Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2019

THẦY CÔ TÔI

Năm nay đã qua khỏi lục tuần, nhưng hình ảnh thầy cô từ những năm mẫu giáo đến giờ vẫn đầy ắp trong tôi. Và mỗi năm đến ngày Nhà Giáo, tôi lại không khỏi  bùi ngùi, thổn thức nhớ từng thầy cô đã dạy dỗ từ ngày chập chững đến trường, tập đánh vần, tô chữ …
Tôi rất thích kể về thầy cô và những kỷ niệm thời còn đi học, và mỗi lần ôn lại “những ngày xưa thân ái” ấy, tôi như được sống lại tuổi thơ thần tiên với thầy cô yêu thương ở mái trường làng mái lá vách đất thưở ba mẹ và gia đình mới từ Bắc di cư vào Nam. Thầy cô tôi, ai cũng dễ thương và hiền hoà, tận tụy và hy sinh, ân cần và cởi mở, nghèo nhưng nghiã khí, liêm sỉ.
Thầy cô tôi cũng như thầy cô của bao nhiêu học trò khác, thầy cô của bao nhiêu thế hệ đàn anh, đàn em, của bao thời thế thăng trầm, đổi dời, các thầy cô vẫn thao thức ước mơ, vẫn âm thầm và miệt mài cống hiến cho gia đình, xã hội, quê hương, đất nước và thế giới những con người tử tế.
Vâng, “những con người tử tế” là hoa trái của một đời “bán cháo phổi” của Thầy Cô ; “những con người tử tế” là thành qủa của qúa trình “quên mình vì tương lai con em” của Thầy Cô ; “những con người tử tế” là hoa xuân hạnh phúc mà Thầy Cô đã chăm bẵm, vun trồng từ những tháng “hạ, thu, đông” dài đẵng dẵng ;
“những con người tử tế” là vinh dự của dân tộc mà Thầy Cô đã góp phần kiến tạo ; “những con người tử tế” vừa là bảo đảm vừa là hy vọng của một quốc gia phú cường, một thế giới hoà bình, huynh đệ, mà Thầy Cô là kiến trúc sư đã chung tay xây dựng, bởi lẽ sống, lý tưởng sống, phương châm sống, chỉ nam sống, nghị lực sống của Thầy Cô chính là dâng tặng cho đời “những con người tử tế”.
Nhưng thế nào là con người tử tế, nói cách khác, đâu là tiêu chuẩn tử tế được Thầy Cô đề ra ?
Tôi còn nhớ như in tấm bảng vẽ hàng chữ to đùng mầu đỏ trên nền trắng : “Tiên học lễ, hậu học văn” ngay cửa trường như thường xuyên nhắc nhớ học sinh hai tiêu chuẩn của giáo dục là đào tạo những con người vừa có kiến thức vừa có đạo đức, mà không thể thiếu một trong hai.
Không thể thiếu một trong hai, vì có kiến thức mà không đạo đức thì hại nhiều hơn lợi, khi kẻ “có óc mà không có tim” sẽ thủ đoạn, mưu mô, bầy đủ thứ chiêu trò ma mãnh, bẩn thỉu để lừa phỉnh, bóc lột, làm hại người khác hầu vun vén tiền của, quyền lực, danh vọng cho riêng mình ; nhưng có tim mà thiếu óc, có đạo đức mà thiếu kiến thức cũng không làm lợi nhiều cho xã hội, khi không đủ khả năng phân định, giải quyết những khó khăn khi phục vụ. Tâm và trí phải đi đôi : tâm tốt với trí cao, tâm lành với trí sáng sẽ giúp được mình và nhiều người.
Như thế, người tử tế không chỉ là người có trí tuệ, được đào tạo trí thức, có vốn liếng kiến thức đáng kể ; cũng không chỉ là người đạo đức, có tâm, có lòng, nhưng phải là người vừa có Tâm vừa có Tầm : Tâm thiện, tâm lành và tầm nhìn rộng, tầm thấy xa.              
Nhưng có hai tiêu chuẩn Trí và Đức rồi cũng chưa đủ để làm người tử tế, vì thiếu đối tượng, bởi Tâm phải hướng đến ai, thương ai và Tầm phải biết sẽ phục vụ, đem lợi ích cho người nào ?
Vì thế, người tử tế phải là người có lòng nhân ái để tất cả khả năng trí thức và đạo đức hướng về lòng yêu mến và phục vụ con người, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người chung quanh. Người tử tế có mục tiêu hành động là phúc lợi của con người ; có hướng đến là đời sống an vui của con người ; có đích tới là “con người được hạnh phúc”, bởi nếu không nhắm đến con người, giáo dục sẽ vô nghiã, và những phấn đấu, tận tụy, hy sinh của Thầy Cô sẽ không mang một giá trị nhân văn nào.
Thời gian gần đây, một số dư luận khắt khe phê phán một số ít Thầy Cô có những việc làm không mấy xứng hợp với vinh dự “Lương Sư Hưng Quốc” mà từ bao đời xã hội đã dành cho. Trước một số sự việc đáng tiếc, người viết trộm nghĩ : có khi nào chúng ta dành chút thời gian để tìm xem : có thể xã hội đã khắc nghiệt đẩy các Thầy Cô vào một hoàn cảnh bế tắc  nghiệt ngã, ở đó, bất cứ ai cũng chỉ còn duy nhất một khả thể cuối cùng là phải cố vùng vẫy để sống còn ?    
Phần tôi, tận đáy sâu tâm hồn, tôi luôn yêu mến, trân trọng các Thầy Cô, vì các Thầy Cô đã cho tôi hình ảnh sống động về một con người tử tế, lý tưởng cao đẹp được làm người tử tế, và ý chí sắt đá phải trở nên người tử tế, và tôi tin rằng : không Thầy Cô nào đã dấn thân vào nghề đào tạo người tử tế mà đã không nằm lòng, và tự nhủ mỗi lần đứng trên bục, đưa mắt âu yếm nhìn từng học sinh :
1.   Không chỉ là người chuyển tải kiến thức, tôi còn là người xây dựng những tâm hồn ngay thẳng, thật thà, tôn trọng sự thật, những con người  không gian dối, lọc lừa, không lưu manh, dối trá, không hồ đồ tố cáo, không vu khống oan sai.
2.   Không chỉ là người truyền đạt kiến thức, tôi còn là người chăm sóc, vun trồng những tâm hồn yêu mến, trân trọng sự sống, bởi sự sống là quà tặng qúy giá của Thượng Đế ban cho con người. Một xã hội mất ý thức  về giá trị của sự sống sẽ nhanh chóng suy đồi, trầm trọng  sa sút và chênh vênh bờ thảm họa.
3.   Không chỉ là người mở mang, khai phóng trí tuệ, tôi còn là người dậy trái tim biết yêu thương, sống nhân ái, và biết chạnh lòng, bởi trái tim không được đào tạo để yêu thương, nó sẽ biến thành hoả ngục của chính mình, và lửa thiêu đốt người khác.     
Vâng, tôi thương các Thầy Cô ; tôi mến tất cả những ai mang trong đời sứ mệnh giáo dục những con người tử tế cho đời ; tôi nhớ ơn các Thầy Cô đã dạy tôi làm người tử tế, và tôi muốn nói với đàn em, đàn con, đàn cháu : Hãy yêu mến Thầy Cô, vì đời của Thầy Cô là chuỗi dài những tận tụy quên mình, những hy sinh câm lặng, những chịu đựng thầm kín, những căng thẳng cam go, những đánh giá bất công, những vô ơn, bạc bẽo, bởi khi chọn đời làm Thầy Giáo, Cô Giáo, các Thầy Cô đã không chọn một nghề để sinh sống, một chỗ đứng “ăn nên làm ra”, một cơ hội “bốc hốt, làm giầu”, nhưng đã chọn một Ơn Gọi, ơn gọi trồng người, ơn gọi chăm bẵm mầm non “tử tế”, để gia đình, đất nước, thế giới được sống hạnh phúc trên vùng đất lành có những con người tử tế.  
