Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2019

HÀNH HƯƠNG

         Mỗi lần về thăm quê hương, tôi lại theo gia đình, bạn bè đi hành hương Đức Mẹ La Vang thuộc giáo phận Huế, Đức Mẹ Tà Pao, Phan Thiết, Đức Mẹ Núi Cúi, Xuân Lộc, và Đền Các Thánh Tử Đạo, Hải Dương.  Đến đâu, tôi cũng nức lòng  trước lòng thành tín  sốt sắng  của đám đông hành hương gồm tín hữu công giáo cũng như tín đồ các tôn giáo bạn, cả những anh em vô thần kín đáo, ẩn danh. Và ở đâu, hình ảnh đám đông từ khắp nơi tuốn đến gặp Đức Giêsu trong tin mừng Mátthêu cũng trở lại trong tim óc và “làm tôi hớn hở, vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi” (Lc 1,47), như tâm tình dạt dào hạnh phúc của Đức Maria trong bài ca Ngợi Khen, Magnificat khi Đức Mẹ đến thăm bà chị họ Êlisabét (x. Lc 1,39-56).
            Tin Mừng Mátthêu thuật lại :
   “Thế rồi, Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dậy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn, tật nguyền trong dân. Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ  Xyri. Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn, tật nguyền : những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt ; và Người đã chữa họ. Từ miền Galilê, vùng Thập Tỉnh, thành Giêrusalem, miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan, dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người” (Mt 4,23-25).
      Ngắm nhìn anh em từ khắp miền đất nước tuốn đến hành hương, cầu nguyện, tôi thấy đám đông dân chúng kéo đến găp Đức Giêsu ngày xưa ở Galilê cũng không khác đám đông đồng bào lương giáo rủ nhau đi tìm Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ,  Đức Maria, Mẹ rất thánh của Ngài, các thánh Tử Đạo cha ông, những  chứng nhân Đức Tin hào hùng,  và gương mẫu Đức Ái  qủa cảm.
          1 .    Hành Hương đi tìm :
    Phần đông những người đến hành hương đều là những người đi tìm.  Sở dĩ  đi tìm, vì trên hành trình cuộc đời, họ đã tìm nhưng chưa gặp, hoặc đã gặp nhiều, nhưng không là  Đấng họ mong ngóng, trông đợi :
a.     Họ cần tìm một Đấng đáng tin, Đấng không lừa dối, gạt gẫm, bịp bợm ; Đấng không ép họ uống “buà mê thuốc lú”, Đấng  không ngôn hành bất nhất, không lợi dụng lòng thành, tính đơn sơ, hồn nhiên, chất phác và hoàn cảnh khó khăn, ngặt nghèo, bế tắc của họ để làm tiền,  và biến họ thành “con tin” suốt đời lệ thuộc một thế lực thần linh làm sợ hãi.
b.     Họ cần tìm một Đấng quyền năng nhưng nhân hậu, uy lực nhưng đầy lòng thương xót, thấu suốt mọi sự nhưng rộng lượng bao dung, nói tắt là thương họ, vì đời người nào xem ra cũng ít nhiều bị bầm dâp bởi bạo lực, và là nạn nhân của  bất trung, bất nhân, bất nghiã.   
c.      Họ cần tìm một Đấng có trái tim người mẹ để được ủi an, vỗ về ; có tình thương của người cha để  vực dậy, nâng đỡ, có tình yêu của mục tử sẵn lòng hiến mạng sống vì sự sống và  hạnh phúc của đàn chiên, bởi đời họ ngổn ngang trăm nỗi sầu tủi,  thương đau, nhục nhằn.
d.     Họ cần tìm một lẽ sống, một lý do cho đời sống  hướng đi,  ý nghiã, giá trị, vì bấy lâu phần đông trong họ đã sống mà không biết tại sao sống, sống để làm gì, chết rồi đi đâu, về đâu , nhất là tại sao phải sống để rồi phải chết ? Không ai đã trả lời thoả đáng những vấn nạn ngày đêm dằn vặt, thiêu đốt tâm can này. Vì thế, họ đi tìm Đấng có quyền ban cho họ niềm vui sống, hạnh phúc sống, mặc dù cuộc sống không luôn đẹp như mơ, không luôn hiền như biển lặng.  
e.      Họ cần tìm một Đấng Cứu Độ đích thực, để không chỉ cứu họ khỏi đau ốm, tật nguyền, khỏi khó khăn gia đình, bế tắc kinh tế, trắc trở  tương quan, mà còn chữa lành những căn bệnh thiêng liêng, tinh thần, nội tâm mà chỉ họ và Đấng ấy biết.
     Do đó, khi đến  linh địa, người hành hương không chỉ đến cốt để xin ơn này ơn nọ, khấn vái nhu cầu này nhu cầu kia, rồi khi được ơn, và nhu cầu tọai nguyện thì hí hửng tạ ơn, cúng tiền, nhưng khi phải tay trắng trở về thì lòng buồn rười rượi, khó chịu, bực bội, than trách.
     Có nhiều quan điểm chống lại việc xì xụp khấn vái xin ơn ở những nơi hành hương, vì cho rằng người ta đã quên bổn phận quan trọng nhất của người tín hữu là thờ phượng, ngợi khen và sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa, nghiã là không để việc xin ơn cho mình làm lu mờ việc thờ phượng Chúa và đón nhận thánh giá Chúa trao.
    Thực ra, khi đặt vấn đề này, chúng ta đừng quên đám đông ngày xưa đã kéo đến với Đức Giêsu trước hết vì họ đã được nghe danh tiếng của Ngài qua người này người nọ. Danh tiếng ấy là  Người “đã chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn, tật nguyền trong dân (Mt 4,23), và họ đã đem đến cho Người  mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền : những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt” (Mt 4,24). Và Tin Mừng khẳng định : “Người đã chữa họ” (Mt 4,24).
    Như thế, Đức Giêsu đã vui lòng đón nhận đám đông đến với Ngài với tất cả bệnh hoạn, tật nguyền của thân thể. Bằng chứng là Ngài đã làm phép lạ chữa họ, bởi  Ngài biết và thấy họ đến với Ngài với cây thánh giá sần sùi nặng trĩu trên vai họ và  trên hành trình thánh giá với “thánh giá cuộc đời” đủ loại, đủ cỡ, với sức nặng của đau đớn thân xác, khổ đau tâm hồn, của đói rét, nợ nần, mặc cảm, bị đời đàn áp, vu khống, tẩy chay,  xử tệ, bỏ rơi,  bắt nạt,  ăn hiếp, kết án oan uổng.  Họ đến với Chúa với thánh giá có sẵn trên vai, nặng trĩu trong hồn, chứ không thảnh thơi, ngon lành, vô can như khách du lịch.
       Với đôi mắt của Thiên Chúa đầy lòng xót thương, Đức Giêsu nhìn thấy thánh giá của mỗi người đến với Ngài trên đường hành hương ; Đức Mẹ cảm được sức nặng thánh giá trên vai mỗi người hành hương, vì Mẹ đã từng vác ; các thánh Tử Đạo hiểu được nỗi lo sợ và yếu đuối của phận người bé bỏng, mong manh trong gian truân, thử thách, nên chúng ta không cần phân loại anh chị em đến hành hương thuộc loại nào, đội ngũ nào, khi tự cho mình quyền phân biệt ai đến để chỉ xin ơn và ai  đến để thờ phượng. Thiết tưởng việc đó không thuộc quyền của chúng ta, vì đôi mắt của chúng ta thường thiển cận khi phán xét anh em. Đàng khác, chúng ta cũng phải học với thánh tông đồ Philípphê  tinh thần cởi mở , hồn nhiên, và  trân trọng người khác trong truyền giáo khi trả lời ông Na -tha- na -en : “Cứ đến mà xem !” (Ga 1,46), khi ông này muốn biết Đức Giêsu là ai.   
