Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2020

TÔI THÍCH NGÀY XUÂN


Ai chẳng thích Tết và yêu mùa Xuân, vì Tết có Cúc, Mai, Đào rực rỡ, Xuân có gió xuân dịu dàng, có nắng xuân ấm áp, có hương xuân ngất ngây, có tình xuân mặn nồng, nên không chỉ mình tôi thích Tết, yêu Xuân, nhưng tất cả đều yêu Xuân, thích Tết !
Mọi người thích Tết, vì Tết đến làm cho thời gian như dừng lại ngơi nghỉ. Nhiều tuần trước Tết, không ai bảo ai, nhưng dường như ai cũng chỉnh đồng hồ sinh hoạt chậm lại, để có giờ thong thả, thư thái, an nhàn hơn những ngày tất bật, vội vàng, cực nhọc trong năm. Với bước chân nhẹ nhàng, thanh thản của thời gian những ngày Tết, tinh thần được buông lơi, thả lỏng đang khơi dậy trạng thái bình an rất lạ trong tâm hồn.
Ai cũng yêu Xuân, vì đón Xuân về, không gian như rộng rãi, thông thoáng hơn, bởi Xuân ghé qua nơi nào thì nơi ấy không còn kẽm gai, hàng rào ngăn chặn, và đường đón Tết về thoáng đãng, khang trang cho lòng người phơi phới, thênh thang như chưa bao giờ bị tù hãm.
Người người thích Tết, vì Tết mang về bầu khí vui tươi của ngày hội lớn, không khí yêu thương của gia đình đoàn tụ, làn khí an toàn của bình minh tự do, không còn áp bức.
Riêng tôi, Tết rất đáng yêu, vì Tết đến làm cho mọi người yêu nhau lạ thường. Người ta bỏ đi nét mặt cau có, khó chịu, bực bội, giận dỗi trong những ngày Tết, và thay bằng dung mạo tươi tắn, dễ thương, dễ nhớ, dễ gần. Tết có uy trên cả những người đang rực lửa hận thù, đằng đằng sát khí đấu đá, tiêu diệt nhau. Bằng chứng là ngày Tết, không ai nói đến gươm đao, máu lửa, tai ương, chết chóc, và ngay cả giữa chiến trường, hai bên ở hai chiến tuyến cũng tạm thời hoà hoãn, ngưng chiến để đón Tết, mừng Xuân.
Yêu Tết, tôi cũng say nắng tình Xuân, vì Xuân về đổi mới trái tim mọi người, để rộng mở cửa lòng cho bao dung, hào sảng, thân ái theo nhau ùa vào. Ngày Tết, người ta triệt để tránh những lời thô tục, lăng mạ làm tổn thương nhau, và những đe dọa hung hăng, nạt nộ trừng phạt, đố kỵ thị phi đều được xếp vào mặt hàng cấm kỵ, tuyệt đối không được sử dụng những ngày đầu Xuân.  
Tôi còn đắm đuối đến độ ra ngẩn vào ngơ, vì say mê sắc đẹp của Tết, khi Tết về làm cho hồn người  trở nên cao thượng để bỏ qua chuyện cũ năm cũ ; làm cho tim người diụ dàng, mềm mỏng để cảm thông tha thứ những gì còn bận tâm, nặng lòng ; làm cho mắt người biết nhìn xa trông rộng, để không cực đoan, qúa khích, tự cao tự đại ; làm cho tay người biết mở ra để dám cho đi một phần đời mình, một phần của mình, một phần từ mình, mà không tiếc nuối, xót xa “cái tôi” vừa chia sẻ, như chiếc bánh được bẻ ra cho mọi người.  
Tôi cũng đi tìm muà Xuân, ngày Tết với khát vọng  được chiêm ngắm người người ngóng Xuân, nhà nhà đón Tết trong suy tư tích cực, với tâm tư vị tha, bằng ngôn từ nhân ái, và qua thái độ ứng xử nhân bản, thân thiện.
Và điều tôi khắc khoải mơ ước  hơn cả khi Tết đến, Xuân về chính là Ơn Trời được cảm tạ, công Mẹ Cha được đáp đền, tình vợ chồng được sắt son, nghiã huynh đệ được ghi khắc, để những nén hương nghi ngút trước bàn thờ không chỉ là trầm hương cháy nhanh, chóng tàn, nhưng là Hương Lòng lâu bền, qúy giá ; những lời Mừng Xuân, Chúc Tết không là xáo ngữ vu vơ, vô nghiã, hời hợt, nhưng là lời Chúc mang lại  Phúc Lành, Phúc Lộc, Phúc Đức, vì ăm ắp tình yêu, lòng tôn trọng và tâm tình tha thiết nguyện cầu Ơn Trên.
Ước gì Tết còn mãi để mọi người tiếp tục nhẹ nhàng, đằm thắm, ân cần, lịch thiệp, tử tế, hiền hậu, bao dung, ; ước gì Tết đến hoài để người lớn quan tâm người nhỏ, người  nhỏ kính yêu người lớn, và đó đây rộn rã niềm vui quên mình ; ước chi Xuân cứ ở lại suốt năm với đôi bạn trẻ mới quen nhau, với cặp vợ chồng mới cưới, với gia đình, làng thôn, quốc gia, dân tộc, để những cảnh bạo lực, bạo hành xẩy ra hằng ngày không còn nữa, những ganh ghét, hận thù, tỵ hiềm, đố kỵ phai mờ dưới  nắng Xuân, và gió Xuân cuốn xa biền biệt những bất an, bất ổn, bất bình, bất mãn, bất chính, bất công trong lòng người, và giữa lòng đời, để em tôi được đến trường bình an, anh chị tôi được làm người hạnh phúc, cha mẹ tôi được  an nhàn tuổi già và tổ tiên, ông bà  đã khuất bóng được ngàn thu an nghỉ dưới bóng mát nhân hậu chở che của Thiên Chúa là Mùa Xuân Vĩnh Cửu.   
Jorathe Nắng Tím
Ngày đầu Xuân  2020 