Ngày Nhà Giáo Việt Nam, người viết cùng các Bạn, xin kính chúc các Thầy Cô của chúng ta An Bình tiến bước trên đường thực hiện Sứ Mệnh và Ơn Gọi  tuyệt vời cao đẹp : “Lương Sư - Hưng Quốc  - Thầy Cô đạo đức, Quốc Gia hưng thịnh”.   
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2019

THIÊN ĐÀNG

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXXII Thường Niên, Năm C (Lc 20,27-38)      
Khao khát hạnh phúc và đi tìm hạnh phúc, đó là mẫu số chung của mọi người, mà ai cũng bắt gặp được ở mình và ở người khác. Là người, ai cũng khao khát hạnh phúc, vì từ nguyên thủy, ở buổi đầu tạo dựng, nguyên tổ loài người đã được sinh ra để hạnh phúc, như sách Sáng Thế đã mô tả cảnh thiên đàng tại thế khi Thiên Chúa “sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc lành cho họ và Thiên Chúa phán với họ : Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất (St 1, 27-28) …. và mọi thứ cây có trái mang hạt giống… và mọi thứ cỏ xanh tươi  để làm lương thực” (x. St 1,29-30). Thiên Chúa còn thường xuyên gặp gỡ, đi dạo rong chơi với  Ađam và Evà (x. St 3,8).  Và cuộc đời con người thật là hạnh phúc thiên đàng !
Nhưng thiên đàng ấy đã mất, sau khi ông bà phạm tội và cảnh khổ, bất hạnh đã theo tội lỗi vào thế gian, như lời truyền của Thiên Chúa  với Evà: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén ; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con.” (St 3,16), và với Ađam : “đất đai bị nguyền rủa vì ngươi ; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong cuộc đời mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hô trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3, 17-19).
Như thế, con người đã biết thiên đàng là gì, và hạnh phúc ấy ra sao : Thiên Đàng là tình trạng có Thiên Chúa hiện diện, con người ở với Thiên Chúa, và có tất cả hạnh phúc của con cái Thiên Chúa, những đứa con được Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc. Ngược lại, Thiên Đàng mất đi, khi con người sợ hãi, trốn tránh Thiên Chúa, vì cắt đứt tình nghiã với Thiên Chúa, như nguyên tổ loài người đã thưa với Thiên Chúa khi Ngài hỏi : “Ngươi ở đâu ?” sau khi ông bà  phạm tội : “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn” (St 3, 9-10).  
Thực trạng “Sợ hãi, trần truồng và lẩn trốn” Thiên Chúa chính là tình trạng đánh mất Thiên Đàng, khi con người không còn dám đến gần Thiên Chúa như con thơ sà vào lòng cha mình, nhưng lấm lét, sợ hãi vì không còn tin yêu, mà chỉ còn hình phạt ám ảnh ; khi con người mất hết những gì Thiên Chúa dành sẵn cho từ đời đời để đời đời hạnh phúc, nhưng thay bằng thiếu thốn, túng cực, bần hàn, nghèo khó ; khi con người không còn tự do ra vào nhà Thiên Chúa như nhà Cha mình, và của cha không còn là của con, nhưng cạn kiệt ân tình, cằn khô ơn nghiã vì phản bội, đổ vỡ tương quan do kiêu căng và âm mưu đoạt ngôi, chiếm quyền, để phải lẩn trốn khi bị trục xuất, khai trừ (x. St 3,23-24).
Vì kiêu căng và không tin yêu, con người đã tự mình làm mất Thiên Đàng, khi ương ngạnh khước từ và bất trung, bất tín với Thiên Chúa. Chính vì thế, ước mơ tìm lại Thiên Đàng đã mất không bao giờ nguôi ngoai trong mỗi người, bởi chúng ta đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, được sinh ra từ ý muốn và tình yêu của Thiên Chúa, nói cách khác, tất cả chúng ta thuộc về Thiên Chúa, vì được dựng nên từ Ngài và cho Ngài, nên suốt đời mãi canh cánh nỗi nhớ Thiên Đàng, ở đó có Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng toàn năng và Cha hiền giầu lòng thương xót.
Trong Tin Mừng, không phải một lần, mà rất nhiều lần, người Do Thái đã đặt vấn đề sự sống lại và Thiên Đàng với Đức Giêsu, bằng những cách hỏi khác nhau. Riêng Tin Mừng Luca của chúa nhật XXXII Thường Niên, Năm C, mấy người Do Thái thuộc nhóm Xa - Đốc là, “nhóm này chủ trương không có sự sống lại” (Lc 20,27) đã hỏi Đức Giêsu về chuyện vợ chồng ngày sau ở Thiên Đàng : “Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta luật này : Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh, hay em mình. Vậy nhà kia có bẩy anh em trai. Người anh cả lấy vợ nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ góa ấy. Cứ như vậy, bẩy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng người đàn bà ấy đã chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bẩy đã lấy nàng làm vợ ?” (Lc 20,28-33).
Câu hỏi thật hóc búa, nhưng không che dấu được giới hạn của con người trước Thiên Chúa. Giới hạn ấy được phô bầy khi con người nhìn Thiên Đàng hoàn toàn khác với những gì Thiên Chúa mặc khải. Với cái nhìn rất hữu hạn và thô thiển ấy, con người quên mất yếu tính của Thiên Đàng, nghiã là chỉ đánh giá Thiên Đàng theo tiêu chuẩn trần thế, định giá Thiên Đàng theo thang giá trị của con người trần tục với những nhu cầu trần tục. Cái nhìn trần tục ấy còn hạ giá Thiên Đàng như nhiều người vẫn mơ tưởng : ở Thiên Đàng có đủ món ăn chơi như ở trần gian, cũng rượu ngon, gái đẹp, hút sách, cờ bạc và mọi thứ trên đời, mà chẳng phải vất vả đi làm kiếm cơm gạo, hay ngay ngáy lo tiền nhà cuối tháng. Thiên Đàng trong tâm trí những con người này là thứ thiên đàng do óc tưởng tưởng bị ám ảnh bởi ham muốn vật chất và hưởng thụ, mà không mảy may dính dáng đến Thiên Đàng đích thực như Đức Giêsu đã mặc khải :
1.   Thiên Đàng của Thiên Chúa hứa ban là nơi có Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa của người sống :
Bởi bất hạnh lớn nhất của con người khi đánh mất thiên đàng tại thế, sau khi sa ngã phạm tội, là phải chết. Cái chết là tai họa, hình phạt lớn nhất, vì chết khép lại, đóng lại, cắt đứt, phá hoại tất cả, từ thân xác đến sự nghiệp, công trình, hiện tại, tương lai, ước mơ, thao thức. Nay Thiên Đàng được ban lại cho những ai “được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết” (Lc 20,34). Họ sẽ không bao giờ phải chết nữa, nhưng sống đời đời với Thiên Chúa hằng sống.
Vì thế, những gì thuộc thần chết, sự chết, cõi chết, và những gì có thể bị hư hao, hủy hoại sẽ không còn ảnh hưởng trên những nguời được sống lại và sống đời đời với Thiên Chúa là Sự Sống, nên những chuyện thuộc thế giới tương đối, hữu hạn, nhất thời, những dịch vụ thuộc sinh hoạt trần thế của con người trần thế sẽ không còn tái diễn ở thế giới dành cho những người đã sống lại từ cõi chết, và “không thể chết nữa, vì họ được ngang hàng các thiên thần” ( Lc 20, 36). Ngang hàng các thiên thần có nghiã sự sống mới họ vừa lãnh nhận từ Thiên Chúa hằng sống sau khi sống lại sẽ không còn là sự sống trong thân xác sẽ phải hư nát như đã hư nát, cũng không còn là những hạnh phúc không vĩnh cửu của con người còn mang trên mình thân xác sẽ chịu hủy hoại, tan rữa, nhưng là sự sống và hạnh phúc dành riêng cho những con người đã sống lại, để từ nay họ sống sự sống vĩnh cửu và hạnh phúc thiêng liêng như các thiên thần.
