quỷ, mà còn khẳng định từ bỏ tất cả những việc làm của chúng, khước từ tất cả những công việc thuộc bóng tối, không đến từ Thiên Chúa là Ánh Sáng: bởi không đến từ Thiên Chúa chắc chắn phải thuộc vùng phủ sóng của ma quỷ, chịu ảnh hưởng của chúng, do chúng gián tiếp hay trực tiếp can thiệp.

Vì thế, người tín hữu dấn thân vào những việc ma thuật như kể trên là làm tôi hai chủ, điều mà Thiên Chúa không chấp nhận.

    Kinh Thánh luôn cảnh báo chúng ta chống lại mọi việc làm của ma quỷ, và ma thuật dưới bất cứ hình thức nào, cũng là một trong những phương tiện thông dụng nhất ma quỷ dùng để trói buộc con người, làm con người phải lệ thuộc chúng, trở thành nô lệ của chúng, và từ đó dẫn đến việc thờ lạy chúng.

·      Những người thực hành ma thuật luôn tự tin quá đáng mà nghĩ rằng: Họ có thể điều khiển được những quyền lực của bóng tối, nhưng trong thực tế, họ mới là nạn nhân đáng thương bị quyền lực ma quỷ điều khiển, khống chế.

·      Những người tham gia sinh hoạt ma thuật cũng nghĩ rằng họ làm chủ cả sự thiện sự ác, điều khiển được cả người chết, người sống như khi gọi hồn. Thực ra, họ chỉ là tay sai đắc lực của ma quỷ trong việc phá hoại, bởi khi tách rời khỏi Thiên Chúa sẽ chẳng còn sự gì là tốt đẹp, thánh thiện, hạnh phúc, bình an, hoan lạc. Chính khi thực hành những trò ma thuật này, họ được nhiều danh dự, vinh quang, lợi nhuận, và khi đó ma quỷ thì thầm vào tai họ: “Nếu anh thờ lạy tôi, tôi sẽ cho anh tất cả” (Lc 4,6-7), như hắn đã cám dỗ Đức Giêsu trong hoang địa khi xưa.

·      Quả thực, người ta đi xem bói, gặp thầy phù thủy, tìm người lên đồng gọi hồn là để biết trước tương lai, thấy trước chuyện sắp xảy đến. Đó không chỉ là mê tín, dị đoan, lạc hậu, ngớ ngẩn như nhiều người thường lạc quan đánh giá thấp. Trái lại, tất cả những sinh hoạt này đều cậy nhờ quyền lực của ma quỷ để gây ảnh hưởng, trục lợi và trói buộc người nhẹ dạ vào dây xích vô hình mà không sao thoát ra được, bởi ma quỷ đã lợi dụng những cơ hội này để làm con người lìa xa Thiên Chúa, và dẫn con người vào đường phản nghịch như chúng.

·      Một dấu hiệu không thể chối cãi mà chúng ta thường gặp nơi những người có thói quen thực hành ma thuật là họ cảm thấy dị ứng với tất cả những gì là thánh thiêng như cầu nguyện, thánh lễ, nhà thờ, giáo xứ, ảnh tượng, thay vào đó là đời sống luân lý của họ ngày càng xuống dốc, và tinh thần của họ không còn phấn khởi, vui tươi.

·      Một dấu chỉ khác nữa, đó là tâm trạng luôn lo âu, xao xuyến trước mọi biến cố xa gần, đã xảy ra hoặc chưa tới. Họ trở nên sợ sệt, nhát đảm, không tin tưởng, không phó thác, không lạc quan, không hy vọng, không nghị lực phấn đấu.

    Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền năng chống chọi và trừ khử ma quỷ, vì chúng là những tên gian ác chuyên gieo cỏ lùng trong ruộng lúa thiêng liêng. Giữa người tín hữu và ma quỷ không có đồng điểm, cũng không thể thương lượng, điều đình, nên chấp nhận công việc của chúng là đi ngược ơn gọi Kitô hữu, phản bội Đức Giêsu khi mở lối, dẫn đường cho chúng xâm nhập làm hại đời sống thiêng liêng.

    Giáo hội là Mẹ luôn khuyến cáo con cái không được tham vấn Satan dưới bất cứ hình thức nào, cả những cuộc lên đồng gọi hồn người thân về để hỏi han cũng bị nghiêm cấm, bởi chúng ta không được dính dáng đến bất cứ công việc nào của ma quỷ, và không được tin ở những lời chỉ bảo của ma quỷ, vì ở ma quỷ, tên Gian Ác, Xảo Quyệt đang bị Thiên Chúa trừng phạt không có bất cứ một điểm cỏn con tốt đẹp, ích lợi nào cho con người.

