Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018

LOAN BÁO TIN MỪNG VÀ SỐNG TIN MỪNG ĐƯỢC LOAN BÁO


LOAN  BÁO  TIN MỪNG VÀ SỐNG TIN MỪNG  ĐƯỢC LOAN  BÁO
   “Loan báo Tin Mừng là quyền và bổn phận  mà không ai có thể từ chối”
     Đó là lời Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI  tuyên bố tại Vatican ngày 17 tháng 5 năm 2008
Tin Mừng của Đức Giêsu là một phần của Tân Ước gồm bốn cuốn được viết bởi các thánh  Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan  kể về  Đức Giêsu Kitô.
       Trong tiếng Hy Lạp, loan báo Tin Mừng có nghiã  “làm cho ai đó được biết một tin vui”, và  cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đã dùng để  chỉ việc loan báo cho mọi người  tin vui :  Đức Giêsu Kitô  đã sống lại từ cõi chết.
     Các tín hữu tiên khởi đã không coi việc loan báo Tin Mừng Đức Kitô đã sống lại như công tác tuyên truyền về một giáo thuyết phải học thuôc lòng,  hoặc mời mọc người khác nghiền ngẫm, suy tư về  nội dung một tác phẩm dậy sự khôn ngoan như các triết gia thời đó, nhưng trước hết và trên hết, loan báo Tin Mừng là làm chứng về một biến đổi nội tâm nơi mỗi người nhờ sự phục sinh của Đức Kitô, và qua sự phục sinh của Ngài, toàn thể nhân loại sẽ được sống lại.
     Tin Mừng  vẽ lại chân dung của Đức Giêsu, Đấng đã gặp rất nhiều người và với ai Ngài cũng tỏ lòng kính trọng, yêu thương, trìu mến. Đáng chú ý hơn cả là thái độ khiêm nhường, hạ thấp mình xuống ngang hàng những người yếu đuối, hèn mọn  nhất, để không một ai bị bỏ rơi, lãng quên dưới ánh mắt nhân hậu của Thiên Chúa. Đức Giêsu còn ở với con người trong chính sự chết, để mỗi người nhờ ở với Ngài được đi vào  hiệp thông với Thiên Chúa Cha.Vì thế, ngay từ buổi đầu của Giáo Hội, các tín hữu đã loan báo Tin Mừng  trong niềm vui của những người được đón nhận và tháp nhập trong Thiên Chúa, với niềm xác tín : “Thiên Chúa làm người để con người được làm Thiên Chúa”.
       Từ  ý nghiã thần học này, loan báo Tin Mừng không chỉ là nói với người khác về Đức Giêsu, nhưng còn là giúp mọi người nhận ra giá trị của họ dưới mắt Thiên Chúa, và chuyển tải đến từng người lời của ngôn sứ Isaia: “Ta đã gọi con bằng chính tên con: con là của riêng Ta... Vì trước mắt Ta, con thật qúy giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương” (Is 43,1.4), để rồi khởi đi từ buổi sáng phục sinh rực rỡ ấy, chúng ta biết Thiên Chúa đã không ngần ngại trao ban tất cả để không bao giờ chúng ta có thể quên “mỗi người là tất cả của Thiên Chúa, mỗi người là giá trị không thể hoán nhượng đối với Thiên Chúa”. 
       Sở dĩ con người được là giá trị tuyệt vời dưới mắt Thiên Chúa, vì con người có tự do, và tự do này phải được tôn trọng.Vì thế, loan báo Tin Mừng không thể trở thành một công tác nhồi sọ, tẩy não, nhưng là lời mời  hiệp thông  với Đức Giêsu, bởi sau khi sống lại, Đức Giêsu Kitô đã giao hoà, nối kết, hiệp nhất tất cả nhân loại trong Thiên Chúa. Được mời gọi hiệp thông với chính Thiên Chúa, việc loan báo Tin Mừng phải được bắt đầu bằng sự gắn bó thiết thân của mỗi người với Đức Giêsu, như thánh Phaolô đã viết : “Anh em đã mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27).Vì thế, bằng chính đời sống, chứ không chỉ bằng lời nói, chúng ta làm chứng  Đức Kitô phục sinh, Đấng biến đổi chúng ta “nhờ được thông phần  những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết”  (Pl 3,10-11). Chính nhờ niềm tin và niềm vui được yêu thương và hiệp thông trong Đức Kitô của chúng ta, mà Đức Kitô được trở nên “đáng tin cậy, đáng yêu mến” dưới mắt những ai chưa nghe biết về Ngài. 
      Sau hết, loan báo Tin Mừng đòi chúng ta đặt trọn tin tưởng ở Chúa Thánh Thần, “Đấng sẽ dậy anh em biết những điều phải nói” (Lc 12, 12).
       Vài nét chính yếu về sứ vụ loan báo Tin Mừng vừa chia sẻ trên phần nào đã cho chúng ta thấy nội dung, ý nghiã, mục đích, và phương cách của việc loan báo Tin vui Đức Kitô đã sống lại. Trong  phần dưới này, chúng ta sẽ cùng nhau mở rộng, triển khai: 
1. Loan Báo Tin Mừng là Loan Báo chính Đức Giêsu.
   Mục đích của việc loan báo Tin Mừng là Đức Giêsu, đối tượng của Tin Mừng là Đức Giêsu, nên toàn bộ nội dung của Tin Mừng cũng là chính Đức Giêsu. Tin mừng không loan báo gì ngoài Đức Giêsu, không nhắm đến ai ngoài Đức Giêsu, không tìm kiếm người nào ngoài Đức Giêsu. Đức Giêsu là duy  nhất của Tin Mừng. Từ Đức Giêsu và chung quanh Đức Giêsu, mọi sự, mọi việc, mọi người được khởi đi và tập trung, quy chiếu.
a. Loan báo lý lịch của Đức Giêsu:
     Trước hết Tin Mừng loan báo nguồn gốc, lý lịch của Đức Giêsu: Thiên Chúa làm người.
“Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành” (Kinh Tin Kính);  Ngài ngự bên hữu Đức Chúa Cha vì là Con Đức Chúa Cha (Cv 9,20) như “Đức Chúa đã phán cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân Con; Vậy tòan thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2,34-36).
      Là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, nhưng “vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ Trời xuống thế” (Kinh Tin Kính).
     Như thế, lý lịch chính xác của Đức Giêsu mà Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng chính là Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Trong tất cả các thánh lễ, sau khi Truyền Phép, chúng ta cùng chủ tế và toàn thể Hội Thánh long trọng tuyên xưng : “Lậy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến!”.
