Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2020

COVID-19 - DẤU CHỈ THỜI ĐẠI (3)

                                                       COVID-19  CÔ ĐƠN -  CÔ ĐỘC
Những ngày đầu Corona bùng phát ở Vũ Hán, người trung quốc đi đến đâu cũng bị tránh né, kỳ thị, và nhiều người không gọi tên dịch là Corona mà thay bằng “Chinois”, nghiã là “Dịch Trung Quốc”. Nhưng hôm nay thì dịch lan tràn khắp thế giới, và lệnh cách ly, cô lập, phong toả đạt đến mức độ quốc gia, toàn cầu: trong nước thì đóng cửa trường, quán xá, cơ sở kinh doanh, xí nghiệp; ngoài nước thì đóng biên giới, cửa khẩu, sân bay, bến tầu. Chính phủ các nước công bố những biện pháp rất nghiêm ngặt để chặn đứng sức bành trướng của dịch, bằng lệnh cấm tụ tập, hạn chế gặp gỡ, đi lại trên đường phải có giấy phép và bị kiểm tra thân nhiệt.
Corona trở thành nguyên nhân cô đơn, Covid-19 tạo nên cô độc, vì độ lây nhiễm qúa nhậy và mau chóng đã biến người này thành nguy cơ dịch bệnh của người kia, và ai cũng có thể là nhịp cầu truyền nhiễm, cơ hội lây lan cho cộng đồng, nguyên nhân tai ương của đồng loại. Chỉ cần một xiết tay, vỗ vai hay ôm hôn, virút Corona đã có thể nhập “hộ khẩu” người bên cạnh; chỉ cần một chớp nhoáng đụng chạm da thịt, người ta đã có thể biến cả mái ấm thành ổ dịch nguy hiểm, và cả nhà thành nạn nhân đáng thương của Covid-19.
Những ngày này, trên toàn thế giới, đài truyền hình quốc gia, cũng như các phương tiện truyền thông địa phương liên tục đưa tin từng giờ về những con số tăng vọt đến chóng mặt về số tử vong, người bị lây nhiễm, và người vô tâm đến mấy cũng phải chột dạ, hoang mang.
Giữa tâm dịch đang bùng nổ dữ dội, nhiều giả thuyết về nguồn gốc của dịch, những giả thuyết liên quan chính trị, quốc phòng, kinh tế được bàn nhiều. Ở đây, người viết chỉ mạo muội đề cập đến hậu qủa xã hội của đại dịch:
1.   Covid-19 cách ly người khỏi người:
Nỗi buồn lớn nhất của người bệnh là bị cách ly. Một mình trơ trọi, cô độc chiến đấu với căn bệnh làm người bị nhiễm dịch tủi thân, thất vọng, vì không người thân nâng đỡ, không bạn hữu an ủi. Mặc cảm bị bỏ rơi, cô lập khỏi gia đình, cộng đồng xâm chiếm tâm can vốn đã cô đơn, hiu qụanh làm người bệnh mất tinh thần, nản chí, rất dễ rơi vào tuyệt vọng. 
Và qủa thực, cuộc sống vốn sẵn cô đơn vì tâm hồn con người ngày càng khép chặt, thu nhỏ, hẹp hòi vì ích kỷ, thực dụng, nay Covid-19 tàn nhẫn “xuống tay” chặt đứt, cách ly, phân tán càng làm con người lạnh lùng, vô cảm, “xa mặt, cách lòng”.
Tâm lý học khẳng định: con người chịu ảnh hưởng nặng nề của thói quen, tập qúan, nên không nói với nhau một lần, tiếp theo là nhiều lần không nói sẽ làm con người quên dần nhu cầu đối thoại, trao đổi; cũng như một ngày không gặp, nhiều ngày, nhiều tháng không gặp sẽ làm con người mất thói quen giao lưu, và đến một  lúc, sẽ cho rằng gặp gỡ không còn cần thiết, và người ta sẽ cảm thấy hờ hững, ngượng ngùng, xa lạ khi phải gặp lại.
Nhìn vào những người bệnh bị cách ly trong các trung tâm, bệnh viện, họ rất cô đơn, cô độc. Không thân nhân thăm viếng đã đành, ngay cả nhân viên y tế cũng phải tuân thủ những biện pháp cách ly triệt để và nghiêm ngặt để giữ an toàn cho người bệnh đang được điều trị và cho chính y sĩ, bác sĩ, nhân viên phục vụ. Vì thế không ai có thể ngồi lâu chia sẻ, tâm sự, an ủi ai… nhưng ai nấy chỉ vắn tắt, ngắn ngọn, mau chóng để giữ khoảng cách an toàn sức khỏe, cũng là khoảng cách tạo nên cô đơn, cô độc…
2.   Covid-19 phá vỡ ước mơ xây dựng thế giới thành một đại gia đình nhân loại:
Không ai trong chúng ta có thể chối cãi cố gắng xây dựng thế giới thành một thôn làng thân thương, một đại gia đình nhân loại trong tinh thần tôn trọng và tương trợ từ nhiều thập kỷ qua, ở đó, các nước hợp tác bảo vệ, xây dựng, để cùng nhau thăng tiến hoà bình và hạnh phúc chung của toàn thể nhân loại.
Rất nhiều chương trình phát triển quốc tế, nhiều tổ chức thế giới nhắm mục đích nhân bản cao qúy đã ra đời và hoạt động hữu hiệu. Những ngân sách khổng lồ do đóng góp của những quốc gia phát triển trợ giúp các quốc gia đang gặp khó khăn là bằng chứng của tình “tương thân tương ái” giữa các thành viên của đại gia đình nhân loại này.
Nhưng bỗng Covid-19 xuất hiện phá vỡ ước mơ tuyệt vời và lý tưởng, khi các nước không còn có thể lo cho nhau, vì gánh nặng qúa lớn đang đè trên đất nước mình. Người ta chỉ còn lo cứu mình, mà không còn khả năng và tâm trí nghĩ đến nước láng diềng, anh em hàng xóm.
Nhìn lại hai cuộc thế chiến, nước Mỹ và nhiều quốc gia đồng mình đã đem quân trợ giúp cứu nguy, giải phóng những nước bị lâm nguy, nhưng ở khoảnh khắc tâm dịch Covid-19, cường quốc số một cũng chung số phận và phải lo giải quyết khó khăn do dịch bệnh đang hoành hành ngay trên đất nước mình, mặc dù không thiếu thiện chí muốn chia sẻ gánh nặng với các quốc gia khác. 
Thực vậy, con người rút vào cô đơn, cô độc có thể do ích kỷ, kiêu căng, nhưng cũng dễ rơi vào cô đơn, cô độc khi bị đẩy vào tình trạng “chỉ còn có thể lo cho mình”, mà không còn khả năng gánh vác, cũng như chia sẻ với người khác.
Đại dịch Covid-19 đang đẩy chúng ta rơi vào tình trạng thứ hai này, khi nhu cầu “sống còn” của chính mlình, thân nhân, gia đình xem ra không còn cho phép chúng ta lo cho những người ở vòng ngoài “quen biết”, hoặc vòng xa “thiên hạ”. Và với mức độ đe dọa ngày càng cao, biện pháp cách ly, cô lập ngày càng nghiêm ngặt, thời gian phong tỏa, giới nghiêm ngày càng kéo dài, tinh thần tương trợ sẽ có nguy cơ càng co thắt, rút ngắn lại, biến tâm hồn chúng ta thành lạnh lùng, xa lạ trước nhu cầu và thiếu thốn, khổ đau của người khác, quốc gia khác.