         2.     Hành Hương đi học :
     Ngay sau đọan Tin Mừng chúng ta vừa chia sẻ , thánh Mátthêu viết  tiếp: “Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dậy họ rằng : “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chuá. Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,1-12).
    Tin Mừng kể rất rõ : Đức Giêsu “mở miệng dậy họ” (Mt 5, 2), nghiã là đám đông không chỉ đến tìm  Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, để được Ngài chữa lành những vết thương trên thân thể và trong tâm hồn, mà còn đến để học với  Ngài, để nghe Ngài chỉ bảo “đường ngay nẻo chính”, hướng dẫn vào cuộc sống hạnh phúc, bình an.
     Đức Giêsu đã dậy đám đông đi theo Ngài con đường hạnh phúc thật, khi đám đông bất hạnh vì đói ăn, thiếu mặc ; vì sầu buồn, khóc lóc ; vì “mất số, mất cửa », có khi mất cả mạng sống do hăng say tranh đấu cho công lý, hoà bình ; vì bị vu khống, mạ lị, tẩy chay, bách hại khi xả thân loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Trước mặt Ngài hôm đó là đám đông gồm những con người đau khổ, và Ngài đã chạnh lòng thương họ. Ngài thương cuộc sống lầm than, lam lũ, vất vả của họ và dậy họ Hiến Chương Nước Trời, khi mở ra cho những con người buồn nhiều hơn vui này hạnh phúc Thiên Chúa dành cho họ.
     Học với Đức Giêsu khi đi hành hương là học khiêm nhường, hiền lành ; học nghèo khó, trong sạch ; học công bình, xót thương ; học hy sinh, hiến mình ; học nhẫn nhịn, chịu đựng; học quả cảm, kiên cường, nhất là học vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, tình huống, bởi mục đích của việc học là để mỗi ngày trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu hơn, nên một  với Thiên Chúa trong mọi sự  như Đức Giêsu đã dậy : “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).
      Vâng,  đời người Kitô hữu là cuộc hành hương dài,  vất vả. Trên đường hành hương này, chúng ta đi tìm gặp Thiên Chúa trong tâm hồn, nơi anh em, giữa lòng Giáo Hội, qua các biến cố, và ở những nơi Ngài chọn để tỏ lòng thương xót của Ngài.
       Và ở bất cứ cây số nào trên đường hành hương, Đức Giêsu đều hiện diện để làm nhẹ gánh nặng cuộc đời  chúng ta như lời Ngài hứa : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi, bồi dưỡng… Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28. 30).
         Bên cạnh Đức Giêsu có Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta. Mẹ sẽ dậy chúng ta điều cần thiết, đó là “Người bảo gì, thì anh em cứ việc làm theo” (Ga 2,5) : làm theo ý Đức Giêsu, như Đức Giêsu chỉ dậy.
          Sau cùng, chúng ta có các Thánh , là Bạn và Chứng Nhân của Đức Giêsu luôn đồng hành để  nâng đỡ, khuyến khích bằng “cầu thay nguyện giúp”, và làm chứng Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ  giầu lòng xót thương đã hiến mạng sống để tất cả nhân loại chúng ta được “sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
      Với tinh thần hành hương đi tìm Chúa và học với Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ không rơi vào tình trạng cuồng tín hoặc mê tín, nhưng sẽ từng bước hành hương với Đức Tin của Hội Thánh, và cùng anh em đến gặp Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót.
Jorathe Nắng Tím

MÊ TÍN

    Những tuần lễ qua, trên mạng xã hội, người ta xôn xao bình luận về chuyện “oan gia trái chủ” ở chùa Ba vàng, Qủang Ninh, và dư luận thuận chiều, nghịch chiều đã không mệt mỏi xoay quanh đề tài mê tín rất nóng và thời sự này.
    Thực ra, mê tín không  được các tôn giáo chính danh công nhận hay tham gia, khuyến khích, ủng hộ bao giờ. Trái lại, mê tín, dị đoan đứng đầu danh sách bị loại bỏ và bị coi là tai họa đối với niềm tin tôn giáo. Hai tôn giáo lớn ở Việt Nam là Phật giáo và Thiên Chúa giáo đều kêu gọi tín đồ, tín hữu của mình xa tránh những tục lệ mê tín như cúng sao giải hạn, xin xăm, bói toán, kiêng kị, gieo qủe, lên đồng, gọi vong …
     Trước hết, “đạo Phật không mê tín, dị đoan, vì giáo lý nhà Phật phủ nhận tất cả thần linh, và ngay cả Thượng Đế ; đồng thời đặt chính con người là trọng tâm, cứu cánh : con người tự giải thoát mình, không dựa vào thần thánh, không cậy vào người khác ‘cầu thay nguyện giúp’, bởi tất cả đều do Nghiệp mình đã tạo. Người khác cùng lắm cũng chỉ phụ được một chút rất nhỏ, không mang tính quyết định”.
    “Chính vì phủ nhận vai trò của thần thánh, nên Phật giáo không tìm đến sức mạnh của thần linh, và nếu không cần đến thần linh, thì tại sao phải tin để rồi có tình trạng dị đoan, mê tín ?”.
   “Những việc làm được coi là mê tín trong Phật giáo chỉ là tập tục đến từ văn hoá Trung Hoa, và vì tôn trọng nền văn hóa, nhà Phật đã làm ngơ…Một thí dụ về tập tục đốt hình nhân khi an táng người chết : Ngày xưa trong xã hội Trung Hoa, khi người chủ chết thì các nàng hầu phải “chết theo” để tiếp tục hầu hạ ông chủ ở bên kia thế giới. Thấy cảnh phải “chết theo” kinh hoàng, thương tâm và phi nhân qúa, các thầy trong Phật Giáo Trung Hoa mới nghĩ ra cách dậy cho các tín đồ thay vì người thật phải chết theo, thì làm những hình nộm bằng giấy, rồi đốt, làm như đã có người chết theo rồi…”
      “Cũng trong ý tưởng về mê tín, Hoà thượng Thích Thanh Từ trong “Một số thái độ sai lầm của phật tử” đăng trong “Phật giáo trong mạch sống dân tộc” ở mục 2 : “Tin Phật như tin thần linh”. đã viết : “Người bình dân đến với đức Phật để cầu ban phước, che chở, ủng hộ hơn là tìm giác ngộ … Quan niệm Phật như vị thần linh chỉ coi việc ban phước, giáng họa; vì vậy, người ta không ngại gặp Phật thì cúng, gặp thần thì lậy, gặp qủy thì cầu xin. Bởi trên cương vị ban phước, giáng họa, họ không phân biệt đâu trọng đâu khinh, miễn vị nào đem lại được những điều cầu nguyện của họ là linh thiêng, bằng không thì hết linh ứng. Hết linh ứng thì họ bỏ không theo nữa, dù Phật cũng thế. Do đó, trong dân gian những cốt Cô, cốt Cậu đã báo cho họ những tai nạn sắp đến và đã cho họ bùa chú để họ dán trong nhà khiến con cháu mạnh giỏi, làm ăn phát đạt. Niềm tin Phật như vậy, họ rất dễ tin mà cũng rất dễ bỏ, nếu một sở nguyện được thành, hoặc không toại nguyện”.
