Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2020

Covid-19: “HÃY Ở LẠI TRONG THẦY!” (Ga 15,4)



    Những ngày cuối tháng Ba 2020, đại dịch Covid-19 cầm chân hầu như toàn thế giới trong nhà mình. Hầu hết các quốc gia có dịch đã đồng phát lệnh cô lập: ai nấy phải ở trong nhà, chưa kể nhiều khu phố, thành phố hoàn toàn bị cách ly, bị triệt để phong toả đến đáng thương và nghiêm lệnh: “Hãy ở trong nhà” trở thành lệnh chiến đấu trong một quốc gia đang lâm chiến.
Như mọi người, con phải ở trong nhà, phần vì sợ bị người khác lây nhiễm, phần vì sợ cảnh sát phạt tiền. Ở trong nhà, con cảm thấy tù túng, khó chịu, vì quen đi lang thang, quen tính bay nhẩy… Nhưng đêm nay, trong giấc ngủ chập chờn vì lo sợ, kinh hãi khi con số tử vong và lây nhiễm trên thế giới tăng lên vùn vụt, con giật mình thảng thốt nhận ra: nhu cầu đích thực của chúng con là phải ở trong Chúa, chứ không chỉ ở trong nhà…
Ở trong Chúa, chúng con mới cảm thấy bình an, vì có ở ngay trong nhà, giữa bốn bức tường cao kín, cộng thêm hàng rào kiên cố quanh sân, tâm hồn chúng con cũng không khỏi xao xuyến, băn khoăn, lo âu, bồn chồn, bất an bất ổn khi dịch bệnh đã làm chứng cho nhân loại biết sức mạnh tàn phá không biên giới của nó, khi chẳng nể nang ai, cũng không do dự, ngần ngại trước bất cứ địa hạt, lãnh vực cấm kỵ nào của loài người.
Ở trong Chúa, chúng con mới thấy tâm hồn không còn sợ hãi, khi chung quanh dịch bệnh đe dọa, thần chết gầm gừ đòi mạng. Mấy tuần đầu thì chỉ người già phải ra đi vì kháng tố yếu, nay thì em bé chưa một tuổi, thiếu niên đầy sức sống, thanh niên vạm vỡ, lực lưỡng cũng có tên trong danh sách được gọi về bên kia thế giới, mà  thần chết Covid-19 không chút ngượng ngùng xướng danh.
Ở trong Chúa, chúng con mới không hốt hoảng, hoang mang, như các tông đồ đã hoang mang, hốt hoảng trên thuyền giữa biển hồ, khi sóng gió nổi lên mà Chúa thì ngủ ngon, như không có gì xẩy ra. Là những ngư phủ lành nghề, sóng gió là chuyện cơm bữa với các vị, thế mà tất cả đã đều cuống quít lo mất mạng: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi..!” (Mc 4,38), huống hồ chúng con, những tay mơ của sông ngòi, biển cả, chỉ cần chút sóng bập bềnh làm chao đảo thuyền cũng đã đủ làm chúng con te tua, tơi tả.   
Ở trong Chúa, chúng con mới cảm thấy cuộc sống đáng sống, vì sống mà sợ run cầm cập, sống mà ngay ngáy từng giờ lo bị lây nhiễm, tức ngực, khó thở và vội vã, cô độc ra đi, thì ôi thôi, cuộc sống thật buồn thảm đến vô nghiã… 
Ở trong Chúa, chúng con mới yên tâm, hoàn hồn, vì đến cơ sự này rồi  mà thế giới hầu như vẫn chỉ nhìn nhau bó tay, không biết làm thế nào để ngăn chặn hữu hiệu nạn dịch, thứ dịch mà cho đến bây giờ người ta vẫn chưa xác định được từ đâu mà có, do ai chế tạo, kẻ thủ ác nếu có đang muốn gì trên nhân loại?  
Ở trong Chúa, chúng con mới dám sống, Chúa ạ, vì khi sức mạnh của sự chết xem như lấn át sự sống vốn mong manh, dòn yếu của con người, chúng con thấy mình nhát đảm, sợ hãi, nếu không có Chúa là thành lũy che chở, bảo vệ, như ông Thomas Schaefer, bộ trưởng tài chánh của tiểu bang Hesse, Đức Quốc vừa tự tử trên đường ray xe lửa ngày 28.03.2020, vì qúa lo sẽ không gánh nổi hậu qủa mà Covid-19 gây ra đối với nền kinh tế.
Vâng, đêm nay, Chúa dậy con, cũng như đã dậy các thánh tông đồ năm xưa, mà con không để tâm, lưu ý, phải chờ đến khi gần như bí kế, đường cùng, con mới nhớ lại lời Chúa căn dặn: “Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4).