Khi trả lời những người thuộc phái Xa Đốc : “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống” (Lc 20,38), Đức Giêsu đã cho chúng ta biết : ở Thiên Đàng, chúng ta sẽ không bị sự chết đe dọa, khổ đau khống chế, nhưng sẽ sống một đời sống mới với sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa, vì được ở với Thiên Chuá hằng sống, Thiên Chúa của người sống. Và hạnh phúc của chúng ta sẽ là hạnh phúc của các thiên thần, thụ tạo thiêng liêng của Thiên Chúa (x. Lc 20,36).
2.   Thiên Đàng là Gia Đình của Thiên Chúa :
Chỉ gọi là nhà, là mái ấm, là gia đình khi có bóng cha hiền hoà, có mẹ yêu dấu, có đàn con ngoan, hiếu thảo. Nếu địa đàng của buổi đầu Sáng Tạo đã biến thành vườn chết, ở đó, có cây tội lỗi, có Rắn độc qủy quyệt cám dỗ, có ông bà nguyên tổ phản bội, bất trung, bất tín nên ra nông nỗi phải xấu hổ khi thấy mình trần truồng, phải sợ hãi, lẩn trốn do không còn tấm áo ơn nghiã, và bị tước đi quyền làm công chúa, hoàng tử, con của Vua Thiên Đàng, “Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình”, thì Thiên Đàng là mái ấm, gia đình, nhà của Thiên Chúa, ở đó, Thiên Chúa trở lại với con người như buổi đầu Ađam và Evà chưa phạm tội, khi mà con người còn trọn vẹn vinh dự và quyền làm con Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã qủa quyết : Những người được sống lại “họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại” (Lc 20,36).
Như thế khi được nhận vào hàng ngũ “những người được Cha Ta chúc phúc, hãy vào hưởng sự sống đời đời” (Mt 25,34), người được sống lại không những sẽ không bao giờ phải chết nữa, nhưng quan trọng và hạnh phúc gấp bội phần là được nhận làm con cái trong gia đình Thiên Chúa. Đây là hạnh phúc vô cùng, hạnh phúc đích thực, cũng là cùng đích của hành trình làm người trên dương thế, khi được Thiên Chúa xót thương, được gọi là con Thiên Chúa, được nhìn thấy Thiên Chúa và được Thiên Chúa cho thoả lòng. Và vì là con Thiên Chúa, những người được sống lại và được chúc phúc sẽ được Thiên Đàng làm sở hữu, gia nghiệp, Nước Trời làm quê hương, gia đình, mái ấm, ở đó có Thiên Chúa là Cha và không còn nước mắt khóc than, nhưng được vui mừng hớn hở vì phần thưởng được dành cho trên Thiên Đàng thật vô cùng lớn lao, như Đức Giêsu đã long trọng công bố trong Hiến Chương Nước Trời trên núi  Bát Phúc năm xưa (x. Mt 5,3-12).  
Vâng, khi nhớ đến “thân phận sẽ phải chết”, không ai không liên tưởng đến “tội - phúc, thưởng - phạt, thiên đàng - hoả ngục”. Người Do Thái đồng thời với Đức Giêsu đã thay chúng ta đặt những vấn nạn về đời sau, những chuyện “khó nói và ít ai dám nghĩ tới”, và Đức Giêsu đã mặc khải chân lý cuộc đời này, cũng như cuộc sống đời đời mai hậu cho chúng ta.
Xin Chúa thương ban cho mỗi người luôn ý thức và đừng bao giờ quên : tất cả mọi người đều đã đến từ Thiên Chúa khi lãnh nhận ơn làm người với hình ảnh Ngài, và nhập cuộc vào đời để thực hiện chương trình của Ngài, để rồi sẽ trở về với Ngài sau hành trình dương thế.  
Được thuộc về Thiên Chúa, và là con cái Thiên Chúa, chúng ta hãy vui mừng vì vinh dư cao qúy và hạnh phúc vô cùng có Thiên Chúa là Cha, Đấng đời đời trung tín và không từ bỏ ai biết tín thác, trong cậy nơi Ngài đang khi “mong đợi Ngài lại đến” và cho chúng ta được sống lại vinh quang trong Nước Ngài.
Jorathe Nắng Tím


Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

THIÊN CHÚA CỦA SỰ SỐNG ĐÃ CHẾT !


Đây chính là tiền đề của mọi khích bác, chống đối, khườc từ, phạm thượng, ngạo mạn của con người, từ hơn hai ngàn năm nay dành cho Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa khi Ngài nhận mình là “sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25), đồng thời là “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), nhưng thực tế Ngài lại chết tức tưởi, trần truồng, ô nhục trên thánh giá như một tội phạm. Nghịch lý ở một Thiên Chúa tòan năng lại hoàn toàn bất lực, như lời cười nhạo của lính tráng, và dân chúng đứng nhìn Đức Giêsu tắt thở : “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn” (Lc 23,35) ; nhiều người khác còn nặng lời thách thức : “Ông Kitô, Vua Ítraen ơi, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin” (Mc 15,32).
Qủa thực, không phải những người Do Thái, đồng bào, đồng đạo của Đức Giêsu cách đây 2019 năm đã “vấp phạm” vì nghịch lý này, mà chính chúng ta hôm nay cũng nhiều lần “lấn cấn, mắc kẹt” và tự hỏi : Tại sao Thiên Chúa đã phải làm người để chìm vào bóng tối tội lỗi của nhân loại, ngụp lặn trong yếu đuối của cám dỗ ? Tại sao Thiên Chúa của sự sống lại làm người, dù biết làm người thì phải chết, làm người sẽ sợ hãi, khổ đau, làm người là mang lấy mong manh, bọt bèo ? Và rất khó để giải thích nghịch lý một Thiên Chúa toàn năng, thánh thiện, nguyên ủy của sự sống đã chết cái chết của người có tội.    
Ở đây, dưới ánh sáng của Tin Mừng, chúng ta khiêm tốn đi tìm ý nghiã và giá trị cứu độ của nghịch lý : Thiên Chúa của sự sống đã chết này.
Ngay từ những ngày đầu đời công khai, Đức Giêsu đã được thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian” (Ga 1,29), và chính Ngài đã không ngừng công bố : “Mạng sống cuả tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,18). “Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Thánh Phaolô cắt nghiã cho giáo đoàn Rôma : “Thật vậy, mọi người  đã phạm tội và bị tước vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội, nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin ở Người” (Rm 3,23-25).
Như thế, Đức Giêsu Kitô, “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8), để chúng ta thấy rằng : tội lỗi của chúng ta có một sức nặng kinh khủng, đến nỗi chúng ta mất hết sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa dành cho, và chỉ duy nhất Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa mới có thể gánh tội, chuộc tội, xóa tội chúng ta qua công trình cứu chuộc của Ngài, ở đó Ngài đã làm người như chúng ta, ở giữa chúng ta, đổ máu và hy sinh mạng sống để chúng ta được sống nhờ được trở nên công chính trong máu cứu chuộc của Ngài. Nói cách khác, Đức Giêsu Kitô đã đi vào  mầu nhiệm nghịch lý khi thiên tính mặc lấy nhân tính, Thiên Chúa của sự sống đón nhận cái chết của con người, Chiên Thiên Chúa thánh thiện, tinh tuyền, vô tội gánh hết tội lỗi trần gian, Thiên Chúa của Hạnh Phúc, Bình An vui lòng chịu “đổ mồ hôi máu, và buồn sầu đến chết được” vì căng thẳng, hãi hùng, xao xuyến trước giờ bị bắt  (x. Mc 14,33-34), Đấng Thiên Sai “đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng » lại hoang mang phút lâm chung và hốt hoảng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con ?” (Mc 15,34).  
Nhưng tại sao Đức Giêsu phải đi vào con đường nghịch lý ?