       Loan truyền Đức Giêsu chịu chết là loan báo Đức Giêsu là con người, vì chỉ con người mới phải chết, Thiên Chúa không chết bao giờ, vì Ngài là nguồn sự sống, đồng thời tuyên xưng Đức Giêsu sống lại là tuyên tín Đức Giêsu là Thiên Chúa. Đó là nội dung đức tin của Phêrô đã tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16), mà suốt đời người Kitô hữu không ngừng loan báo và tuyên xưng, như căn tính, sứ vụ và ơn cứu rỗi của họ, bởi “thật chính đáng, công bình và sinh ơn cứu độ cho  phần rỗi chúng ta” (Kinh Tiền Tụng).
b.  Loan báo cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu.     
     Cuộc đời của Đức Giêsu là cuộc đời vâng phục thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài đến trong thế gian để yêu thương và cứu độ. Tất cả những gì Ngài làm, trong bất cứ hoàn cảnh nào đều làm theo ý Thiên Chúa Cha: “Lậy Cha, xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha mọi đàng” (Lc 22, 42). Thánh ý Chúa Cha là lẽ sống, lý do có mặt của Đức Giêsu trên trần gian này, ngoài ra không còn một lý do hiện hữu nào khác, chính Đức Giêsu đã khẳng định trước đám đông người Do Thái đang khi họ xầm xì thắc mắc về nguồn gốc và sứ mệnh của Ngài: “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi, mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Nguời đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy và tin tôi, thì sẽ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,38-40). Và Đức  Giêsu đã thực hiện trọn vẹn thánh ý của Cha Ngài với lòng vâng phục tuyệt đối cho đến chết và chết trên thập giá (Pl 2,8).
       Qủa thực, không còn gì rõ hơn, và không ai có thể  xuyên tạc, bẻ cong lẽ sống của Đức Giêsu khi xuống thế làm người, sống như con người. Cũng từ lẽ sống đó, Đức Giêsu thi hành sứ vụ của Đấng Cứu Thế mà ngôn sứ Isaia đã  báo trước: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghẻo hèn.Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Sứ vụ cứu thế đó đã được  Đức Giêsu thể hiện qua nếp sống gần gũi, thái độ ân cần cởi mở, thân thiện với mọi người, không loại trừ  ai. Sứ mệnh cứu thế còn được thực hiện qua các phép lạ chữa nhiều người bệnh tật, cho người chết sống lại, xua đuổi tà thần khỏi những người bị chúng khống chế, cho người chết sống lại, “kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng”  (Mc 1,15) và nhất là ban lòng Thương Xót và  Bình An của Ngài cho tất cả những ai đến với Ngài (x. Lc 15; Ga 8,1-11; 14,27).   
2. Tin Mừng đến từ Thiên Chúa Ba Ngôi.  
     Tin Mừng mà Đức Giêsu loan báo không là sản phẩm của con người, nhưng xuất phát từ chính Ba Ngôi Thiên Chúa, nói cách khác, đó là Tin Mừng của Thiên Chúa Ba Ngôi : Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa  lên khỏi nước, thì các tầng trời mở ra và Người thấy Thần Khí Thiên Chúa như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Con” (Mc 1,9-11).
     Cảnh tượng kỳ diệu trên muốn làm chứng  Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai Thiên Chúa và Tin Mừng của Ngài loan báo cho nhân loại chính là Tin Mừng của cả Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần:
       Tầng trời mở ra là dấu chỉ Thiên Chúa Cha  đến với con người và nói với con người qua Đức Giêsu, Con Một của Ngài.Thiên Chúa không tự giam mình trong tủ kính, pháo đài, nhưng mở ra, mặc khải, đến gần, ở với để nói với, lắng nghe, đón tiếp, yêu thương, cứu độ con người, vì Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa say mê con người và không muốn bất cứ ai lạc mất Ngài, bởi tất cả mọi người đều đã được sinh ra cho Thiên Chúa.
      Thần Khí Thiên Chúa dưới hình chim bồ câu ngự xuống là hình ảnh Chúa Thánh Thần. Ngài là dây liên kết, hiệp thông vì Ngài là Tình Yêu của Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con. Nơi Ngài có  Bình An, Trong Trắng và  Êm Ái - Dịu Ngọt  của  Ba Ngôi Thiên Chúa.
    Tiếng phán từ trời:  “Con là Con yêu dấu của Ta” biểu lộ tình yêu và hiệp thông tuyệt đối giữa Chúa Cha và Chúa Con.
     Vì thế, Tin Mừng của Đức Giêsu là Tin Mừng của Chúa Cha, và cũng là Tin Mừng của Chúa Thánh Thần. Suốt cuộc đời và xuyên suốt sứ vụ của Đức Giêsu ở trần gian, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần luôn  có mặt và cùng hoạt động với Ngài.
3.  Tất cả mọi người được mời gọi đón nhận Tin Mừng và lên đường loan báo Tin Mừng. 
     Tin Mừng là Tin Mừng của Thiên Chúa gửi đến toàn thể nhân loại, cho tất cả mọi người, không trừ ai, tuyệt đối không khoanh vùng, hay thiết lập biên cương, áp đặt ranh giới đối với bất cứ sắc dân, văn hoá, trình độ, giai cấp, lãnh thổ nào.Vì là Tin Mừng của Thiên Chúa cho loài người để cứu độ loài người, nên quyền đón nhận Tin Mừng, quyền hưởng ơn cứu độ nhờ tin vào Tin Mừng là quyền bất khả xâm phạm của mọi người và mỗi người. Đó là nhân quyền, quyền căn bản của con người,  vì con người được sinh ra từ Tình Yêu  Thiên Chúa nên có quyền  hưởng hạnh phúc từ Tin Mừng “được Thiên Chúa yêu thương”.
     Vì thế, Tin Mừng đã được Đức Giêsu rao giảng không chỉ cho Ítraen, mà còn cho các vùng dân ngoại, không thuộc  Ítraen. Và điều kỳ diệu là ngoài những tông đồ (Lc 9,12), môn đệ  (Lc 10,9) được sai đi, Ngài sai cả những người ngoại đạo đi loan báo Tin Mừng giữa anh em của họ. Điều này có thể làm chúng ta bỡ ngỡ, vì qủa thực, không ít người trong chúng ta  chung một ý nghĩ : chỉ có hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ và Tu Sĩ mới có quyền và có khả năng loan báo Tin Mừng, còn những người khác, việc loan báo Tin Mừng chỉ là thứ yếu, phụ thuộc, lệ thuộc và rất dễ bị người khác lên án: lấn sân, lộn chuồng, lạc vào vùng cấm địa. Một vài đoạn Tin Mừng sau đây làm chứng điều này: Đức Giêsu với người đàn bà xứ Samari (Ga 4, 7-30):
       Người đàn bà này là dân thuộc vùng thù nghịch với Ítraen, nên khi Đức Giêsu xin chị chút nước uống, chị ta đã sững sờ, hoảng hốt nói: “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao ? Qủa thế, người Do Thái không được phép giao thiệp với người Samari” (Ga 4,9). Sau chuyện dài tâm sự về cuộc đời đã qua với nhiều người chồng, chị được Đức Giêsu cảm hóa bằng ân huệ của chính Tin Mừng là Ngài, khi nói với chị : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”, “Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô” mà chị đi tìm, nay chị đã được gặp (Ga 4,25-26). Và chị là một trong những người ngoài Do Thái đã được gặp gỡ Đức Giêsu là Tin Mừng của Thiên Chúa. 
