Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2020

LỜI CHÚA VÀ GIÁO LÝ VIÊN

IV.         THÁI ĐỘ KHI LOAN BÁO LỜI CHÚA
Giáo Lý viên chỉ có thể loan báo, nếu đã sống Lời Chúa trước đó, vì Giáo Lý viên giới thiệu một “Con người Thiên Chúa”, nên phải rất thiết thân, thiết tha, thiết nghiã với Ngài mới có thể làm cho người nghe tin mến và trở thành môn đệ của Ngài. Công việc làm chứng của Giáo Lý viên đòi điều kiện tiên quyết này để lời rao giảng có sức mạnh thuyêt phục. Bên cạnh điều kiện tiên quyết là những thái độ phải có khi loan báo Tin Mừng, tức làm chứng Đức Giêsu là Thiên Chúa yêu thương, cứu độ.
Thái độ của người làm chứng cũng không kém quan trọng, vì người nghe sẽ dễ dàng chấp nhận điều người làm chứng nói hay không luôn bắt đầu từ thái độ làm chứng. Có ba thái độ cần thiết:
· Tin yêu phó thác
· Thân yêu cộng tác
· Thương yêu tôn trọng

1.   Tin yêu phó thác:
Thái độ đầu tiên phải có chính là tin yêu phó thác ở Đức Giêsu, Đấng đã sai Giáo Lý viên đi làm chứng đời Ngài bằng loan truyền cuộc tử nạn cứu độ và sự sống lại vinh quang của Ngài cho tới khi Ngài trở lại.
Loan truyền Chúa chịu chết là loan truyền mầu nhiệm Thiên Chúa làm người , và mầu nhiệm cứu chuộc vì yêu con người của Đức Giêsu. Đức Giêsu đã nhận lấy thân phận con người, kể cả cái chết của con người để nên giống con người trong mọi sự, trừ tội lỗi.
Loan truyền Chúa chịu chết là làm chứng Đức Giêsu là con người như chúng ta. Bản tính con người  thể hiện trăm phần trăm nơi Đức Giêsu và cuộc sống trần gian của Ngài là cuộc sống của một con người thật. Mầu nhiệm làm người là mầu nhiệm then chốt, căn bản nơi Đức Giêsu Thiên Chúa. Bởi không có mầu nhiệm làm người sẽ không có những mầu nhiệm khác. Chính mầu nhiệm làm người cho chúng ta biết Thiên Chúa là ai, Ngài muốn gì nơi con người, đồng thời con người được biết mình, biết vận mệnh, ý nghiã đời mình. Không có Đức Giêsu làm người, chúng ta mãi là những người mù loà trên đường đời và bất hạnh vì vô minh.
Giáo Lý viên loan truyền Chúa chịu chết là mầu nhiệm làm người và cứu chuộc, nhưng cũng tuyên xưng Chúa sống lại để làm chứng Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, bởi chỉ Thiên Chúa mới tự mình sống lại, chỉ Thiên Chúa mới không bị thần chết khống chế, chỉ Thiên Chúa mới chiến thắng tội lỗi, vì chết là hậu qủa của tội. Tuyên xưng Chúa sống lại là công bố niềm hy vọng của con người vào Thiên Chúa, Đấng đã chiến thắng tử thần, hoả ngục, tội lỗi để trả lại cho con người quyền làm con Thiên Chúa. Nhờ làm con Thiên Chúa, con người sẽ hưởng thừa kế Nước Trời là hạnh phúc đời đời Cha trên trời dành sẵn cho con cái loài người.
Công trình làm người, cứu chuộc của Thiên Chúa trong Đức Giêsu có mục đích là hạnh phúc làm con Thiên Chúa của con người. Như thế mới biết: Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng và yêu đến cùng. Tình yêu vĩ đại, khôn lường và đời đời ấy phải trở thành sức sống và nội dung lời chứng của cuộc đời Giáo Lý viên.
Chính vì làm chứng một Thiên Chúa làm người cho con người mà sứ mạng của Giáo Lý viên trở nên qúa cao siêu, vĩ đại. Cũng vì cao siêu, vĩ  đại mà Giáo Lý viên thấy mình bất xứng. Bất xứng nhiều nỗi:
a.   Bất xứng vì bất lực, không có khả năng làm chứng:
Chỉ nguyên việc nói về “Thiên Chúa  tuyệt đối” thôi đã đủ nói lên sự bất lực của Giáo Lý viên, vốn là con người bị ràng buộc bởi thế giới tương đối có không gian và thời gian.. Giáo Lý viên như Môsê đã thưa với Thiên Chúa Giavê : “Con là ai mà dám đến gặp Pharaô và đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai Cập ?” (Xh 3,11).
b.   Bất xứng vì bất toàn:
Ai trong Giáo Lý viên dám xưng mình đủ thánh thiện để loan báo Lời Thiên Chúa toàn năng, cực thánh?
Ý thức mình bất lực như Môsê đã ý thức về mình, và thân thưa với Thiên Chúa Giavê, Giáo Lý viên cũng phải như A-ha-ron bắt đầu bằng nhận ra mình không đủ tài năng, đạo đức để chu toàn một sứ mạng vô cùng cao cả, thánh thiện, vĩ đại, lớn lao: phát ngôn viên của Thiên Chúa cho mọi người, để khiêm tốn năn nỉ Chúa: “Lậy Chúa, xin xá lỗi cho con, từ hồi nào đến giờ, ngay cả từ lúc Chúa ban lời cho tôi tớ Ngài, con không phải là kẻ có tài ăn nói, vì con cứng miệng cứng lưỡi, ngọng ngắt ngọng ngơ” (Xh 4,10).
Nhờ ý thức mình dòn mỏng, thiếu thốn, tội lụy, chứng nhân sẽ tín thác ở Đấng đã sai mình và đặt ở Ngài tất cả niềm tin tưởng ở ơn trợ giúp, phù hộ. Giáo Lý viên sẽ xác tín Lời Chúa dặn : “Không có Thầy, chúng con không làm được gì” (Ga 15,5), và lạc quan lên đuờng vì tin ở Lời Ngài  hứa: “Ta sẽ ở với con” (Xh 3,12).
Lòng tín thác, cậy trông là chià khóa cho việc loan báo Tin Mừng, rao giảng Lời Chúa. Thiếu lòng tín thác ở Chuá, tất cả mọi công trình truyền giáo, dù bên ngoài thấy tốt đẹp, thành công mỹ mãn cũng không đem lại hoa trái thiêng liêng nào, vì chỉ là công việc của con người đang tìm kiếm vinh quang con người và hoàn toàn vắng mặt Thiên Chúa và xa lạ với thánh ý Ngài.
Hãy thận trọng những thành công bên ngoài. Đó không phải là điều chúng ta tìm kiếm. Ích lợi thiêng liêng cho các tâm hồn mới là mục tiêu của truyền giáo; đổi mới trái tim con người mới là điều Giáo Lý viên trông đợi. Chính vì thế, có những lời rao giảng hôm nay sẽ sinh hoa kết trái ở vài chục năm sau; có những hạt giống Tin Mừng được gieo vãi bây giờ, nhưng thế hệ tới mới đâm chồi, nở hoa. Thời gian hạt giống được thối đi để nầy mầm trên thửa đất tâm hồn con người là việc của Chúa, không phải việc của chúng ta. Việc phải làm của Giáo Lý viên là quảng đại gieo Lời Chúa, hăng hái làm chứng Đức Kitô trong cuộc đời, bằng đời mình, và hết lòng phục vụ Tin Mừng cứu độ. Phần Đức Giêsu, Ngài luôn có mặt, đồng hành để thực hiện những gì còn lại như thánh hoá, đổi mới, cứu chữa, tuyển chọn làm môn đệ những người  có thiện chí lắng nghe, đón nhận Tin Mừng, Lời chứng.
Tin yêu, phó thác như các môn đệ đã vâng lời Đức Giêsu quăng lưới bên mạn phải thuyền, và các vị đã đánh được mẻ cá lớn 153 con, dù suốt cả đêm đã không bắt được con cá nào (Ga 21, 1-13). Tin thác như môn đệ nào đó đã đem cho Đức Giêsu 5 chiếc bánh và 2 con cá để nuôi ăn đám đông hơn 5000 người (Ga 6, 5-13).
Qủa thực, sự ít oi, bé nhỏ của  con người đã làm chạnh lòng Thiên Chúa và phép lạ không ngừng được thực hiện trong cuộc đời, nếu con người biết tín thác, cậy trông nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa. Công cuộc “loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại” của Giáo Lý viên và của tất cả Kitô hữu cũng không ra ngoài nguyên tắc tín thác, cậy trông này.
