Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

TẠI SAO PHONG TRÀO LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT BỊ LIÊN TỤC CHỐNG ĐỐI ?

     Phong trào tôn sùng và cầu nguyện với lòng Chúa thương xót được đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị (1920-2005) khởi xướng, cổ vũ, khuyến khích và được nhiều người trên thế giới tích cực hưởng ứng, nhiệt tình ủng hộ, sốt sắng tham gia và hăng say quảng bá tạo thành một làn sóng Lòng Chúa Thương Xót ngày càng dâng cao, lớn mạnh.
      Phong trào dựa trên mặc khải của Chúa Giêsu cho thánh nữ Helene Maria Faustina Kowalska (1905-1938) vào năm 1931. Đây là mặc khải tư được công nhận phù hợp với giáo lý đức tin của Giáo Hội, và được chứng thực, củng cố bởi  thông điệp “Thiên Chúa giầu lòng thương xót” của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 30.11.1980, tông chiếu “Dung mạo lòng thương xót” do Đức Giáo Hoàng Phanxicô công bố ngày 11.04.2015 và lễ kính Lòng Chúa Thương Xót được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết lập ngày 30.04.2000 vào chúa nhật thứ hai sau Phục Sinh. Điều này nói lên tầm quan trọng của phong trào trong sứ vụ loan báo Tin Mừng và làm chứng Đức Giêsu của Giáo Hội như tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhân dịp khai mạc năm thánh Lòng Thương Xót ngày 08.12.2015 :
    “Giáo Hội phải cấp bách loan truyền Lòng Thương xót của Thiên Chúa. Đời sống của Giáo Hội sẽ đích thực và đáng tin, khi Giáo Hội loan truyền Lòng Thương Xót ấy với niềm xác tín sâu sa”.
     Và linh đạo Lòng Chúa Thương Xót được tóm tắt như sau: Cao điểm của Lòng Thương Xót là cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu trên thánh giá, chính Tình Yêu Thương Xót dìu dắt Giáo Hội, sám hối và cầu nguyện bằng tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa.
     Ở Việt Nam, phong trào Lòng Chúa Thương Xót âm thầm nhen nhúm từ thập niên 1990, sau khi nữ tu Helene Maria Faustina Kowalsa được phong chân phước ngày 19.04.1993, và tưng bừng nở rộ khắp các giáo phận sau lễ phong hiển thánh ngày 30.04.2000 do Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, với lời tuyên dương đầy xúc động của Ngài : “Thánh nữ Maria Faustina là món qùa của Thiên Chúa ban cho thời đại chúng ta”.
    “Là món quà của Thiên Chúa”, vì hơn lúc nào hết, thời đại chúng ta đang sống mang qúa nhiều dấu ấn khủng khiếp của Satan, khi gian dối ngập tràn khắp nơi, ganh ghét có mặt mọi chỗ, và bạo lực hoành hành không bỏ sót một ngõ ngách. Ngay với trẻ nhỏ hôm nay, lừa đảo cũng chỉ còn là chuyện nhỏ ; ganh ghét, “xử đẹp”, thanh toán, rửa hận, trả thù bằng rạch nát mặt nhau, chém lìa tay nhau, cắt đứt cổ nhau, bằm nát xác nhau cũng chỉ là chuyện  bình thường, “không có gì phải ầm ĩ”, và mạng sống con người ngày càng rẻ như bèo, chỉ một số tiền không đáng bao nhiêu, người ta đã có thể thuê khử một mạng người, biến một đời người thành tàn phế.
  “Là món quà của Thiên Chúa”, Lòng Thương Xót Chúa qúy báu hơn lúc nào hết cho thời đại chúng ta, vì chỉ có Lòng Thương Xót mới ngăn được bước chân tai ương, bất hạnh và chết chóc của ma qủy đang rảo ngày đêm trên đường sống của nhân loại, vì chúng là chuyên viên của dối trá, ganh ghét, hận thù và bạo lực.
    Bên cạnh là niềm tin bị băng hoại tận gốc rễ, khi dối trá tàn phá tâm hồn để không ai còn dám tin ai. Niềm tin trở nên xa xỉ, xa lạ, huyền thoại, hoang đường, vì “tin nhau” hôm nay đồng nghiã với tự sát, khi tin không đem lại lợi nhuận, mà cũng chẳng còn mấy người đáng tin để mình tin, khi người chân thành, thật thà không còn nhiều, và người không làm điều mình nói, không giữ lời mình hứa, nói một đàng làm một nẻo, đội lốt, giả hình ngày càng đông, càng sinh sôi nẩy nở đến mức kinh dị ; khi con người sống với nhau mà phản bội dễ dàng như trở bàn tay, phản phúc là cơ may để thành đạt, phản trắc là đường ngắn nhất để tiến thân, phản thùng là  bí quyết để sống khoẻ, phản thầy phản bạn là chuyện được “tự cho phép” khi cần,  thì hậu qủa tất sẽ là một đời sống hoang vắng, ngột ngạt, bất hạnh, ở đó, người ta không nói nhưng ngầm hiểu : không có gì bằng  tiền và rất nhiều tiền, vì tiền giải quyết được tất cả, nên ơn sâu  nghiã nặng, danh dự, đạo đức, gia đình, quê hương, tôn giáo đều phải cúi mặt chào thua.
      Một xã hội chỉ cần tiền, kiếm tiền, qúy tiền để tiêu thụ bạt mạng, hưởng thụ vội vàng, tối đa, và thực dụng tận xương tủy như thế mặc nhiên đã chọn “cái tôi” làm thượng đế. Một thời đại chủ trương ích kỷ, chỉ biết mình, phe cánh  mình, và loại bỏ, phủ nhận “người khác” sau khi xử dụng “người khác” như phương tiện phục vụ mình cách tự nhiên, mà lương tâm không hề vấn vương, ray rứt, thì  hỏi thời đại ấy sẽ có một ngày mai đáng đợi chờ, hy vọng ?
    Và hơn lúc nào hết, bạo lực không còn là chuyện rất kinh tởm,  đáng sợ hãi với người thời đại hôm nay, khi mà cha có thể bóp cổ con thơ 5 tháng tuổi chỉ vì con khóc làm cha nhức đầu, cháu có thể lạnh lùng cắt cổ bà ngoại để lấy tiền, vợ có thể  thản nhiên tưới xăng thiêu sống chồng đang khi ngủ, và bạn cùng lớp có thể   hả  hê  hãm hiếp, “bề hội đồng” nhau đến mất mạng.
    Tất cả những hoạt cảnh bi thương, sầu thảm, bất hạnh của thời đại do ghen ghét, hận thù, bạo lực, mất niềm tin, ích kỷ hưởng thụ đang đẩy con người vào vực thẳm chết chóc đã cho chúng ta thấy tình thương bao dung, nhẫn nại và trung tín với lời hứa cứu độ của Thiên Chuá khi Lòng Thương Xót của Ngài được ban cho thời đại chúng ta như món quà qúy giá.
     Nhưng món quà Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã được con người thời đại  đón nhận như thế nào ?
    Tất nhiên Giáo Hội đã đón nhận với tất cả niềm vui, lòng biết ơn và phấn khởi loan truyền, thực hành Lòng Thương Xót. Các Giám Mục trên toàn cầu đều hăng say qủang bá và kêu gọi giáo dân sống “món quà Lòng Thương Xót của Thiên Chúa”, như cơ hội hiếm hoi để đổi mới mình và đổi mới thế giới, như Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị tông đồ nhiệt thành của Lòng Thương Xót đã khẳng định : “chỉ khi nào con người cảm nhận được Lòng Thương Xót  vô cùng vô tận của Thiên Chúa, con người mới có thể nhìn anh chị em của mình với cái nhìn mới, và thái độ vị tha, tương trợ, đại lượng, bao dung, tha thứ”.
    Rất nhiều sinh hoạt Lòng Chúa Thương Xót đã đem lại vô vàn hoa trái thiêng liêng, và Giáo Hội không ngừng khuyến khích, nâng đỡ, đồng hành với mọi người sống linh đạo  Lòng Thương Xót, nên không  một Giám Mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân chân chính, đích thực nào lại có thể chống lại Lòng Thương Xót, vì chống lại Lòng Thương Xót là chống lại chính Thiên Chúa, chống lại Đức Giêsu, Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, đồng thời phủ nhận toàn bộ giáo lý, đức tin của Giáo Hội, cũng như hủy bỏ lý tưởng thánh thiện của người môn đệ đi theo Đức Giêsu, vì Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót, Đức Giêsu là dung mạo của Chúa Cha giầu lòng thương xót, Giáo Hội mang sứ vụ làm chứng Thiên Chúa là Lòng Thương Xót, và sự thánh thiện của người Kitô hữu hệ tại ở lòng thương xót anh em mình.