Thưa vì Thiên Chúa muốn chúng ta nhận ra mỗi người chúng ta được Thiên Chúa yêu thương vô cùng và đến cùng, nghiã là lúc nào chúng ta cũng được Thiên Chúa vô cùng yêu thương và nhân hậu tha thứ, cả những lúc chúng ta tự ý bỏ Ngài, cố tình lãng quên, xúc phạm, lên án, đóng đinh Ngài. Đi vào nghịch lý, Đức Giêsu muốn chứng minh Thiên Chúa đã yêu con người đến mức con người không thể hiểu nổi, vì đó là tình yêu của một Thiên Chúa “si mê” con người đến nỗi tự nguyện  xuống thế làm người, để ở với con người, và chết như con người, cho con người được chung hưởng sự sống và vinh quang đời đời của mình.
Qủa thực, không có Thiên Chúa của tôn giáo nào đã “xuống thế làm người và chết cho con người, vì yêu con người”, như Thiên Chúa của Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, và đợi chờ duy nhất của Thiên Chúa ấy là chúng ta “tin vào Đức Giêsu, Đấng được Thiên Chúa sai đến để hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhân loại”, để một khi nhận ra mình được cứu độ vì được yêu thương bởi Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối, Tình Yêu vô cùng, chúng ta sẽ không thể không khao khát ở lại trong Thiên Chúa, tháp nhập vào Thiên Chúa , muốn nên “đồng hình đồng dạng” với Thiên Chúa bằng sống yêu thương và chết yêu thương mỗi ngày như Đức Giêsu trên hành trình dương  thế.
Sống yêu thương mỗi ngày khi khiêm tốn, hiền lành, dễ thương, dễ gần, quảng đại, hào sảng, lạc quan để ai cũng có chỗ trong trái tim, trong nhà, và trong đời sống của ta ; chết yêu thương mỗi ngày khi bình an đón nhận những phiền phức, trái ý, hiểu lầm, hàm oan, vô ơn, phản bội, bất công của người khác, có thể là người thân như cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn hữu ; có thể là đức cha giáo phận, bề trên giám tỉnh, chị trưởng phụ trách cộng đoàn, cha xứ, cha phó, ông quản, ông trùm ; và cũng có thể là những người thuộc quyền, bề dưới, học trò, môn sinh “non người trẻ dạ”, “ngựa non háu đá”, “trứng khôn hơn rận”. Mỗi ngày tập sống yêu thương là không chấp nhất, so đo hơn thiệt, tranh giành, bon chen để đức ái lúc nào cũng ngời sáng, để Bình An của Đức Giêsu được lan toả xa rộng cho mọi người chung quanh ; mỗi ngày tập chết yêu thương là “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7), để Thiên Chúa là Tình Yêu được lớn lên và mọi người được hạnh phúc trong Tình Yêu Cứu Độ. Nhưng để sống yêu thương và chết yêu thương mỗi ngày, chúng ta cần biết mình yếu đuối, tội lỗi, không hoàn hảo, nhưng giữa những lỗi lầm, thiếu sót vẫn tin tưởng và khiêm tốn tiến lên với ơn phù trợ của Thánh Thần Tình Yêu.   
Tháng cầu cho các Linh Hồn là dịp để chúng ta xác tín hơn : Đức Giêsu Kitô là sự sống đã chết cho chúng ta được sống ; Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa đã làm người để chúng ta được tham dự vào thiên tính của Thiên Chúa ; Đức Giêsu Kitô đã tự nguyện gánh những phiền muộn, tật bệnh, tội lỗi của con người tội lụy để chúng ta được chung phần hạnh phúc, vinh quang của Thiên Chúa.
Tháng cầu cho các Linh Hồn cũng là dịp chúng ta nhận ra niềm an ủi lớn lao, mà có thể ít khi chúng ta nghĩ tới, đó là Đức Giêsu Kitô đã chết như con người, đã mang trọn cái chết vào “phận làm người” của Thiên Chúa, để mỗi người chúng ta được chết với Ngài, có Ngài trong giờ chết, có Ngài ẵm bế, ủi an, có Ngài nâng đỡ, bênh vực, có Ngài thương xót, thứ tha, có Ngài dìu dắt, đồng hành vượt qua kiếp sống trần gian đi vào cõi sau đời đời.
Có Đức Giêsu đã chết cho chúng ta được sống ; có Đức Giêsu đã chết như người có tội cho chúng ta được an lòng, vững dạ giờ lâm chung, chúng ta còn lo lắng gì nữa, có chăng chỉ là lo sống yêu thương mỗi ngày như người Samaritanô nhân lành đã chạnh lòng thương chấp nhận mất giờ, mất tiền, mất sức, kể cả mất mạng không chừng khi thấy người  đi đường bị bọn cướp “trấn lột, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết” (Lc 10,30), đã “lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc” (Lc 10,34)  và tập chết mỗi ngày khi noi gương Đức Giêsu trên thánh giá “tha thứ cho cả những kẻ làm khốn mình” (Lc 23,34), và thiết tha cầu nguyện như người trộm lành : “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến con trong Nước Ngài” (Lc 23,42).
“Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa tha tội chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hoả ngục, xin cho các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn. Amen”.
Jorathe Nắng Tím  

CẦU NGUYỆN NHƯ ĐỨC GIÊSU

Không ai là người Kitô hữu lại không biết đến cầu nguyện : cầu nguyện như bổn phận thảo hiếu đối với Cha trên Trời ; cầu nguyện là lẽ sống, vì thiếu cầu nguyện, người tín hữu không thể hiệp thông, hiệp nhất trong Chúa và với anh chị em ; cầu nguyện để xin ơn trợ giúp, ủi an, và các ơn lành hồn xác ; cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Nhưng “biết đến cầu nguyện” chưa phải là “biết cầu nguyện”. Bằng chứng là các tông đồ khi thấy Đức Giêsu thường xuyên cầu nguyện đã xin Ngài dạy các ông cầu nguyện (Lc 11,1). Và Ngài đã dạy các ông Kinh Lạy Cha (x. Mt 6,9-13), đồng thời dạy các ông :
·        “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt 6,7-8).
·      “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả : chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy… Còn anh em, khi cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng cha của anh em, Đấng hiện diện kín nơi đáo, và thấu suốt những gì kín đáo…” (Mt 6,5-6).
·      “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm điều gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,44-48).               
Qua những dặn dò, chỉ dẫn cầu nguyện của Đức Giêsu, chúng ta nhận thấy :
1.    Con đường nên thánh của mỗi người hệ tại ở việc cầu nguyện với thái độ khiêm nhường, tín thác ở Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót, Đấng biết con cái mình cần gì, thiếu gì.
Dụ ngôn người Pharisêu kiêu căng tự nhận mình là đạo đức, thánh thiện và người thu thuế khiêm nhường biết mình là kẻ tội lỗi cùng lên Đền Thờ cầu nguyện của Tin Mừng Luca đã cực tả điều Đức Giêsu muốn có ở tâm hồn cầu nguyện : Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : “Lậy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay một tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi’ (Lc 18,11-13). Và Đức Giêsu kết luận : “Tôi nói cho các ông biết : người này khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mnìh lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14).
2.   Con đường nên thánh còn hệ tại ở việc thực hiện Đức Ái ở mức độ anh hùng, khi “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5, 44).
Như thế, cầu nguyện và thực hành Đức Ái luôn phải đi đôi với nhau, như cây Thánh Giá, với thanh gỗ dọc cắm sâu vào đời sống và vươn cao tới Trời, biểu hiện tâm hồn cầu nguyện luôn gắn bó, kết hiệp với Thiên Chúa ; và thanh gỗ ngang của Thánh Giá chính là đôi tay giang rộng ôm lấy anh em đồng loại khi yêu thương, phục vụ mọi người, bất kể họ là ai.
Bên cạnh những điều được căn dặn trên, Đức Giêsu còn một bí mật của cầu nguyện, mà chỉ ở những ngày cuối đời, vào giờ phút quyết liệt, kinh khủng nhất, Ngài mới tỏ ra cho các tông đồ, là những người được đi cùng Ngài vào vườn Cây Dầu trước khi Ngài bị bắt. Đó là cầu nguyện theo ý của Thiên Chúa Cha.