 
2.   Thân yêu cộng tác:
Thân tình hợp tác với “đồng nghiệp Giáo Lý viên”, và mọi người  để loan báo Tin Mừng là thái độ thứ hai cũng cần thiết không kém.
Làm tông đồ mà co cụm, ghen tuông; dậy Giáo Lý mà bon chen, tỵ nạnh, tranh giành ảnh hưởng; làm chứng Thiên Chúa tình yêu mà giận hờn, gieo thù gây oán, làm buồn khổ thiên hạ thì thật đáng tiếc, đáng buồn, và vô ích khi rao giảng Tin Vui, Tin Mừng Nước Trời.
Thiên Chúa cần ta hợp tác với Ngài, nhưng cũng cần chúng ta hợp tác thân tình và chân thành với nhau. Thiếu hợp tác trong công việc loan báo Tin Mừng, trong sứ mệnh làm chứng Đức Giêsu là điều không thể quan niệm được, vì Giáo Lý viên, thay vì là người làm chứng, sẽ trở thành kẻ phản chứng; bởi một lý do rất đơn giản: Người khác sẽ không nhận ra Đức Giêsu qua các chứng nhân của Ngài khi những chứng nhân này không yêu thương nhau. Đức Giêsu biết rõ điều này, nên đã ân cần căn dặn các môn đệ :
Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con yêu thương nhau” (Ga 13,35).
Yêu thuơng nhau mới không làm người khác “sốc” khi các môn sinh có chung một sư phụ mà xâu xé, chống phá, hiềm khích, bôi nhọ, triệt hạ nhau, vì chỉ tình thân giữa những anh em cùng một cha mới có thể làm chứng hữu hiệu lòng nhân hậu của Cha.
Thử hỏi Giáo Lý viên sẽ làm chứng thế nào khi cùng là Giáo Lý viên, cùng rao giảng Thiên Chúa là Tình yêu, cùng tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng cứu độ nhân hậu, giầu bao dung, hay chạnh lòng mà lại “nói hành nói tỏi”, bôi bác, kèn cựa, kiếm chuyện chống phá nhau ?  Làm sao có thể dậy người khác yêu thương, hợp tác xây dựng Giáo Hội, khi những người được cùng sai đi rao giảng lại phe cánh kình địch, kỳ thị, lên án, làm hại nhau ?
Hãy thận trọng trước những kẽ hở của ảnh hưởng, lời khen, phe nhóm, thế lực, thành tích, công trạng; bởi những kẻ hỡ này sẽ là những lưỡi dao cắt đứt tình thân, những búa tạ đập nát mọi khả thể hợp tác, những viên  thuốc độc giết chết hồn tông đồ, và nhiệt tình truyền giáo.
Đừng  qúa vô tình chú ý đến thành qủa bên ngoài, thành công có tính trần thế để vì những bả danh dự sẽ đánh mất yếu tính “làm chứng” của Giáo Lý viên. Hãy noi gương thân tình hợp tác của tông đồ dân ngoại Phaolô. Với kinh nghiệm loan báo Tin mừng, thánh nhân viết cho giáo đoàn Côrinthô:
“Vậy Apôlô là gì ? Phaolô là gì ? Đó là những tôi tớ đã giúp cho anh em có Đức Tin, và mỗi người đã làm theo khả năng Chúa ban. Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mớ làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng, người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên mới đáng kể. Kẻ trồng, người tưới đều như nhau, nhưng ai nấy sẽ được thù lao theo công khó của mình. Thật vậy, chúng tôi là cộng sự viên của Thiên Chúa. Anh em là cánh đồng của Thên Chúa, là ngôi nhà của Thiên Chúa xây lên ” (1 Cr 3, 5- 9).
Điều đó làm chứng một thực tại: Trong việc loan báo Đức Giêsu, ít nhiều  chúng ta bị cám dỗ bởi “cái tôi vĩ đại ” và những lấn cấn, lôm côm  hầu hết phát sinh từ tính ích kỷ, coi mình là “số một” và là chân lý này. Tính ích kỷ, thần tượng, tôn sùng “cái tôi” đã là nguyên nhân đưa đến nhiều đổ vỡ, thất bại. Giáo Lý viên cần ý thức cơn cám dỗ âm ỉ  nhưng mãnh liệt này để giữ cho mình một tình thân và một tinh thần hợp tác với đồng nghiệp khi loan báo Tin Mừng Đức Giêsu.
3.   Thương yêu tôn trọng:
 Không chỉ tin yêu phó thác ở Đức Giêsu, Đấng sai đi, và thân yêu hợp tác với hết mọi người, nhất là các “đồng nghiệp” - Giáo Lý viên khác, ta còn phải thương yêu tôn trọng người đang lắng nghe Tin Mừng, những người đang thao thức kiếm tìm Đức Giêsu, đang đợi chờ Giáo Lý viên  giới thiệu Thiên Chúa làm người cho họ.
Thương yêu tôn trọng là tôn trọng người  khác với tình yêu thật sự, tình yêu sâu sắc, tình yêu chân thành, tình yêu của một người muốn trao ban hết, chia sẻ tận cùng và mơ ước những điều tốt đẹp nhất, đồng thời nỗ lực làm cho ước mơ đó được thực hiện.
Thương yêu tôn trọng là nhìn đối tượng lắng nghe Tin Mừng như những con người được chính Thiên Chúa tuyển chọn, kêu mời như chính người rao giảng đã được kêu mời, tuyển chọn; nghiã là, tất cả cùng một đẳng cấp: con Thiên Chúa, và anh em với nhau; cùng lãnh chung ân huệ của tình xót thương; cùng chung sứ mạng làm cho người khác đón nhận Tin Mừng cứu độ, hưởng hạnh phúc Nước Trời, và hương vị ngọt ngào “có Thiên Chúa”. Dụ ngôn vườn nho khẳng định: tất cả chúng ta đều bình đẳng trước Thiên Chúa và mọị sự chúng ta có đều là hồng ân (Mt 20, 1-15).     
Dụ ngôn nhắc chúng ta: Những người thợ đến sớm từ giờ đầu và những người vào làm ở giờ chót đều được Thiên Chúa yêu thương, và lương bổng của mỗi người đều là ơn huệ. Chính vì thế, người rao giảng không có quyền khinh khi, coi thường, đánh giá thấp người được giảng dậy, và nhà truyền giáo không nên khinh miệt người đang học hỏi Lời Chúa, bởi tất cả đều là những người thụ ơn và bổn phận phải chu toàn là làm cho Lời Chúa  đến được tận cùng thế giới, với hết mọi người, ở mọi thời đại, trong mọi nền văn hoá.
Đàng khác, chúng ta không có quyền lấy thước đo là tâm hồn bé nhỏ, ngắn ngủi, nông cạn của ta để đo lòng nhân hậu, lượng bao dung và quyền năng bao la, vô cùng trong tình yêu của Thiên Chúa; bởi “Chẳng lẽ tôi không có quyền tự ý định đoạt về những gì là của tôi sao ? ” (Mt 20, 15).   
Ý thức rao giảng như bổn phận sẽ tránh cho Giáo Lý viên não trạng “ta là người  am tường  Thiên Chúa, hiểu biết các mầu nhiệm, nắm giữ mọi chân lý, có đặc quyền, đặc lợi hơn mọi người”. Nguy hiểm của não trạng này là đẩy Giáo Lý viên đến vực thẳm kiêu căng, tự mãn, khi dựa hoàn toàn vào kiến thức giáo lý của mình “đạo đức” của mình để “cho điểm, đánh giá” người khác theo tiêu chuẩn, thước đo trần thế. Và tai hại hơn, Giáo Lý viên đến một lúc, khi kiến thức giáo lý tương đối dầy, sẽ không còn tôn trọng và quy chiếu vào quyền giáo huấn của Giáo Hội bằng cách cắt nghiã Lời Chúa theo cảm hứng, chú giải Tin Mừng theo lý luận riêng, mà quên mình đã được Giáo Hội ủy thác sứ mạng và sai đi với “bài sai”: Gìn giữ và loan truyền chân lý Đức Tin thánh thiện.
Ý thức loan báo Tin Mừng là bổn phận còn giúp Giáo Lý viên khiêm tốn nhận ra: Thiên Chúa luôn tỏ cho những kẻ bé mọn, dốt nát, tầm thường, yếu kém  những mầu nhiệm mà người thông thái không được biết: “ Lậy Cha, con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”  (Lc 10, 21)”. Vì đó là thánh ý của Ngài.