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020

Hayrakhoi

TÔN VINH MẸ LA VANG, NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM

Suy niệm 4 :      ĐỨC MARIA, MẸ CỦA NGƯỜI CÓ TỘI

Trong tất cả các kinh đọc hằng ngày, tôi yêu nhất lời kinh “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử, Amen.
Ôi lời kinh dễ thương và an ủi cho người có tội làm sao ! Cảm động và đem lại niềm hy vọng cho tội nhân đang tuyệt vọng dường nào !  Bởi là lời kinh nài xin tình mẫu tử bao la của Mẹ Thiên Chúa hồi sinh thân phận phải chết của con người tội lụy.
Thực vậy, ba mươi năm được Đức Maria nuôi dưỡng và đào tạo ở Nadarét, Đức Giêsu đã học ở Mẹ mình rất nhiều : học tin ở Thiên Chúa Giavê, là Thiên Chúa duy nhất và nhân ái, Đấng đã chọn Ápraham, một người cao niên để sinh ra một dòng dõi trong tuổi già và chọn làm dân riêng (St 17,1-3) ; học lắng nghe, suy gẫm và sống Lời Thiên Chúa, để trở nên người đơn sơ, chất phác, thanh bạch, được gọi chung là “người nghèo khó của Đức Chúa”, và đối với những người này, Thiên Chúa là tất cả, còn mọi sự chỉ là hư không, và Lề Luật, cũng như đức khôn ngoan, công chính thì cao trọng, qúy giá hơn tất cả vàng bạc châu báu.
Đức Giêsu còn được Mẹ dậy lòng yêu quê hương, dân tộc, và truyền thống đức tin của tổ tiên, cha ông. Ngài đã học với Mẹ tinh thần “tương thân tương ái” giữa họ hàng, làng xóm bằng chia sẻ đời sống vất vả, cơ cực nhưng chân chất, thân thiện với mọi người.
Ngài còn học với Mẹ Kinh Thánh với lời các ngôn sứ tiên báo thời Cứu Thế sắp đến, thời mà Thiên Chúa thực hiện Lời Hứa cứu độ được thực hiện trọn vẹn.
Và bài học quan trọng hơn tất cả mà Đức Giêsu đã học được ở Mẹ mình, chính là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa luôn tuôn đổ trên Dân Ngài.  
Đức Maria đã dậy con trai Giêsu của mình  bài học rất quan trọng của Lòng Thương Xót với những điểm chính yếu:
·          Thiên Chúa thật chí thánh chí tôn, vì Ngài hằng thương xót những ai kính sợ Ngài ;
·          Thiên Chúa đã tỏ uy quyền của lòng thương xót ấy trên những kẻ bé nhỏ, khiêm nhường trải dài từ đời nọ đến đời kia, và liên tục cho đến tận thế, bởi Thiên Chúa là Đấng trung tín sẽ không quên Lời Hứa thương xót của Ngài (x. Lc 1,46-55).
Thực vậy, lòng thương xót của Thiên Chúa đã không chỉ là lời kinh sống động của cả cuộc đời Đức Maria, như Mẹ đã cất tiếng ngợi khen trong buổi gặp gỡ bà chị họ Êlisabét, mà còn là nội dung căn bản và phong phú của những bài học Mẹ dậy Đức Giêsu, con mình từ thuở ấu thơ đến ngày rời mái ấm Nadarét đi vào đời công khai loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Và chúng ta có thể khẳng định : Đức Giêsu đã thuộc lòng và thấm nhuần bài học Lòng Thương Xót của Mẹ dậy, và đã sống Lòng Thương Xót ấy trong cuộc sống thường ngày ở Nadarét bên cha mẹ, họ hàng, làng xóm.
Khẳng định này có nền tảng khi được thánh sử Luca ghi lại, sau biến cố Đức Giêsu ở lại Giêrusalem giữa các thày dậy trong Đền Thờ, dịp hành hương lễ Vượt Qua của gia đình ngài : “Sau đó, Người cùng cha mẹ trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài… Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, và thêm ân nghiã đối với Thên Chúa và người ta” (Lc 2,51-52).
Như thế, Đức Giêsu đã lãnh hội được rất nhiều điều hay lẽ phải, trong đó lòng thương xót là nổi bật nhất, nơi Đức Maria. Nói cách khác, con người Đức Giêsu với tư cách thanh cao, tính tình hiền hậu, tâm tình yêu thương, cảm thông, tinh thần bao dung, phục vụ và thái độ thân thiện, cởi mở đã được rèn luyện, xây dựng bởi Mẹ Ngài. Ngài là phiên bản của Mẹ : một trái tim tràn đầy tình yêu thương xót, một con người hy sinh phục vụ, một ý chí kiên cường làm những gì Thiên Chúa muốn, một đời sống thâm trầm cầu nguyện và đằm thắm, vâng phục Thánh Ý. Bằng chứng là trong ba năm rao giảng Tin Mừng, hai mẹ con như hình với bóng, tuy hai là một : một tinh thần, một tâm tình, một chọn lựa, một con đường, một đời sống, và cao điểm là chung một của lễ hy sinh Thánh Giá trên đồi Canvê buổi chiều tử nạn.
Qủa thế, nếu Đức Giêsu đã không ngớt rao giảng về Thiên Chúa của lòng thương xót, qua các dụ ngôn “con chiên bị lạc mất, đồng bạc bị đánh rơi, người cha nhân hậu” trong Tin Mừng Luca chương 15, cũng như  không ngừng tỏ lòng thương xót đối với những người đau yếu, tật nguyền, bị qủy ám, như Tin Mừng ghi lại : “Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. Qủy cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng : Ông là Con Thiên Chúa !” (Lc 4,40-41) là do đã học được ở Mẹ mình.