     Vì thế, quy tội cho Giám Mục này, lên án linh mục, tu sĩ kia chống lại Lòng Thương Xót Chúa là sai lầm rất nguy hiểm, chưa kể đó là hành vi vu khống oan uổng làm tổn thương  các ngài, bởi chính các ngài là những người được sai đi loan báo “Thiên Chúa thương xót nhân loại và cứu độ nhân loại vì xót thương”.
    Nhưng tại sao có hiện tượng chống lại Lòng Thương Xót như chúng ta đang thấy ?
    Có hiện tượng chống phá Lòng Chúa Thương Xót, và sự thật này không ai chối cãi được. Nhưng ai chống phá mới là điều chúng ta cần tìm biết.
1.       Có người thuộc Giáo Quyền ra tay chống phá ?
    Người viết xin trả lời lập tức và dứt khoát : Giáo quyền  qua các Đấng Bản Quyền không bao giờ chống phá phong trào Lòng Chúa Thương Xót, vì trước hết, loan báo và làm cho mọi người sống Lòng Thương Xót là sứ vụ và bổn phận chính yếu của Giáo Quyền. Nếu có một Giám Mục giáo phận nào đó công khai lên tiếng chống lại Lòng Thương Xót Chúa thì nhất định giám mục ấy đã hoàn toàn biến chất và không còn là tông đồ của Đức Giêsu, và tất nhiên, người tín hữu không có nghiã vụ vâng phục, làm theo những chỉ thị trái ngược giáo lý, đức tin này. Nếu có một linh mục nào đó xỉ vả, mạ lỵ Lòng Thương Xót Chúa và xem đó là chuyện tào lao, bá láp, bông đuà thì quả thực không gì xúc phạm đến Thiên Chúa nặng nề hơn, vì Tình Yêu Thương Xót là chính Ngài, như thánh Gioan qủa quyết : “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8). Vì thế, chuyện giám mục này ủng hộ, đức cha kia chống phá, cha xứ này khuyến khích, đồng hành, cha quản hạt kia ra sức ngăn cấm, tẩy chay là chuyện phiếm rẻ tiền, tin đồn nhảm nhí mà người Kitô hữu trưởng thành không được vội vàng, nhẹ dạ cho là chuyện có thật, việc nghiêm trọng, điều đáng tin.
     Tuy thế, nguyên nhân phát sinh những ồn ào về đấng bậc này muốn giải tán phong trào, chức sắc kia đòi thuyên chuyển, ngưng công tác linh mục nọ vì say mê Lòng Thương Xót có thể hình thành một cách ngoài ý muốn do :                    
a.             Vụng về trong cách giải quyết một vấn đề nào đó liên quan đến Lòng Thương Xót.
     Vì phong trào Lòng Chúa Thương Xót tuy mới mẻ nhưng lan tỏa rất nhanh  chóng và sâu rộng, nên không tránh được những “thái quá bất cập” trên phương diện tổ chức của người hướng dẫn, phụ trách phong trào. Những thiếu sót này không thể tránh, và không nên coi là nghiêm trọng đến nỗi phải giải tán giải thể phong trào, đang khi phong trào mang lại nhiều lợi ích thiêng liêng cho các linh hồn : hâm nóng lòng đạo đức, mở đường trở về, tạo  cơ hội truyền giáo cho lương dân.
     Người có trách nhiệm cần sáng suốt phân định đâu là cốt lõi, đâu là vỏ bọc bên ngoài, cái gì là chính, cái gì là phụ, điều nào không thể bỏ, và điều nào phải uyển chuyển, thay đổi cho phù hợp. Đối với một phong trào có tầm vóc hoạt động lớn và ảnh hưởng rộng, người có trách nhiệm không chỉ cần khôn ngoan, mà còn cần khôn khéo trong cách giải quyết vấn đề, bởi bất cứ một nhịp bị trật, một cung bị lỗi, một thanh âm bị lạc đều làm cho bài nhạc mất đi giá trị.
  Vì vụng về, có thể rơi vào những tuyên bố không tương xứng, khi sơ ý xử dụng  toàn từ ngữ “dao to buá lớn” để giải quyết một thiếu sót cỏn con ; hoặc kê khai đủ thứ điều khoản của hàng loạt sắc lệnh, tông huấn, quyết định, tuyên ngôn trước một vài khiếm khuyết chỉ cần nhẹ nhàng nhắc bảo. Tính cách vụng về được thấy rõ khi quá trầm trọng một vấn đề không có gì quan trọng, hay nghiêm trọng hoá một sơ sót không ảnh hưởng lớn đến bản chất của sự việc, hoặc làm cho một sai phạm đáng lẽ được giải quyết dễ dàng trở thành nhiêu khê, phức tạp, rắc rối, khó khăn.
b.             Vụng về trong việc trình bầy, cắt nghiã giáo lý và việc thực hành Lòng Thương Xót :
   Phong trào Lòng Chúa Thương Xót, vì quá mới, nên giáo dân chưa nắm bắt được đầy đủ linh đạo, cũng như những quy định của giáo quyền liên quan đến sinh hoạt. Đây cũng là nguyên nhân làm người tín hữu lấn cấn, giao động, hoang mang khi phải nghe, hay phải đọc nhiều quan điểm, nhiều chọn lựa, nhiều hướng dẫn khác nhau, có khi đối chọi nhau của một số đấng bậc.
     Việc trình bầy minh bạch, rõ ràng và phổ biến sâu rộng giáo lý, với những chỉ dẫn mục vụ liên quan Lòng Chúa Thương Xót thiết tưởng cũng là việc cần làm một cách rất khôn ngoan, để tránh những suy diễn, cắt nghiã không đúng như ý muốn của Giáo Hội.   
c.              Vụng về trong việc phân định thứ tự ưu tiên và thời điểm thích hợp để giải quyết  từng sự việc liên quan :
   Qủa thực rất khó khi phong trào dồn dập mang lại những thắc mắc, khiếu nại, đề nghị, yêu cầu, khi phong trào còn mới lạ với nhiều người. Do đó, người có trách nhiệm  sẽ dễ rơi vào tình trạng bối rối, mất bình tĩnh để hoặc vội vã giải quyết ráo ruốt một lần cho xong, hoặc giải quyết không theo một thứ tự ưu tiên sau khi cân nhắc lợi hại, hoặc không giải quyết gì vì thiếu tự tin. Tất cả đều sẽ không mang lại kết qủa mong muốn, và vô tình gây nhiều thiệt hại thiêng liêng cho nhiều người trong cuộc.
    Tóm lại, nếu có điều cần chỉnh sửa ở phía giáo quyền thì chỉ là sự vụng về ngoài ý muốn, được coi là chuyện thường tình và khó tránh khỏi ở con người. Chúng ta cần ý thức yếu tính và sứ vụ của Giáo Hội là loan báo Thiên Chúa của Lòng Thương Xót. Ý thức để yêu mến và không rơi vào những phê phán làm hại uy tín của các đấng bậc trong Giáo Hội, nhất là tránh gây chia rẽ trong lòng Giáo Hội, chỉ có lợi cho ma qủy, và thiệt hại nặng nề cho sự hiệp nhất và tình hiệp thông giữa các chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm.   
2.       Ai là kẻ thực sự chống phá Lòng Thương Xót ?
   Thưa ma qủy vừa là kẻ chủ mưu vừa là kẻ thực hiện kế hoạch đen tối chống phá Lòng Thương Xót Chúa do :
a.        Bản chất của ma qủy là xảo quyệt. Chúng gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, lo sợ:
     Bản chất này hoàn toàn đối nghịch với Tình Yêu thương xót là tin yêu, hiệp nhất, bình an. Và ngay từ bình minh của loài người, ma qủy đã để lộ chân tướng chống lại Tình Yêu Thương Xót khi gạ gẫm Evà phản bội Thiên Chúa là Đấng giầu lòng thương xót, để ông bà nguyên tổ rơi vào tình trạng hoang mang, nghi ngờ lòng tốt của Thiên Chúa (x. St 3,1-5), và hậu qủa là nhận ra mình trần truồng, mất hết tình nghiã, ơn huệ  và lo sợ, lẩn trốn Thiên Chúa (x. St 3,8-11).