Thế ra Chúa đã ở lại trong chúng con trước khi chúng con ở lại trong Chúa. Điều này có ý nghiã gì, lậy Chúa?
Phải chăng khi xin chúng con hãy ở lại trong Chúa, Chúa chỉ mong chúng con chấp nhận để Chúa yêu thương; ngoan ngùy cho phép Chúa gìn giữ; tín thác, trông cậy để được quyền năng yêu thương vô hạn và tha thứ khôn cùng của Chúa bảo bọc?
Phải chăng khi xin chúng con ở lại trong Chúa, Chúa đã chỉ xin chúng con đừng ra khỏi trái tim đầy tình thương xót tội nhân của Chúa, bởi Chúa biết: chỉ một mình Chúa mới xót thương đến cùng, yêu thương đến cùng, thứ tha đến cùng; chỉ duy nhất trái tim giầu lòng thương xót, nhân hậu của Chúa mới có chỗ cho tội nhân an nghỉ, được bồi dưỡng, và hồi phục; chỉ một mình Chúa mới thực là Chiên gánh tội, Chiên xoá tội, Đấng Cứu Độ rất quyền thế, và khoan nhân.
Phải chăng khi xin chúng con ở lại trong Chúa, Chúa đã chỉ muốn chúng con xin gì thì được nấy, “anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý” (Ga 15,7), vì ý muốn của Chúa là chúng con sinh nhiều hoa trái khi trở thành môn đệ, và đã là môn đệ thì phải thiết thân, tình nghiã với Thầy mình, như cành nho phải gắn liền với cây nho (x. Ga 15,4).
Phải chăng khi xin chúng con ở lại trong Chúa, Chúa đã chỉ mong cho chúng con “được hưởng niềm vui của Chúa, và niềm vui của chúng con được nên trọn vẹn” (x. Ga 15,11), vì Chúa biết: ngoài Chúa ra, chẳng ở đâu chúng con tìm thấy niềm vui đích thực và trọn vẹn trên thế gian này.
Phải chăng khi xin chúng con ở lại trong Chúa, Chúa đã chỉ muốn làm phong phú và thăng hoa tình yêu trong trái tim chúng con bằng biến tình yêu con người rất mọn hèn, nhiều lầm lỗi, nhỏ nhặt, ki bo, ích kỷ thành tình yêu của Thiên Chúa, khi ban cho trái tim con người sức mạnh siêu nhiên để có thể “hy sinh tính mạng cho người mình yêu” như Thiên Chúa đã hiến mạng sống mình vì yêu thương nhân loại (x. Ga 15,12).
Phải chăng khi xin chúng con ở lại trong Chúa, Chúa đã muốn chúng con luôn là bạn nghiã thiết của Chúa, vì Chúa không muốn giấu diếm chúng con bất cứ sự gì Chúa đã nghe được từ Chúa Cha (x. Ga 15,15).
Phải chăng khi xin chúng con ở trong Chúa, Chúa đã muốn việc Chúa chọn chúng con là bạn hữu ân tình của Chúa là đúng, bởi thánh ý của Chúa chính là chúng con được sai đi làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ và đem hoa trái của Thánh Thần Tình Yêu cho thế gian, do ý muốn từ đời đời của Thiên Chúa là tất cả mọi loài thụ tạo đều được cứu rỗi.
Lậy Chúa Giêsu, Đấng đã khiêm tốn ngỏ lời xin chúng con hãy ở lại trong tình yêu Chúa, xin dậy chúng con biết dừng lại mọi sinh hoạt thường ngày, ít là một ngày bất thường, một đêm bất thường, một tuần bất thường trong đời để được yên ả dưới chân Chúa, gục đầu vào gối Chúa, như Maria Mácđala để lắng nghe Chúa dậy bảo: “Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”; xin dậy chúng con biết đặt niềm hy vọng được sống lại và được sống với Chúa, dù biết rất rõ: “Nếu Thầy ở đây thì em con đã không chết” (Ga 11,21), như tâm trạng rối bời và nghi nan của Mácta khi ra đón và phụng phịu bắt đền Chúa, vì Chúa đã không đến kịp để cứu chữa em cô là Ladarô; xin cũng nâng đỡ đức tin còn yếu kém, non nớt, hay hốt hoảng, ngờ vực của chúng con như nhiều môn đệ, người trước kẻ sau đã “rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6,66).    