Trong nhiều trường hợp khác như với người phụ nữ tội lỗi đã được tha nhiều vì yêu nhiều (x. Lc 7,36-50), hoặc người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang (x. Ga 8,1-11) để khẳng định chân lý : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17), và dẫn đến kết luận chất ngất niềm vui, hy vọng : “Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7), Đức Giêsu gián tiếp cho chúng ta thấy, đó là thành qủa giáo dục của gia đình thánh, và kết qủa những năm tháng được đào tạo nhân bản và siêu nhiên bởi Đức Maria, Mẹ mình, như có lần Ngài đã tế nhị tuyên dương Mẹ Ngài : “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12,49), khi có kẻ thưa với Ngài : “Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn nói chuyện với Thầy” (Mt 12,47).  
Vâng, Đức Maria đã chu toàn bổn phận sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục Đức Giêsu, vì Mẹ thực sự là Mẹ của Đức Giêsu “Con Người và Thiên Chúa”. Vì thế, nếu Đức Giêsu đã có những tâm tình, ngôn từ, hành động, thái độ thương xót  những người đau yếu, bất hạnh, đặc biệt những người tội lỗi, là vì Ngài đã học được ở Mẹ mình lòng thương xót trong suốt ba mươi năm ở Nadarét. Mầu nhiệm nhập thể cho phép chúng ta khẳng định điều này, vì như thánh Gioan và Phaolô đã viết : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14), và Thiên Chúa “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,7).
Và nếu Đức Giêsu đã được Đức Maria huấn luyện thành con người của lòng thương xót, thì môn đệ của Ngài cũng phải học bài học thương xót ấy, bài học mà Đức Maria vẫn tiếp tục dậy những người muốn đi theo Đức Giêsu, dung mạo của Chúa Cha giầu lòng thương xót.
Vâng, hơn ai hết, Đức Maria hiểu rõ chương trình cứu độ do lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Mẹ cưu mang, nuôi dưỡng, giáo dục Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, và Thiên Chúa của lòng thương xót ; hơn mọi người, Mẹ thực thi và sống triệt để lòng thương xót, vì Mẹ tích cực và trọn vẹn chia sẻ con đường Thương Xót của Đức Giêsu, con Mẹ. Đó chính là lý do cho phép chúng ta, những kẻ có tội dám chạy đến kêu cầu Mẹ để nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa, như đôi tân hôn và gia đình hai họ ở tiệc cưới Cana xưa đã nhận được món quà vĩ đại của lòng thương xót khi Đức Giêsu, vì có Mẹ can thiệp, đã làm phép lạ cho sáu chum nước lã biến thành sáu chum rượu ngon, khi  rượu hết giữa tiệc (x. Ga 2, 1-11).  
Kêu cầu Mẹ là Mẹ của người có tội đang cần lòng Chúa thương xót, chúng con xin Mẹ dậy sống lòng xót thương anh em, bởi đây là điều kiện không thể thiếu để được thương xót, như ông chủ kia đã nói với tên đầy tớ không có lòng thương xót : “Hỡi tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ  ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao ?” (Mt 18,32-33), bởi “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). 
Kêu cầu Mẹ là Mẹ của tội nhân đang cần được Chúa thương xót, chúng con xin Mẹ củng cố đức tin để chúng con dám tin rằng : lòng thương xót Chúa tuyệt đối, và  vô cùng, vượt xa cõi lòng tương đối và thước đo giới hạn của con người, để không bao giờ lấy thước đo là “lòng người” ki bo, nhỏ mọn, chật hẹp mà đo trái tim vô cùng bao dung, tấm lòng vô cùng độ lượng, và tình yêu vô cùng sâu thẳm, cao vời của Thiên Chúa, bởi khi lấy “thước con người” mà đo “lòng Thiên Chúa”, chúng con không khỏi sợ hãi, ngã lòng, tuyệt vọng, khi phải đối diện với tội lỗi chồng chất nặng nề của mình.    
Kêu cầu Mẹ là Mẹ của kẻ  có tội đang cần được Chúa thương xót, chúng con xin Mẹ chỉ dậy chúng con là kẻ có tội sự khác biệt “một trời một vực” giữa công lý của loài người và công lý của Thiên Chúa : công lý của loài người thì “răng đền răng, mắt đền mắt”, nợ máu thì phải trả bằng máu, vay mạng thì lấy sự sống mà đền, trong khi công lý của Thiên Chúa thì “ai yêu nhiều, được tha nhiều” (Lc 7,47), “yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có công chi ?”, nhưng “hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”. (Mt 5,46.44), vì công lý của Thiên Chúa đặt trên nền móng tình yêu thương xót để tội nhân được xóa tội, phạm nhân được  thứ tha, ác nhân có cơ hội sám hối trở về làm người lương thiện, vì “ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan” (Rm 5,20).
Kêu cầu Mẹ là Mẹ của người tội lỗi luôn cần được lòng Chúa thương xót, chúng con nài xin Mẹ cho chúng con đừng bao giờ quên một điều rất quan trọng, đó là Mẹ luôn có mặt trong cuộc đời, và đồng hành với chúng con trên mọi nẻo đường, để nhờ Mẹ can thiệp, cầu bầu, tội nhân là chúng con không bị Thiên Chúa đoán phạt, người tội lỗi là chúng con không bị Thiên Chúa xua đuổi, gạt ra một bên, kẻ tội đồ khốn nạn là chúng con không “bị đuổi ra ngoài” và rơi vào nơi “khóc lóc nghiến răng” (Lc 13,28).   
Và ở giờ lâm tử, khi sự chết thập thò, rình rập, xin Mẹ đến bên giường khuyên răn, an ủi, vỗ về những đứa con tội lỗi đáng thương của Mẹ, để chúng con an tâm, vững dạ, đừng phân tâm, rối trí, đừng ngã lòng trông cậy, nhưng tuyệt đối tín thác vào lòng thương xót Chúa, và bám chặt áo Mẹ, để “sau cõi đời này, chúng con được thấy Chúa Giêsu, Con lòng Mẹ đầy phúc lạ. Ôi khoan thay ! Ôi nhân thay ! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen” (Kinh Lạy Nữ Vương).   
Jorathe Nắng Tím