     Chủ trương  chống phá Lòng Thương Xót Chúa của ma qủy không bao giờ chấm dứt, nhưng kéo dài cho đến tận thế, bao lâu còn con người, bởi ma qủy giành giật con người với Thiên Chúa. Chúng không muốn con người quy phục, yêu mến và thuộc về Thiên Chúa, nên tìm mọi cách, mọi kỹ thuật, mọi thủ đọan làm con người nghi ngờ Lòng Thương Xót Chúa và tách con người ra khỏi lòng tín thác mang lại ơn cứu độ này.
     Cùng một cách thức đã cám dỗ Evà, chúng gieo hoang mang, ngờ vực trong lòng người tín hữu và những người đi tìm Lòng Thương Xót khi triệt để khai thác những ý kiến, quan điểm không đồng nhất giữa những người có trách nhiệm  để tạo nên những nghi ngại, nghi ngờ, sợ hãi, lo âu, dè dặt, và từ đó kéo mọi người xa dần, bỏ quên Lòng Thương Xót.
     Chuyên viên gây chia rẽ, ma qủy biết lợi dụng những điểm yếu trong ứng xử giữa những người tuy cùng lý tưởng nhưng tính khí khác nhau tạo nên những căng thẳng rất nhỏ, không đáng gì, nhưng vào tay Satan đã trở thành nguyên nhân của những rạn nứt, đổ vỡ khó hàn gắn của bác ái, huynh đệ.
b.       Do bản chất của ma qủy là Ganh Ghét, Hận Thù :
    Công việc của ma qủy là làm cho mọi người không còn thương xót nhau, khi từ bỏ Thiên Chúa là Lòng Thương Xót. Câu chuyện Cain đã ghen với em mình và lòng ganh tỵ đã gây nên hận thù trong sách Sáng Thế đã làm chứng điều này : Cain bị Satan thúc đẩy đã không chế ngự được lòng ganh ghét “nằm phục ở cửa lòng mình” (St 4,7) ; không chịu đựng được thành công, niềm vui, hạnh phúc của em mình, khi Thiên Chúa nhận của lễ  Aben dâng (St 4,4).
      Cùng một chiến thuật gây hận thù quen thuộc, ma qủy đốt lên lòng ganh ghét vốn tiềm tàng trong tâm hồn mỗi người khi thấy anh em mình thành công. Để người này ghét người kia, anh em cùng Cha căm thù, oán hận nhau, ma qủy chỉ cần khơi dậy lòng ganh ghét, và khích chúng ta “vạch lá tìm sâu” để hạ người anh em xuống tận bùn đen, khi họ đang trên đà đi lên ; để phá người anh em đang khi họ thành công, thăng tiến ; để chặn đường đi của anh em  khi họ đang bước nhanh về phiá trước.     
     Và để đánh phá Lòng Thương Xót, ma qủy đã vận dụng mọi khả năng, chiến thuật tinh vi, hữu hiệu nhất khi làm cho những người môn đệ của Đức Giêsu thay vì nhìn vào chính Đức Giêsu đã nhìn vào những yếu đuối, thiếu sót của nhau, và khai thác những điểm yếu đó với mục đích làm cho không ai còn biết chạnh lòng, đồng cảm, xót xa, nhưng xoi mói, tìm tòi ở nhau những kẽ hở sai phạm  lề luật, quy định, nguyên tắc và nhân danh sứ vụ, lề luật, cơ đồ của Giáo Hội để cô lập, tẩy chay, loại bỏ nhau khỏi Lòng Thương Xót.    
        Chiến thuật được xử dụng của ma qủy còn là đội cao lên những thiếu sót cỏn con, không quan trọng liên quan đến kỷ luật, nghi thức để đánh sập chính Lòng Thương Xót ; hay tạo hoả mù, thổi phồng những chi tiết bên lề, phụ thuộc để đánh lạc hướng, làm mất cảnh giác người trong cuộc, rồi giáng thẳng đòn thù ngàn cân vào cốt lõi là Lòng Thương Xót. Chiến thuật này được chúng xài đi xài lại liên tục, nhưng rất tiếc, nhiều người trong chúng ta vẫn để bị sập bẫy thảm hại.  
c.        Do bản chất của ma qủy là Bạo Lực đưa đến sự chết :
    Bạo lực thuộc về ma qủy, và chết chóc là hậu qủa tất yếu của bạo lực. Sách Sáng Thế đã cho chúng ta nhận diện ma qủy và quy trình phá hoại thế giới và nhân loại của chúng, qua câu chuyện Cain giết chết em mình là Aben. Khởi đi từ đốt lên trong lòng Cain lòng ganh ghét, Cain đã đi đến hận thù em mình, và vì hận thù, căm tức, Cain đã quyết tâm đi đến bạo lực khi dụ em ra ngoài đồng và “khi hai người đang ở ngoài đồng thì Cain xông đến giết Aben, em mình” (St 4,8).
  Tất cả kế hoạch của ma qủy đều đưa con người đến sự chết ngang qua bạo lực. Chúng đã xử dụng bạo lực một cách tài tình, tinh vi, và đặc biệt trong nỗ lực triệt hạ những con người say mê Lòng Thương Xót :
·   Bạo lực ngôn từ như tung tin đồn, chia sẻ tin nhắn “giật gân, động trời” để hạ uy tín, bôi nhọ danh dự cá nhân những tông đồ Lòng Thương Xót. Hai mũi dùi thường được nhắm là tình và tiền. Đây là hai điểm nhậy cảm luôn có sức thu hút quần chúng hiếu kỳ, ganh ghét, nên khi bị tung lên, nạn nhân khó tránh khỏi tai tiếng, và mặc cảm nặng nề trước cái nhìn phán xét, lên án của đám đông thường đơn sơ nghĩ rằng : “không có lửa làm sao có khói ?”
·    Bạo lực đe dọa, áp đảo tinh thần bằng trắng trợn tiết lộ cách bất chính những thông tin cá nhân và những khế ước, biên bản mang tính “nội bộ, phải được giữ kín”.
·      Bạo lực chụp mũ khi xử dụng những thư tố cáo nặc danh, hồ đồ, không căn cứ, và dựa trên đó như nền tảng vững chắc để diễn dịch với ác ý dẫn đến việc hình thành một cáo trạng hoàn hảo.
·          Bạo lực lên án một cách chung chung, không cụ thể, chính xác, cốt để nạn nhân không thể vùng vẫy thoát khỏi vùng nhiễm độc. Thí dụ : khi lên án sinh hoạt Lòng Thương Xót của một vị nào đó mang tính “thế tục và kích động”, thì qủa thực không gì dã man, tàn ác, và bất công hơn đối với vị ấy, bởi khi rao giảng Lòng Thương Xót, vị ấy phải nói bằng ngôn ngữ của thế tục, với cách diễn tả của người trần tục, để những con người có xác thể phàm tục hiểu và đón nhận được Tin Mừng Lòng Thương Xót, nên nói đàng nào, giảng cách nào vị ấy cũng chết chắc với bản án “mang tính thế tục” được tiền chế, và phát tán không ngượng ngùng.
     Cũng thế, đã gọi là tổ chức phong trào, sinh hoạt cộng đoàn thì phải có nhiều người cùng quây quần, quy tụ. Và bất cứ một đám đông nào được quy tụ đều đòi phải có người đứng ra nối kết, làm cho sinh động, đốt nóng nhiệt huyết, hướng dẫn tiến về mục tiêu, và khuyến khích, nâng đỡ tinh thần, nên bản án “có tính kích động” sẽ đúng trong mọi trường hợp, nếu ác nhân cố tình cắt nghiã, diễn dịch công việc của vị ấy với ác tâm, ác ý.
·          Bạo lực nhận chìm chính người của Thiên Chúa bằng bàn tay, bàn chân của người thuộc về Thiên Chúa.
Đây là qủy kế vô cùng lợi hại ma qủy dùng để chống phá Thiên Chúa cách tài tình, hữu hiệu, bằng gây bất hoà, chiến tranh giữa những người thuộc về Thiên Chúa, làm việc cho Nước Chúa. Quỷ kế là khích người này khinh khi người kia và lên án nhau là “ngôn sứ giả” dựa vào chính Tin Mừng (x. Mt 7,15).
     Và còn vô số những mánh lới, chiêu trò độc ác khác ma qủy dùng để chống phá Lòng Thương Xót Chúa.