Ý thức làm chứng Đức Giêsu là nghiã vụ cao cả và thánh thiện, Giáo Lý viên sẽ tránh tự đồng hoá mình với sự thánh thiện, để không đi vào vết xe của những người Biệt Phái năm xưa : giả hình, ăn trên ngồi trước, quan liêu, trịch thượng, thiếu từ tâm, bác ái  (x. Mt 23, 1-32).       
Thực vậy, truyền giáo cho thế giới hôm nay đòi Giáo Lý viên một tình yêu tôn trọng người được thụ huấn, người nghe giảng dậy, người trên đường tìm kiếm Đức Giêsu. Bắt đầu bằng tôn trọng nhân vị, nhân phẩm, đến tôn trọng văn hoá, tư duy, nếp nghĩ của người học giáo lý, tiếp đến là tôn trọng tự do chọn lựa của họ.
Chính vì tôn trọng mà Đức Giêsu được giới thiệu cách chân thực, rõ ràng và hấp dẫn nhất. Chính vì tôn trọng người nghe mà Lời Chúa được quảng diễn đầy đủ, chính thống và có sức thuyết phục nhất. Bởi khi con người được tôn trọng là lúc Thiên Chúa được vinh danh; khi phục vụ, và mưu tìm hạnh phúc cho con người là lúc Thiên Chúa đưọc phụng sự và tôn thờ xứng đáng.
Tách Thiên Chúa ra khỏi con người. Đó là cách ma qủy thường dùng để đánh phá những người đi theo Đức Giêsu khi tách thiên tính ra khỏi
nhân tính nơi Ngài; cũng như  không mệt mỏi tìm cách tách Giáo Hội ra khỏi Đức Giêsu như cắt rời đầu ra khỏi thân, chia lià phu quân xa khỏi hiền thê.
Ngón độc của ma qủy là trình bầy một Thiên Chúa “không hề làm người” để chúng tha hồ thêu dệt một thiên chúa “độc ác, dữ tợn, oán thù, thất hứa, bất trung, khát máu”, và vẽ vời một loài người  sa đoạ, tội lỗi, chắc chắn bị luận phạt, và không  hy vọng được thứ tha. Ma qủy rất sợ Giáo Lý viên loan báo một Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người, vì đã “làm người và ở giữa loài người chúng ta”, Thiên Chúa mới mặc khải Thiên Chúa là ai, và loài người là gì. Chính vì “làm người.” và mặc khải toàn bộ chân lý về Thiên Chúa, con người, vũ trụ, đời sau, ý nghiã đời người, đau khổ, hạnh phúc của con người … mà ma qủy không còn đường phỉnh gạt, dụ dỗ, lửa đảo con người vào hư vô, tự hủy diệt.
Mầu nhiệm làm người của Thiên Chúa là sự thực hiện ý muốn của một Thiên Chúa là tình yêu: muốn ở với con người, nên chọn làm người ở giữa con người, để nhờ sự có mặt “làm người, như con người” của Ngài, con người được nâng lên vị thế quan trọng trong trái tim Thiên Chúa, và được trở thành những người thừa kế gia nghiệp đời đời của Thiên Chúa.
Xác tín này giúp Giáo Lý viên tôn trọng con người, không vì con người vĩ đại hay to lớn gì, nhưng vì con người đã được Thiên Chúa thương, cứu chuộc và chọn làm bạn đồng hành. Với tâm tình trân trọng con người của Tin Mừng, Giáo Lý viên sẽ giới thiệu chính xác dung nhan Đức Giêsu và mọi người sẽ nhận ra Đức Giêsu qua thái độ yêu thương tôn trọng của những chứng nhân có tình người này.       

Như thế, thái độ của Giáo Lý viên khi rao giảng, làm chứng Đức Giêsu là đòi hỏi không thể thiếu để Lời Chúa không bị biến hoá,và chân dung Đức Giêsu không bị bóp méo lệch lạc. Với thái độ tin yêu phó thác, giáo Lý viên gắn bó chặt chẽ và kết hợp mật thiết với Đức Giêsu; thái độ thân yêu hợp tác bảo đảm và xây dựng tình bác ái huynh đệ giữa những người được kêu gọi; thái độ thương yêu tôn trọng làm chứng sống động Thiên Chúa là Tình Yêu và Tin Mừng là tin vui cứu độ mang lại tự do và hạnh phúc thực của con cái Thiên Chúa .Với ba thái độ trên, Giáo Lý viên sẽ không sợ trệch đường truyền giáo, vì lúc nào, và ở đâu cũng được tình yêu Đức Giêsu hướng dẫn, được tình huynh đệ của mọi người trong Giáo Hội đỡ nâng, yểm trợ trên đường yêu thương đến với mọi người.

LỜI CHÚA VÀ GIÁO LÝ VIÊN


III.   LÀM THẾ NÀO ĐỂ LỜI CHÚA TRỞ THÀNH CHÍNH ĐỜI SỐNG GIÁO LÝ VIÊN ?
Như đã trình bầy ở phần trên: Làm chứng và sống Lời Chúa là một; cũng như “loan truyền chúa chịu chết, tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến” cũng là sống mầu nhiệm Chúa chịu chết, sống mầu nhiệm Chúa sống lại cho đến giây phút cuối cùng của đời người.
Vì thế, Giáo lý viên không thể tách rời, phân biệt giữa điều mình giảng dậy, người mình làm chứng khỏi đời sống hằng ngày. Bởi một Đức Giêsu không được tin yêu bởi chính Giáo Lý viên cũng sẽ không được tin yêu nơi người học giáo lý với Giáo Lý viên, vì điều tự nhiên mà người học giáo lý nhận ra trước nhất, đó là tình yêu của Giáo Lý viên dành cho Đức Giêsu, Đấng được  Giáo Lý viên giới thiệu.
Hãy thử tưởng tượng mức độ dửng dưng, và thất vọng của bạn khi gặp một nhân viên tiếp thị hờ hững, lạnh nhạt khi cô đang qủang cáo món hàng trên tay. Nhìn dáng dấp mệt mỏi, sắc diện nhợt nhạt, lời nói vô duyên, thô kệch của cô nàng, làm sao bạn có thể bị món hàng thu hút, hấp dẫn ? Món hàng còn cần lửa nhiệt huyết để tiếp thị, nói chi đến công việc giới thiệu một người, một “Thiên Chúa làm người” cho người khác ? Công việc giới thiệu này chắc chắn  đòi người giới thiệu rất nhiều lửa nhiệt tình nhờ xác tín sâu sắc và yêu thương thiết tha, nồng nàn người mình phải giới thiệu,loan truyền.
Để có lửa nhiệt tình dấn thân, lửa nồng nàn yêu thương bốc cháy đốt trái tim mình và trái tim người khác, Giáo Lý viên phải:
1.   Mau mắn đáp lời mời gọi của  Đức Giêsu:
Trước hết, Giáo Lý viên phải mau mắn đáp lời mời gọi “Hãy theo Thầy” của Đức Giêsu. Các môn đệ đầu tiên đã “lập tức bỏ mọi sự mà theo Chúa ” khi được Ngài kêu gọi trên bờ biển (Mt 4,18-22).
Thái độ mau mắn: “lập tức đứng dậy mà đi theo Ngài” là thái độ của người môn đệ nhiệt thành sẵn sàng đi theo  mà không đặt vấn đề sẽ đi đâu, đường dài hay ngắn, đích tới còn xa hay gần…Mau mắn đáp lời mời của Đức Giêsu  là tín thác hoàn toàn ở Ngài mà không tính toán, so đo, đòi hỏi. Có nhiều người được gọi, nhưng đã không đủ qủang đại để phó thác, không đủ lạc quan để buông lỏng cuộc đời trong tay Đấng gọi mình, không đủ tình yêu để vâng phục vô điều kiện, không đủ liều lĩnh để bước đi mà không ngoái cổ lại. Họ là người thanh niên giầu có đã ngần ngại đi theo Đức Giêsu, vì còn ngổn ngang nhà cửa, đất đai, của cải, gia tài (Mt 19,16-22). Họ là người con còn bận bịu chuyện gia đình, cha mẹ. Họ là những người Pharisêu mà tâm hồn ngập đầy những giả dối, kiêu căng, ngạo mạn, quan liêu, trịch thượng, kể cả gian tham, bóc lột (Mt 23, 1- 32).
Trước đòi hỏi quyết liệt: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, anh hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa” (Lc 9,60) của Đức Giêsu. Liệu chúng ta có đứng chung hàng ngũ  những người đã mau mắn đáp lời mời ?   