      Nhưng điều làm chúng ta không khỏi ngạc nhiên, và sung sướng khi người đàn bà Samari đã trở thành người loan báo Tin Mừng, sau khi đón nhận Tin Mừng: “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người đàn bà làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm” (Ga 4, 39). Đức Giêsu đã ở lại trong thành này hai ngày và "số người tin vào lời Đức Giêsu còn đông hơn nữa" (Ga 4,41).
      Người đàn bà ngoại đạo xứ Canaan (Mt 15,21-28):
      Bà là người ngoại đạo đã đến năn nỉ Đức Giêsu dủ lòng thương xót chữa con gái bà bị qủy ám. Dù bị thử thách, khi Đức Giêsu xem ra như không muốn cứu giúp con bà, nhưng bà vẫn cứ nhẫn nại kêu xin, và Đức Giêsu đã công khai khen ngợi lòng tin của bà : “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy" (Mt 15, 28). Lời khen của Đức Giêsu đã nói lên sự chân thành đón nhận Tin Mừng của người đàn bà ngoại giáo.Bà đã tin, tức “đã nhận Đức Giêsu là Cứu Chúa của bà và thực sự Chúa đã cứu con gái bà khỏi bệnh” (Mt 15,28). Con đường từ nhà bà đến gặp Đức Giêsu là con đường lãnh nhận Tin Mừng, và con dường trở lại nhà từ điểm gặp gỡ  Đức Giêsu sau khi được Ngài cho biết : “Bà cứ về đi, qủy đã xuất khỏi con gái bà rồi” (Mc 7,29) đã là con đường loan báo Tin Mừng, loan truyền Đức Kitô, Đấng Cứu Thế của bà.
      Đón nhận Tin Mừng vì thế luôn bao hàm  sứ mệnh loan báo Tin Mừng, bởi bất cứ ai chân thành và lương thiện sẽ không thể không kể cho người khác nghe những gì họ đã thấy, đã nghe, đã nhận được từ Đấng đã yêu thương và cứu giúp mình.  Đó cũng là nghiã vụ của một lương tâm lành mạnh và trưởng thành. Người bị qủy ám ( Mc 5,1-20).
      Trong câu chuyện chữa người bị qủy ám ở vùng Ghêrasa, cũng thuộc vùng đất dân ngoại, Đức Giêsu đã minh nhiên bảo anh phải loan báo Tin Mừng, nghiã là trở về kể lại cho gia đình của anh biết mọi điều Ngài đã làm cho anh: “Khi Người xuống thuyền, thì kẻ trước kia đã bị qủy ám đã nài xin cho được ở với Người, nhưng Người không cho phép, Người bảo: Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào”. Anh ta ra đi và bắt đầu rao truyền trong miền Thập Tỉnh tất cả những gì Đức Giêsu đã làm cho anh. Ai nấy đều kinh ngạc. (Mc 5,18-20).
       Thật không ai ngờ Đức Giêsu đã sai cả những người ngoại đạo đi loan báo Tin Mừng và họ đã loan báo hữu hiệu, bằng cớ là nguiời đàn bà xứ Samari đã làm xôn xao cả làng, đến nỗi dân làng đã năn nỉ Đức Giêsu ở lại với họ; còn người bị qủa ám này thì tự nguyện đi làm nhà truyền giáo loan báo Tin Mừng khắp miền Thập Tỉnh và nhiều người biết đến những điều kỳ diệu Thiên Chúa đang làm cho họ.
     Ở đây, chúng ta còn được Đức Giêsu chính thức dạy cho biết loan báo Tin Mừng là gì, để không ai còn hồ nghi hay phải  tìm kiếm ở đâu hay với ai khác nội dung của bài sai: Hãy đi và “thuật lại mọi điều Thiên Chúa làm cho anh và Người đã thương anh thế nào” (Mc 5, 19) .Ôi thật dễ thương bài sai tràn đầy hồng ân của Tình Yêu Thiên  Chúa, và hạnh phúc biết bao cho những môi miệng và cuộc đời  say mê loan báo việc kỳ diệu Chúa làm và kể lại  tình thương bao la của Ngài.
      Với một vài đoạn Tin Mừng tiêu biểu trong số rất nhiều đọan Tin Mừng khác, chúng ta có thể nhận ra quyền được loan báo Tin Mừng và sứ vụ loan báo Tin Mừng không dành cho riêng ai, nhưng là quyền lợi và nghiã vụ của tất cả mọi người, kể cả những người ngoại đạo, vì trong mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa, họ cũng được thừa hưởng quyền làm Con , bởi họ được sinh ra từ Thiên Chúa và quy hướng một cách tự nhiên về Ngài, khi Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người khả năng biết rằng có Thiên Chúa và khả năngphân biệt tốt - xấu, lành - dữ.
4.  Trên đường loan báo Tin Mừng:
a.   Chúng ta không cô đơn:   
      Trước hết, trên đường loan báo Tin Mừng, chúng ta có Đức Giêsu đồng hành và chúng ta được ở với Ngài (Ga 1,39), ăn với Ngài khi Ngài hoá bánh ra nhiều (Mc 6, 39-42), uống với Ngài ở tiệc cưới Cana (Ga 2,1-11), nghỉ ngơi với Ngài như Ngài đã bảo các tông đồ: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31), học với Ngài, được Ngài ủi an, nâng đỡ khi thất vọng, buồn chán “vì tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và kiêm nhường.Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.Vì ách của tôi êm ái và gánh của tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). Trên đường Emmau, hai môn đệ đã chẳng còn thiết đến sự gì, sau khi Thầy bị đóng đinh, chôn trong mồ, nhưng chính lúc ê chề thảm hại chính là lúc “Đức Giêsu tiến đến gần và đi với họ” (Lc 24,15).Ngài còn ở lại ăn tối với hai môn đệ khi “trời đã xế chiều và ngày đã tàn”, xế chiều như hồn người tông đồ hoang phế tuyệt vọng, và tàn như  ngày tàn của cơ đồ Cứu Thế (x. Lc 24,13-35), để rồi sau khi nhận ra Đức Giêsu “khi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”  (Lc 24,30),  “họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông : Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon.Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xẩy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24,33-35).