   Chúng ta cần xác tín điều này, đó là ma qủy ngày đêm rình rập, sàng lọc chúng ta (Lc 22,31), để lấy chúng ta ra khỏi Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, bởi chúng biết : Hiến Chương Nước Trời là Bát Phúc của Lòng Thương Xót, con đường phải đi của môn đệ Đức Giêsu cũng là của Giáo Hội là đường Thương Xót, và đường về Nước Trời cũng không ra ngoài Lòng Thương Xót ấy. Thế nên, chỉ có Lòng Thương Xót mới đem lại ơn cứu độ, vì Thiên Chúa đã cứu độ bằng chính con đường Thương Xót này.
    Do đó, tấn công Thiên Chúa là chống phá Lòng Thương Xót, xoá tên Thiên Chúa trong lòng người là tiêu diệt niềm tin của con người ở Lòng Thương Xót, làm suy yếu Giáo Hội là làm tan rã phong trào loan truyền và sống  Lòng Thương Xót Chúa.  
    Tóm lại, ma qủy chỉ có duy nhất một mục tiêu là phá hủy công cuộc cứu độ của Lòng Thương Xót, khai tử Thiên Chúa của Lòng Thương Xót trong đời sống con người, làm tan rã mọi công trình của Lòng Thương Xót khởi đi bằng bịt miệng, chặt tay chặt chân các ngôn sứ, tông đồ, thừa tác viên của Lòng Thương Xót đang say mê sống chết với Lòng Thương Xót vì phần rỗi các linh hồn.
    Đức Giêsu cảnh báo chúng ta sự có mặt rất manh động của Satan trong thế gian (Ga 15, 18-21), và dặn chúng ta phải tỉnh thức, để không rơi vào cám dỗ, cạm bẫy của Satan, mà cạm bẫy nguy hiểm nhất, cám dỗ nặng nề nhất chính là không tin vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
      Người viết một lần nữa khẳng định kẻ đang ra sức phá hoại Lòng Thương Xót không ai khác hơn là Satan và bè lũ, vì tự bản chất, chúng đã là những kẻ có mặt chỉ để chống phá Lòng Thương Xót của Thiên Chúa là ơn cứu độ của loài người, mà từng giây từng phút chúng cố lôi kéo ra khỏi vòng tay bao dung  thương xót của Thiên Chúa, Cha nhân hậu.
    Nhưng một mình, chúng không thực hiện được kế hoạch chống phá này, nên cần những bàn tay nối dài là con người, và chúng không ngừng cám dỗ, giăng bẫy để nhiều người rơi vào vòng vây chống phá Lòng Thương Xót của chúng.
    Để không sập bẫy ma qủy, tên  gian xảo, kẻ tố cáo, đứa gây hận thù, bạo lực, chết chóc, và để luôn tín thác ở Lòng Thương Xót Chúa, đồng thời trung thành với lòng thương xót nhau như lệnh truyền của Đức Giêsu : “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34), chúng ta cần lấy Lòng Thương Xót làm mục tiêu, đường hướng, kim chỉ nam cho bất cứ giải quyết nào liên quan đến Lòng Thương Xót, bởi giải quyết vấn đề của Lòng Thương Xót bằng giải pháp tranh chấp, ganh ghét, hận thù, bạo lực thì không còn gì phi lý và lố bịch hơn ; bởi nói chuyện Lòng Thương Xót mà dùng “dao to búa lớn” để chặt chém, ngôn ngữ sôi sục hận thù để giành giật thắng thua, máu me tanh tưởi để đấu đá  hơn - thiệt thì quả không còn gì kinh tởm, ghê gớm hơn ; bởi xây dựng Lòng Thương Xót mà dùng toàn kỹ thuật bạo lực, phá hoại thì còn gì mâu thuẫn, quái đản hơn.
     Và niềm an ủi, hy vọng vô cùng lớn lao của chúng ta là ma qủy luôn cúi đầu run rẩy, sợ hãi, đầu hàng trước lòng bao dung, tha thứ là cao điểm của Lòng Thương Xót. Chính vì thế, giây phút Satan và sức mạnh của hoả ngục hoàn toàn bị đánh gục và giải giới là khi Đức Giêsu thốt lên lời Tha Thứ cuối cùng trước khi tắt thở : “Lậy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,24).
      Ước gì chúng ta đừng ngộ nhận kẻ chống phá công trình Thương Xót của Thiên Chúa là anh em mình, rồi vội vàng lên án, quy tội, dù anh em có yếu đuối, lầm lỗi đến đâu, nhưng nhận diện tên phá hoại nguy hiểm là Satan và bè lũ, để với vũ khí là chính Lòng Thương Xót, chúng ta cùng xây dựng Thân Thể của lòng thương xót là Giáo Hội, và cùng ra trận với Đức Giêsu với vũ khí tối tân của Lòng Thương Xót là Tha Thứ tất cả, để Danh Thiên Chúa là Thiên Chúa của Lòng Thương Xót được cả sáng, Nước Thiên Chúa là Vương Quốc Thiên Chúa dành cho những ai có Lòng Thương Xót  được hiển trị, Thánh Ý Thiên Chúa là tất cả mọi người được cứu rỗi nhờ Lòng Thương Xót của Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời như kinh nguyện của Đức Giêsu (x. Mt 6,9-13) mà chúng ta hằng ngày cùng hiệp thông dâng lên Thiên Chúa, Cha chúng ta, Đấng giầu Lòng Thương Xót muốn chúng ta thương xót nhau để được Ngài thương xót (x. Mt 5,7).
Jorathe Nắng Tím        

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019

GIÁO LÝ VIÊN LÀ AI

GIÁO HỘI VÔ HINH

ĐỨC GIÊSU, ĐƯỜNG HẠNH PHÚC

Đã là người, ai cũng mơ ước hạnh phúc, tìm kiếm hạnh phúc, dù mỗi người định nghiã, đánh giá hạnh phúc khác nhau. Cũng vì khao khát hạnh phúc mà người ta không ngại làm bất cứ điều gì để đạt hạnh phúc ước mơ, kể cả phải liều hy sinh chính mạng sống, như người tù vượt ngục, người vượt biển đã bất chấp nguy hiểm tìm đến một nơi mà họ cho là có hạnh phúc.
Nhưng tại sao con người luôn khao khát hạnh phúc ? Thưa vì con người được sinh ra bởi Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc, con người được mang “gien” hạnh phúc của Cha trên trời, Đấng tạo dựng, mà từ đời đời đã muốn con người được dựng nên để chung hưởng hạnh phúc vô cùng của mình. Rất tiếc, vì có tự do, là hình ảnh của Thiên Chúa, là kho tàng qúy giá, và vinh dự vượt bậc mà Thiên Chúa ban riêng cho, con người đã từ chối hạnh phúc nguyên thủy Thiên Chúa dành cho mình, nên đã lâm vào cảnh bất hạnh, là điều ngược với ý muốn của Thiên Chúa. Nhưng ngay cả khi con người đã tự mình đánh mất hạnh phúc, Thiên Chúa vẫn xót thương và chính Ngài đã đi tìm lại hạnh phúc mà con người làm mất, bằng chương trình cứu độ của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.  
Như thế, mục đích của mầu nhiệm Nhập Thể làm người của Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa là chuộc lại Hạnh Phúc mà con người vì tội lỗi đã làm mất. Hạnh Phúc đó là “được làm con Thiên Chúa” (Mt 5,9), “được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8), “được Thiên Chúa xót thương, an ủi” (Mt 5,5.7), “được Nước Thiên Chúa làm kho tàng, gia nghiệp” (Mt 5,3.10), “được Nước Trời là nơi cư ngụ” (Mt 5,4), “được thoả lòng mong đợi” (Mt 5,6), và “được phần thưởng thiên đàng” (Mt 5,12).     