Trong đời sống hằng ngày, đáp lời mời của Đức Giêsu là khao khát  “Danh Chúa cả sáng, Nước Chúa trị đến” bằng quan tâm đến người khác và những nhu cầu của họ; bằng thao thức, băn khoăn vì hạnh phúc của tha nhân; bằng chia sẻ niềm đau, nỗi nhục của người nghèo khó, thất thế sa cơ, bị đời khinh miệt ruồng bỏ, vì đi theo Đức Giêsu là đi với Ngài trên đường đời, đường của con người với vô số  người khổ đau, lầm lỡ cần được yêu thương, ủi an, nâng đỡ, bởi Thiên Chúa đã làm người và chọn đường đời để đi, chọn con người để đồng hành, chọn kiếp người để sống, chọn chết như con người để trở thành nguồn sống Phục Sinh (Mt 25,31-46). Đi với Đức Giêsu trên đường đời ngợp cỏ lùng tội lỗi, Giáo Lý viên không chỉ đi một đoạn trên đường đến Cana, hay lên núi Sọ mà chấp nhận đi với Ngài từ cây số đầu vào đời ở hang đá Bêlem (Lc 2, 1-20), trốn qua Ai Cập (Mt 1,13 -15), ẩn dật ở Nazareth (Lc 2, 39 - 40), dong duổi nắng mưa khắp Galilê, Samaria.. và sau cùng im lìm, ảm đạm từ chân thập tự bết máu đến mộ phần cô quạnh, hắt hiu (Mt 27, 57 - 61). Đi với Ngài, Giáo Lý viên đồng hành với Ngài củng hai môn đệ trên đường Emmau (Lc 23, 13 - 35) để không một phút giây trong cuộc sống vắng bóng  Ngài, hay thiếu bước chân Ngài cùng đi.    
2.   Gắn bó với Đức Giêsu:
Đức Giêsu ao ước được ở với những kẻ thuộc về Ngài, để Ngài ở đâu thì những kẻ thuộc về Ngài cũng ở đó với Ngài. Bí tích Thánh Thể là biểu chứng ước muốn nóng bỏng của Đức Giêsu và Ngài đã thực hiện phép lạ của “tình yêu đến cùng ấy bằng  ở với con người, giữa mọi người cho đến tận thế (Mt 28,20).
Giáo Lý viên là người thuộc về Đức Giêsu, người của Thiên Chúa, vì họ được kêu gọi để thực hiện sứ mạng giới thiệu Đức Giêsu –“Thiên Chúa làm người” cho người khác. Thuộc về Đức Giêsu, Giáo Lý viên không thể làm gì khác là gắn bó thiết thân với Ngài để mỗi ngày nên giống Ngài hơn, hầu giới thiệu hữu hiệu Đức Giêsu cho người chung quanh.  
Gắn bó với Đức Giêsu là ở với Ngài, lắng nghe Ngài, chia sẻ vui buồn với Ngài. Gắn bó với Ngài trong việc lãnh nhận các Bí tích, dự Thánh Lễ, cầu nguyện. Gắn bó với Ngài bằng ở lại với Ngài giữa những anh em kém may mắn, số phận hẩm hiu. Gắn bó với Ngài là ở trong Giáo Hội với tình yêu khắng khít, keo sơn và tinh thần vâng phục  anh hùng. Gắn bó với Đức Giêsu như Phêrô: “Lậy Thầy, cho dù có phải vào tù, và phải chết với Thầy thì con đây cũng  không bỏ Thầy” (Lc 22,33). Phêrô không hiểu hết điều mình nói, nhưng tình yêu trong ông đã thôi thúc ông nói, và điều này đã nói lên khao khát muốn ở lại với Đức Giêsu của trái tim người môn đệ.
Ở lại với Đức Giêsu để không xa Ngài khi vui khi buồn, khi thành công lúc thất bại, khi lên đời lúc “không còn cửa”, khi đương thời lúc hết thời. Ở lại vói Ngài, trong Ngài để ăn rễ sâu trong trái tim Ngài hầu sinh nhiều hoa trái, ơn ích thiêng liêng cho mình và cho người khác (Ga 15, 5). Ở với Ngài để được Ngài biến đổi, hầu người khác nhận ra Đức Giêsu nơi mình. Đó là ước mơ, hoài bão của Giáo Lý viên hết tình, hết mình với Đức Giêsu, Đấng mà Giáo Lý viên yêu mến, tuyên xưng và loan báo cho mọi người.
3.   Ngước nhìn Đức Giêsu:
Giáo Lý viên là người năng ngước nhìn Đức Giêsu. Không chỉ chiêm ngưỡng Ngài trên núi Tabo khi Ngài hiện ra trong vinh quang chói lói, nhưng còn ngắm nhìn Ngài trên thánh giá buổi chiều tử nạn. Ngước nhìn Đức Giêsu không chỉ khi vui, thành công, nhưng cả khi khốn khó, bị hiểu làm, vô ơn và những ngày khô khan, nguội lạnh, chán chường, qụy ngã.
Đừng sợ nhìn Đức Giêsu, dù ở trạng thái tinh thần, mức độ đạo đức, hay hoàn cảnh, tình huống nào. Bởi bất cứ ra sao và thế nào, Đức Giêsu vẫn luôn muốn được chúng ta ngước nhìn, chiêm ngắm để tràn ơn cứu sống cho chúng ta, vì ánh mắt Ngài là nguồn ơn cứu độ. Ngài đã nhìn Phêrô và ánh mắt từ bi, nhân hậu đã đánh động trái tim thống hối của người môn đệ vừa chối Thầy (Lc 22, 61- 62). Ngài đã nhìn người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang khi ban bình an và âu yếm dặn chị: đừng phạm tội nữa. Ngài đã nhìn Giakêu và tình yêu trong đáy mắt Ngài đã đổi mới đời ông (Lc 19, 1-10). Ngài đã bắt gặp ánh mắt ăn năn của  anh cướp bị đóng đinh bên phải Ngài và ban cho anh nước Thiên Đàng ngay hôm ấy. Ngài đã nhìn những người bệnh bên vệ đường và chữa lành họ. Ngài đã nhìn thấu suốt tâm hồn mỗi người để gửi vào đó lòng xót thương vô bờ bến.
Ngước nhìn Đức Giêsu là việc làm thường bị quên lãng, trong khi đó lại là việc rất cần thiết cho người môn đệ. Ngước nhìn Ngài để được Ngài bổ sức : “Hỡi những ai vất vả, hãy đến với Thầy, Thầy sẽ bổ sức cho” (Mt 11, 28 -30). Ngước nhìn Ngài để thêm lòng trông cậy. Ngước nhìn Ngài để được tình Ngài thương xót, xóa sạch lỗi lầm, tội lụy. Ngước nhìn Ngài để tâm hồn được bình an. Ngước nhìn Ngài để được ơn Ngài bao phủ.
Quên ngước nhìn Đức Giêsu, chúng ta sẽ quen nhìn mình, và nhìn mình, sẽ chỉ gặp ở mình những  tương đối, hữu hạn. Nhìn mình sẽ như Giuđa, thay vì nhìn Thầy để được ánh mắt nhân hậu của Thầy nhắc nhở, thương xót, đưa trở về đã chỉ thấy tội phản bội kinh khủng lớn lao không gì tẩy xóa được, để bối rối, sợ hãi trước “tình thế không thể thay đổi, tình trạng không thể tốt hơn, linh hồn không thể được cứu chữa, cuộc đời chỉ còn là ngõ bí tuyệt vọng, vì tất cả  đường về đều bị phong toả ”. Giuđa đã nhìn mình để thất vọng ê chề, để bẽ bàng tuyệt vọng, để ngã lòng, buông xuôi vì thấy mình hoàn toàn bất lực, bất toàn, bất chính. Nhìn mình thay vì nhìn Chúa, Giuđa đã tuyệt vọng và đi thắt cổ khi không tìm được lối ra, đường thoát, ơn cứu sống; bởi nhìn mình  Giuđa  chỉ thấy một trời đen kịt tăm tối, một đời trống rỗng vô vọng, một hiện tại vô nghiã, một tương lai mịt mùng đe doạ. Vì thế, Giuđa đã ra đi thắt cổ tự tử, vì không chịu nổi những “tầm thường” của mình và cuộc đời qúa kinh tởm, buồn nôn (Mt 27, 3 -10).