Tuy trong Kinh Lạy Cha, Ngài đã dạy các tông đồ cầu nguyện : “Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,10 ), nhưng các ông không hiểu hết ý nghiã của lời cầu “theo ý Thiên Chúa” này, bởi chưa rơi vào hoàn cảnh đắng cay, nghiệt ngã, chưa ở bước đường cùng bế tắc, chưa bị kẹt vào đêm tối của con nợ bị chủ nợ thuê đầu gấu truy lùng, chưa bị cùm chân còng tay trong phòng biệt giam vì bị hàm oan, tố láo, chưa bị Bề Trên nổi giận, ra tay sửa phạt vì bị hiểu lầm, chưa bị thiên hạ “bầy binh bố trận” cho “knock - out”, lọt lưới, các tông đồ cũng như chúng ta không thể hiểu được cái khó khăn khi phải cầu xin theo Thánh Ý Chúa, không cảm nghiệm được nỗi đau rướm máu khi lời cầu xin “theo ý mình” không được khứng nhận, chưa thể hiểu mãnh lực của cơn cám dỗ “không tin ở Thiên Chúa toàn năng và yêu thương” khi nhu cầu cấp bách không được Thiên Chúa đáp ứng, và hoàn cảnh bi đát, khốn cùng không được Thiên Chúa can thiệp.  
Để các tông đồ hiểu cái khó khăn khi phải thống thiết cầu nguyện “theo thánh ý Thiên Chúa, mà không theo ý mình” ở những hoàn cảnh cam go, nghiệt ngã, Đức Giêsu đã cùng các môn đệ đi ra núi Ô - liu. Đến nơi, Người bảo các ông : “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Rồi Người đi xa các ông một quãng chừng bằng ném một hòn đá, và qùy cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, nếu đẹp ý Cha, thì xin Cha cất chén đắng này xa con. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha” (Lc 22,40-42). Lúc bấy giờ “lòng xao xuyến bồi hồi, nên Người càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,4).
Người xao xuyến, bồi hồi vì cuộc khổ nạn và cái chết gần kề, ở đó mọi người bỏ Ngài, các tông đồ thì kẻ chối, người phản bội, số còn lại bỏ chạy “mất dép”, chỉ còn lại thân mẫu, vài người phụ nữ, và duy nhất một tông đồ Gioan ở lại với Ngài dưới chân Thánh Giá ; Ngài xao xuyến, bồi hồi vì gánh nặng vô song của tội lỗi đè trên đôi vai, và đường thánh giá dài lê thê, não nề, kinh khủng trước mặt. Chính trong giây phút cực căng thẳng và khủng hoảng này, Ngài cảm thấy chén phải uống đắng đót, khó uống qúa, và đã cầu xin Chúa Cha : “Nếu được, thì xin Cha cất chén đắng này cho con”. Và các tông đồ đã bắt đầu hiểu được cái khó của lời cầu xin theo Thánh Ý, cho đến khi chính các ông lâm trận, rơi vào thử thách khi Thầy bị bắt, bị lên án đóng đinh, các ông mới thấm thía thách đố cam go của lời cầu nguyện : xin cho Thánh Ý Cha được thể hiện, mà không phải ý con.  
Vâng, cầu nguyện như Đức Giêsu tiên vàn sẽ là cầu nguyện theo Thánh Ý Chúa Cha, nghĩa là “xin cho Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Sở dĩ Đức Giêsu đã cầu nguyện được như thế, vì Ngài hoàn toàn xác tín : Chúa Cha yêu thương Ngài vô cùng, như khi chịu phép rửa bên sông Giôđanô, “Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người”. Và có tiếng từ trời phán : “Đây là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3,17) ; Ngài còn xác tín : “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11).
Với niềm xác tín thuộc về Chúa Cha trọn vẹn và được hiệp nhất trong tình yêu với Chúa Cha, Đức Giêsu đã vượt qua cám dỗ theo ý mình, để  cầu nguyện theo thánh ý Chúa Cha, dù có lúc tâm hồn xao xuyến, bồi hồi đến đổ mồ hôi máu, khi gánh nặng cuộc đời đè bẹp sức người có hạn, tưởng không còn có thể lết đi.
Lạy Đức Giêsu, xin nâng đỡ lời cầu nguyện còn yếu đuối, dè dặt, do dự, so đo, tính toán, nghi ngại, ngờ vực của chúng con trước Thánh Ý của Chúa. Xin giúp chúng con không chỉ cầu nguyện với trái tim nồng nàn yêu thương, và với thái độ đơn sơ, khiêm nhường, kín đáo, mà còn dám cầu nguyện với lòng tín thác tuyệt đối ở Thánh Ý của Thiên Chúa, là “mẹ hiền an ủi con thơ” (Is 66,13), là gà mẹ tập hợp, chở che đàn con dưới cánh (Mt 23,37), và mãi mãi Thiên Chúa là Mẹ hiền yêu thương biết rõ con cái cần gì trước khi con cái cầu xin (x. Mt 6,8).
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2019

TIN NHẮN TÌNH YÊU


Hôm nay vừa đúng một tuần Trà My và ba mươi tám bạn của cháu “cùng chết bên nhau”, hay “chồng chất lên nhau” trong tủ lạnh khổng lồ của thời đại buôn người tị nạn thế kỷ XXI, với độ lạnh âm 25 độ C, để thoát được máy “quét tầm nhiệt” của cơ quan an ninh biên phòng vương quốc Anh. Đường giây đã thực hiện đúng quy trình và khế ước khi thành công đưa cháu và các bạn vào nước Anh, thiên đường mà cháu đã mơ ước và nhiều người vẫn theo nhau tìm cách lọt vào, nhưng thay vì đưa vào miền đất sống, họ đã đưa cả nhóm vào quan tài đông lạnh ; thay vì đem cháu và các bạn đến Anh để sống và sống dồi dào, họ đã cho đóng băng  container, để không còn một người sống sót vì lạnh và ngạt thở. Có lẽ cháu đã chết ngay sau khi gửi vội tin nhắn cho ba mẹ ở quê nhà : Con thương bố mẹ nhiều, bên cạnh là lời xin lỗi. Tôi không hiểu sao cháu có thể gửi được tin nhắn này từ một container đông lạnh, đóng kín … Vấn đề này tôi không biết và không thể kiểm chứng, nhưng hoàn toàn dựa theo thông tin từ nhiều báo chí nước ngoài.    
Hình ảnh của cháu và tin nhắn này đã làm rúng động cả thế giới, và làm hàng triệu người phải rơi lệ khóc thương số phận vô cùng bi thương, nghiệt ngã của cháu và các bạn trên hành trình đi tìm đất hứa. Báo chí, truyền hình, cộng đồng mạng, quê nhà, quê người, nhà thờ, chùa chiền, thôn quê, thành phố ở đâu cũng nói về các cháu, viết về các cháu với nhiều tâm tình khác nhau, quan điểm khác nhau, phê phán khác nhau. Ngoài đa số chạnh lòng thương cảm và giận dữ lên án đường giây buôn người bất nhân, còn có những người cho các cháu là khờ dại, không nắm bắt thực tế Âu Châu, không điều nghiên kỹ lưỡng đường giây đưa người ; người khác trách móc các cháu vọng ngoại, không yêu quê hương, không gắn bó với quốc gia dân tộc ; cũng có người lạnh lùng bàng quan coi ba mươi chín thi thể chết cóng là con số nhỏ tí teo, không đáng kể, chẳng thấm tháp gì so với hàng triệu người đã chết trong chiến tranh chống các thứ đế quốc ; lại có người vô cảm đến nhẫn tâm viết trên facebook : “Ham sang giầu, chết ráng chịu, có gì mà than thở”.
Như thế, trước biến cố ra đi của cháu và các bạn, trái tim con người đã không cùng nhịp đập, không cùng nhịp rung. Điều này nói lên một thực tế phũ phàng, rất đau lòng, đó là không phải mọi người đều biết thương khóc, thương cảm, thương hại, thương yêu  thân phận đồng loại, đồng bào, đồng hương, đồng đội đáng thương của mình, Trà My ạ !