   “Có những người đến với Phật không do hiểu Phật pháp mà nhờ ông Đồng, bà Cốt mách phải quy y Phật sẽ khỏi tai nạn chẳng hạn, họ liền lên chùa xin quy y. Hoặc có người do xin xăm hay bói qủe, trong xăm qủe dậy theo Phật hay thờ Phật thì mọi sự được an lành…, họ liền phát nguyện quy y Phật. Hoặc vị trụ trì có học bùa chú trừ ma, yếm qủy, ngừơi có con bệnh đến nhờ thầy trị chữa, nếu con lành bệnh liền xin quy y Phật” (trích Jorathe Nắng Tím, Phật Giáo và Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.46-47).
      Một bài viết đăng trên tạp chí “Thằng Mõ”, số tháng Giêng 2019, tại Mỹ của thầy Thiện Ý, khi bàn về hủ tục cúng sao dịp đầu xuân. Tác giả đã nêu lên tục “cúng sao giải hạn” là một trong rất nhiều hủ tục mê tín, đồng thời xác quyết giáo lý Nhân Qủa của Phật giáo không dính dáng gì đến chuyện mê tín, dị đoan:
      “Rõ ràng tục cúng sao hạn không phát xuất từ đạo Phật… Quan niệm này là trên trời có 24 ngôi sao do 24 vị thần chủ có ảnh hưởng  đến số phận con người, trong đó 9 ngôi sao sáng sẽ luân phiên chiếu mệnh mỗi năm. Đó là các sao La hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức. Chín vì sao này hay còn gọi là Cửu Diệu là các sao phối trí theo các phương, sắp xếp theo 12 chi và ngũ hành. Trong chín ngôi sao này, có sao tốt, có sao xấu. Nhưng phần nhiều, không ai nghe nói nhiều đến sao tốt mang đến điềm lành gì cả, mà chỉ nghe những tiêu cực, đáng sợ của những ngôi sao xấu. Đầu năm mới, ai bị sao xấu chiếu mệnh, người này sẽ gặp phải chuyện không may, tai nạn, ốm đau, bệnh tật …”
       “Những hủ tục, dị đoan khiến mình thêm âu lo vì năm mới đến thay vì bồng ông Phúc vào nhà thì mình lại hoảng sợ vì bị sao xấu chiếu mệnh. Sáng mồng một mình đã vội vã đi chùa, đi miếu dâng sớ cúng sao vì sợ nếu không làm kịp, các hung tinh sẽ giáng họa lên gia đình, hay chính bản thân. Nỗi sợ hãi đã khiến cho nhiều gia đình không đón xuân một cách trọn vẹn vì lòng luôn nơm nớp lo sợ”.
       “Là người con Phật, chúng ta phải triệt để không tin theo những hủ tục, mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh. Vì luật nhân qủa, nghiệp báo và phứơc báo đều do chính mình gây tạo và cũng do chính mình thụ hưởng. Phật dậy rằng : Không một vị trời thần nào có quyền năng thưởng phạt, hay làm giảm thiểu những tội phước mình đã tạo ra. Thay vào tiền tài, vật thực dâng cúng cho các hung tinh, mình có thể làm phước, bố thí cho những kẻ bất hạnh, nghèo cùng rồi hồi hướng công đức lành này cầu cho gia đình được hưởng một mùa xuân an lành, hạnh phúc… Cầu bình an đầu năm không có nghiã là đi cúng sao hạn để được tai qua nạn khỏi, mà là gia đình nhắc nhau nhân đầu xuân mới lễ Phật, tụng kinh tự mình làm mới, tạo thêm phước lành, tránh làm điều xấu ác, tu thân tích đức để nhờ công đức này, gia đình đuợc an vui, hạnh phúc suốt năm. Đó mới đúng theo luật nhân qủa : Tạo nhân lành sẽ hưởng qủa lành là vậy !”.
        Bên cạnh Phật giáo là Thiên Chúa giáo với giáo lý cấm mê tín dị đoan được ghi rõ trong sách Giáo Lý Công Giáo như sau :
“Mê tín là lệch lạc trong tâm tình tôn giáo và trong cách thể hiện tâm tình này. Mê tín cũng có thể xẩy ra khi chúng ta thờ phượng Thiên Chúa chân thật, ví dụ như gán một ý nghiã ma thuật cho một số thực hành vốn chính đáng hay cần thiết. Nếu cho rằng chỉ cần đọc các lời kinh hay làm các dấu chỉ bí tích là có hiệu qủa, bất chấp những tâm tình phải có bên trong, người ta rơi vào mê tín (x. Mt 23,16 – 22)” (Khoản 2111, Sách Giáo Lý Công Giáo).
    “Thiên Chúa có thể cho các ngôn sứ hay các thánh nhân biết về tương lai. Tuy vậy, thái độ đúng đắn của Kitô hữu là phó thác hoàn toàn trong tay Chúa Quan Phòng những gì thuộc về tương lai và từ bỏ mọi thứ tò mò thiếu lành mạnh trong lãnh vực này. Thế nhưng, ai không tiên liệu là người thiếu trách nhiệm” (khoản 2115  SGLCG).
     “Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán : cậy nhờ Xatan hay ma qủi, gọi hồn người chết hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương lai (x. Đnl 18, 10 ; Gr 29,8). Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán qúa khứ vị lại, đồng bóng là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Điều này nghịch với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa” (Khoản 2116 SGLCG).
   “Ai muốn dùng ma thuật hay phù thủy để chế ngự các thế lực huyền bí, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác dù là để chữa bệnh, cũng lỗi nặng nhân đức thờ phượng. Các việc này càng đáng lên án hơn nữa khi có dụng ý hại người, hay nhờ đến sự can thiệp của ma qủi. Mang bùa cũng là điều đáng trách. Chiêu hồn thường đi kèm cả bói toán hay ma thuật. Hội Thánh cảnh giác các tín hữu phải xa lánh các điều ấy. Khi dùng các phương thuốc gia truyền không được kêu cầu các thế lực ma qủi cũng như lợi dụng sự nhẹ dạ của người khác” (Khoản 2117 SGLCG).
       Như thế, chúng ta không còn lý do nghi ngờ hay chụp mũ các tôn giáo là mê tín, hoặc chủ trương, dung dưỡng các hoạt động mê tín, dị đoan, nhưng loại trừ hẳn não trạng : tôn giáo làm mê muội tín đồ bằng các thủ đọan mê tín, dị đoan, buôn thần bán thánh.
      Để nắm vững vấn đề, thiết tưởng chúng ta cần phân biệt rõ hơn giữa niềm tin và mê tín :     
1.    Niềm tin tôn giáo đòi hiểu biết, trong khi mê tín là kết qủa của mê muội :
     Bất cứ niềm tin nào cũng đòi hiểu biết, nghiã là trong niềm tin, lý trí làm công việc tìm lý do khả tín của mình để niềm tin có một nền tảng “đáng tin”.