Bởi tinh thần cần được nuôi dưỡng, nên khi thiếu lương thực là tình người, tinh thần sẽ xuống dốc, chết lả. Bởi tâm hồn cần được huấn luyện, nên khi lòng nhân ái không còn là cơ hội cho tâm hồn tập tành, thể hiện, tâm hồn sẽ nghèo nàn, cằn cỗi, chết yểu. Bởi trái tim cần được định hướng, nên khi Bác Ái, Từ Bi không còn là đường cho trái tim lên đường, không còn là hành trình đến với tha nhânh, trái tim sẽ lười biếng, bỏ cuộc, đầu hàng, đào ngũ. Bởi lẽ sống cần được xây dựng liên lỷ trước các lựa chọn, nên khi lý tưởng Nhân Ái không còn là ngọn hải đăng soi đường, lẽ sống sẽ lạc đường, mất hướng.
Vâng, nguy cơ của đại dịch Covid-19 không chỉ là tai họa trước mắt, thấy được, nhưng tai họa tàn phá lâu dài, chính là khả năng biến trái tim mỗi người thành cứng cỏi, chai lì, do quen với cô đơn, cô độc, đến độ không còn cảm thấy cần sự có mặt của tha nhân, không cảm thấy nhu cầu “sống với” người khác, không tha thiết với cộng đồng chia sẻ, hợp tác. Vì lỡ quen với thời gian cô đơn, cô độc do Covid-19 cách ly, cô lập, người ta dễ nhập nhiễm tính dửng dưng, lạnh lùng, coi thường đời, bất cần đời.
Đó chính là lý do nhiều trẻ em có tuổi thơ bất hạnh, không được thương yêu đã không dễ trở thành người lớn tử tế, và đa phần tội phạm đã là những người có trái tim chai lì vì bị đời xử tệ; có tâm hồn băng giá vì đã qúa khổ đau; có cuộc sống gian ác, tăm tối, vì trước đó đã bị người đời bạc đãi, vùi giập.
Ý thức nguy cơ trước mắt, cũng như hậu qủa tinh thần Covid-19 có thể tiếp tục “ủ lại”, không chỉ mười bốn ngày, nhưng rất lâu dài, chúng ta cần đặt cho mình một hướng đi, một kỷ luật sống. Huớng sống ấy chính là con đường Bác Ái, Từ Bi mà đã là người, muốn làm người tử tế, là người có giá trị, ai cũng phải bước đi, ai cũng phải lên đường. Cũng thế, một kỷ luật sống phù hợp với con đường làm người, là đòi hỏi mà không người nào có thể bỏ qua, hay tự cho phép miễn trừ, đó là  Kỷ luật nuôi dưỡng trái tim nhân ái, biết chạnh lòng. 
Đừng nghĩ con người là thánh thần, cũng đừng ảo tưởng chúng ta là thánh nhân, nhưng phải khiêm tốn nhìn nhận: con người nhiều giới hạn và yếu đuối. Không chỉ giới hạn, yếu đuối ở sức vóc, thông minh, tài cán, mà yếu đuối cả tinh thần, giới hạn cả đạo đức. Tinh thần yếu đuối khi dễ sa đà vào điều xấu xa, tồi tệ hơn vươn cao, nâng tầm đến thánh thiện, cao qúy; đạo đức giới hạn nên nghĩ xấu hơn nghĩ tốt, làm tội hơn thực hiện điều tốt lành.
Vì thế, giữa tâm dịch Covid-19, nếu thiếu ý thức về giới hạn và yếu đuối, cũng như thiếu ý chí lựa chọn hướng sống Bác Ái, Từ Bi, và nghị lực tự huấn luyện bằng tuân thủ kỷ luật: nuôi dưỡng trái tim nhân ái, biết chạnh lòng, chúng ta sẽ dễ trở thành những nạn nhân đáng thương của Covid-19, những nạn nhân nếu không “cô đơn, cô độc” vì dương tính, nhiễm bệnh bây giờ, thì sau này cũng vô cảm, lạnh lùng, ích kỷ vì cạn kiệt lòng nhân. 
Jorathe Nắng Tím

ÁNH SÁNG


                 Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 4 Mùa Chay, Năm A
Có thể nói : Tin Mừng Gioan là tin mừng Ánh Sáng, vì ngay phần đầu của Tin Mừng, thánh Gioan đã phấn khởi ca tụng Ánh Sáng : “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… Và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,1-4).
Ánh sáng ấy được Ngôi Lời đem đến cho nhân loại, cho từng người, như người mù từ lúc mới sinh đã được Đức Giêsu chữa lành để nhìn thấy ánh sáng (x. Ga 9).
Nhìn những người anh em khiếm thị, chúng ta thấy họ vẫn sống, nhưng sự sống của họ luôn bị đe đọa vì không thấy đường, mà đường đi đầy những chướng ngại có thể làm họ té ngã, bị thương và có thể chết, vì đập đầu vào đá, vào tường, rơi xuống hố rãnh, sông rạch, hoặc bước vào lửa đang cháy nóng ; anh em khiếm thị vẫn có thể sống, nhưng sống trong lo lắng vì không thấy những nguy hiểm rình rập quanh mình.
Vì thế, cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người mù từ thuở mới sinh được Tin Mừng Gioan kể lại là một hẹn hò mang tính sinh tử. Trong cuộc hẹn này, Đức Giêsu đã đưa anh mù từ bóng tối của những đe doạ, hiểm nguy đưa đến sự chết vào vùng ánh sáng của sự sống được đảm bảo, bình an.        
Trong cuộc hẹn hò sinh tử này, chúng ta thấy cuộc chiến rất gay go giữa ánh sáng và bóng tối, giữa đức tin của người mù được sáng mắt và những người biệt phái tuy mắt sáng nhưng cứng lòng không đón nhận Đức Giêsu là “Ánh Sáng Muôn Dân” (Ga 8,12).
1.   Cuộc chiến trường kỳ và căng thẳng giữa Ánh Sáng và Bóng Tối :
Vừa rời khỏi Đền Thờ để tránh cơn mưa đá của những nngười Do Thái qúa khích, Đức Giêsu “nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh” (Ga 9,1) thường ngày ngồi ăn xin bên lề đường (x. Ga 9,8), và Ngài chữa anh khỏi đui mù, khi “nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa. Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được” (Ga 9,6-7).
Chắc chắn anh hạnh phúc, vui mừng lắm, vì lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy ánh sáng, được chiêm ngắm trời đất, thiên nhiên, con người, nhất là được nhìn thấy cha mẹ, anh chị em, họ hàng thân thuộc. Và cũng có nhiều người đã đến chung niềm vui với anh.
Nhưng bên cạnh những người đang vui với niềm vui được sáng mắt của anh, đã có những người như các ông Pharisêu đã không vui vì anh được chữa lành, đã không hài lòng vì anh được nhìn thấy, đã không bình an khi anh được Đức Giêsu làm phép lạ ban cho ánh sáng. Họ là những người đang bực tức, căm giận, chỉ vì anh được chữa lành, và được sáng mắt. Nhưng chính trong hoàn cảnh này, anh có dịp công khai tuyên xưng đức tin của anh vào Đức Giêsu, người đã cứu chữa anh ra khỏi bóng tối.
Trước nhóm Pharisêu hùng hổ vặn hỏi, và không ngớt đe đọa, anh luôn giữ một lập trường : kể lại chính xác những gì Đức Giêsu đã làm và đã nói với anh : “Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa’. Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy” (Ga 9,11). Bị chất vấn : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị Ngôn Sứ !” (Ga 9,17).
Những người Do Thái ghét Đức Giêsu còn mắng nhiếc anh thậm tệ và hạ uy tín của Đức Giêsu khi chụp mũ, lên án Ngài là người tội lỗi, cốt đế anh nghi ngờ, không tin Ngài là Đấng đến từ Thiên Chúa (x. Ga 9,24-33). Họ còn áp đảo tinh thần cha mẹ anh, bằng đe dọa : “trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô” (Ga 9,22).  
Sau cùng, vì không chịu nổi tính bất khuất, lòng biết ơn và niềm tin sắt đá của anh, nhóm Pharisêu và những người Do Thái về phe họ đã vô cớ ra án cho anh : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?. Rồi họ trục xuất anh” (Ga 9,34).  
Đức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Đức Giêsu trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người” (Ga 9,35-38).