Riêng bác, từ lúc đọc tin nhắn của Trà My gửi cho bố mẹ trước khi chết, bác miên man suy nghĩ về một điều khác khởi đi từ tin nhắn của cháu, tin nhắn mà bác trân trọng gọi là “Tin Nhắn Tình Yêu”.

Đó là tin nhắn Tình Yêu, vì chỉ  khi sắp chết ngạt, cháu mới có cơ hội gửi cho mọi người điều cháu muốn nói, đó là ngoài tình yêu, không còn gì được coi là có giá trị ở những phút giây cuối cùng của sự sống. Qua đó, cháu muốn người lớn nhận ra một sự thật là họ đang giết chết những người trẻ vô tội, nhiệt huyết như cháu, khi chỉ biết kiếm tiền, kiếm nhiều tiền, kiếm rất nhiều tiền, mà bất chấp khốn khổ, cơ cực, nợ nần, tủi nhục, đường cùng và mạng sống của người khác. Cháu muốn người lớn nhìn lại lẽ sống của họ, để tự vấn lương tâm, nếu lẽ sống ấy là ích kỷ, gian tham, bóc lột, chiếm đoạt, hưởng thụ ; nếu lẽ sống ấy chỉ là “cái tôi”, “gia đình tôi”, “phe cánh tôi”, mà đốt cháy không ngượng ngùng ngày mai của tuổi trẻ, tương lai của đất nước, hạnh phúc của đồng bào, và đang tâm bán đứng sự sống của người khác để “vinh thân phì gia”. Cháu muốn người lớn thôi đi những bài luân lý, đạo đức trên diễn đàn, bục giảng, vì chỉ trong vài phút cuối đời, cháu đã kịp nhận ra những chiêu trò xảo trá, ma mãnh, ác độc của những con người giả hình, “khẩu Phật tâm xà” đã ru ngủ tuổi thanh xuân và làm ô nhiễm những tâm hồn đơn sơ, trong sáng chưa một lần biết nói dối. Cháu  muốn người lớn ngưng huyênh hoang nhân danh đủ thứ giá trị bằng kỹ năng xử dụng các mỹ từ, xáo ngữ hầu mua chuộc đám đông, mồi chài quần chúng, phỉnh lừa tuổi trẻ. Cháu  cũng muốn người lớn có quyền, có chức đừng cậy vào cơ chế, đừng vịn cớ củng cố kỷ cương, lề luật mà vùi dập không tiếc thương những con người  yếu đuối, lỗi lầm đang cần được thương xót, băng bó, chữa lành. Và cháu muốn người lớn nhớ mãi một điều : không ai bất tử, sống mãi, và ở những giây phút cuối đời, sẽ chỉ còn lại duy nhất một giá trị là Tình Yêu.   
Đó là Tin Nhắn Tình Yêu cháu đã gửi cho những con người từng ngày tập sống yêu thương để ganh ghét không còn là siêu vi trùng tàn phá gia đình, gia tộc, làng xóm, quê hương với tốc độ ánh sáng, bởi  khi gần chết ngạt, cháu đã kịp nhận ra cơn dịch ganh ghét ở quê hương mình đang dậy anh em ruột thịt cách cầm dao giết nhau, dậy vợ chồng  cách đổ xăng đốt sống nhau, dậy cháu chắt  cách dùng giây thắt cổ ông bà. Cháu đã nghe những thảm cảnh giết người hàng loạt liên tiếp xẩy ra gần đây, những màn đánh ghen thô bạo, man rợ, độc ác mà chỉ ở quê mình mới có, và cháu đã kịp lợi dụng những giây phút cuối đời để nhắn gửi mọi người : ở giờ chết người ta mới hiểu hết ý nghiã và giá trị vô cùng cao qúy của Tình Yêu.
Đó là Tin Nhắn Tình Yêu cháu gửi bố mẹ và gia đình đang chết ngất vì tiếc thương cháu, cũng là tin nhắn Tình Yêu cháu gửi tất cả mọi người, đăc biệt các bạn trẻ đang đau khổ vì tình yêu ; đang xất bất xang bang, tơi tả, te tua vì yêu thương người khác mà bị mất mát, thiệt thòi, lạm dụng ;  đang hết mình, hết tình cho đi mà không được đền đáp. Qua tin nhắn Tình Yêu, cháu nhắn gửi họ, những tâm hồn tan nát vì yêu thương ấy hãy can đảm để tiếp tục yêu thương, mà không chùn bước trước thử thách của vô tình, vô ơn, ruồng rẫy ; hãy bền chí yêu thương mà không buông xuôi, đầu hàng trước thách đố của hiểu lầm, đố kị ; không bỏ cuộc, bỏ hàng ngũ của những con người được sinh ra để yêu thương trước những bất công, phản phúc của chính những người mình yêu thương, xây dựng. Cũng qua tin nhắn Tình Yêu, cháu khuyến khích những những người đang yêu nhau hãy biết trân qúy tình cho nhau, hãy trân trọng từng giây phút yêu thương của hiện tại, và đừng bao giờ quên rằng : quà tặng vô giá và vĩnh cửu của con người, chính là Tình Yêu cho nhau. Và bác nghĩ, chỉ ở vào những phút cuối của cuộc đời, cháu mới cảm nghiệm trọn vẹn giá trị tuyệt đối của Tình Yêu. Có phải vậy không cháu ?
Đêm nay là đêm thứ bảy Trà My và các bạn bỏ cuộc chơi làm người, miễn cưỡng đi vào cõi chết, ở vùng đất chết, trong quan tài sắt to đùng, thô kệch, bẩn thỉu đã được đồng loại thiếu tình yêu chỉnh độ đông lạnh nhiều giờ trước khi tất cả các cháu biến thành “thây ma, xác chết” vì lạnh cóng và ngạt thở. Bác nghe tim mình se thắt, bâng khuâng trước giòng tin nhắn ngắn ngủi nhưng vô cùng nhiệm lạ của cháu. Cháu đã không nhắn một tin kêu gọi báo thù ; không gửi lại cho người sống tin nhắn uất hận, căm phẫn ; cũng không nhắn gửi cáo trạng, tố khổ, kể tội, nhưng vắn tắt : 
“Con xl (xin lỗi) bố mẹ nhiều, mẹ  ơi”, “Mẹ ơi, con xl mẹ, mẹ ơi”, “con thương bm (bố mẹ) nhiều”.
Cháu đã nhắn tin Xin Lỗi bố mẹ, ở thời điểm 22 giờ 28 phút ngày 22 tháng 10, năm 2019 (giờ GMT), là giây phút hấp hối, cùng lúc cháu viết thêm : “Con chết vì không thở được”.
Viết lời Xin Lỗi người yêu thương mình, cháu đã thể hiện Tình Yêu ở mức độ cao nhất, bởi trong tình yêu, biết và dám xin lỗi người mình yêu là cao điểm của tình yêu, mà không phải cứ yêu là làm được. Thực vậy, tuy là đứa con ngoan, nhưng chỉ ở giây phút cuối đời, cháu mới hiểu hết sự nhiệm lạ của lời Xin Lỗi trong Tình Yêu, vì chỉ ở giây phút bi hùng này, cháu mới thấy rõ Xin Lỗi là cái thiếu nghiêm trọng đã làm nhiều cuộc tình đứt gánh, nhiều ân tình phải gạt lệ chia xa.
Trà My và các bạn thân mến,
Với bác, Trà My là phát ngôn viên của cả nhóm đã thay mặt các bạn gửi cho những người còn sống tin nhắn Tình Yêu vô cùng nhiệm lạ : nhiệm lạ của lời Xin Lỗi, nhiệm lạ của lời Yêu Thương trước giờ chết. Sở dĩ nhiệm lạ, vì tin nhắn ấy không khác tin nhắn của Đức Giêsu trước giờ chết trên Thánh Giá ; vì cũng trong giây phút hấp hối, Ngài đã thều thào gửi tin nhắn cho Thiên Chúa, Cha Ngài : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây là tin nhắn Tình Yêu của Thiên Chúa Tình Yêu đã tha thứ cho hết mọi người, kể cả những người đã vu khống, cáo gian, lên án, hành hạ, đóng đinh mình ; tin nhắn Tình Yêu của Chiên Thiên Chúa đã chịu thay, gánh thế, xóa tội cho nhân loại bằng cái chết tang thương, tức tưởi, ô nhục.