Phêrô cũng đã vì nhìn mình mà “đâm sợ và bắt đầu chìm” (Mt 14, 30); bởi trước đó,”Phêrô đã từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu” (Mt 14, 29). Giả như ông cứ nhìn thẳng Đức Giêsu mà ông thấy đang đi trên mặt biển, và tin vào Lời Ngài “Cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ !”,nhưng “Cứ đến !” (Mt 14, 29-30) thì đâu nên nỗi phải chìm nghỉm và hốt hoảng la lên: “Thầy ơi, cứu con với! ” 
Nhìn lên Chúa để không mất niềm hi vọng, lòng cậy trông, vì ở Ngài tình yêu thương xót luôn chan chứa, ngập tràn. Hãy ngước nhìn Đức Giêsu khi không được thông cảm, sẻ chia, khi không được trân trọng, kính mến dù đã “bỏ mọi sự mà theo Chúa”, dù đã dầy công vất vả vì ích chung, vì giáo xứ, vì mọi người. Ngước nhìn Đức Giêsu trong những lúc nghi nan, chán chường, mệt mỏi. Ngước nhìn Ngài khi bị mọi người lên án, tẩy chay, bỏ rơi, miệt thị…
Như chúng ta, Đức Giêsu cũng đã trải qua những giây phút căng thẳng “toát mồ hôi máu” trong vườn Cây Dầu trước khi đi chịu chết. Ở những khúc quanh của cuộc đời, ngước nhìn Chúa là việc làm cấp  bách mà  Giáo Lý viên không thể quên trong suốt cuộc đời làm chứng Đức Giêsu.

LỜI CHÚA VÀ GIÁO LÝ VIÊN


II.            LỜI CHÚA ĐEM LẠI GÌ ?  
Kinh Thánh Cựu Ước là lịch sử dân Thiên Chúa, một dân được Thiên Chúa chọn với tổ phụ Áp-ra- ham để mặc khải chân lý một Thiên Chúa. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước, cũng như dân tộc Ít-ra-en chuẩn bị cho sự quy tụ đông đảo các dân tộc chung quanh Đức Giêsu.
Kinh thánh Tân Ước là đời Đức Giêsu, là lịch sử của Thiên Chúa làm người giữa loài người để cứu chuộc mọi người. Trong Tân Ước, Lời Đức Giêsu được ghi chép bởi những chứng nhân đã sống với Đức Giêsu hoặc người khác hay cộng đoàn tín hữu ghi chép lại từ lời kể, và chứng từ sống động của những chứng nhân trực tiếp này. Tác giả chính của Kinh Thánh là Thiên Chúa. Những tác giả nhân loại tuy vẫn giữ phong cách hành văn riêng, lối diễn tả đặc thù của từng người, nhưng tất cả đều được linh ứng để chân lý Đức Tin được ghi lại đầy đủ, trọn vẹn.  
Như thế Lời Chúa là Đức Giêsu. Chính Ngài là Ngôi Lời và “Ngôi Lời là Thiên Chúa.. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu trong  bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng”” (Ga 1,1- 5). “ Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến  nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1, 10-14).
Thánh Gioan tông đồ, môn đệ được Đức Giêsu yêu đặc biệt đã xác tín ngay chương đầu của Tin Mừng ngài viết: Ngôi Lời là Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta. Ngôi Lời là Lời của Thiên Chúa, Lời ban sự sống, ánh sáng chân lý và hạnh phúc đời đời.
Như thế, loan báo Lời Chúa là loan báo chính Chúa, rao truyền Lời Chúa là rao truyền đời Chúa, làm chứng Lời Chúa là tuyên xưng Chúa chết và sống lại cho tới khi Chúa đến.   
Cũng chính vì loan báo Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa, mà đời Giáo Lý viên phải được đổi mới bởi Lời Chúa nhờ thấm nhuần Lời Chúa và sống Lời Chúa một cách thiết thực, sâu sa, nhiệt tình. Không có môn đệ hay nhà truyền giáo dửng dưng, ươn lười, chỉ có môn đệ chí tình và người được sai đi nhiệt thành. Giáo Lý viên là môn đệ, nên không thể hờ hững với Lời Chúa, chểnh mảng với sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Trái lại, Giáo Lý viên ý thức mình phải nên giống Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa mỗi ngày hơn nhờ sống và rao truyền Lời Ngài. Thánh Phaolô đã cho thấy mục tiên của đời tông đồ là sống chính Đức Giêsu: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20). 
Sống Đức Giêsu là sống Lời Chúa, và điều kiện để rao giảng Lời Chúa  là phải sống Lời ấy, sống sự sống của Thiên Chúa làm người ấy trước đó. Điều đó cũng có nghiã: người rao giảng Tin Mừng vừa loan báo, làm chứng, vừa phải sống Đấng mình  làm chứng và thực hành Lời mình rao giảng, bởi Lời Chúa không  như các môn khoa học khác, chỉ cần dậy hết giáo án là xong, không cần phải quan tâm sống điều mình dậy.
Nhưng một khi đã hội đủ điều kiện trên, chúng ta tự hỏi: Lời Chúa đem lại cho chúng ta những gì ? Bởi nếu không biết chắc Lời Chúa mang lại những gì, Giáo Lý viên sẽ không đủ tin tưởng để sống và rao giảng, đồng thời người nghe Lời Chúa, học Lời Chúa cũng không hứng thú để chuyên cần, chăm chỉ học và say mê đem Lời Chúa thực hành trong đời sống.
Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta cùng chia sẻ câu chuyện vua Đavít cướp vợ của viên sĩ quan thuộc cấp tên là Urigia  trong Cựu Ước:
“Vào một buổi chiều, vua Đavít từ trên giường trỗi dậy, và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời. Vua Đavít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói: “Đó chính là bà Bát-sê -va, con gái ông Êliam, vợ ông Urigia, người Khết. Vua Đavít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua ăn nằm với nàng…Rồi nàng trở về nhà mình và có thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Đavít rằng: “Tôi có thai”.
“Vua Đavít sai người đến nói với ông Gioáp: “Hãy sai Urigia về gặp ta”. Ông Gioáp sai ông Urigia về gặp vua Đavít. Khi ông Urigia đến với vua, vua Đavít hỏi thăm về ông Gioáp, về quân binh, về chiến sự. Rồi vua Đavít bảo ông Urigia: “Hãy xuống nhà của ngươi và rửa chân”. Ông Urigia ra khỏi đền vua, có người bưng theo một phần thức ăn của nhà vua theo sau. Nhưng ông Urigia nằm ở cửa đền vua với tất cả bề tôi của chúa thượng ông, và ông không xuống nhà mình.
Người ta báo cho vua Đavít rằng: “Ông Urigia đã không xuống nhà ông. Vua Đavít hỏi ông Urigia: “Chẳng phải ngươi đi đường xa mới về ư ? Tại sao ngươi không xuống nhà của ngươi ?” Ông Urigia thưa với vua Đavít rằng: “Hòm Bia cũng như Ítraen và Giuđa đang ở lều, chủ tướng tôi là ông Gioáp và các bề tôi của chúa thượng đang ở ngoài đồng trống, mà tôi đây lại về nhà ăn uống và nằm với vợ tôi sao ? Tôi xin lấy chính mạng sống của ngài mà thề rằng: Tôi sẽ không làm điều ấy! ”. Vua Đavít bảo ông Urigia: “Hãy ở lại đây hôm nay nữa, ngày mai ta sẽ cho ngươi đi…
Sáng hôm sau, vua Đavít viết thư cho ông Gioáp và gửi ông Urigia mang đi. Trong thư, vua viết rằng: “Hãy đặt Urigia ở tuyến đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết”. Ông Gioáp đang thám sát thành liền để ông Urigia ở chỗ ông biết là có quân hùng mạnh nhất. Người (Ammon) trong thành xông ra, giao chiến với ông Gioáp. Một số người trong quân binh, trong các bề tôi vua Đavít đã ngã gục, và ông Urigia, người Khết cũng chết….
Vợ ông Urigia nghe tin chồng mình  đã chết thì làm ma cho chồng. Khi tang lễ đã xong, vua Đavít sai người đi đón nàng về nhà mình. Nàng trở thành vợ vua và sinh cho vua một con trai. Nhưng hành động của vua Đavít không đẹp lòng Thiên Chúa” (2 Sm 11).
“Thiên Chúa sai ngôn sứ Nathan đến với vua Đavít. Ông vào gặp vua và nói với vua: “Có hai người trong cùng một thành, một người giầu và một người nghèo. Người giầu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm. Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông: Ông coi nó như một đứa con gái. Có khách đến thăm người giầu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người khách đến thăm ông”.