Và đêm nay, lậy Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng con, trong trái tim bao la, hải hà lòng thương xót của Chúa, giữa cơn đại dịch nguy hiểm, con muốn ôm hết nhân loại, thương hết mọi người, xin lỗi, tạ ơn không sót một người nào, vì chỉ trong tình yêu Chúa, ngay trong trái tim Chúa, ở giữa lòng thương xót Chúa, con mới có thể gặp được tất cả, yêu được tất cả, cầu nguyện cho tất cả, bởi chỉ một mình Chúa mới là đại dương mênh mông vô tận của tình yêu cứu rỗi.
Thế giới đang cần được yêu thương, nên con xin được cùng những tâm hồn đau khổ ở lại trong tình yêu Chúa để yêu thương mọi người, không trừ ai, nhất là những người ghét bỏ, hiểu lầm, kiếm chuyện làm khổ con. Con đáng chịu thiệt thòi, và vui lòng được chịu như thế trong lúc này, để nài xin ơn bình an cho mọi người, vì tình yêu dậy con phải từ bỏ chính mình mỗi ngày hơn, cho đến khi chẳng còn gì.
Thế giới đang sợ hãi, lo âu, vì không còn niềm tin vào Chúa là Đấng toàn năng, giầu lòng thương xót, nên con xin được cùng Giáo Hội ở lại trong trái tim Chúa, để cầu xin cho tất cả mọi người nhận ra họ luôn có chỗ tốt đẹp, chỗ cao trọng, chỗ ấm áp, ân tình trong trái tim Chúa, vì Chúa là Cha nhân hậu không biết làm gì khác ngoài yêu thương, tha thứ, cưng chiều con mình, dù con mình chẳng mấy khi không ngỗ nghịch, phung phá (x. Lc 15,11-32).   
Thế giới đang thấy mình bất lực và thất vọng với chính mình, cũng như sức mạnh tưởng vạn năng của mình, nên cùng Đức Thánh Cha, người mang hết gánh nặng bệnh tật của nhân loại trên đôi vai nghiêng ngả, và bước đi xiêu vẹo, con xin được ghìm mình trong trái tim Chúa là nguồn Hy Vọng để nài xin cho thế  giới ơn cứu chữa khỏi đà tuyệt vọng, vì nhân loại đang tự ý xa Chúa là nguồn ủi an, nâng đỡ trong gian truân, thử thách.
Và lậy Chúa, đêm nay, cùng với các thánh nam nữ, các linh hồn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân đã ra đi, và toàn thể Giáo Hội Việt Nam, cũng như hoàn vũ, chúng con nài xin ơn giải thoát cho mọi người, bất luận chính kiến, tôn giáo, giai cấp, thành phần xã hội đang rụng rời sợ hãi vì không biết tin vào ai, cậy trông ai, chạy đến ai nép bóng, ẩn mình giữa cơn đại dịch đang lồng lộn đe dọa, gây chết chóc. Và xin Chúa hãy trở nên Niềm Vui, Hy Vọng, ơn Cứu Rỗi của nhân loại và thương xót nhận lời chúng con cầu xin, khi chúng con cùng  Giáo Hội ở lại trong tình yêu Chúa, Đấng Cứu Độ rất toàn năng, và nhân hậu.
Jorathe Nắng Tím


“HÃY Ở TRONG NHÀ!”


Cách đây một tháng, không mấy người nghĩ một quốc gia có thể bị cô lập vì Covid-19, nhưng hôm nay Chúa Nhật cuối tháng 3/2020, thì sự thật còn gấp bội kinh khủng hơn, khi không chỉ một vài quốc gia tự cô lập, mà toàn thế giới phải chấp nhận giải pháp cô lập để ngăn chặn làn sóng dữ dội của dịch bệnh: tất cả phải ở trong nhà, hạn chế tối đa ra ngoài, trừ những trường hợp khẩn cấp có giấy chứng thực ghi rõ ngày giờ và lý do chính đáng. Ai bất tuân sẽ bị phạt tiền hoặc bị truy tố hình sự. Và những khẩu hiệu chưa từng nghe bao giờ nay được các phương tiện truyền thông không ngừng nhắc đi nhắc lại: “Hãy ở trong nhà để tự bảo vệ và bảo vệ người khác; ở trong nhà là yêu nước, đánh dịch như đánh giặc, ra ngoài là tự sát… ”.
“Hãy ở trong nhà” để không lây nhiễm đã đành, nhưng “ở trong nhà” để có thời gian nhìn thấy những người thường ở nhà khi ta đi, hay phải ở nhà cho ta ngày đêm thảnh thơi ra ngoài.
Họ là những cha mẹ già ở với con trai, con gái để trông nom cháu, và để làm hết những việc của một người làm từ chợ búa, cơm nước, đến dọn dẹp trong ngoài. Những người mẹ già vì thương con trai, con gái vất vả đi làm ở thành phố đã bỏ quê lên ở với con, với hy vọng chia sẻ đời sống thành thị khó khăn của con cái, nhưng chẳng mấy khi niềm hy vọng cỏn con, âm thầm, kín đáo ấy được con trai, con gái hiểu mà trân qúy...   