Qủa thực, anh mù bẩm sinh được Đức Giêsu chữa lành đã trải qua nhiều thử thách gây ra bởi những người Biệt Phái ganh ghét Đức Giêsu, và quyết tâm trừ khử Ngài. Vừa được sáng mắt sau bao nhiêu năm mù lòa, anh tưởng sẽ được bình an, hạnh phúc với mắt sáng như mọi người, nào ngờ cả một thế lực tôn giáo tấn công anh, bắt anh phải phủ nhận phép lạ anh vừa nhận, ép anh phải từ chối hồng ân từ tay người có tên Giêsu, đối thủ số một của những người đang o ép, khống chế, mua chuộc, gài bẫy anh phải nói dối, cũng như ráo riết “mớm cung” để anh phải bóp méo, bức tử “sự thật” bằng không nhận đã được Đức Giêsu “trộn một chút bùn, xức vào mắt, rồi bảo : Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa”, nhất là không được to tiếng công bố với niềm xác tín : “Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy” (Ga 9,11).   
Anh đã phải chiến đấu cam go trước cám dỗ được yên thân, được cơ chế tôn giáo ủng hộ, được đám đông tuyên dương, để có thể nói thật điều mình nghĩ đúng, nói đúng điều mình nghĩ thật, khi công khai “kể đúng” những gì Đức Giêsu đã “thật sự” làm cho anh, và nhắc lại “đúng” những lời của người chữa lành mắt đã “thực sự” nói với anh. Anh phải chiến đấu vất vả vì lực lượng hùng hậu, và ma mãnh của Bóng Tối đã không chấp nhận Ánh Sáng được trả lại cho anh, vì Bóng Tối muốn mãi mãi thống trị anh, và không muốn anh đón nhận Ánh Sáng như hồng ân.
Những năm tháng mù loà, anh không thể mường tượng thế nào là ánh sáng, vì bóng tối với thời gian đã làm anh quen và không còn thấy xa lạ, khó chịu, bực bội với bóng tối, như người sống nhiều năm trong hang động, hay lâu ngày bị giam cầm dưới hầm tối sẽ lảo đảo, té nhào phút đầu tiếp cận ánh sáng, nên khi có ánh sáng ùa vào cuộc đời, anh cũng phải dũng cảm chiến đấu để Vượt Qua bóng tối, đi vào Ánh Sáng, chứ không ngoan cố ở lì trong bóng tối và không chịu thoát ra.
2.   Kết qủa khác biệt giữa Ánh Sáng và Bóng Tối : 
Anh mù được chữa lành đã thấy ánh sáng, và khi đón nhận ánh sáng, anh đã nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã cứu anh khỏi bóng tối mù loà.
Đấng ấy đến để ban ánh sáng cho nhân loại, nhưng không phải tất cả mọi người đều mở lòng đón nhận ánh sáng như anh. Bằng chứng là những người Pharisêu và nhiều người Do Thái có mặt hôm đó đã lên tiếng phủ nhận phép lạ ánh sáng của Đức Giêsu khi Ngài chữa lành anh, mặc dù phép lạ đã xẩy ra tỏ tường, và họ kiểm chứng được tận mắt, tận tay, tại chỗ.    
Đó là lý do thánh Gioan Tông đồ đã nhấn mạnh trong phần mở đầu Tin Mừng : “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,9-11). Cũng như chính Đức Giêsu đã khẳng định, trước những ngoan cố, và phủ nhận Ánh Sáng của nhóm Pharisêu và những người Do Thái cứng lòng : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy đuợc thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !” (Ga 9,39).
Nhìn vào anh mù được chữa lành, chúng ta thấy anh là người thiện tâm, khi lương thiện đón nhận “hồng ân được sáng mắt” được ban từ tay người có tên Giêsu, mà sau đó anh đã tuyên xưng niềm tin ở Ngài và sấp mình bái lậy (x. Ga 9,38). Chính nhờ mở lòng đón nhận hồng ân ánh sáng, Thiên Chúa đã cho anh được gặp Ngài, nhận ra Ngài và thờ lậy Ngài. Cũng chính vì nhận ra ơn Thiên Chúa ban cho mình, mà anh được bình an, dũng cảm để làm chứng bằng nói lên sự thật Thiên Chúa đã làm cho anh, trước mọi thách đố, cạm bẫy, cám dỗ, thử thách của ác nhân. 
Bên cạnh ơn bình an của đức tin, anh còn nhận được hoa trái ngon ngọt của Ánh Sáng là Lương Thiện, Công Chính và Chân Thật như thánh Phaolô đã ân cần nhắc bảo các tín hữu Êphêsô : “Anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng ; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5,8-9).
Ngược lại, khi nhìn vào những người chống lại ánh sáng, tức chống lại Đức Giêsu, như nhóm Pharisêu, chúng ta thấy họ không tin, dù đã thấy tận mắt, đã sờ tận tay ; thấy họ không bình an, nhưng bất an, bất ổn, tâm hồn bấn loạn vì hận thù, ganh ghét, khi tìm đủ cách ngụy tạo, vu khống, thúc giục người này người kia làm chứng gian, nói dối, bóp méo sự thật, như họ đã  điên cuồng làm áp lực trên anh mù và gia đình anh.
Chúng ta cũng thấy ở những người từ chối ánh sáng này con người và thái độ không chút “lương thiện, công chính và chân thật”, qua tư tưởng bất chính, lời nói  xảo quyệt, và việc làm gian ác, khi tìm mọi cách tận diệt niềm tin của anh mù vào Đức Giêsu, và giập tắt ánh sáng anh vừa nhận được như hồng ân vô cùng lớn lao từ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.
Vâng, như anh mù được sáng mắt, nhờ bí tích Thanh Tẩy và Thêm Sức, chúng ta được Thiên Chúa cho sáng mắt, được lớn lên và xứng đáng hơn mỗi ngày với ơn huệ làm con cái Ánh Sáng, khi thấy tất cả mọi người, mọi sự chung quanh mình, và nhìn mọi biến cố xẩy ra hằng ngày theo cái nhìn của Thiên Chúa, và dưới cái nhìn của Thiên Chúa. Nhờ đó, chúng ta không ngủ mê trong bóng tối, nhưng trỗi dậy dưới ánh sáng rạng ngời của Đức Giêsu (x. Ep 5,14), Ánh Sáng cứu độ của Thiên Chúa, Ánh Sáng cứu chuộc muôn dân.
Jorathe Nắng Tím

THIÊN CHÚA CẦN CON NGƯỜI


                               Suy Niệm TIN MỪNG Lễ TRUYỀN TIN 25/3
Thiên Chúa đã khởi sự công trình Cứu Chuộc bằng  ngỏ ý mời con người cộng tác, qua việc sai sứ thần Gabrien đến với một Trinh Nữ có tên là Maria, làng Nadarét và đề nghị Trinh Nữ chấp thuận làm Mẹ Ngôi Lời Thiên Chúa sẽ làm người trong lòng Trinh Nữ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Sau những trao đổi khiêm tốn, thẳng thắn và chân thành, Trinh Nữ Maria, con người đẹp lòng Thiên Chúa đã chính thức nhận lời cộng tác với Thiên Chúa trong công cuộc Cứu Thế của Ngài, khi dứt khoát trả lời : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).
Và Ngôi Lời đã làm người, và ở giữa chúng ta (Ga 1,14).
Lời nguyền rủa Rắn, tức Thần Dữ, cũng là Lời Hứa cứu độ của Thiên Chúa sau khi nguyên tổ phạm tội : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15) nay đã được thực hiện, và Lời Hứa ấy đã được các ngôn sứ nhiều lần nhắc lại khi tuyên sấm, đặc biệt ngôn sứ Isai : “Chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu : Này đây một Trinh Nữ sẽ thụ thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuen” (Is 7,14) nay đã  hoàn toàn được ứng nghiệm.