     Người tín hữu theo một tôn giáo là dấn thân tin một Đấng được tôn giáo ấy giới thiệu, loan truyền, làm chứng, nên không ai có thể tin nếu không biết về Đấng mình tin, và chỉ tin khi lý trí người tín hữu chấp nhận những điều nghe kể về Đấng ấy là đáng tin, những chứng cứ về Đấng ấy là khả tín, nghiã là không phi lý, hay ngược lại suy tư, luận lý tự nhiên, bình thường.
    Mê tín thì ngược lại, khi người ta không biết gì, hoặc biết rất ít, rất mơ hồ về người và điều mình tin, nhất là những điều này không có  nền tảng để có thể tin đươc, vì phi lý và tự thân mâu thuẫn.
     Thầy Thiện Ý trưng dẫn cái phi lý của chuyện cúng sao giải hạn như sau : “Hủ tục mê tín dị đoan đẵ làm tốn phí không biết bao nhiêu tiền của và những lo sợ vô lý, viển vông. Xin hỏi hiện dân số toàn thế giới là khoảng trên bảy tỉ (theo thống kê ngày 12 tháng 3 năm 2012 của văn phòng thống kê Hoa Kỳ - USCB), chia đều ra theo chín ngôi sao chiếu mệnh, thì kết qủa có khoảng 777 triệu người trên thế giới có cùng một ngôi sao chiếu mệnh trong một năm ! Nếu chỉ tính dân số nước Việt Nam là 88 triệu, thì có khoảng 9 triệu 700 ngàn người Việt trong nước có cùng một sao chiếu mệnh ! !!   Nhưng thử nhìn con số trên đây, chúng ta có thể tưởng tượng được rằng có chừng ấy người (777 triệu) sẽ phải chịu tai họa giống như mình trong một năm ; và năm sau cũng chừng ấy người chịu tai họa cho năm kế tiếp vì sinh nhằm sao xấu !”. Thưc là điều phi lý không thể hiểu nổi.
2.    Niềm tin tôn giáo đòi yêu mến, tin tưởng, khác với mê tín mang nặng lo âu, sợ hãi :
   Đức Tin luôn mang lại niềm vui, vì khi tin, ngừơi tín hữu hay tín đồ hạnh phúc vì biết mình được yêu bởi Đấng mình đã tin và yêu mến. Không ai có thể tin người mình không yêu mến, cũng như không ai có thể yêu mến người mình không tin. Tin và yêu sánh đôi với nhau, nên có tin là có yêu, có yêu mới tin được, và người tin luôn là người hạnh phúc vì yêu và được yêu.
     Niềm tin tôn giáo là gắn bó thiết thân giữa cá nhân mỗi người với Đấng siêu nhiên. Gắn bó thiết thân ấy chính là tình yêu và lòng tin tưởng, nên niềm tin không bao giờ sợ hãi, khác với mê tín đầy ắp lo âu, sợ sệt, vì chỉ có đe dọa, và vắng bóng tín nhiệm, yêu thương.
     Nhưng tại sao có sự khác biệt này giữa người có đức tin và người mê tín ?
   Thưa vì người có đức tin tin vào Đấng thương mình, tin ở Đấng có quyền năng nhưng nhân hậu luôn cứu giúp mình, trong khi người mê tín tin vì sợ hãi một sức mạnh không tên, một thế lực vô danh, một khuôn mặt bí ẩn luôn soi bói, rình rập, một bàn tay uy lực, nhưng  tàn ác, nên tin của mê tín là tin vì bị đe dọa, tin vì sợ tai hoạ, tin để tránh bị trừng  phạt, báo oán, chứ không tin vì yêu, tin vì hy vọng, tin vì ký thác vào tình thương, và lòng nhân hậu của Đấng quyền năng, nhưng tốt lành, nhân ái, như tín hữu Kitô giáo tin Đức Giêsu là Thiên Chúa giầu lòng thương xót, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung, và tín đồ Phật giáo tin ở Đức Thích Ca Mâu Ni là người đắc đạo và đầy lòng từ bi, hỉ xả, thương yêu, giúp đỡ.
3.    Niềm tin tôn giáo không mua bán, trao đổi bằng vật chất như mê tín :
      Nói đến niềm tin, đức tin, tôn giáo nào cũng trân trọng như giá trị tuyệt đối linh thiêng, nên không thể dùng vật chất để trao đổi, mua bán niềm tin, đức tin. Người tín hữu, tín đồ tin yêu Đấng giáo chủ của mình với tâm hồn trong sáng, với trái tim tinh ròng nồng nàn, và sự gắn bó giữa tín đồ, tín hữu với Đấng thiêng liêng là một tương quan nội tâm, thánh thiện.
     Vì thế, khi có hoạt động “buôn thần bán thánh”, tức trao đổi bằng vật chất như tiền bạc, của cải giữa thần thánh và con người thì đức tin không còn, và niềm tin biến thành mê tín, bởi ơn lành, phúc trọng nhận được từ Đấng thiêng liêng là ơn được ban “nhưng không”, nghiã là ban vô điều kiện, khi con người cầu xin Đấng mình tin yêu với lòng thành. 
     Khác với mê tín, ở đó, người mê tín đi mua sự may mắn, trao đổi với Sức Mạnh huyền bí bằng tiền bạc, của cải để thoát khỏi tai họa, nguy hiểm nào đó, và đạt được điều mong ước. Vì thế, bất cứ hành vi mê tín nào cũng nại đến vật chất, cũng đòi phải trả tiền, trả công, trả ơn quyền lực huyền bí qua người trung gian. Đó là lý do người ta lợi dụng nhiều người nhẹ dạ, cả tin để lừa tiền, gạt của, khi tự cho mình là người biết được ý Trời, nghe được tiếng của thần thánh, khi có người đến hỏi về tương lai, vận mệnh, hoặc xin ơn này, ơn nọ.
4.    Niềm tin là chọn lựa tự do của người trưởng thành, không nhẹ da, cả tin như mê tín :
     Đức tin là sự sống của người tín hữu và đức tin ấy, niềm tin tôn giáo ấy đi với người tín hữu, tín đồ suốt hành trình cuộc đời của họ. Vì thế, đức tin lớn lên với thăng trầm của cuộc sống, với niềm vui, nỗi buồn từng ngày, với gian khó, thử thách của hoàn cảnh, và tương quan ở mọi chiều kích.
      Vì thế, sẽ không có đức tin nhẹ tênh, dễ dãi, nhưng đức tin nào cũng trầy trụa trải nghiệm vất vả, hy sinh ; niềm tin nào cũng rướm máu vì vượt qua nhiều chướng ngại thách đố, nên người tin sẽ là người trưởng thành, vì tự nguyện chọn lựa, tự ý dấn thân, tự do lên đường, và không hề bị ai dụ dỗ, áp lực. Đây chính là sự khác biệt giữa người tín hữu, tín đồ và người mê tín. Người có đức tin là người trrưởng thành khi đóng chặt niềm tin của mình vào Đấng là Sự Thật, và là Đường, trong khi người mê tín không biết ai thật, giả, điều gì đáng tin hay không đáng tin, nhưng cả tin, nhẹ dạ, để mình bị rủ rê, mua chuộc, tán tỉnh đi vào đường mê tín.
5.    Niềm tin mang tính hiệp thông, khác với mê tín là hành vi cá nhân và biệt lập :
   Đức Tin của tôn giáo chính danh nào, ngoài tính cá nhân, cũng mang tính cộng đoàn hiệp thông, nghiã là cùng tin với những người tin khác, cùng chia sẻ niềm tin với cộng đồng, “đồng lao cộng khổ” vì lợi ích chung, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của mọi người, và tương thân tương trợ trên hành trình đức tin.