Họ là những người vợ chăm làm ít nói, thui thủi từ sáng sớm đến khuya khuyắt lo đủ mọi thứ “việc nhà”, từ miếng cơm, nút áo cho chồng đi làm, đến tập sách, bút viết, giầy dép cho con đến trường; từ giặt giũ, hút bụi, lau nhà đến sân vườn quanh nhà sạch cỏ. Công việc nhí nhách, nho nhỏ, khó gọi tên, không xuất xứ, nhãn hiệu, nhưng liên lỷ, liên miên, liên tục làm đổ mồ hôi, sôi nước mắt người vợ hiền, khiêm nhu, ít nói… Nhưng rất tiếc, không có nhiều ông chồng và con cái lớn trong nhà đã hiểu được nỗi vất vả hằng ngày của những người vợ, người mẹ để cảm thông, nâng đỡ…
Hãy ở trong nhà theo lệnh của chính phủ để tự bảo vệ mình đã đành, nhưng còn để bảo vệ những người mà từ bấy lâu đã tình nguyện ở nhà, bó chân không ra ngoài để mình được an tâm đi ra, an bình thanh thản sinh hoạt bên ngoài.
Họ là những người chăm chút từng bậc thang khi quét dọn, để ông chủ không khó chịu khi đi làm về, vì cầu thang bụi bậm; cẩn thận ủi từng mép áo cho thật thẳng để khỏi làm phật ý bà chủ khi từ văn phòng về sau một ngày làm việc căng thẳng; chuẩn bị chu đáo nước nóng, khăn thơm, phòng ốc thoáng đãng để làm hài lòng “cậu ấm cô chiêu” sau một ngày ở trường. Công việc ở nhà của những người làm này nhiều hơn ông bà chủ tưởng, vất vả hơn các cô chiêu cậu ấm nghĩ, nên chẳng mấy người giúp việc nhà đã được chủ nhà “biết điều”, ghi công…    
Vâng, Covid-19 cho chúng ta dịp “ở trong nhà”, dù “ở trong nhà bất đắc dĩ”, nhưng vì “phải ở trong nhà”, và nhờ thời gian dài phải ở trong nhà, ta mới có cơ hội nhìn những công việc ở trong nhà mà ta chưa một lần có dịp quan sát, chứ đừng nói đến biết tên, thẩm định giá trị.
Có rất nhiều công việc trong nhà ta chưa từng làm, vì đã có người làm, nên ta không hiểu giá trị của nó; có nhiều “việc nhà” ta không biết là việc của nhà ta, vì khoán trắng dễ dàng cho người khác, mà không cần quan tâm, thắc mắc; có không ít công việc ở nhà, đáng lẽ ta phải làm, vì thuộc riêng ta, nhưng vì có quyền, có tiền, ta đã không ngại bắt người khác phải làm.
Vì thế, những ngày ở nhà bất đắc dĩ vì dịch, ta khám phá ra có nhiều việc nhà của nhà ta mà ta không biết; có nhiều việc trong nhà thuộc bổn phận của ta, mà ta hờ hững, không quan tâm; có nhiều việc của nhà ta, mà ta cứ nghĩ đó là việc của thiên hạ, không thuộc trách nhiệm của ta là thành viên của nhà.
Covid-19 cũng giúp ta mở mắt nhận ra có rất nhiều việc nhà, mà ta chưa biết tên; có nhiều công việc trong nhà mà ta tưởng không hề có; có rất nhiều việc ở nhà mà ta tưởng chỉ ở ngoài như ta mới làm được, chỉ ra ngoài đi làm như ta mới phải đối diện, đương đầu; có nhiều việc liên quan đến mọi người trong nhà mà ta ảo tưởng chỉ mình ta là người đi làm bên ngoài mới biết, mới phải cáng đáng, và mới gánh vác được.
Nhờ mở mắt nhìn công việc nhà liên tục phải giải quyết, việc trong nhà liên miên phải tìm phương án, việc ở nhà liên tiếp nổi cộm, bề bộn, ta mới thấy việc nhà không “nhỏ như con thỏ” mà ta vẫn tưởng, việc ở nhà không “dễ như trái lê” mà ta vẫn cười nhạo người làm việc ở nhà; việc làm trong nhà không “đơn giản như con dán”, mà ta vẫn cười nhẹ tênh, nhìn bạc bẽo những nngười giúp việc nhà thường được đánh giá “ăn không ngồi rồi”, “rảnh rang ngồi ngáp ruồi chờ lãnh lương cuối tháng”.