Vua Đavít bừng bừng nổi giận với người giầu ấy và nói với ngôn sứ Nathan: “Có Thiên Chúa hằng sống, kẻ nào làm điều ấy thật đáng chết! Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi nó đã làm chuyện ấy, và đã không có lòng thương xót”. Ngôn sứ Nathan nói với vua Đavít: “Kẻ đó chính là ngài ! Đức Chúa, Thiên Chúa của Ítraen phán thế này: “Chính ta đã xức dầu phong ngươi làm vua Ítraen, chính ta đã giải thoát ngươi khỏi tay vua Saun. Ta đã ban cho ngươi nhà của chúa thượng ngươi, và đã đặt các bà vợ của chúa thượng ngươi vào vòng tay ngươi. Ta đã cho ngươi nhà Ítraen và Giuđa. Nếu bấy nhiêu mà còn qúa ít, thì Ta sẽ ban thêm cho ngươi gấp mấy lần như thế nữa. Vậy tại sao ngươi lại khinh dể lời Đức Chúa và làm những điều trái mắt Người ? Ngươi đã dùng gươm đâm Urigia, người Khết; vợ y, ngươi đã cướp làm vợ ngươi; còn y, ngươi đã dùng gươm của của con cái Ammon mà giết. Ấy vậy, gươm sẽ không ngừng chém người nhà của ngươi, bởi vì ngươi đã khinh dể Ta và cướp vợ của Urigia, người Khết , làm vợ ngươi…..
Bấy giờ Đavít nói với ông Nathan : “Tôi thật đắc tội với Thiên Chúa”. Ông Nathan nói với vua Đavít: “Về phiá Thiên Chúa, Ngài đã bỏ qua tội của ngài rồi, và ngài sẽ không phải chết. Thế nhưng vì trong việc này, ngài đã khinh dể Thiên Chúa, nên đứa trẻ ngài sinh được chắc chắn sẽ phải chết”. Rồi ngôn sứ Nathan trở về nhà….” (2Sm12, 1-15).
1.   Lời Chúa mở mắt con người mù loà:
Câu chuyện có thực, vì là sự thực xưa như trái đất, khi sự dữ theo tội lỗi vào thế gian đã làm con người mù loà không nhận ra điều xấu mình đang làm, điều tồi bại mình sắp thực hiện. Đavít vì mê sắc đẹp của Bát-sê-va, vợ của Urigia và ham muốn thân xác nàng đã không nhìn ra tội mình sắp phạm: cướp vợ người khác và âm mưu giết chồng của người đàn bà này. Đây là tội khó tha, nhưng không khó gặp trong xã hội loài người ở bất cứ đâu, trong bất cứ thời đại nào, bởi đã là con người là mang lấy hậu qủa “mù quáng, mù loà, đui chột” của tội lỗi.
Ngôn sứ Nathan đã đến gặp Đavít và chuyển đến vua Lời Thiên Chúa. Chính Lời Chúa đã mở mắt vua để vua thấy điều mình làm là gian ác, ghê tởm truớc mắt Thiên Chúa và loài người. Lời Chúa đã cho vua nhận ra mình có tội, đáng khinh bỉ, đáng bị nguyền rủa và luận phạt. Sự dữ và tội lỗi đã làm mắt vua mù loà trước sự thật về mình và sự thật về người khác. Sự thật về mình không được thấy, nên vua đã mù quáng nghĩ mình có quyền trên vợ của người khác, và trên chính mạng sống của người chồng bị vua cướp mất vợ. Sư thật về người khác bị che khuất, nên vua mới ngang nhiên phá hoại một gia đình, làm tổn thương nhân vị, vi phạm nhân quyền và quyền làm vợ chồng của Urigia – Bát-sê -va khi mưu mô gài Urigia về phép để che dấu, lấp liếm chuyện nàng đã có thai với vua, nhất là đẩy Urigia sau đó vào chỗ chết thê thảm ngoài trận tuyến.
Nhờ Lời Chúa được ngôn sứ Nathan, vua Đavít đã mở mắt để thấy mình sai trái và tội ác tầy trời mình đã phạm.
Nhận ra mình có tội là điều kiện để được tha tội. Nếu Đavít không được Lời Chúa mở mắt để nhìn rõ tội mình phạm và nhận ra mình là tội nhân thì ông vẫn cứng đầu không nghe Lời Thiên Chúa trách móc qua ngôn sứ Nathan ; và như thế  tội ác của vua mãi mãi không được Thiên Chúa thứ tha. Nhưng nhờ nghe Lời Chúa, Đavít đã nhận mình có tội và thống hối ăn năn.
Tội lỗi có một sức mạnh khủng khiếp là làm mù mắt tội nhân trước sự thật về Thiên Chúa và sự thánh thiện, tốt đẹp của Ngài trong vũ trụ, trong con người. Chính vì mù, mà con người coi thường, khinh rẻ và ngang ngược trước Thiên Chúa và tàn phá, xâm phạm, làm tồn thương đồng loại.
Cần có Lời Chúa là ánh sáng, đôi mắt mù loà vì tội lỗi mới mở ra để thấy vinh quang mang lại hạnh phúc thật của Thiên Chúa luôn chiếu toả trên con người. Khép chặt đôi mắt, con người không thể nhận ra tình thương xót Chúa bao la, hải hà, và càng không nhận ra tha nhân là anh em mình. Và vì mù loà, con người sẽ tiếp tục đi trong bóng đêm lầm lạc dắt đến hủy diệt.
Trong Tân Ước, chính Đức Giêsu đã mở mắt người mù từ lúc mới sinh (Ga 9), và nhiều người mù loà khác (Mt 9, 27 -30). Hình ảnh Ngài “nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù” (Ga 9,6) nói lên ánh sáng cho những tâm hồn mù loà đến từ sự đụng chạm trực tiếp với Ngài, và Lời Ngài chính là Lời ban ánh sáng cứu độ, để rồi lời cầu xin chúng ta dâng  Chúa khi đọc Lời Ngài cũng sẽ là lời van nài tha thiết của người mù thành Giê-ri-khô: “ Lậy Đức Giêsu, xin cho mắt chúng tôi được mở ra !” (Mt 20,33).      
2.   Lời Chúa tha tội:
Lời Thiên Chúa cũng tha thứ cho Đavít như đã mở mắt ông. Trong Tân Ước, Đức Giêsu đã không ngừng ban Lời tha thứ : “Tội con đã được tha”. Ngài tha tội khi làm phép lạ cho người tê liệt lành bệnh (Mt 9, 1- 8). Nói Lời tha tội cho người tê liệt, Đức Giêsu  cho chúng ta thấy Lời Ngài là Lời tha thứ, Lời ngài là Lời giải cứu chúng ta khỏi gông cùm tội lỗi.
Sở dĩ, Lời Chúa đem lại ơn thứ tha, vì Thiên Chúa thương tội nhân, nên dùng Lời Ngài giải phóng con người khỏi tù ngục của tội lỗi. Vì thế, Lời Chúa tự thân là ơn cứu sống, là ơn tha tội, và mỗi Lời từ miệng Đức Giêsu đều là tình yêu thương xót có sức xoá tội, tẩy sạch, làm cho tinh tuyền, như Ngài đã nói với người phụ nữ tội lỗi: “Tội của con đã được tha !.. Hãy đi bình an” (Lc 7, 48-50).   
3.   Lời Chúa ban sự sống và  hạnh phúc đời đời:
Hạnh phúc của Đavít là được Thiên Chúa thứ tha, và vì được tha thứ, ông nhận được hạnh phúc thật là giao hoà với Thiên Chúa: Thiên Chúa không oán phạt ông nữa, nhưng tha thứ và chúc phúc cho ông và vương quốc, miêu duệ của ông. Đavít đã huởng hạnh phúc của một vị vua hiếu thảo đối với Thiên Chúa Giavê và triều đại của Đavít đã là triều đại được chúc phúc. Cũng vì được chúc phúc, từ dòng dõi ông, Đấng Cứu Thế là Ngôi Lời đã sinh ra (Lc 1, 27, 32).
Đức Giêsu nhiều lần đã minh định: Lời Ngài là Lời ban sự sống và hạnh phúc lớn nhất cho con người là lắng nghe Lời Ngài : “Khi Đức Giêsu đang giảng dậy, thì giữa đám đông có một phụ nữ lên tiếng thưa với Người:  “Phúc thay người mẹ đã cưu mang Thầy và vú đã cho thầy bú !”. Nhưng Người đáp lại : “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc 11, 27-28), và Phêrô đã thảng thốt kêu lên sau khi cảm nghiệm hạnh phúc được lắng nghe Lời Đức Giêsu : “Lậy thầy, qủa thực Thầy có lời ban sự sống đời đời !”; cũng như viên sĩ quan ngoại đạo đã tin ở Lời Đức Giêsu là Lời cứu chữa, cứu độ nên đã xin với Ngài: “Lậy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì người nhà con sẽ được lành bệnh” (Mt 8,5-8). Khi trả lời ma qủy trong sa mạc, Đức Giêsu cũng đã khẳng định : “Người ta không chỉ sống bằng cơm bánh, nhưng còn sống bằng Lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4).