        Đi theo Đức Giêsu, ở với Đức Giêsu, loan báo Tin Mừng như Đức Giêsu, người môn đệ cũng sẵn sàng chịu đau khổ và chết với Đức Giêsu vì đường Tin Mừng là đường Thánh Giá, và lời chứng hùng hồn nhất của Tình Yêu là chết cho người mình yêu.Thánh Phaolô đã thâm tín về sự sẵn sàng của người tông đồ với niềm hân hoan phó thác  trên hành trình theo Đức Giêsu: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người”  (2Tm 2,11-12) 
     Người loan báo Tin Mừng vì thế  không cô đơn vì có Đức Giêsu trên suốt hành trình, mà còn có anh em cùng lên đường, chia sẻ,  tương thân tương trợ, như hình ảnh Nhóm Mười Một tụ họp, quây quần kể cho nhau nghe việc mình đã nhận ra Đức Giêsu phục sinh.
b. Chúng ta không lạc hậu, lỗi thời   
 Nhiều người cho rằng loan báo Tin Mừng là việc làm hết sức  lỗi thời, vì Tin Mừng chỉ là những câu chuyện về một con người đã chết từ hơn hai ngàn năm nay, và những sự kiện của hai ngàn năm trước hẳn đã không còn hợp với thời đại, không đáp ứng những thao thức, băn khoăn, đòi hỏi của thế giới hôm nay. Nhưng với chúng ta, những người Kitô hữu thì Tin Mừng không bao giờ là Tin Mừng của quá khứ, Tin Mừng cổ hủ, lạc hậu,  nhưng luôn là Tin Mừng của hôm nay cho những người đang sống, vì “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi mãi đến muôn đời” (Dt 13,8); vì  Tin Mừng vẫn mãi là Tin Mừng đến từ Thiên Chúa Ba Ngôi cho toàn thể nhân loại mọi nơi, mọi thời cho đến tận thế. Đàng khác, chính “Đức Giêsu là Thiên Chúa hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Người tồn tại mãi mãi. Do đó, Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy Người hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7, 24-25).  
Bên cạnh đó, những giá trị của Tin Mừng thì bất biến như Tình Yêu thương xót, Tình Yêu quên mình, Tình Yêu phục vụ, cũng như đòi hỏi của Tin Mừng thì luôn cần thiết cho mọi người của mọi thời đại, vì chạm đến chính trái tim của mỗi người để trái tim con người được hoà giải với trái tim của Thiên Chúa. (x. 2 Cr 5, 20).
 Người loan báo Tin Mừng vì thế không là người kể chuyện cổ tích, hoang đường, hay nói những chuyện vu vơ, mây gió xa rời thực tế sống, nhưng họ là những người hạnh phúc vì được chính “Tình Yêu Đức Kitô thúc bách” (2 Cr 5,14), để “trở nên mọi sự cho mọi người” (1 Cr 9,22),  khi đi theo và sống chết với Đức Giêsu cho sứ vụ Loan Báo Tin Mừng : Thiên Chúa yêu thương và cứu độ mọi người (1Ga 4, 9; 1Tm 2,4).
Để kết thúc bài chia sẻ, tưởng không gì ấn tượng và thôi thúc chúng ta hơn là lời trần tình “trở nên tất cả cho mọi người” để Tin Mừng được loan báo của thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại: "Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài  luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Kitô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã  trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để  cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng" (1Cr 9, 19-23).
        Và như thế, “thật vô phúc cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!”  (1Cr 9,16)
Jorathe Nắng Tím
  

  
     

HẠNH PHÚC CỦA MẸ, NGÀY VU LAN!

https://www.youtube.com/watch?v=GImzgCs0cdg&feature=youtu.be
 
 Sáng nay “anh chàng” dậy sớm hơn lệ thường, ăn sáng xong “chàng” lặng lẽ ra khỏi nhà trong khi mình vẫn còn mê mệt ngủ sau một đêm trực về . 
Vừa chợt thức giấc chưa kịp ra khỏi giường mình đã thấy “chàng” đi thẳng
vào phòng với nụ cười rạng rỡ trên môi và một bó hoa giấu sau lưng. Vội ngồi dậy, đầu vẫn chưa nghĩ ra được điều gì thì “chàng” đã đến ôm chầm lấy mình trao tặng bó hồng tươi thắm không quên kèm theo một cái hôn đầy tình cảm với lời chúc mừng Sinh Nhật sớm . Nói sớm vì đúng ra ngày mai mới sinh nhật mình nhưng có lẽ vì mai là chủ nhật không có nhiều cửa hàng mở cửa nên “chàng” mới phải mừng sớm một ngày . 
    Một hành động quá bất ngờ đầy tình cảm, một món quà sinh nhật thật dễ thương ( dễ thương vì lẽ “chàng” đã phải nhịn tiêu xài mới có tiền mua bó hoa đẹp như vậy )
một cái hôn đong đầy yêu thương  tất cả đã tạo nên những giọt nước mắt hạnh phúc nơi mình ...
   Cám ơn thật nhiều “anh con trai” của mẹ. Mẹ thật sự hạnh phúc với món quà của con và càng xúc động, ý nghĩa hơn khi mẹ được nhận những hoa hồng của con đúng ngay ngày lễ Vu Lan báo hiếu. 
Con không biết Vu Lan là gì cũng chưa có khái niệm về chữ hiếu, việc làm của con hôm nay chỉ đơn giản xuất phát từ tình yêu con dành cho mẹ nhưng chính sự đơn sơ đó đã tạo nên nét đẹp của tình con . Đẹp vì con đã không gượng ép , không màu mè, không phô trương hình thức, không chạy theo phong trào vì nếu gượng ép, phô trương, theo thời thì tình con sẽ không thật , không sâu và không bền như những ngày lễ rồi cũng chóng qua . 
    Cám ơn “anh con trai” đã cho mẹ biết thế nào là nước mắt hạnh phúc của bậc làm cha mẹ. Không cần phải lễ hội cầu kỳ , không cần phải mâm cao cỗ đầy , tiệc tùng lớn lao nhưng đơn sơ lắm phải không con ? Chỉ một hành động nhỏ như con đã làm sáng nay, một ánh mắt, một nụ cười rạng rỡ, một cái ôm siết chặt cũng đã đủ để mẹ vui cả một ngày , hạnh phúc cả một đời làm mẹ . Dễ dàng, đơn giản như thế đó nhưng mẹ đã không biết để trao dâng thật nhiều những điều nhỏ nhoi đó cho ông bà con. Mẹ cứ nghĩ phải làm những việc lớn lao, phải có những món quà đắt giá, phải tổ chức những bửa tiệc hoành tráng nên đã bỏ qua quá nhiều cơ hội mang niềm vui hạnh phúc cho ông bà để giờ đây mỗi mùa Vu Lan đến mẹ không tránh khỏi ngậm ngùi vì nuối tiếc . 
   Cám ơn “anh con trai” đã nhắc cho mẹ nhớ đến điều căn bản trong tình yêu là không tính toán . Một bó hoa không đáng giá bao nhiêu nhưng với con là cả một cố gắng  mẹ biết con đã phải nhịn bớt những chi tiêu trong số tiền túi ít ỏi của con để mua bó hoa đó cho mẹ hôm nay . Khó khăn nhưng con không ngại, tốn kém nhưng con vẫn làm vì con muốn mẹ vui và trên tất cả là vì con yêu mẹ phải không con trai ? Tình yêu là như thế , không tính toán thiệt hơn , không so đo tốn kém chỉ cần người mình thương vui hạnh phúc là đủ con trai nhỉ ? 