Vâng, bác không thể quên các cháu, vì các cháu rất giống Đức Giêsu, Đấng bác tôn thờ, khi các cháu cũng chết ngoài đường, chết tức tưởi, tang thương, chết cô đơn, câm lặng vì sự độc ác của đồng loại như Ngài, và tin nhắn, như lời trăn trối sau cùng của các cháu cũng đạt cao điểm của Tình Yêu, dạt dào Tình Yêu, ngút ngàn Tình Yêu như Ngài, chỉ khác Ngài là Thiên Chúa nên nhắn cho con người tin vui Tha Tội, còn các cháu là con người nên nhắn gửi mọi người lời Xin Lỗi, Yêu Thương.
Cùng với mọi người, bác ký thác Trà My và các cháu trong Thiên Chúa là Tình Yêu và Sự Sống. Xin cho các cháu được an nghỉ đời đời và hẹn gặp các cháu một ngày trên Thiên Đàng không còn tỵ nạn, trốn chạy, sợ hãi, đói khát, cóng lạnh, chia lià và nước mắt khổ đau.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

HÀNH TRANG VÀO ĐỜI SAU

Tháng Mười Một gợi nhớ nhiều về sự chết, người chết, và cũng nhắc nhớ sẽ đến phiên mình chết một ngày : xa gần không biết, ở đâu không hay, cách nào không rõ, nên mỗi năm khi tháng cầu cho các linh hồn về, nghe lòng như chùng lại, tim se thắt, xót xa, và cổ họng đắng chát phận buồn “con người biết mình phải chết”.
Phải chết một ngày vì là con người, bởi đã là người thì phải chết như án lệnh từ đời đời cho cả loài người, và cứ thế, người trước kẻ sau, bất phân mầu da, tiếng nói, tuổi tác, giai cấp, trình độ…, người người nối đuôi nhau, tiếp theo nhau nhận lệnh lên đường “đoàn tụ với tổ tiên, ông bà” bỏ lại cuộc sống, giã từ trần gian, đi vào cõi chết, mà không thể trì hoãn, gia hạn hay khiếu nại, thắc mắc, cũng không kéo được ai theo mình, hay mang theo được sự gì dù cỏn con, bé bỏng, nhẹ nhõm, ngay cả như hơi thở trước ngưỡng cửa vào thế giới hoàn toàn xa lạ, bí mật, chưa một lần tham quan, khảo sát …
Nhìn người chết vô hồn, bất động, cứng đơ, lạnh lẽo, ai cũng hiểu chết là chấm hết mọi chức vụ, dù người ấy có đang tại chức Giáo Hoàng, Giám Mục chính toà, nguyên thủ quốc gia, chủ tịch, giám đốc ; chết là chấm dứt mọi uy quyền, dù người ấy đang nắm giữ quyền sinh sát toàn thế giới, hay là nhà độc tài “hét ra lửa, thở ra khói” làm mọi người phải rụng rời, kinh sợ ; chết là kết thúc mọi chiến dịch vận động tìm kiếm  của cải, thành công, vinh quang, huy chương, bằng tưởng thưởng ; là đóng lại mọi ước mơ, kế hoạch, đồ án, chương trình, dù là những kế hoạch “kinh thiên động địa”, hay những chương trình “chuyển núi rời non”. Nhưng đồng thời chết cũng là trả hết nợ đời, trút bỏ gánh sầu buồn, tủi nhục của một đời nghèo đói, thất học, không gia thế, địa vị, bị người đời khinh khi, vùi dập, khai thác, bóc lột, lợi dụng ; chết cũng là giã từ những uất nghẹn khi bị người đời chụp mũ oan sai, vu khống hồ đồ, lên án oan uổng, và chết cũng là gửi lại đời những đẳng cấp, số má, bon chen, đấu đá, thị phi, tranh giành.  
Nhưng nếu chết là hết, là dấu chấm hết to đùng làm “đứng hình, tắt phim” tất cả và thực sự không còn gì sau dấu chấm hết này nữa thì coi như đã xong, đã hoàn tất mọi việc, mọi sự, và không còn gì lấn cấn, vướng víu : người giầu có, uy quyền, khỏe mạnh đã may mắn hưởng một đời hạnh phúc, còn người nghèo khổ, hèn hạ, tật nguyền thì đành chịu đã không may mắn trải qua một đời làm người bất hạnh, để chết rồi người may mắn, kẻ xui xẻo cũng như nhau ở kiếp tro bụi hư vô, không còn là bất cứ sự gì nữa, và cũng chẳng phải bận tâm lo nghĩ nhân qủa, thưởng phạt.
Trái lại, có nhiều dấu hiệu, nhiều điềm lạ, nhiều biến cố cho thấy : chết không hết, xác có tan rữa đấy, nhưng hồn vẫn còn đây. Trong giấc ngủ nửa mơ nửa tỉnh, người thân tuy đã chết nhưng vẫn thênh thang về gặp ; trong lời kinh tưởng nhớ, vẫn thấy gắn bó, gần gũi như ngày xưa những bóng hình đã khuất ; khói nhang quyện “hương lòng” trước bàn thờ, di ảnh người quá cố vẫn nghe xôn xao, se thắt nỗi  nhung nhớ, niềm tiếc thương… Phải rồi, người chết vẫn sống, vì linh hồn con người bất tử, người chết vẫn còn quanh đây, vì cuộc sống dương thế đã không chỉ toàn là bụi tro, nhưng còn là những “thiêng liêng, đời đời, tuyệt đối”.
    Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã khẳng định chân lý này :
·      “Nếu người ta được cả thế gian, mà mất sự sống đời đời thì nào có ích lợi gì ?” (Mt 9,26)
·       “Qủa thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. Còn về vấn đề kẻ chết sống lại, thì các ông không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao ? Người phán : Ta là Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác và Thiên Chúa của Giacóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống” (Mt 22,30-32).
·      “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ… Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,3.12).   
·      “Anh em chớ mừng vì qủy thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).
Đức Giêsu nói cho chúng ta, những người biết mình sẽ phải chết, nhưng không biết chết là gì, và chết rồi đi đâu điều này, đó là tất cả mọi người sẽ sống lại sau khi đã chết, có một sự sống vĩnh cửu, không bao giờ bị gián đọan sau sự sống này, có một vương quốc thuộc về Thiên Chúa sau cuộc sống dương thế, có một phần thưởng  lớn lao, có một danh sách ghi tên những người được ở trên trời, và Thiên Chúa là Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa của người sống. 
Nhưng vấn đề quan trọng ở đây là phải có điều kiện nào để được hưởng những điều Đức Giêsu  vừa kể, sau khi chết. Đây chính là “bí mật cứu độ” của Thiên Chúa đã được Đức Giêsu mặc khải cho những người bé mọn, vì trong thế giới của những kiêu căng, quyền lực, hưởng thụ, xa hoa, bí mật này dù có được công bố trên mái nhà, người ta cũng không mấy quan tâm, như Đức Giêsu đã nhiều lần lên tiếng : “Vậy, tôi phải ví người của thế hệ này với ai ? Họ giống ai ? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói : Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa ; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than”. Thật vậy, ông Gioan Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo : “Ông ta bị qủy ám”. Con Người đến cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo : “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Lc 7,31-34). “Ai có tai nghe thì nghe” (Lc 8,8).