Đó là hạnh phúc thật, hạnh phúc đích thực, là “kho tàng không bị hao hụt, hư nát…, mối mọt không thể đục phá và kẻ trộm không thể đào tường, khoét vách lấy đi.” (Mt 6,20) ; đó là “hạnh phúc thật dành cho những ai lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28) được công bố từ miệng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa trong Hiến Chương Nước Trời từ núi Bát Phúc (x. Mt 5,1-12). Và suốt cuộc đời dương thế, Ngài đã dong duổi đến với nhiều người, thuộc mọi giai cấp, thành phần, hoàn cảnh, tâm trạng để tất cả đều gặp Ngài là Con Đường Hạnh Phúc đích thực, đời đời :
1.   Đức Giêsu đã gặp những người băn khoăn trước ngã tư cuộc đời, và chưa tìm được con đường Hạnh Phúc :  
Họ là những người khao khát hạnh phúc tuyệt hảo, hạnh phúc viên mãn, đã đến hỏi Đức Giêsu con đường nào là con đường hoàn thiện, tức con đường bảo đảm trăm phần trăm hạnh phúc Nước Trời. Và Ngài chỉ cho họ : “Ngươi không được giết người, không được ngoại tình, không được trộm cắp, không được làm chứng gian. Ngươi phải thảo kính cha mẹ, phải yêu đồng loại như yêu chính mình” (Mt 19,18-19), và điều cuối cùng để nên hoàn thiện là “hãy bán hết tài sản, đem cho người nghèo… Rồi hãy đến theo Tôi.” (Mt 19,21).
Như  thế, “bán hết tài sản, cho người nghèo và đi theo Đức Giêsu” là đoạn đường cam go cuối cùng phải vượt qua để đạt hạnh phúc trọn vẹn mà Thiên Chúa hứa ban. Điều này cho chúng ta thấy vật chất là chướng ngại đáng quan tâm, của cải là cản trở không nhỏ đối với người môn đệ trên đường về Hạnh Phúc. Không phải vô ý, vô tình hay ngẫu nhiên mà Đức Giêsu luôn nhắc nhở các môn đệ của Ngài mối nguy của Tiền Của : “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24). Đó cũng là lý do Đức Giêsu, khi công bố Hiến Chương Nước Trời trên núi Bát Phúc đã khởi đầu bằng “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). 
Qủa thực, Tiền Của được xem là một trong những nguyên nhân hàng đầu của bất hạnh : tâm hồn bất an vì toan tính  thủ đoạn làm tiền, gia đình, gia tộc bất hoà vì tranh giành của cải, bạn bè cắt đứt tình bằng hữu cũng vì lắt léo, lung tung chuyện vật chất, và người ta không mấy khi được bình an, hoà thuận, hạnh phúc với Tiền Của. Tiền Của cũng dễ làm tâm hồn chúng ta lạnh lùng với Thiên Chúa và hờ hững, dửng dưng với Nước Trời, vì Tiền Của có một ma lực thu hút rất mãnh liệt,  khủng khiếp đến nỗi khi đã lọt vào rồi thì vô cùng khó thoát ra, vì lòng tham của con người vô đáy và như Đức Giêsu cảnh báo : “Kho tàng của ngươi ở đâu thì lòng ngươi ở đó” (Mt 6,21), nên nếu kho tàng là Tiền Của thì tâm trí, trái tim của ta cũng đặt hết ở Tiền Của, gắn chặt với Bạc Tiền, đóng đô ở Vật Chất, trong khi những thứ này đều không bảo đảm cho ta hạnh phúc thật, như người phú hộ kia cứ mải mê tích trữ của cải mà không biết rằng : Chỉ nội trong đêm nay, người ta sẽ đòi mạng, thì của cải sẽ về tay ai ? “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,20-21). Với những người còn băn khoăn, do dự trước nhiều con đường, Đức Giêsu đã chỉ cho họ chính Ngài là Con Đường Hạnh Phúc đích thực và mời gọi họ “Hãy đi theo Tôi” (Mt 4,19), vì “Tôi là Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6).
2.     Đức Giêsu đã gặp những con người không hạnh phúc vì nghi ngờ con đường đức tin mình chọn :
Vì được mời gọi, thu hút, lôi cuốn bởi rất nhiều con đường. Có đường tình, đường tiền, đường danh vọng, đường khoa bảng, đường quan chức, và đường nào cũng thênh thang rộng mở, mồi chài, hấp dẫn. Chính vì thế, chúng ta có thể rơi vào tình trạng nghi ngờ con đường mình đang đi, và không hạnh phúc với tâm trạng nghi nan liên lỷ, và cám dỗ thường xuyên đổi đường, chuyển hướng. Đó là tâm trạng của người đàn bà xứ Samari mà Đức Giêsu đã gặp bên bờ giếng Giacóp :
Người đàn bà này rất đặc biệt : bà không nghi ngờ, thắc mắc gì ngoài đức tin và  tôn giáo bà đang theo. Đặt vấn đề với Đức Giêsu về niềm tin, sau khi thấy Ngài nói trúng phóc đời tư và tình duyên trắc trở của mình : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ... Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa” (Ga 4,20), bà đã nói lên mối nghi ngờ từ rất lâu đốt cháy tâm can bà.
Mối nghi ngờ của bà rất quan trọng, vì đụng chạm đến lẽ sống, ý nghiã và cùng đích của đời sống con người : Thiên Chúa nào mới là Thiên Chúa thực, Thiên Chúa của người Do Thái hay Thiên Chúa của người Samari và đâu mới thực là nơi Thiên Chúa ngự : trên núi Garizim của người Samari, hay trong đền thờ Giêrusalem của ngừơi Do Thái ? Bởi ở thời Đức Giêsu, người Samari và người Do Thái không còn giao lưu thân thiện, nhưng trở thành thù nghịch của nhau, thù nghịch và khinh bỉ nhau đến nỗi bất cứ một con vật hay sản phẩm nào không cần xuất xứ, mà chỉ đi ngang qua lãnh thổ Samari thì đều bị coi là ô uế đối với người Do Thái.
Ngược dòng lịch sử, chúng ta biết : khoảng năm 722 trước Công Nguyên, khi vương quốc miền Bắc và thủ đô Samari bị chiếm đóng bởi quân Assyri, một làn sóng người ngoại quốc đã đến nhập cư sinh sống trên vùng đất này, và đó là nguồn gốc của người Samari. Sách các Vua quyển 2 đã ghi lại: “Vua Assyri đã đưa người từ Babylon, Cutha, Ava, Khamát và Xơphácvagim đến định cư ở các thành xứ Samari, thế vào chỗ con cái Ítraen. Họ chiếm Samari và ở trong các thành của xứ này” (2 V 17,24). Sau thời lưu đầy, khoảng năm 538 trước Công Nguyên, người Samari chống lại việc xây dựng tường thành của Giêrusalem, và hai thế kỷ sau, họ đã xây một đền thờ khác trên núi Garizim làm nơi thờ phượng, và ở chân núi là thành phố lớn mang tên Sichem. Kể từ đó, người Samari chọn núi Garizim làm nơi thờ phượng Thiên Chúa Giavê, trong khi Giêrusalem vẫn là Đền Thờ của người Do Thái.
Người đàn bà Samari này đã không than thở về nỗi bất hạnh đã năm đời chồng và hiện đang ở một mình, nhưng ray rứt, bất an vì một vấn nạn đức tin : Niềm tin của bà có thực là niềm tin chính đáng, và Thiên Chúa bà tôn thờ có thực sự ở trên núi này không ? Hay bà đã tin lầm Thiên Chúa, và chọn sai nơi Thiên Chúa ngự ?
Mối nghi nan của bà cũng là vấn nạn của nhiều người trên hành trình đi tìm Thiên Chúa, bởi ở giữa những  ngã tư, ngã năm, ngã bẩy trên hành trình đi tìm Thiên Chúa đã  có những bảng chỉ đường không đúng, những hướng đạo mù loà, những lãnh đạo tôn giáo bất xứng, kiêu căng, những thầy dậy lười biếng, vô trách nhiệm không những đã chỉ sai đường, mà còn cấm cản, làm khó dễ những người muốn gặp Thiên Chúa. Chính xã hội và cơ cấu tôn giáo thời Đức Giêsu đã làm người đàn bà Samari, và rất nhiều người khác rơi vào tình trạng “bán tín bán nghi” về niềm tin tôn giáo của mình. Và đến hôm nay, mối nghi nan ấy vẫn còn là một nhức nhối khôn nguôi của nhiều người…
Là Đường, Đức Giêsu đã khai mở con đường hạnh phúc đích thực cho bà, bằng nói cho bà biết Ngài là ai, đồng thời giải toả mối nghi nan đức tin của bà :
“Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến và chính lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4,21-24). Nghe đến đây, người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự. Đức Giêsu liền nói : Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4,25-26).      