   Cám ơn “anh con trai” đã cho mẹ thấy đời làm cha mẹ tuy có nhiều gian lao vất vả, lắm lúc cũng đầy tủi nhục thê lương tưởng chừng như phải bỏ cuộc nhưng đâu đó trên con đường đầy chông gai gian khổ đó vẫn có những điểm dừng chân thú vị để tiếp thêm năng lượng, tăng thêm can đảm để mẹ cha có thể đi trọn hành trình làm cha mẹ của mình như điểm dừng con đã dành cho mẹ sáng nay, ngọt ngào và ấm áp lắm con trai ạ. 
       Hãy luôn đơn sơ, chân thật đừng giả dối biểu diễn phô trương; hãy sống giản dị luôn mang từng niềm vui nhỏ bé đến mọi người  hãy quảng đại rộng lượng đừng so đo tính toán... Và hãy mãi dễ thương như hôm nay con trai nhé . 
    Mẹ mong và tin rằng sau này dù có bao nhiêu mùa Vu Lan qua, dù có phải mang trên ngực hoa hồng đỏ hay hoa hồng trắng thì con trai của mẹ cũng vẫn vui hạnh phúc vì con đã biết sống tâm tình Vu Lan mỗi ngày trong đời con . 
    Mẹ yêu con nhiều “anh con trai” của mẹ. 
Mây Tím

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

NGUY CƠ THIÊU LÒNG THƯƠNG XÓT

https://www.youtube.com/watch?v=e6ALnFgqNSc
                                        
    Nếu Thiên Chúa là Tình Yêu và Thiên Chúa thánh thiện vì Ngài xót thương ; nếu  Kitô giáo là Đạo của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã đến trong thế giới vì thương xót con người và lấy chính mạng sống để cứu độ con người vì xót thương ; nếu  tất cả các giới răn mà người Kitô hữu phải tuân giữ  được gồm tóm vào  một đòi hỏi duy nhất với hai mặt là yêu mến Thiên Chúa và thương xót đồng loại (Mt 22,37-40); nếu con đường Đức Giêsu đã vạch ra cho các môn đệ và những ai muốn theo Ngài là đường Yêu Thuơng : yêu thương đến cùng, yêu thương đến hy sinh mạng sống cho người mình yêu (Ga 15,13) ; nếu hiến chương Nước Trời được dành cho những người phải khóc vì xót thương người khác, phải buồn sầu vì xót xa nỗi đau thân phận người khác, phải chịu phiền toái, vất vả, nhục nhã, vu khống, truy lùng, bách hại vì mưu tìm hoà bình, công chính và hạnh phúc cho đời người khác (Mt 5, 1-12); nếu  số phận đời sau của mỗi người theo như Đức Tin Kitô giáo dậy sẽ tùy thuộc lòng thương xót mà mình đã thực hiện hay bỏ qua khi còn sống ( Mt 25, 31-46); nếu chỉ thực sự là người có Đạo khi lấy yêu thương là dấu chỉ và huy hiệu “độc nhất vô nhị”  của người Kitô hữu (Ga 13,35),  thì thiếu lòng thương xót, trống vắng yêu thương sẽ là một nguy cơ lầm đường lạc hướng, một tai hoạ khủng khiếp, một thất bại ê chề, một mất mát  thảm thương đối với người có Đạo. Do đó, thiếu lòng thương xót, đời người Kitô hữu  sẽ không còn lẽ sống, mục đích, ý nghiã và động lực để yêu mến Chúa và phụng sự Chúa trong mọi người. Chính vì thế, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không do dự đặt tên cho tình trạng “thiếu lòng thương xót nơi người có Đạo” là  nguy cơ  trầm trọng, bên cạnh nguy cơ say mê tiền của, mà người viết đã chia sẻ với các bạn tuần trước.
     Thực ra, thiếu lòng thuơng xót không chỉ là nguy cơ đối với người có Đạo hay khép kín trong Giáo Hội Công Giáo, nhưng bất cứ ai không có lòng thương xót tha nhân đều mang lại hậu qủa tiêu cực cho xã hội loài người, bởi thương xót người khác là đòi hỏi tự  nhiên của luật tự nhiên.  Lương tâm  mỗi người luôn nhắc bảo, canh chừng, thôi thúc lòng thương xót được gọi chung dưới những tên như  “nhân ái, tình người, nhân đạo, lòng tốt”.

1.    Ý Nghiã Của Lòng Thương Xót
    Để hiểu hơn ý nghiã của lòng thương xót,  chúng ta cùng nhau phân tích từ “Thương Xót” của tiếng latinh MISERICORDIA  được làm thành từ Miseria là “cơ cùng, khốn nạn” và Cordia có nghiã “ở trong trái tim”. Theo ý nghiã đích thực của nguyên ngữ  latinh, Misericordia - Thương Xót  không thể hiểu là  thương hại, vì thương xót không là hành động bố thí tình cảm, cũng không là thái độ tự mãn phân phát yêu thương của người trên cho người dưới,  thí ban chút tình của ông chủ cho đầy tớ như  những mảnh  vụn từ chiếc bánh  tình người nhạt  nhẽo từ tay người lớn trên cao ném xuống cho người thấp cổ bé miệng đang ngắc ngoải chờ chết tận vực sâu đói khổ, nhưng thương xót là cúi xuống, qùy xuống, hạ  thấp mình xuống ngang người  ta xót thương để có thể vực họ lên, đỡ họ dậy, băng bó vết thương loang máu trên thân xác nhừ nát vì roi đòn của họ. Thương xót  là mang lấy tất cả sự thật của thân phận đôi khi rất bẽ bàng, kinh tởm của người đang cần được xót thương;  là đón nhận trọn niềm đau nỗi khổ, vất vả nhọc nhằn, thất bại tang thương, yếu đuối tội lụy của người mình thương xót trong riêng tư  thầm kín, nhưng vô vàn lắng đọng, thiết tha của trái tim mình. Thương xót ai như thế là gánh trên vai mình, mang trong tim mình, gắn vào cuộc đời mình những bất hạnh, khốn nạn của người mình xót thương. Và  thương xót ai chính là ngày đêm  thao thức, băn khoăn, lo lắng, ước mơ và  miệt mài hết mình tìm kiếm hạnh phúc cho người mình  thương xót. Vì thế, lòng thương xót luôn làm người xót thương nặng lòng, nặng vai, nặng đầu, nặng gánh bởi “gánh đời” của người được thương xót chẳng mấy khi không trĩu nặng.