1.   Điều kiện thứ nhất :  tin nhận Thiên Chúa là Tình Yêu không đổi dời, vô cùng và đến cùng :
Như người con thứ hoang đàng trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” đã có thể đứng dậy, lên đường trở về, vì anh đã tin Cha lúc nào cũng một mực yêu thương : yêu thương khi con ngoan ngoãn, vâng lời, yêu thương cả khi con ngang ngược, bất hiếu đòi chia gia tài khi cha còn sống ; vì anh đã tin tình Cha vô cùng bao la, hải hà, để yêu anh đến tận bước chân cuối cùng ở đường cùng “thân tàn ma dại”, sau khi đã ăn tiêu hết sạch tiền bạc, và lâm cảnh túng thiếu, phải đi ở đợ và chỉ dám ao ước lấy cám heo mà nhét cho đầy bụng (x. Lc 15,11-20).
Một khi tin tình yêu Thiên Chúa không đổi dời như tình con người dành cho nhau nay còn mai mất, hôm nay nồng nàn, ngày mai hờ hững, sớm mai sôi nổi, chiều về đã lạnh tạnh, hay khi vui thì đam mê, tha thiết, lúc buồn thì ngao ngán, dửng dưng, con người mới an tâm đi vào đời sau, mới tin tưởng bước vào đời đời, mà không hoang mang, sợ hãi bóng đêm sự chết; có tin Thiên Chúa là Cha nhân hậu, luôn trung tín với tình yêu bao dung dành cho con cái mình, con người mới bình an nhắm mắt, xuôi tay từ bỏ thân xác tro bụi để đi vào lòng Đấng đã tạo dựng nên mình vì yêu thương ; có tín thác ở Thiên Chúa, Đấng chỉ muốn băng bó, chữa lành, giải thoát và cứu độ ; Đấng “không đành bẻ gẫy cây lau bị giập, chẳng nỡ tắt đi tim đèn còn leo lét” (Mt 12,20), con người yếu đuối, tội lỗi ở giờ chết mới dám ngước mắt thân thưa trước Thiên Chúa như người con trở về : “Lậy Cha, con đã đắc tội với  Trời và với Cha” (Lc 15,18).     
2.   Điều kiện thứ hai : yêu thương anh em như chính mình đã được Thiên Chúa yêu thương :
Có một điều không thể chối cãi, đó là ai cũng có khả năng yêu thương, mà không ai có thể tị nạnh : người khác có khả năng yêu thương hơn tôi, hoặc tôi không biết yêu thương, không yêu thương “giỏi” như người khác. Trái lại, quà tặng đồng đều của Thiên Chúa cho mọi người là khả năng yêu thương, nên bất cứ ai, ở thời nào và ở đâu, trẻ già lớn bé, giầu nghèo, sang hèn, bất kỳ chỗ đứng nào trong gia đình, xã hội cũng đều có khả năng yêu thương như nhau và được Thiên Chúa mời gọi yêu thương như Ngài.
Vì thế, Đức Giêsu đã không đề ra một danh sách những hành trang con người phải mang theo đến trước Nhan Thiên Chúa khi chết, hay những tặng vật con người phải chuẩn bị để biếu xén, mua chuộc Thiên Chúa như con người thường làm đối với người có quyền, có chức, có ảnh hưởng ở thế gian, nhưng Ngài đã chỉ đưa ra một hành trang duy nhất mà con người phải mang theo khi chết, nếu muốn được vào Nước Trời, được sự sống đời đời, đó là Tình Yêu dành cho đồng loại.
Vì tất cả đã nhận đồng đều tình yêu để yêu, nên ai nấy, dù quyền cao chức trọng đến đâu, cũng phải đệ trình Thiên Chúa việc làm yêu thương của mình ; vì tất cả đã nhận cùng một vốn liếng Tình Yêu như nhau, nên không ai, dù thuộc phẩm trật cao cả đến cỡ nào, cũng không được miễn trừ trả lời việc làm sinh sôi nẩy nở nén bạc tình yêu ; vì tất cả đã được đồng đều trao ban tình yêu để yêu như ơn gọi, sứ vụ, nên không ai tránh được câu hỏi về quá trình yêu thương của mình trước Thiên Chúa ; vì tất cả  khi chết đều phải bỏ lại mọi người, mọi sự, mọi vương trượng, mũ mão, quyền lực, tiền của, danh vọng, nên ai cũng sẽ chỉ trơ trọi một mình với Tình Yêu là hành trang duy nhất; vì tất cả đã phải như nhau trở về tro bụi, khi tất cả những gì thuộc vật chất đã tiêu tan, nên ai nấy chỉ còn lại linh hồn thiêng liêng với tình yêu bất tử là hình ảnh của Thiên Chúa hằng sống, đời đời.
Như thế, con người hoàn toàn như nhau  trước Toà Thiên Chúa, khi ai cũng như ai : không mang được gì, cho dù cả thế giới là của mình ; không thể mua chuộc, mánh mung, đút lót, vì tất cả những gì đã có đều trở thành hư vô, và ai nấy chỉ còn lại Tình Yêu là hành trang để đi vào cõi hằng sống ; chỉ còn Tình Yêu là gia sản có giá trị, được phép mang theo ; chỉ còn Tình Yêu là thông hành phải xuất trình để được nhận vào Nước Trời ; chỉ còn Tình Yêu là dấu hiệu để được nhận ra là Con Thiên Chúa ; chỉ còn Tình Yêu là “gien ADN” để được khai sinh trong gia đình Thiên Đàng, và chỉ còn Tình Yêu để được  nghe  chính Đức Giêsu từ Toà vinh quang phán:
“Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thưở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát,các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu ; các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”… Và Ta bảo thật : “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho ta vậy” (Mt 25,34-36.40).   
Qủa thực, niềm an ủi và hy vọng duy nhất của con người biết mình phải chết là sẽ được chết trong Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót, như người đầy tớ mắc nợ vua kia mười ngàn yến vàng, bị đòi đến trước mặt Vua, nhưng không có gì để trả, đã sấp mình xuống bái lậy xin Vua rộng lòng hoãn lại kỳ hạn. Vua “chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ” (Mt 18,27). Tha hết món nợ kếch xù cho anh, Đức Vua chỉ mong anh cũng biết xót thương anh em như vậy. Nhưng rất tiếc cho anh, thay vì tha cho người bạn chỉ mắc nợ một trăm quan tiền, món tiền không là gì so với mười ngàn yến vàng anh vừa được Đức Vua xóa nợ, anh đã “mê muội, ích kỷ, ki bo, tàn ác, nhẫn tâm” đến độ cứ tống anh bạn mắc nợ kia “vào ngục cho đến khi trả xong nợ”, dù anh bạn khốn khổ, túng quẫn ấy đã sấp mình xuống và hết lời van xin. Và cái kết không ngờ đã đến với anh, khi Đức Vua biết chuyện đã cho đòi y đến và bảo : “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao ?”. “Rồi Đức Vua nổi giận, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho Vua” (Mt 18,32-34). Và Đức Giêsu đã kết luận : “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 35).      
Lậy Đức Giêsu, Đấng từ bi, nhân hậu, con biết con sẽ chết, nhưng không biết bao giờ chết và chết cách nào. Vì nhiều tội, lắm lầm lỗi, đầy thiếu sót, ngập khuyết điểm, nên con sợ giờ chết, sợ Chúa thịnh nộ từ chối con, không cho con đứng về phiá bên phải của những người lành được chúc phúc vì  họ đã sống một đời yêu thương, thực hành lòng thương xót.
Vì sợ nên con run rẩy sấp mình van xin Chúa thương xót, tha cho con món nợ Tình Yêu khổng lồ mà con biết sẽ không sao trả nổi. Và để được Chúa chạnh lòng thương, tha thứ, con hứa sẽ không “độc ác” như người đầy tớ không có lòng thương xót trong Tin Mừng mà chính Chúa đã kể, nhưng còn ngày nào được sống trên dương thế này, con sẽ cố gắng thực hiện từng bước Yêu Thương, Tha Thứ trên đường về đời sau.
Xin Chúa thương xót và nhớ đến chúng con trong Nước Chúa, nếu hành trang của chúng con ở giờ chết còn nhẹ tênh, chưa xứng đáng, Chúa nhé !
Jorathe Nắng Tím