Chúng ta thấy trong biến cố Truyền Tin :  
1.   Thiên Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do của con người :
Dựng nên con người, Thiên Chúa đã không hỏi ý kiến của ai, vì chưa có ai để hỏi, khi tất cả còn là hư không. Nhưng khi đã dựng nên con người giống hình ảnh mình rồi, thì Thiên Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do của con người, là hình ảnh của chính Ngài.
Vì thế, với tự do là hình ảnh của Thiên Chúa, con người đã trở mặt phản nghịch Thiên Chúa khi nghe lời Thần Dữ xúi dục không tin ở Ngài, không tin Ngài thương yêu, không tin Ngài hết lòng chăm nom, săn sóc, và không để phải thiếu thốn gì.
Tự do đã cho con người quyền “nói có, nói không” với Thiên Chúa ; tự do đã cho con người địa vị bá chủ mọi loài được Thiên Chúa tạo dựng (x. St 1,28), nhưng cũng chính tự do làm con người tự cắt đứt ân tình, gạt bỏ ân nghiã với Thiên Chúa, nhưng chính tự do cũng đã mở mắt con người để “thấy mình trần truồng”, nghèo nàn, phản phúc, nên xấu hổ, sợ hãi, tránh mặt Thiên Chúa (x. St 3, 7-10).   
Nhưng vì yêu thương vô cùng và đến cùng, Thiên Chúa đã không nỡ bỏ con người mà Ngài đã yêu thương tạo dựng, nên đã lên ngay một chương trình cứu vãn những gì đã sụp đổ, hư hỏng, qua Lời Hứa Cứu Độ, nhưng Lời Hứa ấy sẽ chỉ có thể được thực hiện với sự cộng tác tự do, hợp tác tự nguyện của con người, như con người đã  tự nguyện, tự do bất hợp tác với Thiên Chúa cho hạnh phúc của mình, trong vườn địa đàng.
Trong biến cố Truyền Tin, sứ thần đã được sai đến để hỏi ý kiến con người, để chờ đợi ở con người một lời chấp thuận, để nhận từ con người một cam kết hợp tác, và con người đại diện cho tất cả loài người ấy chính là Trinh Nữ Maria, quê làng Nadarét, người nữ đuợc Thiên Chúa yêu thương, chúc phúc. Chính người đã thay mặt nhân loại trả lời xin vâng, bầy tỏ tự do tin yêu, tự do phụng thờ, tự do vâng  phục, tự do phó thác, tự do dấn thân thực thi Thánh Ý Thiên Chúa trong nhiệm cuộc cứu độ nhân loại.
Và chương trình cứu chuộc qua mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa đã thực sự được khởi sự tốt đẹp ngay sau biến cố Truyền Tin hôm ấy.
2.   Cộng tác với Thiên Chúa là vâng theo Thánh ý Ngài :
Là Cha thương yêu, nhân hậu và toàn năng, nên kế hoạch nào, chương trình nào của Thiên Chúa chuẩn bị thực hiện cho con người cũng đều tốt đẹp và hoàn hảo, vì Ngài là Tình Yêu và chỉ muốn trao ban những gì tuyệt vời nhất cho con người.
Vì thế, khi chờ đợi con người tự do cộng tác vào kế hoạch, chương trình đem lại hạnh phúc cho con người của mình, Thiên Chúa chỉ mong con người chấp thuận ý muốn yêu thương, và làm theo kế hoạch đã được quan phòng cách tuyệt hảo của Ngài, bởi chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa mới biết rõ chúng ta cần gì, và thực hiện hoàn hảo những gì cần cho chúng ta (x. Mt 6, 25-34).
Tóm lại, điều Thiên Chúa cần ở con người là vâng phục Thánh Ý Ngài ; công việc con người cần làm để cộng tác với Thiên Chúa là sống theo Luật Chúa ; thái độ con người cần có để làm vui lòng Thiên Chúa là là làm theo Lời Ngài dậy, như Đức Giêsu đã đến để làm theo ý Chúa Cha, đã đến để thực thi ý muốn của Cha Ngài, như lời thánh vịnh 39 đã được thánh Phaolô nhắc lại cho tín hữu Do Thái:
Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói : Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : Lậy Chúa, này con đây, con xin đến để thực thi thánh ý Ngài, như sách thánh đã chép về con (Dt 10,5-7).
Vâng, ý nghiã quan trọng của lễ Truyền Tin là Thiên Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do của mỗi người, cũng như cần chúng ta cộng tác với Ngài trong việc cứu rỗi chính chúng ta và anh em, bằng vâng phục Thánh Ý yêu thương và tuyệt hảo của Ngài, Thánh Ý luôn mang lại Hạnh Phúc đời đời cho chúng ta.
Lậy Đức Trinh Nữ Maria, dung mạo và gương mẫu của Giáo Hội, xin Mẹ đồng hành với Giáo Hội để Giáo Hội luôn sẵn sàng cộng tác với Thiên Chúa bằng khiêm tốn, vâng phục Thánh Ý để chúng con, con cái của Mẹ và Giáo Hội được cùng Mẹ hát vang lời kinh Tán Tụng : “Chúa đã làm cho con biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn !” (Lc 1,49)
Jorathe Nắng Tím

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

COVID-19 - DẤU CHỈ CỦA THỜI ĐẠI (2)

CHIẾN TRANH KHÔNG VŨ KHÍ                                              
Trừ một số quốc gia khống chế được sự bành trướng vũ bão của Covid-19, còn lại hầu hết đã rơi vào tình trạng khẩn cấp, báo động đỏ, và phải áp dụng những biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ sức khỏe của người dân: các nước Ý, Tây Ban Nha, Pháp mang nặng nỗi lo âu, và bầu khí chiến tranh bao trùm đất nước.
Covid-19 tuy không tiếng súng, nhưng ngộp thở như chiến tranh toàn cầu, và mọi người có cảm tưởng đang sống những ngày đen tối của thế chiến, một cuộc chiến tranh thế giới không cần đến vũ khí mà bấy lâu các nước thi nhau chế tạo, dự trữ.  
Thực vậy, chưa bao giờ cuộc chạy đua vũ khí giữa các nước trên thế giới lại rơi vào mùa thu u ám và mùa đông ảm đạm như những ngày này, ở tâm dịch Covid-19, khi mà người chết không còn chết vì bom đạn, và người ta lo lắng không vì sợ chiến tranh, hốt hoảng tích trữ lương thực không vì sợ chết đói dưới hầm trú ẩn khi chiến đấu cơ nhả bom, oanh tạc, cũng không đóng cửa trường, đóng cửa tiệm, qúan xá, phong toả thành phố, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, vì sợ quân thù, đối phương tấn công, xâm chiếm, hãm hiếp, càn quét, tiêu diệt.
Những ngày này, toàn thế giới hoang mang, hoảng loạn vì nạn dịch Covid-19, một vi khuẩn bé tí, nhưng đủ mạnh để thế giới phải run rẩy, đang làm điêu đứng toàn cầu, và đình trệ, xáo trộn mọi sinh hoạt bình thường của tất cả mọi người, từ em bé ở nhà trẻ đến cụ già trong viện dưỡng lão, từ người dân vùng thôn quê hẻo lánh, đến giáo chủ, lãnh tụ các quốc gia. Không ai dám nghĩ mình sẽ “bình an vô sự” trong đại dịch; không người nào dám “vô tư” nhởn nhơ trước bước chân nhanh như chớp và dữ dội như cuồng phong của Covid-19 rất kinh dị, sợ hãi.
Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, người ta nhận ra một điều rất mới, đó là loài người có thể bị tiêu diệt rất nhanh, rất gọn không còn bằng vũ khí hạt nhân, nguyên tử như quan niệm cũ về chiến tranh, cũng không còn cần đến chiến lược, chiến thuật được thực hiện nhờ khả năng của vũ khí hiện đại, siêu tối tân, nhưng thế giới có thể bị tiêu diệt một cách lặng lẽ, im lìm, không tiếng súng; loài người có thể bị bức tử hàng loạt cách kín đáo, không rên la đứt ruột, cũng không thê thảm máu me vì lưỡi lê, gươm đao, mảnh đạn.