2.    Lòng Thương Xót của Thiên Chúa
a.    Yêu đến cùng
      Đức Giêsu được thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu lần đầu tiên với đám đông : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian” ( Ga 1,29). Và Con Chiên gánh tội đó đã không chỉ gánh mà còn hiến mạng sống mình trên thánh giá để làm chứng lòng xót thương vô bờ bến và tình yêu đến cùng của Thiên Chúa  (Ga 13,1). “Đến cùng”  không chỉ được hiểu là tận cùng của thời gian, mà còn phải hiểu là “vô điều kiện”. Đức Giêsu đã yêu thương đến giây phút cuối cùng và xót thương vô điều kiện:
 “Yêu đến cùng” môn đệ Phêrô nên đã đợi chờ để  âu yếm ngước nhìn người môn đệ nhiệt tình, nóng nẩy ở đường cùng phản bội (Lc 22,61); yêu đến cùng Tôma, nên đã trở lại để ban bình an cho ông ở đường cùng  cứng cỏi, chai đá (Ga 20, 27); yêu đến cùng người đàn bà bị bắt qủa tang đang ngoại tình để cứu bà một “bàn thua trông thấy” ở đường cùng sự sống ( Ga 8,1-11); yêu đến cùng người phụ nữ trắc nết, lăng loàn để đổi mới chị với bình an đích thực của Thiên Chúa ở đường cùng vong thân (Lc 7,36-47) ; yêu đến cùng đứa con hoang đàng “phá gia chi tử” để trả lại cho chàng nghịch tử quyền làm con đã mất ở đường cùng vong ân bội nghiã (Lc 15,11-32); yêu đến cùng Dakêu để đem ơn cứu độ cho gia đình ông ở cuối  đường bất chính (Lc 19,1-10); yêu đến cùng hai môn đệ trên đường Emmau để đem lại cho họ hy vọng ở đường cùng tuyệt vọng (Lc 24,13-35); yêu đến cùng những người qùe quặt, đui mù, câm điếc, bị qủy ám để ban lại cho họ sức khỏe và niềm vui ở đường cùng bất hạnh (Mt 4, 23-24); yêu đến cùng những người nghèo khổ bị bỏ rơi, kỳ thị để họ được ủi an ở đường cùng bạc phước; yêu đến cùng những người ngoại đạo để họ nhận ra dung mạo dễ thương, xót thương của Thiên Chúa ở cuối đường chân lý (Mt 8, 5-13; Ga 4,7-25);  yêu đến cùng những người ngoại quốc để họ thấy mình không còn là người xa lạ trong gia đình của Thiên Chúa; yêu đến cùng người tử tội cùng bị đóng đinh bên phải để Nước Trời mở toang cho anh ở đường cùng hình phạt (Lc 28,39-43); yêu đến cùng người bạn Ladarô và gọi anh ra khỏi mộ phần lạnh lùng, tăm tối ở đường cùng hủy diệt (Ga 11,17-44); yêu đến cùng cả những người vô ơn, đả đảo, lên án, tra tấn, đóng đinh mình bằng chạy tội cho họ với “lý do trắng án” : “Lậy cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,24), ở đường cùng  bạo lực phi nhân.

b.    Tình yêu của mẹ hiền
   Đức Giêsu đã yêu thương đến cùng bằng một trái tim mang hết những thiếu sót, yếu đuối, tật bệnh,  thất vọng, khổ đau, buồn chán, lỗi lầm, tội lụy của mỗi người chúng ta. Trái tim của Ngài là trái tim của người mẹ chỉ được dựng nên để yêu thương,  một tình yêu  hiện diện, quan tâm, trìu mến, nhẫn nại, vô điều kiện, nhưng không và đến cùng. Ngôn sứ Isaia đã diễn tả tình yêu ấy như sau:
   “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ. Hãy xem, Ta đã  ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta” (Is 49,14-16). “Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy” (Is 66,12-13).
       Như thế, lòng thương xót thực sự là căn tính của người Kitô hữu, người có Đức Kitô, thuộc về Đức Kitô, đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, vì Đức Kitô là dung mạo của Chúa Cha giầu lòng thuơng xót, là hiện thân của Thiên Chúa là Tình Yêu Xót thương, và nhất là căn tính của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô  chính là Tình Yêu, như thánh  Tông Đồ Gioan đã định nghiã : “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8).
     Chúng ta phải xác tín căn tính Tình yêu nơi Thiên Chúa, nếu không chúng ta sẽ lẫn lộn giữa căn tính Tình Yêu và những đặc tính khác của Thiên Chúa  như công bình, toàn năng, thông biết mọi sự, thưởng phạt  công minh...Tuy là đặc tính, nhưng bên cạnh căn tính, đặc tính vẫn  phụ thuộc và thứ yếu. Căn tính không thể thay đổi, và luôn giữ vai trò tất yếu, chính yếu, nên Thiên Chúa không thể là gì khác ngoài Tình Yêu. Ngài có những phụ tính như công bằng, chính trực, thông biết vô cùng, toàn năng vô song, nhưng Thiên Chúa không là  những phụ tính đó, Ngài chỉ là Tình Yêu. Curng vì căn tính của Thiên Chúa là Tình Yêu, nên Thiên Chúa hoá giải tất cả những gì nại đến công bằng, thưởng phạt, nghiêm minh trong tình yêu và với tình yêu. Nhờ thế mà tội nhân được thương xót, phạm nhân được tha bổng, hối nhân được thứ tha, ác nhân nhận được ơn đổi mới, trở về.   
     Tóm lại, không thể là Kitô hữu nếu không có Đức Kitô trong đời, và không thể có Đức Kitô nếu thiếu lòng thương xót. Muốn có Đức Kitô, người Kitô hữu phải có lòng thương xót; muốn có Đức Kitô đồng hành, phải đi với Ngài trên đường yêu  thương; nếu muốn Đức Giêsu ở cùng, nơi đó phải có lòng thương mến, cảm thông, bởi “đâu có tình yêu  và bác ái, ở đó có Thiên Chúa - Ubi Caritas et Amor , Deus ibi est”. Trái ngược lại, nơi nào không có tình yêu, trái tim nào thiếu lòng thương xót, gia đình nào phủ nhận tình nghiã, cộng đoàn nào chối từ bác ái huynh đệ thì Thiên Chúa không hiện diện, và  cạn kiệt  ân sủng là sức sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chân lý này không thể hiểu vu vơ theo kiểu “đánh lận con đen”, hay mập mờ ngụy biện, hầu ngụy trang một nghịch lý mâu thuẫn tận gốc rễ, khi nghĩ rằng không yêu thương thì Thiên Chúa vẫn hiện diện.       