Vâng, nhờ nhìn ra, gọi lại đúng tên các việc trong nhà, mà việc ở nhà của chúng ta trở nên hữu ích. Nó còn hữu ích nhiều lần hơn, khi giá trị của các “việc nhà” được chúng ta công nhận khi có giờ rảnh để quan sát, thẩm định, hầu thay đổi cái nhìn, thay đổi tâm tư, thay đổi thái độ đối với “người nhà”.
1.   Thay cái nhìn hãnh tiến, tự cao tự đại bằng cái nhìn công bình và cảm thông:
Bởi từ trước đến nay, ta chỉ đánh giá qúa cao về mình, về công việc ngoài gia đình của mình, về việc làm ra tiền bên ngoài của mình, để rồi coi mọi người ở nhà, làm việc nhà, lo công việc trong nhà là thứ yếu, không đáng kể, không cần thiết, có khi còn bị coi là thừa thãi, tốn kém, vô tích sự.
Với lương tâm ngay thẳng, chúng ta sẽ nhận ra sự đóng góp cần thiết của những thành viên khác trong gia đình ngày đêm lo việc nhà cho ta an tâm lo việc công; lo làm việc nhà cho ta an lòng làm việc đất nước; chu toàn việc ở nhà cho ta an ổn xông pha, dấn thân lo việc cộng đồng. Đồng thời, ý thức, đồng tiền kiếm được từ việc làm ở công sở, xí nghiệp của ta sẽ không thể bền vững, và sinh sôi nẩy nở, nếu thiếu những bàn tay chăm lo việc nhà, giải quyết lo liệu việc ở nhà, săn sóc những người còn phải ở nhà, chưa thể ra bên ngoài làm việc kiếm sống.   
2.   Thay tâm tư ích kỷ, kiêu căng, “một mình làm nên tất cả” bằng tâm tư biết ơn, đồng cảm, tương trợ:
Có ở nhà bất đắc dĩ vì Covid-19, chúng ta mới thấy “không ai một mình làm nên tất cả”, nhưng mỗi người đều cần thiết, ai cũng quan trọng, việc trong nhà hay việc ngoài xã hội đều đáng trân trọng và cùng góp phần xây dựng lợi ích, hạnh phúc chung của gia đình.
Ý thức điều này, người chồng đi làm lãnh lương cuối tháng sẽ không quên người vợ tận tụy ở nhà lo việc nhà và đàn con ăn học. Anh sẽ biết ơn người vợ và trân trọng công việc rất âm thầm, kín đáo nhưng không thiếu vất vả, nhọc nhằn của vợ ở nhà. Từ đó, tính kiêu căng, trịch thượng sẽ được thay thế bằng tình đồng cảm, biết ơn, tương trợ; tính háo thắng, ngông nghênh sẽ được thay thế bằng tâm tư hiền lành, khiêm tốn, tôn trọng vợ hiền, yêu thương con dại, tử tế với người ăn kẻ làm.
3.   Thay thái độ chảnh chọe, khinh bạc, “chồng chúa vợ tôi” bằng thái độ bình đẳng chia sẻ:
Bởi sẽ không có thái độ nào đẹp và cao qúy bằng bình đẳng, chia sẻ giữa thành viên của một gia đình, sẽ không có thái độ nào xứng hợp, xứng đáng hơn giữa vợ với chồng, cha mẹ với con cái bằng trân trọng việc làm của nhau, khi nhận ra ý nghĩa và giá trị các việc làm đó.
Hạnh phúc của người vợ là được chồng con nhận ra tình yêu của mình trong những “việc nhà” bé nhỏ, thường xuyên, và quen thuộc hằng ngày. Chính những hằng ngày quen thuộc, thường xuyên, bé nhỏ, không ồn ào, không tạo thành sự kiện to lớn ấy mà “việc nhà” mang những  giá trị vô cùng lớn, vì người chu toàn những “việc nhà” ấy đã nhờ tình yêu mà vượt qua những nhàm chán không thể tránh khỏi.
Cũng vậy, người chồng sẽ phấn khởi, hạnh phúc khi vợ con biết mình hy sinh nhiều để có tiền nuôi sống gia đình từ những việc làm vất vả bên ngoài. Và để thực hiện được điều trên, người trong cuộc phải trang bị cho mình thái độ bình đẳng, chia sẻ, được phát sinh từ tâm tình biết ơn, đồng cảm, tương trợ và cái nhìn công bình, cảm thông.     