Cũng trong cuộc chiến giành giật mạng sống với Covid-19, mọi người thấy nguy cơ hủy diệt cao hơn ngàn lần hơn chiến tranh súng đạn, khi virút tấn công rất bạo và nhanh hệ thống hô hấp của con người, nếu không kịp phát hiện và khống chế. Bên cạnh là dáng vẻ bình thường và không có nhiều dấu hiệu đặc biệt để dễ nhận, dễ ngăn chặn ở người bị lây nhiễm.
Cuộc chiến do Covid-19 còn là cuộc tàn sát dã man, khi nạn nhân nằm bệnh, rồi ra đi cô đơn, cô độc, không đồng đội bên cạnh để nghe lời trăn trối, không người thân ở gần để vuốt mắt tiễn đưa, vì ai nấy đều phải tuân thủ lệnh cách ly.
Có những em bé lây nhiễm Covid-19 đã phải xa cha mẹ, anh chị em hàng tháng trong những trung tâm cách ly, cả những người đã gặp gỡ, giao lưu với người bị dương tính cũng rơi vào tình trạng bị cô lập này. Ngay cả sau khi đã được chữa lành, các nạn nhân thoát chết cũng khó trở lại tương quan bình thường với mọi người, không vì bị khinh chê, kỳ thị, nhưng do vết bầm sợ hãi chưa nhạt phai trong tâm trí mọi người.       
Qủa thực, vũ khí của các cuộc chiến tranh đã qúa kinh khủng vì sức tàn phá, tiêu diệt của nó, nay bước vào thử thách mới do đại dịch toàn cầu, con người một lần nữa rùng mình trước đe dọa diệt vong, khi dịch bệnh không kiêng nể các đấng bậc, chức sắc, quan tướng, cũng không miễn trừ cho bất cứ giai cấp, thành phần, sắc tộc, chính kiến, tôn giáo nào. Thế mới biết, mỗi thời mỗi đe dọa, mỗi thời mỗi thử thách khác nhau… Nhưng xem ra càng ngày thử thách càng cam go, đe dọa càng dữ dội, nặng nề.
Trước kiểu chiến tranh mới và rất kỳ lạ: chiến tranh không vũ khí, người viết tuy không bi quan, nhưng không khỏi nặng lòng, khi nghĩ đến tương lai của nhân loại, ở đó, chúng ta ngày càng bị đe dọa bởi quá nhiều vũ khí “không âm thanh” của thời đại đã được chính lòng mình, lòng người chế tạo, những vũ khí “hãm thanh” ấy đã không cần đến những cơ sở sáng chế vũ khí của các nước luôn ở trong tình trạng “chiến tranh hoặc chuẩn bị chiến tranh”, nhưng được chế tạo bí mật trong đáy sâu tâm hồn, tận thăm thẳm của trái tim. Đó là những vũ khí ganh ghét, hận thù, gian tham, bạo lực, những vũ khí của kiêu căng và phủ nhận, của vô cảm và nhẫn tâm.
Chúng ta cũng rơi vào sa mạc của nhiều cạm bẫy thử thách ngày càng cam go, do tính tinh vi của những khối óc không còn hướng về Chân Lý, tính ngông cuồng, ngược ngạo của những qủa tim cạn kiệt tình người, tính hiếu chiến, háo thắng của những ý chí không còn khả năng chịu đựng, bao dung, tha thứ cho bất cứ ai, kể cả chính mình.
Vâng, cuộc chiến tranh với vũ khí tối tân đủ loại không còn giữ vị trí hàng đầu, và đang nhường quyền ưu tiên cho những cuộc chiến khác “im lìm, thầm lặng”, nhưng kinh khủng, ghê gớm hơn gấp bội.
Covid-19, tuy nhanh chóng xâm lấn bao trùm, nhưng vẫn chưa là cuộc chiến hãi hùng nhất, chưa là cuộc chiến tiêu diệt kinh khủng nhất, và tất nhiên chưa là cuộc chiến cuối cùng của nhân loại. Nhưng cuộc chiến không tiếng súng đáng ngại hơn, mà chúng ta cần đề phòng, ngăn chặn, chính là cuộc chiến ở ngay trong tâm hồn. Nó chính là nguồn gốc của tất cả mọi cuộc chiến, nguyên nhân phát sinh các cuộc chiến “có vũ khí và không vũ khí”, mà chỉ riêng mỗi người mới có thể kiểm soát, ngăn chặn ngay trong tâm hồn mình.
Chứng kiến đại dịch đang làm hoảng loạn thế giới bằng nỗi sợ của chiến tranh toàn cầu “không tiếng súng”, chúng ta có lý do để nhìn lại chính con người, để hỏi xem “có phải con người đang có chương trình tiêu diệt nhân loại, tức tiêu diệt chính mình khi mình giết mình, ta hại ta?”, bởi ai dám qủa quyết Corona là virút tự nhiên, Covid-19 không là vũ khí sinh học, và đại dịch mà thế giới đáng gánh chịu chỉ thuần là tai họa tự nhiên?
Jorathe Nắng Tím  
         

COVID-19 - DẤU CHỈ THỜI ĐẠI (1)


                                               CON NGƯỜI KHÔNG TOÀN NĂNG
Giữa tâm đại dịch Covid-19, các tôn giáo đều kêu gọi tín hữu, tín đồ cầu nguyện, vì tin rằng con người không toàn năng, và quyết định sự tồn tại của nhân loại, cũng như bình an cho thế giới và cho mỗi người nằm trong tay Thượng Đế, thuộc về Đấng Thiêng Liêng.
Các nhà lãnh đạo quốc gia, lãnh tụ đảng phái chính trị thì dè dặt, kín đáo, đúng hơn là tránh né bầy tỏ niềm tin tôn giáo của mình, phần vì sức ép của chủ nghiã vô thần, phần vì áp lực của trào lưu tục hoá ngày càng bành trướng, lan rộng, chưa kể ảnh hưởng của chủ trương tách rời tôn giáo và nhà nước ở phần đông các quốc gia trên thế giới. Vì thế, trước nguy cơ toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra, rất ít nguyên thủ quốc gia đã lên tiếng kêu gọi dân chúng cầu nguyện như tổng thống Hoa Kỳ Donald TRUMP vừa kêu gọi sáng nay:
“Tôi rất vinh dự được công bố ngày Chúa Nhật 15/3/2020 là ngày Cầu Nguyện Quốc Gia. Trong suốt chiều dài lịch sử, chúng ta là Đất Nước luôn hướng về Thiên Chúa để được bảo vệ, và để được ban sức mạnh trong những thời khắc như lúc này. Bất kể Bạn ở đâu, tôi cũng khuyến khích Bạn hãy thành kính cầu nguyện. Cùng với nhau, chúng ta sẽ chiến thắng dễ dàng [virus Corona]”.
Lời kêu gọi trên của nguyên thủ một quốc gia có sức mạnh bậc nhất thế giới trước đại dịch đã nói lên sức người có hạn: có hạn khi không tiên liệu hết những tai ương, thiệt hại có thể xẩy ra; có hạn khi không ngăn chặn hữu hiệu như ý muốn sức bành trướng vũ bão của virút; có hạn khi không kịp thời đưa ra những biện pháp thích ứng cần thiết để vô hiệu hoá sức công phá của đại dịch; có hạn khi không biết Corona sẽ còn kéo dài bao lâu, và hậu qủa của đại nạn sẽ nặng nề, trầm trọng đến mức độ nào.
Thực vậy, cho dù con người có văn minh đến đâu, khả năng làm chủ vũ trụ có bao trùm, vĩ đại thế nào, nhân loại cũng không thể ra khỏi giới hạn sẵn có của phận người, vì con người không tự tạo nên mình, cũng không tạo nên vũ trụ, và các thụ tạo khác. Những khám phá “thần thánh” tưởng có thể “thay trời làm mưa, biến sỏi đá thành cơm gạo”, và chủ trương “con người tạo nên thượng đế” cũng chỉ hạn hẹp ở phạm trù khám phá những gì đã có sẵn, tìm kiếm những gì đã hiện hữu, tìm hiểu những gì vẫn đều đặn vận hành từ hàng ngàn tỷ năm, và nếu có phát minh mới, thì những phát minh ấy cũng đi từ những gì đã có mà con người quan sát, học hỏi được từ chính mình, và thiên nhiên, vạn vật.