    Chúng ta phải rõ ràng và dứt khoát với chân lý Thiên Chúa là Tình Yêu, và Thiên Chúa không thể là gì khác hơn ngoài là Tình Yêu, nghiã là có yêu thương mới có Thiên Chúa, nơi nào yêu thương có mặt, nơi đó Thiên Chúa  mới ngự trị và hành động, đồng nghiã với ở đâu không có yêu thương, ở đó vắng bóng Thiên Chúa. Phải rất thận trọng dành “ưu tiên một” cho tình yêu trong tất cả mọi lựa chọn, vì chọn tình yêu là chọn Thiên Chúa; phải can đảm dành chỗ cao nhất cho Lòng Thương Xót, vì thương xót là yếu tính của Thiên Chúa, nên khi  thương xót ai, ta chạm vào trái tim Thiên Chúa và làm Thiên Chúa chạnh lòng. Sở dĩ phải thận trọng và can đảm trong chọn lựa và hành động theo đức ái, vì đức ái cao trọng hơn tất cả,  nếu muốn không lạc hướng vì rất nhiều cám dỗ đủ loại, kể cả những cám dỗ  nhân danh lề luật của Thiên Chúa mà  xúc phạm đến Thiên Chúa là Tình Yêu; nhân danh cơ cấu hoàn hảo, kỷ cương, trật tự mà vô tình làm tổn thương Lòng Thương Xót là chính Thiên Chúa, nhân danh  thành qủa truyền giáo, lễ nghi  hoành tráng, linh đình, sinh hoạt sôi nổi, vượt trội mà chống lại Tình Yêu là chính Thiên Chúa. Sự khác biệt giữa Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót và các thuộc tính khác của Ngài phải được chúng ta phân định rất rõ ràng, để hành trình đi theo Đức Kitô của người Kitô hữu không bị lạc hướng.

3.    Sống Lòng Thương Xót
a.    Biết mình luôn cần được  thương xót
     Để sống lòng thương xót như Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót, chúng ta cần biết mình luôn cần lòng thương xót. Biết mình cần lòng thương xót vì chúng ta là kẻ có tội cần được thứ tha, hoà giải, cứu sống. Biết mình cần lòng thương xót là nền tảng của mọi sinh hoạt xót thương, bởi khi biết mình cần được thương xót, chúng ta chân nhận chính Thiên Chúa là Đấng luôn thương xót ta. Tin Mừng Mátthêu đã  mô tả người đầy tớ bị xiết nợ  biết mình cần lòng thương xót,  đã nài xin và được tha hết nợ :
  Người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. Y không có gì để trả nên tôn chủ ra lệnh bán y và tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ. Bấy giờ tên đầy tớ sấp mình xuống bái lậy: Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết. Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ (Mt 18, 24-27).
 b.    Biết người khác cũng luôn cần đựơc xót thương
     Biết mình cần được thương xót chưa đủ, chúng ta còn phải biết người  khác cũng cần đến lòng thương xót của chính chúng ta. Tất nhiên Thiên Chúa luôn xót thương họ như xót thương ta, nhưng để thương xót con người, Thiên Chúa cần đến lòng thương xót của chính con người dành cho nhau. Ngài cần bàn tay chia sẻ, nâng đỡ, xây dựng của con người để biểu lộ tình yêu mẫu tử của Ngài trên con người, như đã cho con người được cộng tác vào công trình sáng tạo những con người mới của Ngài. Cũng Tin Mừng Mátthêu  cho ta thấy thái độ vô cùng gian ác, vô ơn, vô cảm của người đầy tớ vừa nhận ơn thương xót xoá nợ của ông chủ đã cố tình tham lam, ngoan cố ích kỷ, trâng tráo bạo lực khi xóa khỏi tim óc  mình “cái biết về nhu cầu được xót thương” nơi người khác. Tin Mừng đã ghi lại tỉ mỉ cảnh tượng hãi hùng của người đầy tớ gian ác vừa được xót thương xóa hết nợ đã vội bỏ quên, khước từ bổn phận thương xót người bạn đáng thương đang mắc nợ mình:
    Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: “Trả nợ cho ta” ! Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh. Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Thấy sự việc xảy ra, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bầy với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. Bấy giờ tôn chủ cho đòi y đến và bảo: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn như chính ta đã thương xót ngươi sao?”  Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình (Mt 1828-35).
      Tóm lại, thiếu lòng xót thương, chúng ta không thể trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” là đòi hỏi liên lỷ của Đức Giêsu đối với những ai muốn đi theo Ngài.  Chỉ với lòng thương xót anh em mình, chúng ta mới có thể nói được như thánh Phaolô : “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
   Thiếu lòng thương xót, tim chúng ta không đập chung nhịp  của trái tim Thiên Chúa, nên sẽ không thể gặp gỡ, kết hiệp với Ngài, vì Ngài chỉ ở trong những tâm hồn có lòng thương xót và nơi nào có bác ái, huynh đệ. Thiếu lòng thương xót, chúng ta càng không có thể thứ tha cho ai, kể cả cho mình, vì thứ tha là hành động phi thường mà chỉ những ai có trái tim của Thiên Chúa mới thực hiện được. Sở dĩ thứ tha đòi tình yêu của Thiên Chúa mới thực hiện được, vì trái tim tự nhiên của con người  bình thường chỉ thương ai thương mình, yêu ai yêu mình, tử tế với ai biết điều với mình, ơn nghiã với ai cư xử tốt đẹp với mình,  nhưng không thể thương kẻ ghét mình, yêu người  hãm hại mình, làm ơn cho người hàm oan, vu khống mình, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ, gây khốn khó cho mình, và tha thứ cho những ai xúc phạm, làm tổn thương, gây đau khổ cho mình. Không có trái tim thương xót của Thiên Chúa, chúng ta sẽ gục ngã, tuyệt vọng trước những bất công, vô ơn, bội nghiã và đòn thù thiên hạ giáng trên chúng ta, mặc dù chúng ta đã hết mình, hết tình yêu thương, giúp đỡ, bênh vực, che chở, xây dựng họ (x. Mt 5, 38- 42;18,21;Lc 6,36-37)
    Thật vậy, thiếu lòng thương xót của trái tim Thiên Chúa, chúng ta sẽ bó tay chào thua trước mãnh lực khủng khiếp của ma qủy biểu hiện qua cõi lòng ganh ghét, ghen tuông, qua miệng lưỡi điêu ngoa, dối trá, qua bàn tay bạo lực, bất công, tàn phá, hủy diệt của những người thiếu lòng thương xót chấp nhận đầu quân làm cánh tay nối dài của  thần dữ Satan.
     Nhiều người thắc mắc: tại sao thế giới bất an, gia đình bất ổn, và tâm hồn con người  ngày càng trở nên kiêu căng, chai đá, bất trị ? Và người ta đã nhận được nhiều nghiên cứu, phân tích, lý giải từ các chính trị gia, chuyên viên kinh tế, nhà xã hội học đến cả chuyên gia tâm lý, nhưng không một giải đáp nào được coi là thỏa đáng, hữu hiệu.