Tóm lại, Lời Chúa mở mắt con người mù qúang, thứ tha con người có tội và ban sự sống, hạnh phúc đời đời cho con người bất hạnh phải chết. Tất cả tai ương như: trở nên mù loà, bị kềm kẹp, bất hạnh, và phải chết đều là hậu qủa không thể tránh của tội lỗi. Người có tội là người mù, người nô lệ, người khốn nạn cơ cực, và phải chết.
Đức Giêsu là Ngôi Lời đến trong thề giới loài người để với Lời Ngài, con người được sáng mắt, được trở về cuộc đời làm con cái tự do, và sống đời đời để hưởng hạnh phúc làm con Thiên Chúa tình yêu. Với Lời Chúa, chúng ta được giải thoát  khỏi quyền lực của thần dữ, và được cứu thoát khỏi mọi thứ ngục tù, vì Lời Chúa giải phóng và cứu độ để con người tìm lại hạnh phúc làm con của Cha trên trời.

LỜI CHÚA VÀ GIÁO LÝ VIÊN

I.    TƯƠNG QUAN GIỮA GIÁO LÝ VIÊN VÀ LỜI CHÚA
 Không thể phủ nhận tương quan mật thiết và nền tảng giữa Giáo Lý Viên và Lời Chúa, bởi Lời Chúa là Tin Mừng cứu độ cần được loan báo cho muôn dân và  Giáo Lý viên là những Kitô hữu được Giáo Hội mời gọi để chia sẻ sứ mạng thánh thiện đó. Chính Lời Chúa đã trở nên lý do có mặt của Giáo Lý viên.
1.   Giáo Lý viên loan báo Lời Chúa:
Sứ mạng của Giáo Lý viên là loan báo Đức Giêsu qua Lời Ngài. Kinh Thánh là con đường trên đó, Giáo Lý viên đồng hành với người khác. Dựa vào Lời Chúa, Giáo Lý viên giới thiệu dung mạo và trình bầy Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu. Bằng Lời Chúa, Giáo Lý viên làm chứng Đức Giêsu - “Thiên Chúa làm người” và không ngừng “loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”.
Như thế, Giáo Lý viên không dậy một lý thuyết, một học thuyết, hay một giả thuyết nào đó; càng không bận tâm đến những định đề toán học, khoa học, xã hội nhân văn hay sinh vật; Giáo Lý viên cũng không tuyên truyền, cổ võ cho đảng phái, tổ chức trần thế nào, và tuyệt đối không làm công tác tiếp thị, quảng cáo, chào hàng cho công ty.
Giáo Lý viên chỉ say mê rao giảng một Đức Giêsu, và chỉ đời của Đức Giêsu mới hấp dẫn, lôi cuốn Giáo Lý viên, và đủ sức hối thúc Giáo Lý viên dấn thân  phục vụ. Giáo Lý viên dường như bị  cuốn hút bởi Ngài để chấp nhận  bỏ mọi sự mà theo và làm chứng “Đấng chịu đóng đinh, điều mà  người Do Thái coi là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ”(1 Cr 1,23). Và tâm tình của Giáo Lý viên là tình yêu của người môn  đệ chí cốt, nhà truyền giáo nhiệt thành, người cộng tác trung tín dành cho một mình Đức Giêsu, bởi sẽ không có gì tách Giáo Lý viên ra khỏi Đức Giêsu  như thánh Phaolô đã viết:
 “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ? … Và tôi tin chắc rằng:  cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8, 35-39).
Như thế sứ mạng của Giáo Lý viên đòi một tình yêu rất lớn, rất mạnh dành cho Đức Giêsu và với ý nghiã  này, Giáo Lý viên đích thực là người say mê Đức Giêsu và tận hiến phục vụ Ngài không chỉ một vài năm khi chưa cưới vợ,  lấy chồng  hay như một chút đóng góp lấy lệ trang điểm đời “người có đạo”; trái lại, đây là dấn thân của một đời người, cho suốt cuộc đời như lời tuyên xưng : “Loan truyền Chúa chịu chết, tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”. “Cho tới khi Chúa đến” tức tới phút chót đời người  khi nhắm mắt xuôi tay mới thôi loan báo, mới ngừng tuyên xưng.   
2. Giáo Lý viên sống Lời Chúa:
Không có sứ mạng nào lại đòi phải yêu thắm thiết, yêu nồng nàn, yêu say đắm, yêu đến hy sinh mạng sống như sứ mạng loan báo Tin Mừng. Những công việc khác, cùng lắm đòi cố gắng, nhưng làm môn đệ, tông đồ, nhà truyền giáo, Giáo Lý viên thì tình yêu dành cho Đức Giêsu phải là điều kiện tiên quyết. Bởi không yêu mến, không gắn bó, không hết tình hết mình, chúng ta không thể thuộc về Đức Giêsu để biết rõ Ngài là ai, hầu có thể giới thiệu, làm chứng về Ngài cho người khác: “Ai không yêu mến thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 8).
Chính vì tình yêu như điều kiện không  thể thiếu mà Giáo Lý viên sẽ chỉ loan báo, làm chứng, giới thiệu được người mình yêu khi cảm nghiệm và sống chính sự sống của con người ấy. Vì nội dung loan báo không là một lý thuyết, học thuyết nhưng là đời Đức Giêsu:  “Con người -Thiên Chúa” nên không sống với Ngài, không trở nên giống Ngài, không cảm nghiệm tình Ngài, Giáo Lý viên sẽ không  biết Ngài, và đủ xác tín để làm cho người khác tin ở Ngài. Vì không đủ gắn bó tình nghiã, Giáo Lý viên sẽ thiếu lửa khi loan báo, nghi ngờ khi tuyên xưng, dè dặt khi làm chứng, ngập ngừng khi rao giảng Đức Giêsu, và tất nhiên lời chứng và đời chứng nhân của Giáo Lý viên sẽ không có sức thuyết phục .

TÔN VINH MẸ LA VANG, NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM


Suy niệm 5 : ĐỨC MARIA, MẸ CỦA NGƯỜI ĐAU KHỔ

Vì đời là bể khổ, là thung lũng nước mắt, nên đau khổ là phần lớn của chiều dài và bề dầy kinh nghiệm mà ai cũng đã trải qua, chịu đựng. Vì thế, nói về đau khổ là như gặp lại những gì quen thuộc, dù không muốn quen, không thích thuộc về, càng không mong trở thành quen biết, thâm giao.
Nguyên nhân của đau khổ được quy cho tội, bởi tội đã cắt đứt tương quan giữa người với Thiên Chúa, làm đổ vỡ liên đới giữa người với người, tự hủy diệt  bản thân. Và hậu qủa khôn lường không thể tránh là tình trạng hỗn loạn, mất quân bình, vô trật tự làm con người không thanh thản, không hoan lạc, không bình an, bị đe dọa.
Vì tội là những gì đi ngược lại điều Thiên Chúa muốn, nên Thiên Chúa muốn tình yêu, thì tội là  ganh ghét, oán thù ; Thiên Chúa muốn sự thật, thì tội là lừa lọc gian dối ; Thiên Chúa muốn bình an, thì tội là bạo lực, bạo hành ; Thiên Chúa muốn sự sống thì tội là giết chóc, tàn sát ; Thiên Chúa muốn sự tốt lành, trong sạch, thì tội là điều xấu xa, nhơ nhớp ; Thiên Chúa muốn hiền hậu, khiêm nhu, thì tội là hung hãn, kiêu căng ; Thiên Chúa muốn công bằng, chính trực, thì tội là bất chính, bất công ; Thiên Chúa muốn quảng đại chia sẻ, thì tội là hà tiện, tham lam ; Thiên Chúa muốn thảo hiếu, biết ơn, thì tội là vô ơn, phản phúc ; Thiên Chúa muốn hy sinh, quên mình, thì tội là ich kỷ, ăn người ; Thiên Chúa muốn can đảm, hy vọng, thì tội là tuyệt vọng, hèn nhát ; Thiên Chúa muốn cứu chữa, thì tội là xâm hại, làm tổn thương…
Tóm lại, bất cứ tư tưởng, lời nói, hành vi nào đi ngược điều Thiên Chúa muốn, tức Sự Sống, Tình Yêu và những gì là Chân Thiện Mỹ, thì đều không mang lại bình an, hạnh phúc đích thực, nhưng gieo vào tâm hồn cỏ dại bất an, gieo trong gia đình gai góc bất hoà, gieo giữa cộng đoàn nọc độc “ganh ăn tức ở”, giăng mắc trên đường đời cạm bẫy tai ương để con người phải đau vì nhau, khổ vì nhau, não nề thất vọng vì nhau, tơi bời, tan nát do nhau, kể cả mất bình an trong tâm hồn, và căng thẳng, bất mãn, thất vọng với chính bản thân.   