Nói như thế, không có nghiã giảm thiểu cố gắng và đánh giá thấp thành công của con người với khối óc thông minh và ý chí tuyệt vời, nhưng là làm nổi bật vai trò của con người đối với vạn vật và trong thế giới.
Kinh thánh của Thiên Chúa giáo khẳng định: con người được trao trách nhiệm làm chủ mọi loài và thống trị mặt đất (Sáng Thế 1,28), nghiã là con người có quyền trên mọi loài, và tất cả đều hướng đến việc phục vụ nhu cầu hạnh phúc của con người. Điều này đã nói lên: ý muốn của Đấng Tạo Dựng là trao cho con người trách nhiệm làm chủ vạn vật và cho con người quyền sử dụng, hưởng thụ tất cả để cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp, hạnh phúc hơn.
Chấp nhận chân lý trên, chúng ta sẽ nhìn nhận hai hệ luận sau:
1.    Đấng Chủ Tạo đã dựng nên tất cả, trong đó có con người, và con người là thụ tạo hàng đầu được yêu thương:
Dấu ấn con người là thụ tạo, chính là con người không toàn năng, không làm chủ trọn vẹn vân mệnh, không biết tất cả, và không bất tử, nhưng bị giới hạn bởi thời gian và không gian, khi không thể hiện diện nhiều nơi cùng lúc, không biết trước chuyện gì sẽ xẩy ra ở tương lai, không nhớ hết những chuyện đã xảy ra ở qúa khứ,  cũng không hoàn toàn làm chủ những gì đang diễn biến ở hiện tại.
Dấu ấn con người được đặc biệt yêu thương và là thụ tạo đứng hàng đầu có toàn quyền trên vạn vật là trí thông minh, ý chí tự do để chọn lựa, thao thức vươn đến tuyệt đối, lương tâm để nhắc nhở, trách móc, phân biệt tốt - xấu, lành - dữ, tội - phúc, cũng như khát vọng yêu thương, hạnh phúc và khả năng nâng tâm hồn lên tới Đấng Tối Cao.
Ngoài ra, mỗi người đều có những cảm nghiệm thiêng liêng, những mơ ước vượt thời gian, không gian, bao la đến vô tận, vô cùng.
Tất cả cho con người lý do để xác tín chỗ đứng quan trọng, được Thượng Đế ưu ái chăm nom hơn các loài thụ tạo khác.
2.   Tương quan giữa con người và Thượng Đế là tương quan cần thiết:
Được tạo dựng, con người sẽ hạnh phúc khi ở đúng vị thế thụ tạo trước Đấng Chủ Tạo, với ý thức: tương quan giữa con người và Thượng Đế là tương quan của lòng tốt và biết ơn: Thượng Đế dựng nên con người vì lòng tốt, con người kính trọng, tin tưởng Thượng Đế vì biết ơn.
Như thế sẽ không có chuyện mưu đồ lật đổ, truất phế, xóa tên Thượng Đế khỏi nhân loại, vì có tính toán và làm thế nào đi nữa, con người vẫn là con người không toàn năng, vẫn mãi là thụ tạo có giới hạn, bất toàn, và Thượng Đế vẫn đời đời là Đấng Toàn Năng nắm giữ vận mệnh của nhân loại và toàn thể thụ tạo đã được dựng nên từ tay Ngài.
Sẽ không có gì thay đổi về phiá Thượng Đế, chỉ có thay đổi ở phía con người khi con người trở nên điên cuồng vì nổi loạn chống Thượng Đế; bất hạnh vì bất mãn Đấng tạo dựng nên mình; vô phúc vì vô ơn Đấng yêu thương và cho mình làm bá chủ vạn vật; khô héo, tàn lụi, và tuyệt vọng vì dồn sức “người” rất giới hạn để tấn công Thượng Đế toàn năng, vô hạn.
Thế nên tốt nhất là ý thức tương quan giữa con người và Thượng Đế, nếu chưa đạt đến mức thân tình Cha - Con, thì ít ra là cần thiết và công bằng do tương quan giữa Chủ Tạo và Thụ Tạo.
Cần thiết vì không có Chủ Tạo nâng đỡ, gìn giữ, Thụ Tạo không thể tồn tại. Công bằng vì bổn phận của Thụ Tạo là tôn trọng quyền tạo dựng của Chủ Tạo, và biết ơn lòng tốt của Đấng đã ban cho mình sự sống và hạnh phúc làm người.
Nhưng điều thiết yếu hơn cả chính là cảm nghiệm sự có mặt và hoạt động yêu thương không ngơi nghỉ của Đấng Chủ Tạo trên các thụ tạo của Ngài.
Cứ nhìn vào vũ trụ bao la, từ những gì lớn lao, vĩ đại nhất đến những gì nhỏ bé, tinh vi nhất, chúng ta thấy tất cả đều  sinh hoạt theo một nguyên tắc, định luật, hệ thống mà không một trí óc con người nào có thể mường tượng và hiểu thấu. Một số người cho đó là do ngẫu nhiên, hoặc do vật chất “tự tạo nên nhau”. Lý luận này không hợp lý và gặp bế tắc, vì không lý giải được nguyên tắc sơ đẳng của luận lý bình thường, đó là tác phẩm không thể thông minh, cao qúy, tài giỏi, tuyệt vời hơn tác giả.
Thực vậy, với ý thức vừa trình bầy trên, Covid-19 sẽ không được coi là hình phạt của Thượng Đế, cũng chưa là “năm cùng tháng tận” của nhân loại. Nó chỉ là một nhắc nhở, như dấu chỉ của thời đại, đặt con người trước ý thức về mình, và vị trí của mình trước Đấng Thiêng Liêng, mà một lương tri lành mạnh khó có thể từ chối, khước từ. 
Covid-19 cũng là dịp để con người ra khỏi cơn bão giận dỗi hay căm thù Thượng Đế nếu có từ bấy lâu, vì thực ra, Thượng Đế không ghét ai, bởi nếu ghét đã không cho làm người; Thượng Đế không thù ai, bởi Ngài không có đối thủ; Thượng Đế cũng không “chơi xấu” ai, bởi Thượng Đế nhân hậu, từ bi và luôn thương con người. Bằng chứng là không ai đã không một lần rơi vào tình trạng hoàn toàn bế tắc, hoàn toàn bất lực, hoàn toàn bức bách, ở đó, không ai đã có thể ra tay cứu vớt, không người nào đã có thể cứu nguy, nhưng rồi với niềm tin tưởng ở Thượng Đế, khi mà chỉ còn một mình Ngài có thể cứu giúp, chúng ta đã được “tai qua nạn khỏi” và tìm lại bình an.
Hưởng ứng lời kêu gọi của các bậc lãnh đạo tôn giáo, cũng như của tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, người viết hiệp ý cùng Bạn cầu nguyện cho toàn thể nhân loại đang cần bàn tay can thiệp đầy yêu thương của Thượng Đế. Xin Ngài ban ơn khôn ngoan cho các nhà lãnh đạo, ơn yêu thương cho tất cả những ai đang tận tụy phục vụ nạn nhân đại dịch, và ơn Bình An cho tất cả mọi người trên toàn thế giới đang lo lắng, hốt hoảng giữa cuồng phong đại dịch.
Ước gì Covid-19, như dấu chỉ của thời đại, nhắc nhớ chúng ta điều rất quan trọng để luôn sống trong niềm Hy Vọng và Bình An, đó là ý thức về con người, một thụ tạo nhiều giới hạn, nhưng là thụ tạo được Đấng Chủ Tạo yêu thương cách riêng, yêu chiều đặc biệt, và hạnh phúc của Đấng Chủ Tạo nhân hậu, tốt lành là được con người Tín Thác, Hy Vọng và Cầu Xin.