Thực vậy, có rất nhiều điều “ở nhà”, nhiều sự “trong nhà”, nhiều “việc nhà”, mà bao nhiêu năm tuy là người nhà, nhưng chúng ta vẫn không thấy, không biết, không cảm được. Chúng vẫn còn là những bí mật với ta: bí mật không phải vì là chuyện xấu cần giấu kín, chuyện tồi tệ phải ém nhẹm, nhưng bí mật vì chính đôi mắt tâm hồn ta khép kín, không chịu mở ra để thấy, cánh cửa lòng ta khép chặt, không mở ra để  thừa nhận, yêu thương, bàn tay chia sẻ của ta khép lại chai cứng,  không để một kẽ hở nhỏ dù một giọt nước chui qua, luồn vào.
Vì tất cả đều đóng, đều bị cô lập, nên có ở trong nhà, ta cũng như người ở ngoài rất xa; có sống bên người nhà cũng chẳng khác nghìn trùng xa cách; có đối diện “việc nhà” của “người nhà” cũng vẫn thờ ơ, hờ hững, dửng dưng như việc bá tánh, chuyện thiên hạ. Và rất có thể, ổ khoá gian ác đã đóng mắt ta, hồn ta, tay ta, cuộc đời ta trước “việc nhà, người nhà” không gì khác hơn là chính đam mê ở ngoài của ta, khao khát hướng ngoại bất chính của ta đối với người nhà, và tinh thần vô trách nhiệm, lười biếng của ta trước bổn phận đối với cửa nhà, mái ấm.  
Ước mong những ngày bị cô lập trong nhà được tích cực đón nhận như cơ hội hiếm có để chúng ta nhìn rõ hơn không chỉ công việc nhà của nhà mình, công việc ở nhà của người nhà mình, công việc trong nhà thuộc về nhà mình, để ra khỏi não trạng phân bì, so đo, coi “việc nhà” là việc nhỏ, không đem lại lợi nhuận kinh tế. Trái lại, một cái nhìn mới, một tâm tình mới, một thái độ mới sẽ “thay da đổi thịt” đời sống Hạnh Phúc của mái ấm, mái nhà, cho phép chúng ta nhận rõ nét hơn những yêu thương của nhau, khám phá những bí mật tuyệt vời dễ thương của nhau từ lâu bị ích kỷ, kiêu căng chôn vùi, cào mòn, đóng bụi, nhất là nhìn nhận nhau là những giá trị không thể thay thế, những gắn bó không thể rời xa, những đóng góp, chung phần không thể tháo gỡ ra khỏi đời sống “người nhà” của nhau, ngay giữa tâm bão của đại dịch, khi mà chúng ta đang thực sự cần có nhau hơn bất cứ lúc nào.
Jorathe Nắng Tím

CON ĐƯỜNG CỦA ĐỨC GIÊSU

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT LỄ LÁ, Năm A
Biến cố vào Giêrusalem giữa “đám người rất đông lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành lá mà rải lên lối đi. Dân chúng người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy : Hoan hô Con vua Đavít ! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa ! Hoan hô trên các tầng trời !” (Mt 21,8-9) của Đức Giêsu khởi đầu việc thực hiện lời tiên báo cuộc thương khó của Ngài : “Thầy phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và các kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Và biến cố này cho chúng ta thấy rõ hơn con đường của Đức Giêsu.
Con đường ấy có lối vào vinh quang khi cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau : “Ông này là ai vậy ?” Dân chúng trả lời : “Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê đấy” (Mt 21,10-11), và lối ra ô nhục dành cho những tội nhân bị kết án tử hình : “Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha, tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giêsu thì ở giữa” (Ga 19,17-18), sau khi khạc nhổ, chế giễu, hành hạ Ngài (x. Mt 27,28-31), và trên đường vác thập giá, “dân chúng đi theo Người đông lắm”, nhưng không ai hoan hô, chúc tụng như đường vào thành thánh vinh quang hôm nào, mà chỉ còn một số phụ nữ chạnh lòng thương “vừa đấm ngực vừa than khóc Người” (Lc 23,27).
Con đường ấy tiếp nối con đường ra từ Thiên Chúa để vào con người, ra khỏi thiên đàng để vào thế gian, ra từ thiên tính để vào nhân tính của Ngôi Lời, khi thực hiện mầu nhiệm Nhập Thể, mà thánh Phaolô đã cực tả trong thư gửi giáo đoàn Philípphê : “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
Và con đường ấy dẫn “vào sự chết” ở giờ thứ chín, khi Đức Giêsu kêu lớn tiếng : “Êli, Êli, lêma xabácthani, nghiã là Lậy Thiên Chúa, lậy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?” (Mt 27,46), và kết thúc ở “lối ra khỏi mồ” sau ba ngày, như lời Ngài đã hứa để “đi vào Phục Sinh khải hoàn” (x. Mt 28,1-8), ở đó : “sự sống đã chiến thắng thần chết, Thập giá đã chiến thắng địa ngục”.