Người nói với chị chính là “Đường” đang chỉ cho chị con đường đức tin đích thực. Con đường ấy không còn bị giới hạn, ngăn chặn, cấm cản bởi các phe phái, cơ chế, chức sắc độc đoán, độc quyền, độc trị, nhưng mở ra cho mọi người bất kể Do Thái hay Samari, dân ngoại hay con cái trong nhà, trí thức hay dốt nát, giầu có hay nghèo hèn Con Đường Thiên Chúa; “Đường” đang mời gọi tất cả mọi người bất luận nguồn gốc, thành phần cùng lên đường, vì từ nay con đường Giêsu ấy không còn bị “giam cầm”, bắt làm con tin trong đền thờ kiên cố này, hay bị “giam giữ”, cô lập trong pháo đài trên núi kia. Trái lại, đó là Con Đường của Thánh Thần Sự Thật, và Con Đường hạnh phúc của mọi người chính là “Đức Giêsu”, Đấng đã tự mặc khải để cứu độ nhân loại, bằng mở ra muôn ngàn triệu lối ngõ, kênh rạch, suối rãnh, đường bộ, đường sông, đường bay, đường sắt để  mọi người đến được với Thiên Chúa, Đấng là Hạnh Phúc đích thực, viên mãn, tuyệt đối, đời đời.
Hôm ấy bên bờ giếng, người đàn bà Samari ngoại đạo đã hết âu lo, bối rối, nghi nan khi không biết đạo nào là thật, thờ phượng Thiên Chúa ở đâu, giữ đạo làm sao, đi đạo thế nào cho “phải đạo”, nhưng hạnh phúc, bình an của Đức Giêsu vỡ oà trong tâm hồn bà, khi bà thưa với Ngài : “Xin ông cho tôi thứ nước ấy”, (Ga 4,15), “nước đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,14) mà ông vừa nói đó, “để tôi hết phải khát nữa” (Ga 4,15), và chị vui mừng hớn hở chạy đi gặp nhiều người trong làng để kể lại mọi điều Đức Giêsu đã nói với chị, và dân làng đã tin ở Ngài, và Ngài đã “ở lại với họ hai ngày” (x. Ga 4,39-42).
3.   Đức Giêsu đã gặp những người không hạnh phúc vì tội lỗi của mình :
Vì tự thân tội lỗi là điều xấu, nên hậu qủa của tội là vô trật tự, mất bình an, không hạnh phúc, như kinh nghiệm bản thân của mỗi người sau khi phạm tội, vì ai cũng đã từng là tội nhân cách này cách khác, không phạm tội này thì cũng ngã vì yếu đuối kia. Vì thế, tội nhân là người đau khổ vì tội của mình, bởi lương tâm  trong sáng, lương thiện là toà án nghiêm khắc, công thẳng nhất.
Có nhiều căn bệnh tinh thần, và cả những bệnh thể lý mang chung một nguyên nhân là sự bất an do tội lỗi gây ra. Từ tình trạng không bình an trong tâm hồn, con người mất nghị lực và niềm vui sống, bởi tội lỗi làm cho cuộc sống trở nên đắng đót, nặng nề, sầu thảm, và dẫn con người đến chán chường, tuyệt vọng, hủy diệt.
Là Đường Hạnh Phúc, Đức Giêsu đến trong thế giới, và tìm gặp người có tội để ban lại cho họ hạnh phúc của người được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ.
“Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa tại nhà ông… Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đàng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau và lấy dầu thơm mà đổ lên. Thấy vậy, ông Pharisêu trộm nghĩ trong lòng : Nếu qủa thật ông này là ngôn sứ, thì phải biết ngưiờ đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào : một người tội lỗi !”. Đức Giêsu lên tiếng bảo ông : “Này ông Simôn, tôi có điều muốn nói với ông !”. Ông ấy thưa : “Vâng, xin Thầy cứ nói”. Đức Giêsu nói : “Một chủ nợ kia có hai con nợ : một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn ?”. Ông Simôn đáp : “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn”. Đức Giêsu bảo : “Ông nói đúng lắm”.
“Rồi quay về phiá người phụ nữ, Người nói với ông Simôn : Ông thấy người phụ nữ này chứ ? Tôi vào nhà ông : nước lã ông cũng không đổ trên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu ông cũng không đổ trên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ trên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay : tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha hết, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít” (Lc 7,36-47).
Đoạn Tin Mừng thật tuyệt vời, tuyệt vời vì cho chúng ta thấy một Thiên Chúa đầy lòng  xót thương tội nhân ; tuyệt vời vì Thiên Chúa chỉ cần nơi người tội lỗi tình yêu trở về : trở về với tình yêu trong giọt lệ thống hối, ăn năn ; trở về với tình yêu trên môi hôn ngọt ngào, tha thiết niềm vui được thứ tha, đổi mới ; trở về với tình yêu giữa hương thơm nức lòng hạnh phúc vừa được hồi sinh ; trở về với chính Thiên Chúa là tình yêu, Đấng trung tín trong giao ước tình yêu với con người và chỉ mong đợi người tội lỗi yêu nhiều để được thương xót nhiều, “yêu nhiều để được thứ tha nhiều” (Lc 7,47).
Đức Giêsu đã mở ra cho “Con Đường Tình Yêu cứu độ” cho người có tội nghèo nàn, không có gì để chuộc tội ; bất lực, không khả năng để gỡ tội ; cô thân cô thế, chẳng  quyền thế, ảnh hưởng để chạy tội. Con đường tình yêu cứu độ là chính Ngài và trên con đường tình này, người có tội tìm lại hạnh phúc đích thực và trường cửu đã vì tội mà mất đi, như Đức Giêsu đã âu yếm nói với người phụ nữ “được tha nhiều vì yêu nhiều” : “Con hãy đi bình an” (Lc 7,50). Đi bình an là đi trong hạnh phúc, đi bình an là lên đường hạnh phúc, đi bình an vì đã gặp Đức Giêsu, Đường Hạnh Phúc của nhân loại.  
Bên cạnh người phụ nữ trắc nết tự tìm đến Con Đường Hạnh Phúc là Đức Giêsu mà Tin Mừng Luca vừa tường thuật, còn một người phụ nữ khác “tội tình, tội nghiệp, tội lỗi” hơn, vì bị bắt qủa tang đang phạm tội ngoại tình. Chị ta không tự mình đến gặp Đức Giêsu, nhưng bị những người Pharisêu dẫn giải đến trước mặt Đức Giêsu, và họ tố cáo chị với Ngài, với ác tâm được nghe bản án “ném đá đến chết” theo luật Môsê từ chính miệng của Đức Giêsu, vị ngôn sứ đang nổi tiếng và được dân chúng trọng vọng (x. Ga 8,1-5).
Thực ra, khi giải giao chị đến trước mặt Đức Giêsu, những người Pharisêu có tâm địa ác ôn này đã biết trước chị sẽ bị ném đá, vì tội ngoại tình bị xếp vào hạng “trọng tội” và hình phạt đương nhiên sẽ là ném đá cho đến chết. Vì thế, họ nắm chắc trong tay cái chết của người đàn bà tội lỗi này, và nghênh ngang, vênh váo hỏi Đức Giêsu : “Luật Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà này. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ?” (Ga 8,5). Nghĩ sao gì nổi với tội tầy đình lại bị bắt qủa tang ? Nghĩ gì bây giờ trước đám Pharisêu đang say máu người đàn bà có tội. Họ như đám diều hầu háu đói chỉ chờ bổ nhào xuống trên xác người đàn bà đáng thương vì bị bắt qủa tang ngoại tình.
Nhìn họ “phùng mang trợn mắt” tố cáo và làm áp lực để dã tâm của họ được thoả mãn, Đức Giêsu không nói gì hết, cũng chẳng nhìn ai, vì Ngài biết : đối tượng đáng thương và cần được thương xót lúc này là người đàn bà tội lỗi tóc tai rũ rượi, hổ thẹn cúi mặt trước đám đông đang điên cuồng inh ỏi lên án. Và Ngài đã là Đường sống của chị ở phút sau cùng : cứu chị khỏi án tử ở giây phút chót, lấy chị ra khỏi cơn mưa đá dữ dội và cứu chị khỏi “bàn thua trông thấy” trong đường tơ kẽ tóc.
Đức Giêsu không những đã cứu chị khỏi chết, mà còn ban lại cho chị hạnh phúc đã mất vì tội, khi ngẩng lên và âu yếm nói với chị, sau hồi lâu lấy ngón tay nguyệch ngoạc những gì không ai đọc được trên đất : “Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ?… Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” (Ga 8,10-11).