Jorathe Nắng Tím        

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2020

CON NGƯỜI và COVID–19

Đến hôm nay thì Corona từ Vũ Hán ngày nào đã biến thành COVID -19 cho cả thế giới. Ở đâu, trên châu lục nào, người ta cũng xôn xao  báo động, hoang mang tìm hiểu và hốt hoảng đương đầu.
Chỉ cần nhìn vào thống kê số tử vong, bệnh nhân lây nhiễm trên các quốc gia, trong một thời gian ngắn kỷ lục, người lạc quan, bình tĩnh, gan lì đến đâu cũng phải giật mình thận trọng, và đặt vấn đề.
Vào lúc này : 8 giờ 35 sáng ngày 12 tháng Ba năm 2020, giờ Paris, người viết ghi nhận từ “Tổ Chức Y Tế Thế Giới” những con số ấn tượng ở một số quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch :  
Trung Quốc : 80.967 ca dương tính, 3157 tử vong.
Ý : 12.462 ca dương tính, 827 tử vong.
Iran : 9000 ca dương tính, 354 tử vong.
Hàn Quốc : 7755 ca dương tính, 54 tử vong.
Pháp : 2281 ca dương tính, 48 tử vong, 105 ca cấp cứu hồi sức.
Mỹ : 1039 ca dương tính, 29 tử vong.
Đức : 1622 ca dương tính, 3 tử vong.
Nếu tính chung toàn cầu, với 110 quốc gia, con số sẽ là 121.500 ca dương tính, và 4370 tử vong.
Đứng trước đe dọa của đại dịch, các quốc gia đều có những biện pháp ngăn chặn, đề phòng, giải quyết tùy theo tình hình riêng, nhưng tựu trung, tất cả đều phải nhận : đây là đại dịch đem lại nguy hiểm lớn cho tính mạng người dân và nguy cơ trầm trọng làm suy thoái nền kinh tế đất nước.
Bên cạnh những lo lắng chung trước một tương lai đang đổ dốc không thắng, nhiều người có nhiều suy tư không luôn đồng thuận, đồng chiều :
Về nguyên nhân của đại dịch, có người cho đó là vũ khí sinh học của Trung Quốc trong chương trình đương đầu với Mỹ, nhằm giành quyền bá chủ thế giới. Vũ khí được chế tao tại trung tâm nghiên cứu Vũ Hán, chẳng may bị rò rỉ, thất thoát và virút Corona “made in China” đã vô phúc thành “gậy ông đập lưng ông”. Cùng ý nghĩ quy tội chính quyền Trung Quốc, có người còn bạo gan suy đoán : Trung Quốc cố tình hy sinh nhân dân Vũ Hán, để đánh lạc hướng dư luận thế giới, và thế giới không có bằng chứng tố cáo tội ác sử dụng vũ khí sinh học của mình. Một số khác chê trách người trung quốc đã bừa bãi ăn thịt những động vật dơ dáy, nguy hiểm như loài dơi, nên đã đem loại virút mà khả năng ban đầu của nó chỉ có thể lây nhiễm giữa động vật với nhau, vào con người, để từ đó, virút biến thể và tự tạo ra khả năng lây nhiễm từ người sang người.
Luận bàn về ý nghiã của đại dịch, thì nhiều vô kể : có người nghiêng về tâm linh khi cho rằng Trời Phật phạt Trung Quốc vì nhiều trọng tội như đã xúc phạm thần thánh, đàn áp tôn giáo, xâm chiếm các quốc gia láng diềng, nhưng khi đại dịch lan tràn qua Hàn Quốc, Ý, Pháp, Mỹ, và các nước khác, thì một giả thuyết mới được thêm vào, đó là tận thế sắp đến và loài người sắp bị hủy diệt, vì tội lỗi đầy tràn, và đã đến lúc Thượng Đế thấy cần phải cho con người biết Ngài còn hiện diện với uy quyền trừng phạt. Chưa kể nhiều cắt nghiã thuộc dạng “thông thiên, địa lý, bói toán, bấm qủe…” khác đã đưa ra rất nhiều viễn cảnh tang thương, tăm tối cho nhân loại qua đại địch.
Thực tế là người người hoảng loạn, nhà nhà hoảng loạn, đua nhau mua sắm tích trữ lương thực trước đe dọa cả thành phố, cả tỉnh, cả nước có thể bị phong toả, cách ly, khi đó, không ai đến được với ai, không nhà nào dám giao lưu với nhà nào, vì đại dịch hoành hành.
Cho đến hôm nay thì nhiều biên giới đã cấm người nước ngoài nhập cảnh, nhiều công ty hàng không khủng hoảng tài chính vì không có khách, nhiều cơ sở sản xuất phá sản, chứng khoán rớt sâu, nhà đất đóng băng, công ăn việc làm đình trệ làm xáo trộn sinh hoạt các gia đình, trường học đóng cửa, cưới xin tạm ngừng, ma chay cúng giỗ giảm thiểu, miễn chấp, nhà thờ, đền chùa vắng tanh, chị em doanh thương các ngành ế ẩm ngơ ngác nhìn nhau lo lắng.
Cả thế giới như chìm vào đại dương dịch đang gắng gượng bơi ra ; cả loài người đang lo âu tìm kiếm thuốc chủng, phòng chống đại dịch, nhưng sức người có hạn, và thời gian vẫn là điều con người phải lệ thuộc.     
Không làm chính trị, không có kiến thức kinh tế, càng không thông thiên - kinh dịch, nên người viết chỉ dám chia sẻ với Bạn một vài suy nghĩ và cảm nghiệm cá nhân rất nhỏ bé, để cảm thông với lo lắng của mọi người, để trân qúy, biết ơn tất cả những tấm lòng đã hy sinh cho lợi ích chung và tính mạng của người khác giữa tâm dịch nhiều nguy hiểm, để nói nhỏ với bạn, người đang đọc những dòng này : “Tôi rất yêu mến Bạn và mong Bạn, cũng như tất cả những người thân quen của Bạn được may lành, bình an vượt qua cơn đại dịch Covid hiểm nghèo”.  
1.   Tôi thấy con người thật yếu đuối, mong manh, dễ vỡ :
Dễ vỡ lắm Bạn ạ, và mong manh, yếu đuối đến đáng thương, khi chỉ một con vi khuẩn bé tí teo đã đủ làm hoảng loạn và đánh gục cả loài người.
Nghe tin tức mỗi ngày hai lần về số tử vong, dương tính Covid-19 mà ớn sương sống. Nó bé tẹo teo mà mạnh kinh khủng : đánh từ cấp cao chính quyền đến cụ già nằm chờ chết ở nhà hưu dưỡng, đánh bất cứ ai, quốc gia mạnh yếu, cường quốc hay nhược quốc, cộng sản hay tư bản, công giáo hay phật giáo, da trắng hay da mầu, ôn đới hay nhiệt đới, trí thức hay bình dân học vụ… Nghiã là virút bé nhưng oai như “ông kẹ” đã thực sự đe dọa và làm sợ toàn thế giới.
Ở giữa tâm dịch, tôi mới thấy triết gia Pascal thật tuyệt vời khi suy tư về thân phận mỏng dòn, mong manh, yếu đuối của con người, và gọi con người là “cây sậy dễ gẫy”. Và qủa thực, trước gió thì không cây nào dễ gẫy bằng cây sậy. Nhưng cây sậy dễ gẫy “con người” của Pascal lại có một giá trị tuyệt vời, vì là cây sậy biết suy tư.
2.   Chính vì là “Cây Sậy biết suy tư”, mà con người lo lắng, sợ hãi :
Vì có suy tư, biết suy nghĩ nên con người biết mình yếu đuối, biết giới hạn của mình trước sức mạnh của thiên nhiên, và nhiều thụ tạo khác. Chẳng hạn khi đứng trước sư tử, hùm beo, chó sói, con người chỉ còn duy nhất một vũ khí tự vệ, đó là suy tính tìm đường thoát thân, ngoài ra thân xác có gì đủ mạnh để đương đầu ?