     Khác với mê tín luôn là hành vi cá nhân, biệt lập, không dính dáng, quan tâm đến người khác, không can dự đến cộng đồng xã hội, vì chỉ nhắm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân, tìm giải quyết nhu cầu riêng tư, nên mê tín luôn mang tính ích kỷ, đóng khung, khép kín, hạn hẹp, biệt lập, nhất là không minh bạch và không thể chia sẻ, hiệp thông.  
6.    Niềm tin làm con người hạnh phúc vì được yêu và bình an ; mê tín làm con người bất hạnh vì bị đe dọa và sợ hãi :
     Muốn biết một người có đức tin đích thực, có niềm tin chân chính, chúng ta chỉ cần nhìn xem họ có hạnh phúc, bình an hay không ? Người có đức tin không thể là người buồn sầu, thất vọng, chán đời, không muốn sống, vì đức tin là nguồn vui, ơn bình an, là lẽ sống cho đời người hạnh phúc. Người tín hữu Thiên Chúa giáo tìm đến Thiên Chúa là niềm vui của họ, vì Thiên Chúa yêu thương và cứu độ họ, vì Thiên Chúa nhân hậu và bao dung tha thứ cho họ mọi lỗi lầm, vì Thiên Chúa là gia nghiệp, phần thưởng, thirên đàng của họ ; cũng như người con Phật tìm đến cửa Phật để được thư thái, bình an.
     Khác hẳn niềm tin đem lại bình an nội tâm, và niềm vui sống với mọi người, với cuộc đời, mê tín chỉ đem lại bất hạnh, vì triền miên bị những đe dọa của tai ương đeo bám, bị thần thánh đe loi trừng phạt, bị vong hồn từ bao đời oan nghiệt đòi nợ, trả thù, báo oán. Người mê tín không khác người nghiện xì ke, ma túy, khi hoàn toàn lệ thuộc vào những “phán quyết tào lao, đồng bóng” của người tự nhận là sứ giả, phát ngôn của thần thánh. Họ mất hẳn tự tin, vì không còn bản lãnh và tinh thần độc lập, tự quyết ; họ tha hoá tận cùng khi không còn ý chí quyết định và họ bất hạnh hơn tất cả những người bất hạnh khác, vì phải sống trong đe dọa, sợ hãi, lo âu. Những lo sợ này do người trung gian giữa “thần thánh” và họ tạo ra để giữ họ làm con ti ; những đe dọa làm hoang mang, hỏang lọan, mất tinh thần là khí giới “thần sầu qủy khốc” và độc chiêu được những tay lừa đảo, “buôn thần bán thánh” sử dụng để làm tiền. Và những người trót rơi vào vực thẳm mê tín đã vô phúc trở thành nạn nhân đáng thương của những chiêu trò bịp bợm tinh vi và phi nhân luôn tìm đánh vào những người có tâm lý non nớt, bất ổn.
     Tóm lại, đức tin hay niềm tin tôn giáo luôn mang tính tự do, hiểu biết, bền bỉ, trưởng thành, hy sinh, minh bạch, khai phóng, vô vị lợi, không ích kỷ, không loại trừ, bình an và hạnh phúc. Trái lại, mê tín bị bao vây bởi mê muội, áp lực, khống chế, giai đọan, nhất thời, cá nhân, ích kỷ, khép kín, lọai trừ, giấu diếm, không minh bạch, dùng vật chất để mặc cả, đổi chác, bị đe dọa, sợ hãi, lệ thuộc, không bình an, và bất hạnh. 
      Cám ơn Bạn đã đón nhận những chia sẻ. Người viết hy vọng đã đóng góp chút ánh sáng để làm sáng tỏ niềm tin và cảnh giác tình trạng mê tín ngày càng lan rộng, khi điều kiện sống ngày càng khó khăn, xã hội ngày càng nhiều vấn đề, bởi mê tín có nhiều cơ hội tung hoành, quậy phá khi con người hoang mang, lo sợ, mất phương hướng, mất niềm tin trước những thử thách tưởng không thể vượt qua.
       Ước mong niềm tin và niềm vui luôn đồng hành với Bạn, và mê tín không bao giờ “có cửa” bước chân vào nhà Bạn.
Jorathe Nắng Tím
  

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2019

ĐỨC TIN HẠT CẢI

Vì thân phận chỉ là hạt bụi, nên đức tin của con người cũng chỉ mong được lớn như hạt cải, hạt cải Đức tin mà Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ tiềm năng, và sức mạnh trong tin mừng Luca 17, 6 và Mátthêu 17,20.
Thực vậy, khi thấy nhiều người được chữa lành vì tin, đồng thời nhiều người trong nhóm được sai đi đã làm được những việc lạ lùng, các môn đệ đã nhận ra sự cần thiết của Đức Tin, nên đã nài xin Đức Giêsu : “Lạy Thầy, xin thêm Đức tin cho chúng con” (Lc 17, 5).
Lời cầu xin phát xuất từ nhu cầu tâm linh của con người, nhưng cùng lúc cũng là nhu cầu của đời sống, vì tâm linh tuy là một phần nhưng ảnh hưởng toàn phần con người. Niềm tin cũng vì thế chi phối tất cả sinh hoạt bởi có thời nào, nơi nào, người nào lại không cần niềm tin để sống trước đòi hỏi tin mình, tin Trời, tin nhau.
Hôm đó, chắc các môn đệ Đức Giêsu nghĩ Thầy mình sẽ “thêm” cho mình một Đức tin lớn lắm, ít ra cũng phải lớn như khối đá cổng đền thờ, hoặc kiên cố, kiêu hùng như hàng cột khổng lồ sừng sững của gian Cực Thánh. Nhưng thật bất ngờ, các ông đã chỉ nghe được từ miệng Thầy mình : “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em bảo cây dâu này : ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc 17, 6). Chỗ khác Ngài quảng diễn; “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia !” “Nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17,20).
Chỉ bằng hạt cải thôi chắc đã không là điều các môn đệ Đức Giêsu mong đợi, vì tự phụ nghĩ rằng Đức tin của mình hiện đã lớn hơn gấp nhiều lần hạt cải Thầy vừa nói, vì được ở gần Thầy, chia sẻ tất cả với Thầy từ gần ba năm nay. Các vị nhân danh “thâm niên tông đồ” mà nghĩ Đức tin của mình không thể nhỏ như hạt cải Thầy vừa nói.
Chỉ bằng hạt cải thôi chắc cũng không là điều đáng tin vì chính các vị cũng đã làm phép lạ. Làm phép lạ chữa được cả người bệnh nan y, đuổi quỷ ra khỏi người bị chúng ám mà Đức tin chỉ bằng hạt cải thôi, thì làm sao tin được, vì để làm được phép lạ, hẳn Đức Tin phải lớn lao, vĩ đại hơn nhiều .
Chỉ bằng hạt cải thôi với người đã đi theo Đức Giêsu ngay từ những ngày đầu truyền giáo của Ngài mà bảo Đức tin chỉ bằng hạt cải thì quả thực không gì xúc phạm “uy tín và sự nghiệp tông đồ hơn”.
Chỉ bằng hạt cải thôi với các tông đồ, những người đã bỏ gia đình, bỏ nghề nghiệp, bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu (Mt 4, 18 -22), thì khó có thể hiểu được, vì vô lý và rất bất công.