TÔN VINH MẸ LA VANG, NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM

Suy Niệm 3 :
ĐỨC MARIA ĐÓN NHẬN VÀ THỰC HIỆN THÁNH Ý THIÊN CHÚA TRONG  MỌI BIẾN CỐ CUỘC ĐỜI

Cuộc sống là dòng sông cuồn cuộn những biến cố nhỏ to : có những biến cố vui buồn, sướng khổ ; có biến cố làm chênh vênh, chao đảo, sụp đổ một phần hoặc toàn phần gia nghiệp tinh thần hay gia sản vật chất ; có biến cố chắp cánh cho đời lên hương, vút bay tận trời cao, chỉ trong phút chốc trở thành người thần thế, quyền lực, được tôn vinh, trọng vọng ; có biến cố ở xa, ít tác dụng, bên cạnh là những biến cố kề cận ảnh hưởng nặng nề, trầm trọng. Vấn đề là thái độ của mỗi người trước những biến cố thuộc đủ thể loại, tầm cỡ theo giòng sông cuộc đời liên tục đổ về.
Có nhiều thái độ trước những biến cố cuộc đời. Có thái độ bất bình, vì biến cố đến không do lỗi mình, nhưng do người chung quanh ; có thái độ bất an, bất ổn trước nguy cơ, nguy hiểm phát sinh từ biến cố ; có thái độ bất mãn, khi biến cố bị coi là hình phạt đối với con người trong kiếp sống vô thường, vô định. Cũng có những thái độ tương đối nhẹ nhõm hơn, như bất chấp, bất cần, vì biết mình chẳng điều khiển, quản lý được giòng sông biến cố, hoặc bất đắc dĩ phải chấp nhận sống với biến cố như hằng ngày phải sống với lũ, vì không còn khả thể, lối thoát nào khác tốt hơn.
Sự thường thì người ta hoặc khó chịu, bực bội, thất vọng với các biến cố buồn, hoặc khoái trá trước những biến cố vui được tóm gọn vào hai chữ hên, xui, nên cuộc sống theo hên xui mà lên xuống, trồi sụt, tạo nên tình trạng bất an, bất ổn kinh niên, mãn tính làm đời sống không hạnh phúc, vì thiếu bình an sâu lắng, thiếu tâm an, thân tịnh.
Như thế, thái độ đón nhận biến cố trong cuộc sống đóng góp không nhỏ vào hạnh phúc cuộc đời của mỗi người. Nói cách khác, mỗi người phải biết đón nhận biến cố thế nào, để cuộc sống không bất hạnh, cuộc đời không tiêu điều, héo úa, tàn phai một cách vô lý, phí phạm.  
Với người Kitô hữu, điều mà Đức Giêsu đời hỏi, chính là đón nhận thánh ý Thiên Chúa trong mọi biến cố của hiện tại, nghiã là nhìn ra bàn tay quan phòng của Thiên Chúa trong mọi sự việc xẩy ra, mọi tình huống ở đây và lúc này, với một thái độ của người tin vào tình yêu Thiên Chúa là Cha nhân hậu, Đấng ngự trên trời luôn  ban những sự tốt lành cho những kẻ kêu xin Người  (x. Mt 7,11), và một khi đã nhìn ra Thánh Ý, người môn đệ Đức Giêsu sẽ bình an, hạnh phúc, bởi biến cố dù vui buồn, sự việc dù xấu tốt, tình trạng dù thuận lợi hay trắc trở, khó khăn cũng không tách họ ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta như  thánh Phaolô khẳng định (Rm 8,39).    
Và Đức Maria là người tín hữu lý tưởng đó, một tấm gương luôn thuận thảo trước Thánh Ý Thiên Chúa mà chúng ta phải học hỏi, noi theo, vì Mẹ là người nữ có phúc hơn mọi phụ nữ, người tín hữu đầy ơn phúc, và hạnh phúc hơn hết mọi tín hữu. Với Đức Maria, chúng ta học đón nhận mọi biến cố trong cuộc sống hiện tại để trở thành con người hạnh phúc, người tín hữu được Thiên Chúa chúc phúc, người con được Chúa Cha nhận là con Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng (Mt 3,17), và được đứng vào hàng ngũ những người được thừa hưởng Vương Quốc đã được Chúa Cha dọn sẵn từ thuở tạo thiên lập địa (x. Mt 25,34).
1.       Cuộc đời  Đức Maria là cuộc đời đầy những biến cố :
Có người ngây thơ nghĩ rằng : Đức Maria, vì là Mẹ Đức Giêsu, lại không vướng mắc tội nguyên tổ, nên không vất vả, khổ đau nhiều như chúng ta, và lúc nào đời Mẹ cũng êm đềm, bình an như dòng nước hiền hoà nhẹ trôi.
Tin Mừng cho chúng ta biết điều ngược lại, điều ngược lại mà chúng ta không ngờ mà hai thánh sử Luca và Mátthêu đã kể lại, đó là một số biến cố kinh khủng bên cạnh nhiều biến cố khác của đời Đức Mẹ, mà có lẽ ít người trong chúng ta đã phải một lần đối mặt  :
a.        Biến cố truyền tin (Lc 1,26-38) : Một biến cố Đức Maria không thể ngờ trước, cũng không bao giờ nghĩ có thể xẩy ra cho mình, nên Mẹ đã sợ hãi, bối rối, vì bị đặt trước những mâu thuẫn không thể lý giải : đồng trinh mà sinh con, con người phàm tục mà thụ thai bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, phận nữ tỳ hèn mọn mà sinh ra Con Thiên Chúa.
b.       Biến cố thánh Giuse toan tính bỏ Đức Maria cách kín đáo (Mt 1,18-25).
Không gì đau khổ hơn cho người vợ chưa chung sống, ăn ở với chồng mà đã có thai. Thế mà Đức Maria đã rơi vào hoàn cảnh cay đắng, khắc nghiệt, éo le này, chỉ vì chấp nhận làm Mẹ Đấng Cứu Thế, và thụ thai do quyền năng Chúa Thánh Thần (Mt 1,20).
c.        Biến cố hạ sinh Đức Giêsu ở hang lừa Bêlem (Lc 2,1-7) :
Tuy đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho Đức Giêsu chào đời, nhưng biến cố kiểm tra dân số do chiếu chỉ của hoàng đế Augúttô đã thay đổi toàn bộ kế hoạch, và hậu qủa là : thánh Giuse và Đức Maria đã phải về Bêlem, miền Galilê, là thành của vua Đavít để làm tờ khai, vì thánh Giuse thuộc dòng tộc vua Đavít. Vì qúa đông người kéo về, nên hai ông bà đã không tìm được nhà trọ, ngay khi  Đức Maria chuyển dạ sinh con. Thế là máng cỏ đơn sơ, hang lừa hôi thối đã là nôi đón Ngôi Lời nhập thể.
d.       Biến cố trốn sang Ai Cập (Mt 2, 13-18) :
Vừa sinh con chưa được bao lâu, thì Hêrôđê  cho lệnh truy lùng và giết Đức Giêsu. Lại một phen bỏ quê chạy trốn sang Ai Cập, bỏ lại phía sau hàng trăm con trẻ từ hai tuổi trở xuống ở Bêlem và toàn vùng phụ cận bị tàn sát thảm thương, trong tiếng khóc than rền rĩ của các bà mẹ khóc thương con mình.
e.        Biến cố lạc mất con suốt ba ngày (Lc 2, 41-50) :
Ai lạc con rồi mới hiểu nỗi lo tột cùng và cơn hốt hoảng không gì có thể diễn tả của người mẹ. Đức Maria đã trải nghiệm nỗi lo âu, hốt hoảng này, khi lạc mất Đức Giêsu ba ngày liền, trong dịp hành hương lễ Vượt Qua ở Giêrusalem.
f.         Những biến cố trên đường truyền giáo và đường Thánh Giá của Đức Giêsu, con mình :
Là Mẹ của Đức Giêsu, Đức Maria hiệp thông trọn vẹn với con mình trong mọi biến cố trên đường truyền giáo, cũng như trên đường thánh giá và cuộc tử nạn. Nếu Đức Giêsu đau khổ vì bị môn đệ phản bội, từ chối, thì Đức Maria cũng đau khổ như con mình ; nếu Đức Giêsu kiệt lực dưới sức nặng của thập tự, thì Mẹ Ngài cũng chết ngất vì đòn vọt, xỉ nhục báng bổ trên thân xác con mình ; nếu Đức Giêsu thở dốc, quằn quại, rướn mình trút tàn hơi, thì Đức Maria dưới chân Thánh Giá cũng tan nát cõi lòng mẹ hiền, và trong vòng tay  Đức Mẹ, xác Đức Giêsu đã  được tháo xuống, buông lơi hạnh phúc trong nước mắt ngọt ngào của lòng Mẹ bao la.  
g.       Những biến cố của Giáo Hội sau khi Đức Giêsu về trời :
Không ai có thể chối cãi sự hiện diện và vai trò quan trọng của Đức Maria giữa Nhóm Mười Hai, sau khi Đức Giêsu chịu chết.
Tình cảnh các tông đồ và những môn đệ khác của Đức Giêsu những ngày tang thương ấy thật khó khăn, phức tạp, do dư chấn cuộc tử nạn kinh hoàng của Thầy, do bầu khí thừa thắng xông lên, tiếp tục truy sát, xóa sổ nhóm tà đạo Giêsu của  quan chức đạo đời ở Giêrusalem, và do chính tâm lý còn hoảng sợ, chưa hoàn hồn của các ông. Do đó, các ông rất cần sự nâng đỡ, ủi an, nhắc bảo của  Đức Maria, và Mẹ đã luôn có mặt, đồng hành với các ông như sách Công Vụ các Tông Đồ đã ghi lại (x ; Cv 1,14).