Vì suy tư, con người biết nhiều, không những biết những gì đã xẩy ra, những chuyện đang diễn tiến, mà biết trước cả những gì sẽ đến trong tương lai. Chẳng thế mà con người khổ hơn con vật, khi nhớ chuyện cũ, thấy chuyện hiện tại, và lo trước chuyện ngày mai chưa đến. Nỗi lo tự nhiên gấp ba lần, nỗi sợ bỗng lớn lên gấp bội, chỉ vì con người là cây sậy suy tư.
Trước nạn dịch, tuy chưa bị lây nhiễm, nhưng vì biết mình có thể bị dương tính từ bất cứ ai, trong bất cứ tình huống nào, tiếp đến là bị cách ly, cô lập ; biết mình có  thể bị virút “ăn tươi nuốt sống” trong vài giờ cả buồng phổi, nếu không kịp phát hiện ; biết mình có thể ra đi bất cứ lúc nào và phải bỏ lại vợ con, cha mẹ, sự nghiệp, công danh, nên con người rất lo sợ, như tôi đây đang lo âu, sợ hãi. Lo âu vì không biết những rủi ro, tai ương do trí khôn dự phóng có vô phúc trở thành sự thực không ?  Và nếu có thì khi nào ? Sợ hãi vì nếu những sự dữ đó xẩy ra thì làm cách nào để đối phó, thoát khỏi ?
Lắm lúc càng nghĩ càng thương cho phận mình, vì phải nghĩ, phải suy, mà càng suy càng khổ, càng nghĩ càng lo, nên thi thoảng đánh liều mong mình “thử làm con vật” vài phút để xem có sung sướng hơn con người chút nào không, vì loài vật không phải suy nghĩ để phải lo âu, sợ hãi nhiều và dằng dặc như con người đang lo, đang sợ đại dịch.     
3.   Vì qúa lo sợ, tôi trở thành người ích kỷ :
Những ngày đầu, khi dịch Corona còn ở xa tít tận Vũ Hán thì tôi thương những nạn nhân người Trung Quốc, nhưng dần dà, dịch tiến lại gần nơi tôi ở, tràn vào quốc gia tôi đang sống, xâm lấn không gian từ lâu vốn an toàn của gia đình tôi, thế là tôi thấy mình bớt thương người Vũ Hán, bớt lo cho những người ở xa đang bị dịch, mà dồn hết tình yêu lo cho mình, lo cho người thân của mình, vì sợ mình chết, sợ người thân bị lây nhiễm, mất mạng.
Tôi bắt đầu tập trung toàn bộ cho mình, quy chiếu về “cái tôi”, bởi “cái mình” của tôi đang thực sự bị đe dọa, “cái tôi” của mình đang bị virút rình rập tấn công. Tôi khám phá mình không còn thời gian và nghị lực để lo chuyện thiên hạ, không còn nhiệt tình, nhiệt huyết, nhiệt tâm lo sự “sống còn” của người khác, nhưng chú tâm lo cho mình, bằng dự phòng mọi biện pháp để bảo vệ an toàn tuyệt đối “cái tôi”, và những ai thuộc về tôi.
Chính trong nguy cơ của tâm dịch, ở giữa đe doạ nghiêm trọng khi dịch tràn tới, tôi biến thành con người ích kỷ. Tôi ích kỷ vì qúa lo sợ mất mạng sống ; tôi ích kỷ vì qúa sợ mất những gì thuộc về mình ; tôi ích kỷ vì qúa lo lắng trước giới hạn và bất lực của mình trước hiểm nguy ; tôi ích kỷ vì lo sẽ không còn được có mặt trong thế giới, được ở với người tôi cần, thôi thương. Thế là tôi phác họa một chương trình ích kỷ để tuyệt đối bảo vệ mình, để trăm phần trăm gìn giữ mình và những ai thuộc về mình không bị lây nhiễm, và chương trình ấy hạn chế đến mức tối đa sự có mặt của người khác, vì ích kỷ dậy tôi : không được đông, vì càng đông càng dễ chết, như người vượt biển chỉ muốn tầu thuyền ít người để tuyệt đối đảm bảo an ninh, an toàn.
Giữa cao trào của cơn đại dịch Covid-19, tôi muốn được dừng chân như đã dừng chân những ngày dịch vừa bắt đầu khai hoả ở Vũ Hán, nhưng lần này không để bình tâm thương người Vũ Hán, mà bình tâm để nhìn lại mình, và kiểm tra mức độ của tình thương ban đầu, xem mối tình ấy còn hay mất, tăng thì chắc không, nhưng giảm thì giảm đến mức nào, hay đã hoàn toàn khô héo, cạn kiệt.
Dừng chân hôm nay để nhìn vào chính thân phận mỏng dòn, yếu đuối của mình, để định giá lại nỗi lo lắng, sợ hãi, và tự hỏi : có nên tiếp tục lo lắng, sợ hãi, nếu lo lắng, sợ hãi đưa đến ích kỷ triệt để, ích kỷ toàn phần, ích kỷ thái quá, ích kỷ cực đoan.
Vẫn biết ai cũng phải có bổn phận lo cho mình, lo cho sinh mạng của mình, nhưng chỉ cho mình thôi, chỉ vì mình thôi, chỉ biết mình thôi, thì lo sợ ấy có còn giá trị nhân văn, có còn giá trị đạo đức, có còn giá trị của đời làm người ?
Tôi cũng cần dừng bước hôm nay, ở cao điểm của đại dịch, để nhìn ra chung quanh mình, ở đó, có những người đang hy sinh cho tôi và gia đình, thân quyến tôi được bình an vượt qua đại dịch. Họ là những thiên thần áo trắng ngày đêm trong các bệnh viện và trung tâm cách ly để chữa lành và ngăn chặn tai ương của virút, những nhà lãnh đạo quốc gia, các cơ quan quốc tế, các nhà khoa học chấp nhận “mất ăn mất ngủ” chạy đua với thời gian để có giải pháp vô hiệu hóa sức bành trướng và phá hoại của Covid-19. Bên cạnh những con người dễ nhận diện đang hy sinh vì người khác ấy, còn rất nhiều những con người ẩn danh, ẩn mặt là những nhân viên y tế, xã hội, những thiện nguyện viên không tên tuổi đang tận tụy tẩy rửa, sát trùng từng mét vuông diện tích những nơi công cộng, hầu bảo vệ mạng sống của đồng bào, đồng loại.
Vâng, mới chỉ một chốc lát dừng chân giữa tâm đại dịch mà tôi đã thấy mặt mình nóng ran, chân tay ngượng ngùng, đầu óc chóang váng… 
Tôi thực sự xấu hổ, vì đã để lo lắng, sợ hãi biến mình thành người ích kỷ, mà trước đó tôi tưởng sẽ chẳng bao giờ rơi vào, khi tư tưởng của triết gia Pascal : “Con người là cây sậy biết suy tư” đánh thức lương tâm hay li bì ngủ quên và trái tim kinh niên lười biếng của một người đáng lẽ phải biết buông bỏ, liều lĩnh, dấn thân  mạo hiểm hơn, vì biết thân phận yếu đuối, mỏng manh, dễ vỡ của mình chỉ được bù lại bằng giá trị bất diệt, vĩnh cửu của yêu thương, phục vụ, mà dấu ấn đẹp nhất, tuyệt vời nhất, cao cả nhất ở “cây sậy dễ gẫy nhưng biết suy tư”, chính là sống hy sinh, chết hy sinh vì đồng loại, mà không lo sợ, hèn nhát, ích kỷ.
Dừng chân rồi, tôi lại tiếp tục đi. Chúc Bạn và người thân của Bạn bình an vượt qua cuồng phong đại dịch ! 
Jorathe Nắng Tím