Chỉ bằng hạt cải thôi với người môn đệ Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng : “Lạy Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai, vì Thầy có lời ban sự sống đời đời” ( Ga 6, 68), rồi cũng môn đệ này còn quả cảm, liều lĩnh hơn khi tuyên bố : “Dù có phải chết với Thầy, con đây cũng không chối Thầy”, thì ai cũng phải nghĩ Đức tin của ông còn như hạt cải là chuyện tiếu lâm, khôi hài.
Ấy thế mà Đức Giêsu lại chỉ mong Đức tin của các tông đồ, các môn đệ, là những đấng bậc vị vọng, rường cột, nền tảng của Hội Thánh lớn bằng hạt cải thôi. Nghe thật buồn và hỏi ai không giật mình?
Quả thực, khi chỉ mong Đức tin của các tông đồ và môn đệ lớn như hạt cải, Đức Giêsu đã muốn nói với các vị và chúng ta :
1.    Đức tin là hành trình gặp gỡ Thiên Chúa và con người. Trên hành trình này, những bước chân của con người đến với Thiên Chúa bé nhỏ lắm so với những bước chân khổng lồ, vạn dặm, vạn năng của Thiên Chúa đi tìm con người. Vì thế, Đức tin không là công sức, công trình, công trạng, công đức của con người, vì con người chỉ là hạt bụi bất xứng, nhưng là ơn huệ “nhưng không” do Thiên Chúa ban tặng con người, vì yêu thương.
2.    Đức tin không là một vật thể, một giá trị vô sinh, vô cảm, nhưng là sự sống luôn sinh động, là đời sống với tất cả chiều kích. Chính Đức tin làm cho đời sống mang một lẽ sống, có một ý nghĩa sống, nhất là tìm được cho đời sống một hướng đi và mục đích. Như thế, Đức tin sẽ phải trở nên sức sống của Đức Giêsu đối với người có Đức tin như thánh Phaolô đã quả quyết : “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
3.    Vì Đức tin là sự sống, nên trồi sụt, thăng trầm, thay đổi như sinh hoạt đời sống, để có lúc ngọt ngào, sốt sắng, có lúc cay đắng, chán chường; có sớm mai nắng ấm, nồng nàn, phấn khởi, nhưng cũng có chiều buồn u ám, tang chế, tủi sầu. Do đó, Đức tin cần được ơn Chúa nuôi dưỡng , chăm nom , gìn giữ, nâng đỡ giữa vô số thử thách, cạm bẫy, nếu không Đức Tin của chúng ta có thể sẽ chao đảo, chênh vênh, yếu ớt, sụp đổ, tàn lụi, bởi ma quỷ sàng chúng ta như sàng gạo (x. Lc 22,31), nhất là khi chúng ta kiêu căng tưởng mình mạnh, nhưng thực ra chính là lúc chúng ta yếu, vì chỉ trong Đức Giêsu, Đấng là sức mạnh của những ai yếu đuối, Đức Tin của ta mới đứng vững được ( x. 2Cr 12,10).
4.      Nhưng quan trọng hơn cả, đó là Đức tin hạt cải thích hợp với mảnh đất tâm hồn, đặc biệt những tâm hồn bé nhỏ luôn được Thiên Chúa yêu thương và chúc phúc.
5.   Vì bé nhỏ, họ chỉ dám xin Chúa Đức tin bé như hạt cải bởi biết mình chỉ là giọt nước trong đại dương mênh mông, bao la vô tận của Thiên Chúa. Biết mình phận hèn sức mọn, họ chỉ dám trong cậy vào Lời Thiên Chúa nói với họ : “Đừng sợ !”, “Ơn Ta đủ cho con” ( 2Cr 12,9).
6.                   Vì yếu đuối, những tâm hồn bé nhỏ biết mình hay đổi thay, không bền chí, trung thành, nên chỉ dám xin Chúa Đức tin như hạt cải, mà không dám kiêu căng, tham vọng sở hữu Đức tin to đùng như Thái Sơn, hay bao la như biển rộng.
7.     Vâng, chính Đức Giêsu mong ước Đức tin của chúng ta lớn được như hạt cải, để chúng ta không kiêu hãnh nhận là do mình, tự mình khi hạt cải bé nhỏ mọc thành cây có cành lá xum xuê, và chim trời từng đàn rủ nhau đến đậu .
8.      Chính Đức Giêsu dậy chúng ta chân nhận thân phận hạt bụi của mình, cùng lúc với niềm xác tín hạt cải Đức Tin, bởi điều kiện thứ nhất và quan trọng nhất để được Chúa yêu thương và ban ơn Đức tin chính là khiêm tốn nhận mình là thụ tạo và ký thác, trông cậy ở Chúa như con thơ chỉ biết bám chặt vào tình thương của cha mình.
9.    Với Đức Tin hạt cải, thửa ruộng tâm hồn của người nhỏ bé nào cũng nẩy được mầm hạt giống Đức Tin, và nặng trĩu hoa trái tuyệt vời của Đức Tin.
10.  Và với hạt cải Đức Tin trong thân phận hạt bụi mong manh, lại đầy mâu thuẫn : “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm” (Rm 7, 19). chúng ta trở về với Chúa, tìm lại ơn gọi thuộc về Chúa của mình, và như các thánh tông đồ hằng ngày khiêm tốn nài xin : “Lạy Thầy, xin thêm Đức Tin cho chúng con”.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

YÊU MẾN GIÁO HỘI

      Vào những ngày này, sau những can thiệp mạnh tay của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đối với một vài vị thuộc hàng giáo phẩm từng giữ những chức vụ trọng yếu trong Giáo Hội, vì lạm dụng tình dục, truyền thông thế giới xôn xao đưa tin, bình luận.  Dư luận công giáo cũng như ngoài công giáo khắp nơi đều nhập cuộc và chia sẻ quan điểm, thái độ, chọn lựa của mình.
     Phần đông người ngoài công giáo thì ngỡ ngàng, không ý kiến vì tôn trọng, trừ một số phỉ báng, chống đối công giáo kinh niên, chuyên nghiệp thì hả hê, chớp cơ hội, và dịp may hiếm có để tăng cường mức độ khích bác, bôi nhọ. Trước làn sóng tấn công và hoàn cảnh bất lợi của Giáo Hội, người viết xin chia sẻ tâm tình của một người công giáo trước tình huống và cám dỗ có thể làm thất vọng, hoang mang, chao đảo tâm hồn những người con trong gia đình Giáo Hội.
    Qủa thực, không người công giáo nào đã không đau lòng khi những xì-căng-đan ấu dâm liên tục nổ tung kinh hoàng và ngày càng được triệt để khai thác bởi những người chống phá Giáo Hội, qua các phương tiện truyền thông mà không phải tất cả đều lương thiện, công bằng, và tôn trọng sự thật.
   Trước những yếu đuối của một số người được coi là cốt cán trong Giáo Hội, không ít người công giáo đã rơi vào tình trạng chao đảo, hụt hẫng, hoang mang. Hoang mang vì không biết Hội Thánh có còn là Hội Thánh của Đức Giêsu hay đã biến hóa thành tổ chức thuần trần thế trong tay thế lực trần gian nào rồi ; hụt hẫng vì không ngờ tội ác nặng nề như ấu dâm lại có thể xẩy ra trong lòng Giáo Hội và người vi phạm lại thuộc thành phần con cái ưu tú của Giáo Hội ; chao đảo vì những ý nghĩ tiêu cực và cám dỗ xa lánh, ngay cả từ bỏ Giáo Hội theo sóng dữ nổi lên.