2.       Đức Maria luôn nhìn thấy trong mọi biến cố Hồng Ân của Thiên Chúa :    
Khác với nhiều người không nhìn thấy hồng ân của Thiên Chúa trong những biến cố xẩy ra ở hiện tại, nhưng coi đó là những chuyện ngẫu nhiên, hên xui may rủi, hoặc do tài năng hay sơ sót của con người, nên chẳng có ý nghiã mầu nhiệm gì, Đức Maria thì ngược lại, vì trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa, nên không sự gì, việc gì trong cuộc đời của Mẹ có thể lọt khỏi vùng phủ sóng của Ân Sủng, có thể ra ngoài tầm bao phủ của Hồng Ân.
Vì thế, dù vui hay buồn, thành hay bại, được hay mất, tất cả các biến cố nhỏ to đều được  Đức Maria nhìn với đôi mắt đức tin, để thấy ở đó hồng ân của Chúa, vì Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người (Rm 8,28).
Nhưng để có thể nhìn thấy Hồng Ân trong mọi biến cố của hiện tại, nghiã là chân nhận trong mọi giây phút hiện tại, bất cứ sự gì, việc gì xẩy ra đều được xẩy ra dưới mắt nhìn yêu thương, quan phòng của Thiên Chúa là Cha nhân hậu luôn dành cho con cái những gì tốt đẹp, ích lợi nhất, Đức Maria đã chọn cho mình một lẽ sống, và lẽ sống ấy chính là yêu mến và phụng sự Thiên Chúa trong mọi người.
Như thế, cuộc đời của Đức Maria không bao giờ trệch khỏi qũy đạo : Yêu mến Đức Giêsu và phục vụ mọi người trong Đức Giêsu. Lẽ sống này Mẹ đã chọn và đã triệt để sống trong mọi biến cố, để không lúc nào Mẹ không có tình yêu Đức Giêsu, và không lúc nào tình yêu Đức Giêsu trong Mẹ không hướng đến người khác.
Hướng đến người khác để giới thiệu Đức Giêsu, hướng đến người khác để làm chứng Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu độ, hướng đến người khác để tất cả nhận được ơn bình an của Đức Giêsu là Tình Yêu thương xót, hạnh phúc đích thực của con người  được yêu thương, cứu chuộc.
Học với Đức Maria, gương mẫu của người môn đệ luôn sẵn sàng đón nhận và thực hiện thánh ý Thiên Chúa trong từng giây phút hiện tại, cụ thể qua tinh thần Phó Thác, tâm tình Tạ Ơn và thái độ Khiêm Nhường.
Với tinh thần Phó Thác như Đức Maria, chúng ta đón nhận Thánh Ý trong mọi biến cố ; với  tâm tình Tạ Ơn, chúng ta chân nhận tất cả là Hồng Ân, và với thái độ Khiêm nhường, chúng ta thực hiện Thánh Ý trong bình an.
Xin Đức Maria, Mẹ rất nhân lành ban cho chúng ta những ơn cần thiết để đón nhận và thực thi Thánh Ý Chúa từng giây phút hiện tại giữa giòng đời ngập tràn biến cố.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2020