Đức Giêsu đã đi con đường từ Thiên Chúa đến nhân loại, để đem con người trở về với Thiên Chúa, cũng như đã đi vào sự chết của con người, để trả lại cho con người sự sống, như thánh Phaolô đã viết : “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết” (Cl 2,12), “Người đã xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta… Người đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá. Người đã truất phế các quyền lực thần thiêng, đã công khai bêu xấu chúng, đã điệu chúng đi trong đám rước khải hoàn của Người” (Cl 2,14-15).
Thực vậy, con đường Đức Giêsu đi là con đường từ bỏ để cứu độ : từ bỏ vinh quang của thiên tính, cao sang của thiên đàng, vinh dự của chúc tụng, hoan hô để xuống thế làm người như mọi người, chết như mọi người, để cứu chuộc mọi người, nên không từ bỏ, không có ơn cứu độ ; không thập giá, không có phục sinh vinh quang, vì hạt lúa phải từ bỏ chính mình khi chấp nhận bị chôn vùi, và thối rữa đi mới nẩy mầm và cho nhiều bông hạt (x. Ga 12,24).
Đời người Kitô hữu không có nhiều con đường, nhưng chỉ duy nhất một con đường : con đường từ bỏ, như chương trình đã được hoạch định bởi Đức Giêsu : “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24), nên trên đường theo Chúa, người môn đệ sẽ không chỉ bỏ lại những hành trang lỉnh kỉnh, cồng kềnh làm trì trệ bước chân như kiêu căng, ganh ghét, đố kị, tham lam, hưởng thụ, mà có khi  phải bỏ cả danh dự, uy tín, và mạng sống, điều mà ít ai dám nghĩ, nhưng Đức Giêsu đã không ngại nói cho các môn đệ Ngài biết, mặc dù là điều rất khó nghe và làm nhiều người nản chí không muốn đi theo Ngài : “Qủa thực, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25).  
Vâng, mỗi người đều được mời gọi đi với Đức Giêsu trên con đường từ bỏ, như Ngài đã đi : từ bỏ khôn ngoan của thế gian để đi vào kế hoạch của Thiên Chúa, từ bỏ con người cũ để đi vào con người được Thần Khí đổi mới, từ bỏ hận thù để đi vào thứ tha, từ bỏ vun vén, ki bo, tích trữ của cải cho riêng mình để đi vào trao ban qủang đại, hiến mình vì tha nhân, từ bỏ những gì không thuộc về Thiên Chúa để “hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới” (Cl 3,2), vì Đức Giêsu mới thực là Nguồn Sống của chúng ta, Nguồn Sống dành cho những ai đi theo Ngài đến cuối đường Từ Bỏ, ở đó, “khi Đức Kitô, Nguồn Sống xuất hiện” chúng ta “sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang” (Cl 3,4).
Jorathe Nắng Tím  

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2020

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO 8

HÀNH TRANG PHỤC SINH
                                        Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH, Năm A
Suốt Mùa Chay, Tuần Thánh và Phục Sinh, chúng ta đã đi với Đức Giêsu trên nhiều con đường : con đường vào thành thánh Giêrusalem, con đường Thánh Giá từ Giêrusalem lên Núi Sọ, con đường từ Núi Sọ đến mộ phần, con đường từ mộ phần mà tảng đá lấp kín cửa “đã lăn ra khỏi mộ” đến Galilê, ở đó Đức Giêsu phục sinh hẹn gặp chúng ta, cũng như đã hẹn gặp các môn đệ của Ngài.
Như đã sai các môn đệ từ Galilê, Đức Giêsu cũng sai chúng ta đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo “Tin Mừng Chúa đã chết và đã sống lại. Chính Ngài là Đấng Cứu Độ muôn dân”, và truyền cho chúng ta làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài (x. Mt 28,19). Nhưng hành trang nào chúng ta cần trang bị để đi trên con đường Truyền Giáo không biên giới này ?
Nói về hành trang của người môn đệ được sai đi thì qủa là câu chuyện “lạc đề truyền giáo”, vì Đức Giêsu “đã chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng ; được đi dép nhưng không đuợc mặc hai áo” (Mc 6,8-9).
Không những rõ ràng, chính xác, mà còn dứt khoát, triệt để, quyết liệt. Với chỉ thị này, các môn đệ lên đường mà không hành trang ; đi đường mà không rương hòm ; đi xa mà không sắc tay, bóp ví ; truyền giáo mà túi rỗng, tay không ; loan báo Tin Mừng mà không một phương tiện “truyền thông” cần thiết.