  Thực vậy, không ai có thể chối cãi sức công phá của những trận cuồng phong, mà đại nạn ấu dâm là tiêu biểu, khi làm nhiều người công giáo mất tinh thần, và đặt lại vấn đề là người công giáo của mình.
  Thuộc gia đình Giáo Hội, tôi muốn đuợc cùng anh em tôi suy nghĩ để giúp nhau ra khỏi hoang mang, hụt hẫng, chao đảo để niềm tin không vì thế mà sút giảm hay mất đi, nhưng được củng cố vững chắc hơn, nhờ khiêm tốn và qủa cảm trung thành với ơn Chúa nhận được qua Giáo Hội. 
  Trước hết, một cách lương thiện, chúng tôi phải nhìn nhận rằng những phong ba bão táp bất ngờ đổ xuống trên Giáo Hội thường không là nguyên nhân trực tiếp, nhưng là lý do “cơ hội” được dựa vào để biện minh cho lựa chọn xa lánh và từ bỏ Giáo Hội đã được chuẩn bị từ lâu nơi một số anh em chúng tôi.
   Những anh em này có thể thuộc đám người đi đạo hai hàng, nghiã là vừa theo vừa không theo, nên sẵn sàng bỏ lề phải qua lề trái bất cứ lúc nào nếu có lợi ; có thể là người công giáo thời cuộc, cuốn theo chiều gió, nên chẳng bận tâm đến chuyện học hỏi, giữ đạo, sống đạo ; có thể là người của đám đông có đạo theo nếp nhà, và truyền thống ông bà, mà không quan tâm đến đức tin, tức chọn lựa riêng của chính mình ; có thể là nạn nhân của những lạm dụng đủ loại gây ra bởi những người có trách nhiệm trong giáo xứ, giáo phận, nên phẫn nộ và giữ mãi mối căm thù ; có thể là ngừơi mang nhiều tham vọng và ảo tưởng, nên khi không được trọng dụng trong cơ chế, tổ chức Giáo Hội đã âm ỉ từ lâu nuôi mối tị hiềm ; có thể đã hiểu lầm hoặc bị hiểu lầm trong khi phục vụ cộng đoàn.
  Nhưng  dù ở phạm trù nào, đội ngũ nào, cách thế nào vừa kể, thì mẫu số chung của tất cả  anh em chúng tôi vẫn là sự hiểu biết chưa vững chắc về căn tính và sứ mệnh của Giáo Hội.
  Vì thế, chúng tôi được mời gọi trở về với Đức Giêsu để biết Ngài đã yêu Giáo Hội như thế nào, và muốn chúng tôi phải làm gì trong Giáo Hội, cho Giáo Hội, và với Giáo Hội của Ngài.
   Trước cám dỗ nghi ngờ, tẩy chay, xa lánh, từ bỏ Giáo Hội, là cám dỗ thời thượng đang ăn khách với khẩu hiệu và chiêu bài : “Tin Chúa nhưng không tin Giáo Hội, theo Chúa nhưng khước từ Giáo Hội”, thánh Tông Đồ dân ngoại đã qủa quyết với chúng tôi :

a.   Giáo Hội là Thân Thể duy nhất, mà Đức Giêsu là Đầu :
    “Ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,12-13).
       Với thánh Tông Đồ, chúng tôi xác tín Giáo Hội là đoàn thể gồm những con người với tất cả thiếu sót, giới hạn của con người, nhưng đoàn thể ấy đi theo Đức Giêsu, và thuộc về gia đình của Thiên Chúa, vì có Thiên Chúa là Cha và là Đấng Cứu Độ.
b.   Trong Thân Thể mầu nhiệm, mọi chi thể gắn bó hiệp nhất, và tương trợ với nhau :
   “Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn… Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận đều đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. Vậy anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (1 Cr 12, 18.25-26).
     Vì thế, chúng tôi cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, thành công, thất bại, vinh quang, ô nhục, và trong hoàn cảnh hiện tại, trước yếu đuối, vấp ngã, tội lụy của người anh em, chúng tôi đau nỗi đau chung của cả Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, và cùng đấm ngực ăn năn, nài xin ơn tha thứ.
c.    Đức Giêsu yêu mến và hiến mình cho Giáo Hội của Ngài :
  Thánh Phaolô đã trình bầy tình yêu của Đức Giêsu đối với Giáo Hội như tình yêu của vợ chồng dâng hiến cho nhau :
  “Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5,21-25).
     Như thế, không có tách biệt, phân ly, chia cách giữa Đức Giêsu và Giáo Hội, nên không thể có Đức Giêsu mà không có Giáo Hội, yêu Đức Giêsu mà ghét Giáo Hội, đi theo, phụng sự Đức Giêsu mà từ bỏ, chống phá Giáo Hội, vì Đức Giêsu yêu Giáo Hội và nên một với Giáo Hội.
d.   Đức Giêsu yêu Giáo Hội và thánh hoá Giáo Hội :
    Giáo Hội gồm những con người bất toàn cần được cứu độ, và chính Đức Giêsu “thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trứơc mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,26-27).
      Vì thế, chúng tôi tin Giáo Hội được Đức Giêsu biến đổi mỗi ngày để nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài. Và với niềm hy vọng được cứu độ, chúng tôi nhận biết thân phận bất toàn của mình và tuyệt đối trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ và là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội mà chúng tôi là chi thể.
e.    Đức Giêsu trao quyền cho Giáo Hội :
·                 Ngài trao quyền cai quản Giáo Hội của Ngài cho các Tông Đồ :
Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô : “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giêsu nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy”. Người lại hỏi : “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không ?”. Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”… Và Người hỏi ông lần thứ ba : “Anh có yêu mến Thầy không ?”. Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy” Đức Giêsu bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,15-17).
      Vì thế, chúng tôi xác tín Đức Giêsu đã trao quyền cai qủan Hội Thánh của Ngài cho các Tông Đồ, đứng đầu là Phêrô, và chúng tôi vâng phục các Đấng Bậc trong Hội Thánh, vì các ngài nhận sứ vụ cai quản Giáo Hội trực tiếp từ chính Đức Giêsu. 
·                 Ngài trao quyền giáo huấn và thánh hoá muôn dân cho Giáo Hội :
   Sau khi sống lại và hiện ra với nhóm Mười Một tại Galilê, Đức Giêsu “đến gần các ông và nói với các ông” : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 16-20).  
      Là người công giáo, chúng tôi tin các Tông Đồ được trao sứ mệnh gìn giữ kho tàng Đức Tin, giáo huấn của Đức Giêsu, và dậy cho muôn dân lệnh truyền của Ngài. Đồng thời bảo đảm nguồn ơn thánh qua các bí tích để thánh hoá muôn dân.
f.    Đức Giêsu sai Giáo Hội đến với muôn dân và bảo đảm sự có mặt của Ngài với Giáo Hội ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh :
    Người nói với nhóm Mười Một : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
     Như thế, chúng tôi có chứng cứ để tin rằng Đức Giêsu và Giáo Hội là Một, vì chỉ có một Thân Thể mầu nhiệm mà Đức Giêsu là Đầu và mọi người trong Giáo Hội là chi thể, nên khi tách rời Đức Giêsu khỏi Giáo Hội, vì chỉ cần Đức Giêsu mà không cần Giáo Hội, chúng tôi sẽ chẳng có ai, vì Đầu đã bị chặt bỏ khỏi Thân, nên chỉ còn thây ma, sự chết.