TÔN VINH MẸ LA VANG, NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM

Suy niệm 2 : ĐỨC MARIA TIN VÀO LỜI HỨA CỦA THIÊN CHÚA
Hành động tin luôn hướng đến tương lai, vì tin là hy vọng ở những gì chưa có, chưa thể hiện trong hiện tại. Bởi thế, bất cứ niềm tin nào cũng cậy dựa vào Lời Hứa của một người, một Đấng mà mình yêu mến, tín nhiệm.
Chính vì đức tin đòi gắn bó vào Lời Hứa, vào một điều mới chỉ được hứa sẽ có, được tiên báo sẽ thực hiện, nhưng trong thực tế thì chưa có, thực sự thì chưa xẩy ra, vì chưa có gì thành tựu, thành sự, thành hình, mà tin không dễ, đức tin không luôn mang mầu hồng, và niềm tin không an nhàn, thoải mái. Cũng chính vì đức tin đòi bám chặt vào Lời Thiên Chúa hứa, mà nhiều người không tin, hay tin mà vẫn nghi ngờ, dè dặt, tin mà vẫn thập thò chân trong chân ngoài, tính toán trước sau, so đo hơn thiệt.
Và không chỉ đức tin siêu nhiên đòi gắn bó với Lời Hứa, ngay trong đời sống hằng ngày, đòi hỏi này cũng không thể thiếu, nếu để được gọi là niềm tin. Nhìn hai người yêu nhau, thành hôn với nhau, họ đã chẳng dựa trên lời hứa chung thủy của nhau đó sao ? Ở thời điểm hiện tại, và khởi điểm của hành trình hôn nhân, họ có biết ngày mai ra sao, tương lai thế nào đâu, nhưng vì tin vào lời hứa trung thành, lời hứa yêu thương và tín nhiệm nhau, họ đã dấn thân để nên vợ nên chồng cho đến hết cuộc đời, và bao lâu còn tin vào lời hứa của nhau, bấy lâu họ còn hạnh phúc, nhưng nếu không may đến một lúc không còn tin vào lời hứa nữa, họ sẽ không thể tiếp tục đồng hành với nhau trên đường tình. Đây chính là nguyên nhân của hầu hết các gia đình đổ vỡ, và lý do làm đứt gánh giữa đường tình.
Như thế, sẽ không có niềm tin, nếu không có lời hứa, cũng như không có đức tin, nếu không gắn chặt đời mình vào Lời Hứa của Thiên Chúa.
Đức Maria, Mẹ chúng ta là người có đức tin vững mạnh vào Lời Thiên Chúa hứa, và vì tin, Mẹ được tuyên dương là người đầy ơn phúc, như bà chị họ Êlisabét đã lên tiếng khen Mẹ : “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 45).    
Nhưng đức tin của Đức Maria không là “đức tin” bồng bột của cảm xúc, “đức tin” hời hợt của cảm tính, như chỉ tin khi thành đạt, thịnh vượng, và hết tin khi sa cơ, thất thế, hoặc tin khi “ăn nên làm ra”, nhưng không tin khi gian nan, thử thách. Trái lại, đức tin ở Đức Maria là đức tin của người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, nghiã là không có gì thuộc quyền sở hữu của Mẹ từ tư tưởng, lời nói, việc làm ; không có gì là của riêng Mẹ từ quá khứ, hiện tại, tương lai ; không còn gì ở trong quyền quản lý của mẹ từ vinh dự, tài năng, nhân đức đến gian truân, khốn khó, đau khổ, sự sống và sự chết.
Vì thế tất cả cuộc đời Mẹ là tin ở Lời Thiên Chúa hứa, tất cả con người Mẹ là lời “Xin Vâng, đây là nữ tỳ của Chúa”, tất cả sinh hoạt cuộc sống Mẹ là “xin Chúa cứ làm cho tôi như sứ thần nói” (Lc 1, 38), để không có gì lọt ra khỏi Thánh Ý Chúa, không có gì ra ngoài vùng phủ sóng của Lời Hứa, không có gì vượt khỏi chương trình cứu độ của Đức Giêsu, Con Mẹ. Nhờ thế mà đức tin của Mẹ trọn vẹn và tuyệt đối.
Đức Tin của Đức Maria còn là đức tin được đổ móng trên truyền thống đức tin của cha ông và của dân tộc Israel như Mẹ đã tuyên xưng trong kinh Tán Tụng : “Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1,54-55).
Khi tuyên xưng điều này, Mẹ  khẳng định : đức tin của Mẹ không trơ trọi một mình, không biệt lập một góc, không chơ vơ, cô độc, nhưng là đức tin của cả Dân Chúa, đức tin của toàn thể gia đình những người tin vào Lời Hứa, đức tin của truyền thống và lịch sử lâu dài nơi cộng đoàn những ai tôn thờ Thiên Chúa. Đức tin ấy vững chắc vì được không ngừng củng cố, nâng đỡ bởi cộng đoàn đức tin, được lớn lên trong tình yêu của cộng đoàn những người tin, được ăn rễ sâu nhờ được cộng đoàn đức tin bảo vệ, gìn giữ. 
Tin Mừng Luca đã ghi lại rất chi tiết đức tin luôn gắn bó với cộng đoàn Dân Chúa của Đức Mẹ, như “khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa” (Lc 2,22-23), cũng như “hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ” (Lc 2,41-42).
Sau cùng đức tin vào Lời Hứa của Đức Mẹ còn được nuôi dưỡng bằng đời sống kết hợp mật thiết với Đức Giêsu, để hiểu được ý muốn cứu độ nhân loại của Thiên Chúa.
Thánh sử Luca đã kể lại cách tài tình nỗi lo lắng của Đức Maria và thánh Giuse khi Đức Giêsu bị lạc mất ba ngày ở Giêrusalem qua lời đối đáp giữa Đức Mẹ và Đức Giêsu : “Khi thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dậy, vừa nghe họ vừa đặt câu hỏi…, hai ông bà sửng sốt”, và mẹ Người nói với Người : “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy ? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con !” Người đáp : “Sao cha mẹ lại tìm con ? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao ?” (Lc 2, 46.48-49). Tuy không hiểu lời Đức Giêu, con mình vừa nói, nhưng “mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng (Lc 2, 51).
Ghi nhớ tất cả trong lòng” là gìn giữ những Lời của Đức Giêsu, con mình nói ; là suy niệm trong thinh lặng của tâm hồn, cầu nguyện trong tĩnh lặng của trái tim với Lời Hứa của Thiên Chúa để khám phá ý định cứu độ của Ngài. Nhờ thế, Đức Maria bén nhậy và tinh tế nhận ra điều Thiên Chúa muốn, việc Thiên Chúa muốn thực hiện, nhất là nắm bắt được giờ cứu độ của Thiên Chúa, như ở Cana, qua phép lạ cho nước hoá thành rượu ngon, nhờ sự can thiệp của Mẹ.
Ở tiệc cưới Cana, Đức Giêsu lúc đầu xem ra không muốn chấp thuận lời đề nghị của Đức Mẹ khi trả lời : “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi ? Giờ tôi chưa đến” (Ga 2,4), nhưng tâm hồn cầu nguyện tràn đầy đức tin của Đức Maria rất bén nhậy với ý muốn thương xót và cứu độ của Thiên Chúa đã thúc bách Mẹ không ngần ngại nói với gia nhân : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Mẹ đã đi trước và làm gương cho người đàn bà ngoại đạo xứ Canaan kiên nhẫn nài xin Đức Giêsu chữa con gái bà “bị qủy ám khổ sở lắm” (Mt 15,22), nhưng “Người không nói một lời” (Mt 2,23). Khi các môn đệ lại gần xin với Người rằng : “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo chúng ta mà kêu mãi !”. Người đáp : “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi”. Bà ấy liền đến bái lậy mà thưa Người rằng : “Lậy Ngài, xin cứu giúp tôi !” Người đáp : “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Bà ấy nói : “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống. Bấy giờ Đức Giêsu đáp : “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy». Từ giờ đó, con gái bà được khỏi”  (Mt 15,23-28).   
Và chúng ta có thể quả quyết : đứng trước niềm tin vững vàng và lời cầu khẩn tha thiết của Đức Maria, Đức Giêsu thấy đã đến giờ “bày tỏ vinh quang của Người”, để “các môn đệ tin vào Người” (Ga 2, 11), và sáu chum nước lã đã biến thành sáu chum rượu ngon (x. Ga 2,6-10).
Như thế, tin Thiên Chúa chính là tin vào Lời Hứa của Ngài : Lời Chúa hứa yêu thương và cứu độ, Lời Chúa hứa “từ đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1,50), Lời Hứa “ơn cứu độ đã dành sẵn cho muôn dân : Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel, Dân Ngài” (Lc 2,30-32), Lời Hứa “sẽ được gấp bội và được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp” cho những ai bỏ mọi sự mà đi theo Chúa (Mt 19,29).
Bên cạnh là Lời Hứa Nước Trời cho những ai nghèo khó, hiền lành ; người đau khổ, sầu buồn vì yêu thương sẽ được Thiên Chúa ủi an ; ai khát khao trở nên người công chính sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng, toại nguyện ; kẻ có lòng xót thương anh em sẽ được Thiên Chúa thương xót, thứ tha ; người có tâm hồn trong sạch sẽ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa ; người  xây dựng hoà bình sẽ được gọi là con Thiên Chúa ; còn ai bị vu khống, xỉ vả vì Nước Trời, bị bách hại vì sống công chính sẽ được Nước Thiên Chúa làm gia nghiệp và phần thưởng lớn lao trên trời (x. Mt 5,3-12), và ở ngày chung thẩm, khi Thiên Chúa ngự đến, Ngài sẽ nhận vào Vương Quốc của Ngài những ai yêu mến, và phục vụ anh em bé nhỏ, đau bệnh, yếu đuối, nghèo hèn, thất học, di cư, bị bạc đãi, bỏ rơi, đàn áp trong cuộc đời, như Lời Chúa đã hứa (x. Mt 25, 31-46).
Tôn vinh Mẹ La Vang, Nữ Vương phù hộ các giáo hữu Việt Nam, chúng con nài xin Mẹ giúp chúng con dám tin vào Lời Hứa của Thiên Chúa, nhất là ở thời đại tiêu thụ, thực dụng mà cái gì cũng phải thấy ngay, có ngay, “ăn tươi nuốt sống” liền, và với Mẹ, chúng con học “thuộc về Chúa” mỗi ngày hơn, gắn bó hơn với Giáo Hội, cụ thể là giáo xứ, giáo phận là Gia Đình của những người tin, và noi gương Mẹ sống đời nội tâm cầu nguyện, để vững tâm tin vào Lời Chúa hứa.  
Jorathe Nắng Tím