     Đứng trước những bế tắc liên quan đến vận mệnh và hạnh phúc của nhân loại, nếu chúng ta nhận mình là môn đệ của Đức Giêsu, thuộc về Đức Giêsu, yêu mến và muốn nên giống Đức Giêsu, chúng ta sẽ không thể cho phép mình dửng dưng, an thân tự tại, nhưng phải cùng Đức Giêsu lên đường loan báo Tin Mừng Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót cho thế giới hôm nay, vì chỉ một mình Thiên Chúa là Tình Yêu mới có thể hoá giải những mâu thuẫn, đố kỵ, tị hiềm, thù hận do lòng ganh ghét của con người; chỉ tình yêu thương xót của Thiên Chúa mới hàn gắn những đổ vỡ trong cuộc sống, chữa lành các vết thương do bạo lực gây ra  trong sinh hoạt; chỉ duy nhất trái tim đầy xót thương của Thiên Chúa là Tình Yêu mới hồi sinh được thế giới đang chết dần trong làn khí độc khước từ, phủ nhận  nhau. Chắc chắn khi lên đường để thương xót với Đức Giêsu, chúng ta sẽ bị phê bình, chỉ trích, hiểu lầm, cô lập, đàn áp, bởi lẽ ma qủy luôn tìm cách ngăn trở chúng ta thương xót như Thiên Chúa và xúi giục, thúc đẩy, bầy mưu - hiến kế cho chính anh em chúng ta chống lại chúng ta. Anh em chúng ta có thể vin vào nhiều lý do, dựa trên nhiều khuyết điểm, thiếu sót, mà vì hết lòng thương xót chúng ta đã không thể tránh được, khi phải ưu tiên cho lòng thương xót và đặt lòng thương xót là giá trị cao nhất của mọi lựa chọn. Câu chuyện Đức Giêsu bị các người Pharisiêu, luật sĩ Do Thái trách móc khi Ngài vì chạnh lòng thương xót đã chữa ngươi bị bại tay trong ngày Sabát là ngày mà Luật Môsê cấm không được làm việc.Thánh sử Mátthêu đã kể lại :
     Đức Giêsu đi vào  hội đường , “ở đó có người bị bại liệt một tay. Người ta hỏi Đức Giêsu rằng: Có được phép chữa bệnhh ngày Sabát không?”  Họ hỏi thế là để tố cáo Người. Người đáp: “Ai trong các ông có một con chiên độc nhất bị sa hố ngày sabát, lại khôg nắm lấy nó và kéo lên sao ? Mà con người thì qúy hơn chiên biết mấy ! Vì thế, ngày sabát được phép làm điều lành”. Rồi Đức Giêsu bảo người bại tay: “Anh giơ tay ra ! Người ấy giơ tay ra và liền trở lại bình thường lành mạnh như tay kia”. Ra khỏi đó, nhóm Pharisiêu bàn bạc để tìm cách giết Đức Giêsu (Mt 11, 9-14).
      Họ muốn giết Đức Giêsu vì Ngài đã đặt lòng thương xót trên Lề Luật;  muốn tiêu diệt Đức Giêsu, vì Ngài đã chọn thương xót như “đệ nhất ưu tiên” trong tất cả mọi lựa chọn. Qủa thực, việc làm và lựa chọn thương xót của Đức Giêsu đã  làm xáo trộn toàn thể bộ máy tôn giáo, đồng thời  làm sụp đổ pháo đài quyền lực và lợi nhuận tôn giáo mà họ đang nắm giữ. 
     Như Đức Giêsu, người môn đệ sống lòng thương xót cũng sẽ chịu chung số phận, khi chọn lựa của họ không phù hợp với “chọn lựa vị luật” của những Luật sĩ, không trùng khớp với “ưu tiên cơ cấu hoàn hảo” của ban tổ chức - điều hành, không đồng giọng với “chủ trương hiếu thắng, thành qủa”, chỉ được chứ không mất, chỉ thành công chứ không thất bại của  phần đông những người lãnh đạo.
   Số phận ấy cho đến tận thế cũng không khá hơn cho những người thuộc về Đức Giêsu, nhưng số phận ấy luôn là số phận được Thiên Chúa chúc phúc,  bởi  họ đã xót thương anh em đồng loại nên mới phải khóc lóc; xót xa thân phận người khác mới phải buồn sầu; khát khao mưu tìm công bình cho người bị đàn áp, oan sai, bóc lột mới khổ đau;  tranh đấu hết mình cho  hoà bình, hạnh phúc của mọi người mới bị vu khống, hiểu lầm oan uổng; nhiệt tình làm chứng cho sự thật mới bị nghi ngờ, truy lùng, bắt bớ ; và hết mình xả thân vì  Đức Giêsu khi triệt để sống lòng thương xót  mới phải  thiệt thân, đổ máu, mất mạng (x. Mt 5,1-11).  
    Vâng, Đức Giêsu đã làm người để nói với con người Thiên Chúa là Tình Yêu và Ngài đến để thương xót, cứu độ con người, đồng thời muốn mọi người trở nên giống Ngài như con cái giống cha mẹ trong tình yêu, thương xót vì Ngài biết chỉ  một mình Ngài là Tình Yêu đích thực mới ban sự sống và hạnh phúc đích thực; chỉ một mình Ngài là lòng Thương Xót mới cứu độ nhân loại và đem niềm vui  cho thế giới không hạnh phúc vì bất công, gian ác, bạo lực không ngừng đe doạ ; chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa chậm bất bình và rất khoan dung mới thứ tha, xoá tội và ban ơn bình an thật cho mọi tâm hồn. Thiếu Tình Yêu là Thiên Chúa, khước từ Thiên Chúa là Tình Yêu, cũng như phủ nhận lòng Thương Xót là căn tính của người Kitô hữu, hay vứt bỏ Tình Yêu là huy hiệu của người có Đạo, chúng ta sẽ biến thái từ chứng nhân thành phản chứng, từ Kitô hữu thành “Phản-Kitô”, và mãi mãi người khác sẽ là địa ngục, thế giới là địa ngục, hiện tại là địa ngục, tương lai là điạ ngục, vì địa ngục đơn thuần là tình trạng không có tình yêu, không còn thương xót và  hoàn toàn vắng bóng Thiên Chúa.
     Thiên Chúa là Đấng Chủ Tạo. Ngài dựng nên chúng ta cho Ngài, nên không lý do gì chúng ta không cố gắng trở nên giống Ngài như Ngài đã căn dặn : “Chúng con hãy nên thánh như Cha chúng con trên Trời là Đấng thánh”. Thánh ở Thiên Chúa chính là lòng thương xót của Ngài, bởi Thiên Chúa thánh thiện vì Ngài xót thương.
    Chia sẻ lo âu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước nguy cơ thiếu lòng thương xót đang khuynh đảo thế giới và làm tổn thương Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô là Giáo Hội, chúng ta cầu xin  ơn đổi mới trái tim  chúng ta và  tất cả mọi Kitô hữu, để Vương Quốc  của Thiên Chúa  Tình Yêu, Nước Trời của  Thiên Chúa giầu lòng Thương Xót trị đến trong các tâm hồn và thế giới hôm nay đang có nguy cơ tự hủy diệt vì thiếu lòng thương xót.
Jorathe Nắng Tím