    Giáo hội cũng khuyến cáo chúng ta không được phiêu lưu đi vào địa hạt của kẻ thù là ma quỷ, vì chúng ta sẽ rơi vào vòng quyền lực của chúng, dù là chúng ta hành động theo ý hướng tốt lành, ngay cả với đức tin, vì ma quỷ tinh ma hơn chúng ta, và chúng có đủ mưu chước để cầm chân, trói buộc chúng ta, nếu chúng ta lạc sâu vào sào huyệt của chúng. Đàng khác, đối với ma quỷ, không gì hay hơn là tránh xa, và tuyệt đối không lân la, thân thiện với chúng.

    Các Đức Giáo hoàng, đặc biệt Đức Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI trong diễn từ ngày 15.11.1972 đã nhắn nhủ: Satan là kẻ thù đáng kinh tởm, và gian ác nhất của chúng ta. Hắn sẽ mãi mãi như thế cho đến tận thế. Nó sẽ dùng mọi trí năng và quyển lực của mình để cản trở kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng muốn cứu độ mọi người. Sức mạnh của chúng ta là Thánh Giá, Mình Máu thánh, các thương tích của Đức Giêsu Kitô, sự vâng phục Lời Ngài và Hội Thánh của Ngài.

Tuy thế, cũng có một số người được Thiên Chúa ban ơn đặc sủng chữa bệnh, ngoại cảm, thấu suốt tâm hồn người khác như trường hợp cha thánh Piô Năm Dấu thánh. Những vị này phải là những người say mê cầu nguyện, bác ái, khiêm tốn, yêu mến và vâng phục Giáo hội, và công việc của các vị ấy hoàn toàn vô vị lợi, không thù lao, lợi nhuận, nhưng toàn tâm toàn ý phục vụ cộng đoàn.

d. Những người thờ ơ, nguội lạnh, không lãnh nhận các Bí tích

Số đông nguội lạnh, bỏ cầu nguyện, không đến nhà thờ dâng lễ và biếng lười chịu các Bí tích cũng là thành phần được ma quỷ đặc biệt chiếu cố. Chúng chiếu cố thành phần này, vì họ không được trang bị sức mạnh của Đức Tin, Đức Mến, Đức Trông Cậy là ba nhân đức đối thần rất quan trọng cho đời sống thiêng liêng. Vì thế, họ rất yếu đuối, nhu nhược, nên làm họ nghiêng ngả, sa ngã vào tội lỗi, kéo họ ra khỏi nhà Giáo hội, đẩy họ vào tử lộ hỏa ngục là điều không mấy khó đối với Satan. Thiếu ơn Chúa, không có ơn trợ giúp của các thánh trên trời, và ở ngoài sức mạnh hiệp thông của Giáo hội, tâm hồn người nguội lạnh sẽ không thể đứng vững trước sức tấn công luôn vũ bão của ma quỷ.

Với những người này, ma quỷ không mất công nhiều, vì họ như những cơ thể mất sức đề kháng, nên vi trùng nào cũng có thể đánh gục. Không có ơn Chúa, ma quỷ chỉ việc cám dỗ, và họ sẽ ngả theo.

Tóm lại, ma quỷ không thể hoạt động một mình, nhưng cần đến con người, những con người tự nguyện đi theo làm tay sai, nô lệ chúng: những người sợ hãi nên bám gót phục vụ chúng: những người nửa vời, “hâm hâm, không nóng không lạnh” nghiêng ngả đồng lõa với chúng; những người bất mãn đi theo chúng để trả thù người của Giáo hội. Nhiều dạng người, nhiều hạng người, tất cả đều bị chúng lừa phỉnh lao mình vào hoạt động tội lỗi, phá hoại theo chỉ thị, đường lối, kế hoạch gian ác. Càng đông người đi theo ma quỷ, thế giới càng đổ vỡ tang thương, và con người càng khổ đau, bất hạnh. Bởi ma quỷ tự bản chất là xảo quyệt, dối trá, hận thù, bạo lực sẽ không bao giờ đem lại hạnh phúc, bình an cho con người.

     Với chiến thuật cám dỗ tài tình, ma quỷ rảo bước khắp thế gian và rình rập cướp khỏi Thiên Chúa linh hồn con người. Và chiến thuật của chúng cho đến tận thế vẫn mãi là dùng tay con người để ném đá con người, dùng chính con người để cám dỗ, hãm hại con người, lấy con người cám dỗ con người, để con người ngày càng trở thành nô lệ của chúng, và lang thú, hỏa ngục cho nhau. Sẽ chỉ có một đáp số, một kết quả duy nhất từ mọi hoạt động của ma quỷ, dù hoạt động đó bên ngoài xem ra rất tốt, đó là làm con người xa cách Thiên Chúa, từ bỏ Giáo hội, khinh mạn thánh thiêng, mất hết khái niệm tội lỗi, cộng đồng ghen ghét, thù địch, hãm hại nhau, và chính bản thân biến thành một khối tuyệt vọng.