TÔN VINH MẸ LA VANG, NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM

    Suy niệm 1 : ĐỨC  MARIA, NỮ TỲ CỦA THIÊN CHÚA
Đức Maria được Tin Mừng nói đến từ biến cố truyền tin. Đây là biến cố quan trọng mở đầu chương trình nhập thể, nhập thế của Đức Giêsu. Tuy là biến cố khởi đầu rất quan trọng, nhưng biến cố ấy đã xẩy ra trong một tình huống rất đơn sơ, mà thánh sử Luca đã kể lại :
Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gabrien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : Mừng vui lên, hỡi đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà. Nghe lời ấy, bà rất bối rối và tự hỏi lời chào như vậy có nghiã gì.
Sứ thần liền nói : “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao...
Bà Maria thưa với sứ thần : “việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !”. Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kià bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Bấy giờ bà Maria nói : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Rồi sứ thần từ biệt ra đi (Lc 1, 26-38).     
Qủa thực, so với cuộc truyền tin cho Dacaria, chồng của bà Êlisabét và cha của Gioan Tẩy Giả sáu tháng trước đó, thì quang cảnh truyền tin cho Đức Maria thật không có gì hoành tráng. Cũng thánh sử Luca cho chúng ta biết về cuộc truyền tin rất trang trọng, hoành tráng này :
Dacaria thuộc hàng tư tế. Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa. Trong giờ dâng hương đó, toàn thể dân chúng cầu nguyện ở ngoài (Lc 1,9-10). Bỗng một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. Thấy vậy, ông Dacaria bối rối và sợ hãi. Nhưng sứ thần bảo ông : Này ông Dacaria, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin : bà Êlisabét, vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng sẽ được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời… Ông Dacaria thưa với sứ thần : Dựa vào đâu mà tôi biết được sự ấy ? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi. Sứ thần đáp : Tôi là Gabrien, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. Và này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi….
Khi thời gian phục vụ ở Đền Thờ đã mãn, ông trở về nhà. Ít lâu sau, bà Êlisabét vợ ông có thai, bà ẩn mình năm tháng. Bà tự nhủ : Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời (Lc 1, 9-25).  
Qủa thực, hai cuộc truyền tin, tuy cùng được báo tin bởi tổng lãnh thiên thần Gabrien, sứ thần của Thiên Chúa, nhưng cuộc truyền tin cho Dacaria đã được thực hiện trong Đền Thờ Giêrusalem nguy nga, tráng lệ, ở nơi cực thánh huy hoàng, giữa buổi lễ dâng hương rất trang nghiêm, quan trọng, và có sự tham dự cầu nguyện của hàng tư tế và đông đảo dân chúng. Ông Dacaria lại thuộc hàng tư tế được trọng vọng, có tên tuổi, và hôm ấy là ngày vô cùng trọng đại và vinh dự cho ông, vì được dâng hương cho Thiên Chúa ở nơi cực thánh hầu như chỉ xẩy ra một lần trong đời cho một tư tế.
Khác với Dacaria, Đức Maria chỉ là một cô thôn nữ bình dị, sống với gia đình nghèo khó, ở một  ngôi làng bé nhỏ, vô danh tiểu tốt ; cuộc truyền tin lại xẩy ra tại nhà, không người chứng kiến, không báo trước, không chuẩn bị, nên không hương trầm nghi ngút, cũng chẳng rực rỡ nến hoa ; buổi truyền tin lại rất âm thầm, đơn giản, chỉ có hai người : sứ thần Gabrien và Đức Maria.
Trong hai cuộc truyền tin, chúng ta nhận thấy : Đức Maria không chờ đợi bất cứ sự gì cho riêng mình, trong khi Dacaria mong đợi và khẩn khoản nài xin Thiên Chúa ban cho ông một đứa con ; Đức Maria được thiên sứ đến tận nhà, còn Dacaria phải vào tận nơi cực thánh của Đền Thờ mới gặp được thiên sứ.
Chúng ta còn thấy sự hồn nhiên, phó thác của một đức tin vững mạnh nơi Đức Maria khi ngài hỏi thiên sứ : Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ! (Lc 1, 34), trong khi Dacaria do dự, nghi ngờ khi chất vấn thiên sứ : Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy ? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi (Lc 1,18).
Sự khác biệt giữa Đức Maria và tư tế Dacaria là mức độ của niềm tin vào Lời Thiên Chúa, và phó thác ở Thánh Ý Ngài. Đức Maria đã tin lời truyền tin và xác quyết của thiên sứ : Không có gì là không có thể đối với Thiên Chúa, còn Dacaria đã không tin vì mình già, vợ mình lớn tuổi mà còn có thể có con như lời sứ thần vừa loan báo. Vì thế, Dacaria đã bị câm cho đến ngày Gioan chào đời, như một dấu chỉ của sự cứng lòng  không tin lời sứ thần sẽ ứng nghiệm đúng thời đúng buổi (Lc 1,20). Và mọi việc đã xẩy ra đúng như sứ thần đã nói trước : Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì và tính lấy tên Dacaria mà đặt cho em. Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : Không, phải đặt tên cháu là Gioan. Họ bảo bà : Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả. Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : Tên cháu là Gioan. Ai nấy đều bỡ ngỡ. Ngay lúc ấy miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa (Lc 1, 59-64).  