    Chúng tôi cũng xác tín Giáo Hội được Đức Giêsu ký thác kho tàng Đức Tin tinh tuyền và trao phó sứ mệnh loan báo Tin Mừng : “Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, đã chết và sống lại. Ngài là Cứu Chúa duy nhất của loài người” và luôn đồng hành với Giáo Hội trên đường truyền giáo, dù đường có chông gai, nguy hiểm, nhiều cạm bẫy, và người môn đệ không ngừng bị ganh ghét, vu khống, truy lùng, bởi chính Ngài đã căn dặn các Tông Đồ trước khi lên đường chịu tử nạn : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19).
    Tuy biết thế, nhưng không phải chúng tôi không sợ, vì chúng tôi biết mình luôn yếu đuối, mỏng dòn : sợ mình có thể bỏ Thầy như các tông đồ, chối Thầy như tông đồ trưởng Phêrô, bán đứng Thầy như tông đồ Giuđa, a dua theo đám đông cùng thế quyền, thần quyền Do Thái đả đảo, đòi “đóng đinh Giêsu vào thập giá”. Chúng tôi cũng sợ khi giông bão ập tới, khi các thế lực tấn công, khi người đời cười chê, khi quan toà lên án sẽ đóng chặt cửa nhà như “nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì các ông sợ người Do Thái” (Ga 20,19), sau khi Thầy mình bị đóng đinh, chết trên thập tự.
     Nhưng với niềm tin vào Đức Giêsu phục sinh, Đấng đã chết để hủy diệt sự chết, Đấng đã xót thương để giải giới hận thù, Đấng đã hiến mình chuộc tội mọi người để chiến thắng ma qủy, hoả ngục, chúng tôi bước đi với ơn Bình An của Đấng đã hiện ra với các môn đệ sau khi sống lại và nói : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,21-22).
     “Và trong Chúa Thánh Thần, chúng tôi sẽ nhận được “hoa trái của Thần Khí là : bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23), và tiến bước nhờ Thần Khí, mà không tìm hư danh, không khiêu khích, không ganh tỵ (x. Gl 5,25-26), nhưng trước những vấp ngã, sai phạm, chúng tôi thưc hiện những điều thánh tông đồ dân ngoại căn dặn :
   “Thưa anh em, nếu có ai vướng mắc tội nào, thì anh em, những người được Thần Khí thúc đẩy, hãy lấy tinh thần hiền hoà mà sửa dạy người ấy ; phải tự đề phòng kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. Anh em hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật của Đức Kitô” (Gl 6,1-2).
     Xin Chúa cho chúng con biết yêu mến, trung thành và phục vụ Giáo Hội, vì Giáo Hội là Hiền Thê yếu dấu của Đức Giêsu và là Mẹ nhân lành của mỗi người chúng con.
   Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 5, Mùa Chay


Lề Luật và Lòng Tin ở ĐỨC GIÊSU
 Tất cả các Tin Mừng đều cho chúng ta thấy tương quan giữa Đức Giêsu và các thượng tế, kỳ lão và nhóm Pharisêu ngày càng xấu đi và bầu khí trở nên căng thẳng đến ngột ngạt. Tin Mừng Gioan hôm nay cho chúng ta biết đâu là điểm nóng đang đốt cháy tương quan này.
   Gioan tường thuật câu chuyện người đàn bà bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Chính các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu (Ga 8, 3), và họ nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Ga 8, 4-5).
    Có ba điều những người này muốn nói với Đức Giêsu:
1. Sự kiện phạm tội ngọai tình không thể chối cãi, bênh vực, vì có can phạm và người chứng.
2. Khung hình phạt dành cho tội này đã được Luật Môsê quy định chính xác, rõ ràng: ném đá cho đến chết.
3. Ý kiến của Đức Giêsu trong vụ này.
   Sở dĩ họ lôi người đàn bà phạm tội ngoại tình này đến trước mặt Đức Giêsu, vì họ biết chắc Đức Giêsu không thể làm khác Luật Môsê, cũng không thể che chống cho người đàn bà này vì chị ta bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Khi hỏi: “Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”, họ nắm chắc Ngài sẽ không trả lời được, và phải cúi đầu, ngậm miệng cho họ đem chị ta đi ném đá chiếu theo Luật.
    Vì thế, khi giải thoát người đàn bà có đến “chín phần chết, một phần sống”, Đức Giêsu đã làm tất cả mọi người có mặt sửng sốt, ngạc nhiên, kể cả căm phẫn, tức giận.
   Then chốt của cuộc giải thoát người đàn bà ngoại tình khỏi cái chết trông thấy, chính là lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu hiện trong Đức Giêsu, dung mạo đích thực của Chúa Cha, Đấng giầu lòng xót thương con người tội lỗi. Chính lòng thương xót đã cứu sống người đàn bà tội lỗi; chính lòng thương xót đã cải từ hoàn sinh, làm sống lại và tái tạo, đổi mới mọi người có tội.
     Điều Đức Giêsu muốn những người Pharisêu, Kinh Sư và những người có mặt hôm đó nhận ra, chính là lòng thương xót của Thiên Chúa vượt qua và vựơt xa mọi biên giới, rào cản, cơ chế, quyền lực, lề luật, dù đó là lề luật của Môsê, người của Thiên Chúa.
     Đức Giêsu không phủ nhận luật Môsê mà kinh sư và Pharisêu đưa ra, nhưng chỉ cho họ biết một chân lý căn bản, một sự thật cốt lõi của Giới Luật mới, đó là ngay trong luật Môsê, vẫn luôn có một “luật trừ”, đó là luật của lòng thương xót. Với luật trừ của lòng thương xót, không một tội nhân nào bị loại trừ, xua đuổi, từ chối khỏi lòng thương xót, bao dung của Đức Giêsu, Đấng đến để xót thương và cứu độ nhân loại.
   Thánh Phaolô đã xác tín chân lý này, khi làm nổi bật sức mạnh của lòng tin nơi Đức Giêsu trong thư gửi tín hữu Philipphê. Theo tông đồ dân ngoại, chúng ta có được Đức Giêsu, được kết hợp với Ngài, nghiã là được Ngài tha thứ, cứu độ, yêu thương không phải nhờ sự công chính của ta, “sự công chính do Luật Mosê đem lại nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin” (Pl 3, 9).       
    Sự lầm lẫn hay lạm dụng lề luật từ bao thời đã làm đau khổ, tổn thương không biết bao nhiêu con người yếu đuối cần được thương xót, trong số đó có tất cả chúng ta, vì có ai  là người vô tội, công chính, hoàn hảo, trong sạch trước mặt Thiên Chúa đâu? 
    Câu hỏi mang cung giọng thách thức của Đức Giêsu trước các ông Biệt Phái và Kinh sư hôm nào ở Giêrusalem: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7), thiết tưởng phải trở thành tiếng chuông đánh thức sự thật bất toàn, tội lụy, mỏng dòn, yếu đuối nơi chúng ta, và nhắc nhủ chúng ta hãy “biết thương xót người, để được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).
Jorathe Nắng Tím