Vâng, ai dám lên án và ném đá người đàn bà này trước thách thức của Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng thương xót và là Đường Hạnh Phúc của tội nhân, khi Ngài hỏi đám đông : “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi” (Ga 8,7).
Tóm lại, có những người bất hạnh đã tự đến với Đức Giêsu như người đàn bà trắc nết trong Tin Mừng Luca, có những người bất hạnh bị áp giải đến với Ngài như người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang, và cũng có những người bất hạnh được Ngài tìm đến như người đàn bà Samari ngoại đạo trong Tin Mừng Gioan, lại có những người không  bất hạnh, nhưng chưa hẳn hạnh phúc như người thanh niên có nhiều của cải của Tin Mừng Mátthêu. Tất cả đều  là những người bất hạnh đi tìm hạnh phúc. Họ là hình ảnh và hiện thân sống động của chúng ta, những người lữ hành trên đường đi tìm hạnh phúc.
Trên hành trình này, có lúc chúng ta tưởng đã nắm được trong tay trọn vẹn hạnh phúc, tưởng đã tự mình tạo nên hạnh phúc, tưởng đã giữ được hạnh phúc mãi mãi dài lâu, tưởng đã không còn hạnh phúc nào đích thực hơn hạnh phúc chúng ta đang có, nhưng cuối cùng, hạnh phúc vụt bay, hạnh phúc trốn chạy, hạnh phúc phản bội, hạnh phúc bỏ ta lại một mình đơn côi, trơ trọi, hoang vắng, và đến lúc ấy ta mới bừng tỉnh thấy hạnh phúc không đẹp như mơ, hạnh phúc khó nuôi, khó ăn, khó ở, và dễ tan, dễ vỡ, để phải chân nhận rằng : hạnh phúc con người đi tìm cho mình, hoặc tìm cho nhau, tạo ra cho mình, hoặc mang lại cho nhau sẽ không bao giờ là Hạnh Phúc đích thực, Hạnh Phúc bền vững, Hạnh Phúc trọn vẹn, Hạnh Phúc tuyệt đối, Hạnh Phúc đời đời, mà chỉ một mình Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” mới là Hạnh Phúc thật của con người, là Đường người tội lỗi phải đi để kiếp người, phận người, đời người được tràn đầy Hạnh Phúc tuyệt đối và đời đời, quà tặng qúy giá của Thiên Chúa Tình Yêu.
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

Truyền Giáo bằng cách nào ?

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XV – XVI Thường Niên, Năm C
Tin Mừng được chọn trong các Chúa Nhật XIV đến Chúa Nhật XVI Thường Niên của Năm C đều xoay quanh sứ vụ truyền giáo, tức loan báo Tin Mừng Cứu độ của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã sống, đã chết và sống lại để nhân loại được sống.
Nhiều người cho việc truyền giáo là sứ vụ đặc thù được trao phó cho các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, cùng lắm là các giáo lý viên, còn đa số “bàn dân thiên hạ” không chức tước, phẩm hàm, trật ngạch thì được miễn “lao động truyền giáo” ; cũng có người cho rằng mình có được học thần học đâu mà giảng đạo cho người chưa biết Đạo ; lại có người vui vẻ khoán trắng việc loan báo Tin Mừng cho người khác viện cớ là lắm tội, nhiều tai tiếng “nguội lạnh, khô khan”, chưa kể luôn dành đứng đầu sổ “Văn dốt vũ dát” trong cộng đồng, đoàn thể. 
Nhưng lý do làm phần đông chúng ta không dám truyền giáo, ngại rao truyền Tin Mừng, không bạo miệng giới thiệu Đức Giêsu cho người chung quanh chính là chúng ta không biết truyền giáo thế nào, rao giảng làm sao cho thuyết phục ?
Thực ra, khi chọn và sai các môn đệ lên đường truyền giáo, giảng đạo, Đức Giêsu đã tiên liệu tất cả, và điều quan trọng nhất Ngài căn dặn, nhắn nhủ các thừa sai, nhà truyền giáo, sứ giả, tông đồ là cách thức loan báo Tin Mừng, phương thế giới thiệu Ngài cho muôn dân.
Trong Tin Mừng Luca, sau khi nhắc lại và nhấn mạnh truyền giáo là việc làm cấp bách, khẩn trương vì “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 19,2), và điều kiện đi theo Ngài trên đường truyền giáo là phó thác tuyệt đối, phó thác đến độ không cần biết ăn đâu ngủ đâu, vì “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58), đồng thời từ bỏ cả những điều được phép như câu trả lời của Đức Giêsu cho người xin phép về nhà chôn cất cha mình trước đã, rồi trở lại theo Đức Giêsu : “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, anh hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa” (Lc 9,60), Đức Giêsu đã nêu rõ những điểm mà người môn đệ phải thực hiện khi rao giảng, giới thiệu với người khác về Ngài :
1.     Người tông đồ truyền giáo bằng cách khi vào nhà nào, trước tiên hãy nói : “Bình An cho nhà này” (Lc 10,5).
Chúc bình an cho mọi người là cách rao giảng hữu hiệu nhất, vì bình an là hoa trái tuyệt hảo của Tình Yêu, là ơn sủng của Chúa Thánh Thần, là món quà quý giá của Đức Giêsu phục sinh, là khao khát của mọi con người sống trên thế gian đầy bất an, bất ổn.
Vì thế, khi chúc bình an cho người khác chính là trao ban bình an của Đức Giêsu, Đấng đã yêu thương và chết cho mọi người để mọi người được hạnh phúc bình
an. Và sẽ không thể hiểu nổi nếu người được sai đi loan báo một Thiên Chúa của tình yêu lại không đem đến bình an là kết quả tất yếu của tình yêu, nhưng lại gây chia rẽ, bất hoà, xáo trộn, lo sợ, hoang mang, ngờ vực. Người nghe Tin Mừng sẽ chói tai và không thể chấp nhận người được sai đi làm chứng Thiên Chúa là tình yêu thương xót, Đấng Cứu Độ lại không có thói quen, hoặc thiếu khả năng làm cho người khác được bình an, nhưng lai giỏi giang, tinh xảo, nhuần nhuyễn trong chuyện khích bác, đâm thọc, vu khống làm mọi người đảo điên, hoảng loạn.
Do đó, nhìn một người Kitô hữu hiền lành, khiêm nhu, biết chạnh lòng thương xót và thao thức kiến tạo hoà bình (x. Mt 5,4.7.9), người ta sẽ dễ dàng nhận ra Đức Giêsu mà người ấy đang giới thiệu.
Nhưng để bình an là bình an thực, không là bình an “đầu môi chót lưỡi”, bình an “bánh vẽ”, nhà truyền giáo phải nhận từ Đức Giêsu bình an này, vì là bình an của Thiên Chúa, bình an mà thế gian không ban được (x. Ga 14,27).
2.     Người truyền giáo phải làm chứng Đức Giêsu bằng biết chạnh lòng thương xót.
Không phải vô tình, vô ý mà Đức Giêsu đã đặt thầy tư tế và thầy Lêvi, là hai vị thuộc hàng chức sắc vào hai nhân vật bị coi là không đáng bắt chước, noi gương trong dụ ngôn “người Samari tốt lành” được chọn cho chúa nhật XV Thường Niên (Lc 10,25-37).
Sở dĩ Đức Giêsu “chiếu tướng” các vị này bởi Ngài biết các chức sắc trong Đạo vì thuộc cơ chế, nên dễ rơi vào tình trạng quá chăm lo bảo vệ cơ chế mà quên “chạnh lòng thương” người bất hạnh ; vì gắn liền với cơ cấu tổ chức nên bận rộn tổ chức cho cơ cấu luôn nhịp nhàng, hoà điệu mà mất chú ý, quan tâm đến những “lạc cung, lỗi nhịp”, thiếu quy củ, trật tự của đám dân nghèo mà tai ương chồng chất, dồn dập không buông tha ; vì quá chăm chút từng chấm nhỏ li ti của lề luật mà mất tầm nhìn về phía người xấu số bị đời khinh khi, dầy xéo ; vì quá cẩn trọng tuân giữ nội quy, điều lệ, giờ giấc của đoàn thể, hội, nhóm mà vô tình, vô cảm trước người anh em vừa bị “rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết” (Lc 10,30), nhưng cả hai vị tư tế và thầy Lêvi “khi trông thấy người này” đều “tránh qua bên kia mà đi” (Lc 10,31) đề khỏi bị phiền phức, liên lụy, khỏi mất thời giờ, tốn kém, lỡ việc bề trên giao, và xáo trộn quy trình bổn phận tế lễ. 