Tất cả những khác biệt giữa hai cuộc truyền tin đã đưa đến một kết luận cuối cùng rất quan trọng là điều kiện để mầu nhiệm Thiên Chúa đến với con người được thực hiện, đó là câu trả lời của Đức Maria : Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói (Lc 1, 38).
Câu trả lời : Vâng, tôi là nữ tỳ của Chúa đã quyết định tương quan của Đức Maria với Thiên Chúa. Đó là tương quan người tôi tớ khiêm tốn chỉ biết vâng lời chủ, và suốt đời Mẹ đã hoàn toàn vâng lời Thiên Chúa, để nhiệm cuộc cứu độ nhân loại của Thiên Chúa được thực hiện.
Lời xin vâng của nữ tỳ ấy đã xác định lẽ sống và đường sống của Đức Maria. Bằng chứng là ngay từ buổi truyền tin, Mẹ đã chỉ phục vụ Thiên Chúa và làm những gì Thiên Chúa muốn Mẹ làm, dù đời Mẹ là một đường Thánh Giá như lời tiên tri của cụ già Simêon : Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà (Lc 2,35).
Cũng với lời Xin Vâng của tôi tớ Thiên Chúa ấy, Đức Maria đã đến với mọi người, như đến với chị họ Êlisabét một cách khiêm tốn, hồn nhiên và với tinh thần phục vụ của người tôi tớ, mặc dù không được bà chị họ Êlisabét báo tin vui sắp có con, cũng như không được gia đình này mời. Vì thế, cuộc thăm viếng đã chỉ có thể được thực hiện bởi con người mang trái tim tôi tớ Thiên Chúa như Đức Maria, khi Mẹ vội vã, hối hả lên đường, ngay sau khi được sứ thần Gabrien báo tin : Kià bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng (Lc 1, 36).  
Trong sự việc thăm viếng và ở lại giúp đỡ bà chị họ Êlisabét những ngày mãn nguyệt khai hoa (x. Lc 1,39-58), Đức Maria đã thi hành công việc của nữ tỳ của Chúa khi được thôi thúc đi đến nơi Thiên Chúa đang làm việc, đến gặp người Thiên Chúa đang tỏ quyền năng thương xót, đến chiêm ngưỡng, và đón nhận ơn Chúa đang ban cho dân Ngài.
Là nữ tỳ của Chúa, Mẹ đã được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đến nơi Thiên Chúa muốn, như Đức Giêsu, Con của Mẹ đã luôn được Thánh Thần hướng dẫn. Và không chỉ đến những nơi Thiên Chúa muốn, mà còn đến để chúc tụng Thiên Chúa, ông chủ tốt lành của Mẹ, như trong kinh Tán Tụng Mẹ đã hớn hở cất lên, khi gặp chị họ Êlisabét : Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Ngài đoái thương nhìn tới (Lc 1,46-48).
Nếu so sánh lời kinh tán tụng của Đức Maria và bà Anna, thân mẫu của ngôn sứ Samuen (x. 1 S 2,1-10), chúng ta thấy tinh thần của hai vị không giống nhau, tuy cùng ca ngợi quyền năng của Thiên Chúa, nhưng một bên là Đức Maria thì khiêm tốn cúi đầu thờ lậy quyền năng của Thiên Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người (Lc 1,50), một bên là bà Anna dựa vào đó để sung sướng, đắc thắng trước những kẻ ngày xưa đã chế diễu, khinh thường mình ; một bên là Đức Maria với tâm tình của người tôi tớ vâng lời, và không có gì để mong ước, ngoài thánh ý Thiên Chúa, còn bên kia, bà Anna thì dường như chỉ thấy Chúa thương nhận lời van xin của mình để mình thoát khỏi tai tiếng là người son sẻ, kiểu cây độc không trái, gái độc không con.
Cũng với lời xin vâng của người tôi tớ Thiên Chúa trong buổi truyền tin, Đức Maria đã khiêm tốn câm lặng trước sự nghi ngờ của thánh Giuse, chồng mình, vì trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần (Mt 1,18), và tuyệt đối tín thác vào ông chủ là Thiên Chúa, Đấng sẽ giải cứu mình khỏi hoàn cảnh quá éo le, khó khăn, nan giải.
Và sau cùng, với lời xin vâng của nữ tỳ bé mọn của Chúa, Đức Maria đã đón nhận mọi cơ cực, khổ đau từ lúc sinh Đức Giêsu trong hang lừa, đem con đi trốn lệnh truy lùng của vua Hêrôđê, đến những ngày lạc mất con ở Giêrusalem, rồi tháng năm dong duổi truyền giáo với bao nhiêu chống đối, đe dọa bao vây con mình, và cuối cùng là đường Thánh Giá lên Núi Sọ, ở đó Mẹ đã đứng nhìn con yêu dấu chịu đóng đinh, chết tức tưởi như người tôi tớ đau khổ, bị bỏ rơi của Thiên Chúa Giavê.
Thực vậy, xác tín và chọn lựa của Đức Maria là trở nên nữ tỳ của Chúa, cũng như thái độ và cuộc sống của Mẹ là cuộc sống và thái độ của người tôi tớ khiêm tốn và tuyệt đối vâng phục thánh ý Thiên Chúa.
Thái độ và cuộc sống nữ tỳ Chúa của Đức Mẹ đã nhắc  nhở chúng ta : điều quan trọng trong khi phụng sự Chúa và phục vụ anh em không phải là được làm gì và làm được gì, nhưng là thái độ làm việc của một người tôi tớ biết mình vô dụng, bất xứng, và chỉ biết làm điều ông chủ muốn (x. Lc 17,10). Chính thái độ và tâm tình của người tôi tớ làm đẹp lòng Chúa hơn cả, bởi Chúa được tôn vinh nơi những người khiêm nhường, kính sợ Chúa, chứ không ở những phường lòng trí kiêu căng, và những ai quyền thế (Lc 1, 51-52). Đàng khác, nếu thiếu tâm tình và thái độ của người tôi tớ Chúa, chúng ta có thể rất nhiệt thành với việc Chúa, nhưng lại độc đoán, độc tài, cứng cỏi, lạnh lùng, kiêu hãnh, tự mãn, tự phụ đối với anh em, và không ngừng kể lể công lênh, ca tụng công đức, tuyên dương công trạng của mình, nhất là thay vì đóng đinh con người cũ của mình vào thập giá, ta lại thản nhiên, vô cảm ném đá, đóng đinh anh em mình.
Vâng, nét đẹp tuyệt vời ở Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ chúng ta chính là cuộc đời Nữ Tỳ khiêm nhu, vâng phục và xóa mình.
Cúi xin Mẹ thương bầu cử và dạy chúng ta sống đời Tôi Tớ Chúa như Mẹ.
Jorathe Nắng Tím