Nhưng nỗi đau khổ lớn nhất và bất hạnh khủng khiếp nhất trong tất cả đau khổ, bất hạnh vẫn là tình trạng không giao hoà của thụ tạo với Thiên Chúa, Đấng dựng nên mình.
Như thế, chúng ta có thể tạm thời kết luận : đa số những đau khổ trong cuộc sống đều do con người gây ra cho nhau, những đau khổ do tương quan bất cẩn, bất minh, bất hoà, bất công, bất chính giữa cha mẹ - con cái, vợ chồng, người thân, láng diềng, đồng nghiệp, kẻ xa lạ, đối phương, địch thù.
Tắt một lời, sở dĩ đau khổ ngày càng tràn lan, là do lòng người không thành, tâm người không thiện, tim người không ngời sáng yêu thương. Còn lại là những đau khổ khác do thiên tai, bệnh tật, tuổi già và sự chết như kết thúc tất nhiên của bất cứ  thụ tạo có giới hạn nào.
Nhưng tại sao Đức Maria, cũng như Đức Giêsu, con Mẹ, tuy không có tội, nghiã là không chịu áp lực và hậu qủa của tội là đau khổ, vì Mẹ luôn vâng phục và thuận thảo theo ý muốn của Thiên Chúa vẫn phải chịu nhiều đau khổ, và tâm hồn không ngớt “bị gươm sắc đâm thâu”, như lời tiên tri của cụ già Simêon, ngày Mẹ lên Đền Thờ dâng Đức Giêsu cho Thiên Chúa (x. Lc 2,22-35) ? Phải chăng đau khổ không tha ai, không nể nang cả “Thiên Chúa làm người”, và “Người Nữ đầy ơn phúc” được đặc ân “vô nhiễm nguyên tội” ?
Đúng vậy, đau khổ không tha ai,nhưng không có nghiã đau khổ thống trị, khống chế con người, và con người bị biến thành nô lệ khốn nạn của đau khổ. Trái lại, đau khổ được mang một khuôn mặt mới, một ý nghiã mới, một giá trị mới kể từ khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8).
Mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa đã cho đau khổ một khuôn mặt vui tươi, một ý nghiã hy vọng , một giá trị cứu rỗi, vì “Thiên Chúa làm người” đã chọn đau khổ được biểu hiện qua khổ hình Thập Giá để cứu chuộc nhân loại. Đau khổ từ nay không còn vô lý, vô nghiã, vô giá trị, nhưng là con đường thanh tẩy, con đường sám hối, con đường thánh hoá dẫn đến vinh quang  của thụ tạo mới được tái sinh trong ơn phục sinh của Ngôi Hai nhập thể.
Chính nhờ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đã vui lòng chịu đau khổ với con người, mà “người đau khổ” không còn là “người vô phúc” bị đẩy vào đường cùng, ngõ cụt tuyệt vọng của phận làm người ; nhờ có Đức Giêsu, Ngôi Lời ở giữa con người và chịu chung thân phận người nhiều khổ đau, mà cuộc sống làm người nhiều đau khổ đã được mang lấy ý nghiã Vượt Qua của mầu nhiệm cứu độ, như thánh Phaolô đã nhắn nhủ môn đệ Timôthê của mình : “Bởi vậy, tôi cam chịu mọi đau khổ, để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn, để họ cũng đạt tới ơn cứu độ trong Đức Kitô Giêsu, và được hưởng vinh quang muôn đời. Đây là lời đáng tin cậy : Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên nhẫn chịu đựng đau khổ, ta sẽ cùng hiển trị với Người” (2Tm 2,10-12). 
Đức Maria, thụ tạo tuyệt vời được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế cũng không đi con đường nào khác ngoài con đường “từ Thánh Giá đến Ơn Cứu Độ, từ đau khổ đến vinh quang, từ tử nạn thất bại đến phục sinh chiến thắng” mà Đức Giêsu, Con của Mẹ đã chọn và đã đi, nên như mọi người, Mẹ đã đau khổ trong đời hôn nhân khi thánh Giuse, chồng mình, vì không hiểu “việc thụ thai của vợ là do quyền năng Chúa Thánh Thần” đã quyết định bỏ đi cách kín đáo (Mt 1, 18- 19) ; đã đau khổ trong đời làm mẹ khi không tìm được chỗ ấm áp cho con ngày chào đời, và liền sau đó đã  tất tưởi  ôm con mới sinh chạy trốn lệnh truy lùng ráo riết của vua Hêrôđê ; đã đau khổ “vì không hiểu gì”, khi con tự ý ở lại Đền Thờ mà chẳng xin phép một câu, đến khi tìm được, con lại  cứng cỏi hỏi giật ngược : “Sao cha mẹ lại tìm con ?” (Lc 2,49) ; đã đau khổ khi thấy con mình bị đồng hương Nadarét tẩy chay, nguyền rủa và tìm cách “kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực” (Lc 4,29) ; đã đau khổ khi con bị bắt, bị khảo cung, bị kết án, bị đánh đòn, và vác thập giá đến nơi hành hình. Nhưng đau đớn hơn cả là dưới chân Thánh Giá, Mẹ đứng nhìn con chịu đóng đinh, bị thiên hạ phỉ báng, nhạo cười, bị môn đệ phản bội, bị mọi người  bỏ rơi, khát cháy cổ và rướn mình đớn đau giờ hấp hối ; sau cùng là nỗi đau của người mẹ nghèo đã không đủ khả năng lo hậu sự cho con trai, nhưng phải nhờ vào lòng tốt của người khác.     
Vâng, đau khổ trong đời hôn nhân, gia đình như chúng con, Mẹ biết rõ thế nào là buồn tủi khi bị người thân hiểu lầm, mà mình không có cách để đính chính, giải bầy ; thế nào là đắng cay khi bất lực trước nhu cầu tối thiểu và cấp bách của đàn con ; thế nào là nhục nhằn khi bị đồng hương, đồng bào, đồng đạo tẩy chay, cô lập, khinh khi ; thế nào là chết cả tâm hồn khi bạn bè bỏ rơi, tri kỷ tri âm phản bội, bán đứng ; thế nào là nghiệt ngã khi làm ơn mắc oán, tình ngay lý gian, tai bay vạ gió, gặp ách giữa đường ; thế nào là chán chường trước cám dỗ bỏ cuộc, buông xuôi, đầu hàng vì tình đời đen bạc, lòng người đổi trắng thay đen ; thế nào là ngao ngán trước tráo trở, điêu ngoa, vu khống hồ đồ của những người trước đó mình đã yêu thương, giúp đỡ ; thế nào là bủn rủn tay chân , suy sụp tinh thần khi danh dự bị bôi nhọ, sự nghiệp phút chốc tiêu tan, vì thiên hạ qúa ác độc ; thế nào là nỗi hoảng lọan, hoang mang đến tột cùng khi bị  người khác dồn vào thế bí, đường cùng, tử lộ ; và thế nào là nỗi cô đơn, sợ hãi khi chính Thiên Chúa, nơi nương tựa cuối cùng của người cô thế dường như cũng đang  nhắm mắt lạnh lùng lãng quên.
Lạy Mẹ sầu bi đứng dưới chân Thánh Giá !
Mẹ đã sống một đời thánh giá với nhiều đau khổ, dù Mẹ không vương vấn tội truyền, để hiệp thông với Đức Giêsu, là Con Mẹ và là “Tôi Tớ đau khổ” của Giavê ; để cảm thương và nâng đỡ, ủi an chúng con, những đứa con đang đau khổ đủ cách, đủ kiểu, đủ mức độ và vì đủ chuyện rắc rối, thương tâm trên đường đời .
Cảm tạ Mẹ là “Mẹ đau khổ” của chúng con, để trở nên nguồn Ủi An, niềm Hy Vọng, chốn Nương Náu cho những tâm hồn tan nát vì qúa khổ đau, những trái tim bầm tím vì qúa nhục  nhằn, những tấm thân nặng trĩu gánh sầu buồn của đời người nhiều đau khổ.
Jorathe Nắng Tím