Chỉ tiếc một điều, nhưng lại là điều quan trọng không thể thiếu, đó là hai vị đã “không thực thi lòng thương xót đối với người bị nạn” như người Samari không là chức sắc, cũng chẳng có đạo nhưng tốt lành, nhân hậu. Và Đức Giêsu đã kết luận dụ ngôn khi nói với thầy thông luật đã chất vấn Ngài : “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời ?” (Lc 10, 25) “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10,37).
“Hãy làm như vậy” là làm như người Samari biết chạnh lòng thương xót, để có thể làm chứng cho anh em Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ đầy lòng thương xót mà chúng ta yêu mến, tôn thờ, phụng sự.
“Hãy làm như vậy” là làm như người Samari quảng đại chịu mất thời giờ, mất sức lực, mất tiền bạc, mất cả trật tự, nguyên tắc của cơ cấu tổ chức, cả lập trình đã được kỹ lưỡng tính toán trong công việc để lo cho người bất hạnh không quen biết tình cờ trông thấy trên đường, bởi có chịu mất như thế thì lời rao giảng về Đức Ái Kitô giáo, về Giới luật yêu thương, về một Giáo Hội là Mẹ nhân lành, về Nước Trời dành cho những người thực thi lòng thương xót của nhà truyền giáo mới xác thực và thuyết phục, ngược lại, tất cả sẽ chỉ là chuyện tào lao của tên nói láo không làm chứng được gì, không thuyết phục được ai, vì không đáng tin khi “ngôn hành bất nhất”.
3.     Người truyền giáo phải truyền giáo bằng gắn bó, sống với, ở lại trong Đức Giêsu, Đấng sai mình.
Tin Mừng Chúa hật XVI thường niên Năm C tường thuật câu chuyện Đức Giêsu đến nhà hai cô Mátta và Maria. “Cô Mátta thì tất bật lo phục vụ” (Lc 10,40), trong khi đó “cô Maria cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dậy” (Lc 10,39). Và khi cô Mátta tỏ ý bực bội “xin Thầy bảo em con giúp con một tay” (Lc 10,40), thì Đức Giêsu làm Mátta bất ngờ khi trả lời cô : “Con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá ! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10,41-42).
Vì truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu cho người khác bằng làm chứng về Ngài. Nhưng sẽ làm chứng thế nào và làm chứng điều gì về Ngài, nếu ta không biết gì hay biết qua loa về Đấng ta phải làm chứng ? Vì truyền giáo là thuyết phục người khác tin những gì mình nói, chấp nhận điều mình chứng thực, “tâm phục khẩu phục” điều mình kể về người mình yêu mến là đúng, nên khi không đủ hiểu biết và tình cảm dành cho con người ấy thì quả thật sẽ rất khó lòng làm cho người khác tin.
Đó là chưa kể điểm cốt yếu trong việc truyền giáo là “người được sai đi” chỉ là khí cụ của “người sai đi” là Đức Giêsu, nên công cuộc tác động, đổi mới, thánh hóa, kêu gọi con người không thuộc thẩm quyền của khí cụ, người được sai đi, nhưng do một mình Thiên Chúa.
Vì thế, khi nhà truyền giáo cắt đứt liên lạc với Chúa, cắt thông tin với Chúa, cắt hiệp thông với Chúa thì chẳng khác gì cành nho tự tách khỏi cây nho để trở nên khô héo, không thể tồn tại, nói chi đến chuyện chuyển tải nhựa sống từ thân cho lá, như Đức Giêsu đã quả quyết : “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Tóm lại, truyền giáo là ơn gọi của tất cả mọi người thuộc về Đức Giêsu qua bí tích rửa tội, và công việc ấy khẩn trương, cấp bách. 
Tin Mừng còn quả quyết tất cả mọi người đi theo Đức Giêsu đều có khả năng truyền giáo, và phải truyền giáo, vì truyền giáo hệ tại ở việc sống mầu nhiệm Đức Giêsu khi người Kitô hữu :
4.     Là khí cụ bình an của Thiên Chúa Tình Yêu :
Là khí cụ bình an của Chúa khi “vui với ai mừng vui, và khóc với ai đang khổ sầu” ; khi cảm thông, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, thành công, thất bại, công danh thành đạt hay tai ương, thất thế với anh chị em cùng sống ; khi trở thành nụ cười an ủi, nâng đỡ người cô đơn, hy vọng cho trái tim tuyệt vọng, nắng ấm rạng rỡ cho tâm hồn băng giá, sầu buồn.
4.1            Sống triệt để lòng thương xót như Cha trên trời là Đấng giầu lòng xót thương.
4.2            Gắn bó thiết thân, và ở lại trong Đức Giêsu bằng đời sống bí tích và cầu nguyện.
Được như thế, tất cả chúng ta sẽ hân hoan, hớn hở như nhóm Bẩy Mươi Hai môn đệ trở về sau những ngày truyền giáo, khi nghe Đức Giêsu nói : “Anh em hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XIV, Thường Niên, Năm C (Lc 10,1-9)

Tin Mừng cho chúng ta đi vào bầu khí tưng bừng của ngày mùa, ở đó “lúa chín đầy đồng”, và tất cả chúng ta được mời gọi dấn thân làm thợ gặt thu gom lúa vào kho lẫm cho ông chủ là Thiên Chúa. 
Hình ảnh “lúa chín đầy đồng” cho phép chúng ta khẳng định : quanh chúng ta có rất nhiều người thiện chí sẵn sàng đón nhận Tin Mừng, và nhiều anh em đang chờ chúng ta mở lời dẫn đi gặp Đức Giêsu, và đưa tay cho chúng ta dắt vào nhà Thiên Chúa, tức Giáo Hội. 
Họ là ngàn triệu nhánh lúa vàng, làm thành đồng lúa chín và đợi chúng ta, những người được Đức Giêsu sai đi “gặt” về.
Khi cho chúng ta nhìn thấy đồng lúa đã chín vàng mà thợ gặt không có, Đức Giêsu khẳng định vai trò không thể thiếu của chúng ta trong việc “gặt hái” các linh hồn, một công việc được ủy thác cho từng người Kitô hữu qua bí tích rửa tội, bí tích làm cho người đón nhận trở nên “vua, tư tế, ngôn sứ” với Đức Giêsu và cùng với Ngài thi hành sứ vụ “làm cho muôn dân trở thành môn đệ Đức Giêsu” (Mt 28,19).
Như thế, không có sự cộng tác của chúng ta, như những thợ gặt hăng hái ra đồng thu gom lúa về, Thiên Chúa không thể thực hiện trọn vẹn thánh ý cứu độ của Ngài, vì Ngài thực sự cần mỗi người chúng ta để cứu độ anh em chúng ta.
Mời gọi và tin tưởng ở lòng nhiệt thành dấn thân truyền giáo của mỗi người, Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn bình an phục sinh của Ngài như bí quyết truyền giáo : “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình An cho nhà này” (Lc 10,5).
Đây là bí quyết thánh thiện, cũng là quà tặng quý giá của chính Đức Giêsu đã ban cho các môn đệ sau khi sống lại khi hiện ra giữa các ông mà nói : “Bình an cho anh em” (Lc 24,36), và các vị sẽ nhân danh Ngài ban cho mọi người.
Chính Bình An của Thiên Chúa sẽ ban cho người anh em mà chúng ta tìm đến lòng thương xót của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, hạnh phúc hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để người anh em bước đi theo Đức Giêsu trong hoan lạc cùng với Giáo Hội của Ngài.
Vì thế, truyền giáo đòi người được sai đi phải có ơn Bình An của Đức Giêsu, như điều kiện không thể thiếu, đồng thời biết quảng đại chuyển ban ơn Bình An đó cho mọi người, bởi không phải tự người được sai đi với khả năng riêng có thể đổi mới, thánh hoá, quy tụ anh em, nhưng tất cả là do ơn Chúa tác động qua những thợ gặt được Đức Giêsu sai ra đồng gặt lúa.

Xin Chúa cho chúng ta biết quảng đại đáp lời mời ra đồng gặt lúa Nước Trời và tràn đầy ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh để “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trong cậy vào nơi thất vọng, dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu” cho tất cả anh em đang cùng chúng con khấp khởi trông ngóng ngày về “tay ôm bó lúa ngào ngạt hương” (Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô Assisi)
Jorathe Nắng Tím