Vì thế, khi đọc chỉ thị về hành trang truyền giáo của Đức Giêsu truyền cho các môn đệ của Ngài, cảm tưởng “có cái gì qúa đáng, bất khả thi, lỗi thời” nẩy sinh và làm chúng ta chút ít nghi ngờ tính khả thi và hữu hiệu của chỉ thị.
Chúng ta nghi ngờ tính bất khả thi của chỉ thị “không được mang gì”, vì nhà truyền giáo lên đường không hành trang như Đức Giêsu căn dặn thì chỉ có nước chết đói trước khi đến được nơi truyền giáo ; thi hành chỉ thị “không bao bị” của Đức Giêsu thì hầu như mọi việc sẽ bị đình trệ, hoặc bế tắc, vì không tiền, không bạc, không phương tiện vật chất thì chẳng làm được việc gì trong xã hội mà “mọi việc đều phải giải quyết bằng tiền hoặc bằng rất nhiều tiền” ; thực hiện không sai sót huấn lệnh “không thu gom, góp nhặt tiền bạc” của Đức Giêsu thì người môn đệ sẽ nắm chắc “ăn đường ngủ chợ”, vì tìm đâu ra người tốt bụng cho “ăn nhờ ở đậu” mà không tính toán, không trao đổi sòng phẳng khi đón tiếp vào nhà, và rộng rãi nuôi ăn, vì người tử tế, tốt bụng thật qúy hiếm, tựa mò kim đáy biển ở xứ sở “không ai dám tin ai” và thời đại thực dụng, ích kỷ “tận răng” hôm nay.
Chúng ta cũng nghi ngờ tính hữu hiệu của chỉ thị “truyền giáo không hành trang”, vì hôm nay không phải hôm qua, thời này và thời xưa khác xa hoàn toàn, nên truyền giáo mà không điện thoại, không xe pháo, không thẻ ngân hàng, thì khó mà xong việc ; truyền giáo mà nay đau mai ốm, lại  không tiền, thì nhiều người không thích làm bầu bạn, cả anh em và bề trên đến một lúc cũng  mệt mỏi, ngao ngán, nhạt nhẽo ; nhất là khi về già, người môn đệ không còn “năng xuất”, tức khả năng sản xuất, khả năng làm việc, tình hình sẽ khó và xấu hơn nhiều, kéo theo mức độ lệ thuộc trầm trọng làm người môn đệ hết thời nghẹn ngào tủi thân, xót xa số phận.
Vậy đâu là ý của Đức Giêsu khi ra chỉ thị xem ra gắt gao, chặt chẽ này?
Khi căn dặn các môn đệ đừng mang theo gì khi lên đường truyền giáo, Đức Giêsu muốn các ông nắm vững hai điều :
· Chính Ngài sai các ông đi, và chính Ngài sẽ lo liệu tất cả cho các ông.
Khi biết các ông lo lắng phải ăn gì, mặc gì, ở đâu, làm cách nào có tiền để giải quyết công việc, nhu cầu trên đường truyền giáo, Đức Giêsu đã trấn an bằng  ban cho các ông quyền “chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma qủy” (Mt 10,8). Với quyền này, các ông sẽ an tâm, vì biết Thiên Chúa ở với các ông, và người ta sẽ nhận ra các ông là người được Thiên Chúa sai đến để phục vụ họ. Và như người được sai đến để phục vụ, các ông sẽ được mọi người kính nể, ngưỡng mộ, yêu mến, giúp đỡ. 
Đồng thời, trước khi ra chỉ thị đừng kiếm chác vàng bạc, cũng đừng mang theo bao bị lỉnh kỉnh, Đức Giêsu còn xác tín với các ông một điều quan trọng là các ông đừng lo gì, vì các ông sẽ nhận được rất nhiều, và sẽ không thiếu thốn gì, khi bảo các ông : “Anh em đã được cho nhưng không, thì cũng phải cho nhưng không” (Mt 10,8).
Tóm lại, Đức Giêsu là người bảo đảm an sinh bản thân và xã hội cho những người Ngài sai đi, vì Ngài biết chúng ta cần gì, và ngày mai, cũng như sự sống, sự chết của chúng ta luôn thuộc về Ngài (x. Mt 6,25-34).
· Sứ mệnh duy nhất, công việc duy nhất của Ơn Gọi làm môn đệ là loan báo Nước Trời: 
Sở dĩ chỉ thị “truyền giáo không hành trang vật chất” được Đức Giêsu ban bố một cách nghiêm nghị, cứng rắn, vì Ngài muốn nhấn mạnh ý muốn của Ngài, đó là  ngoài sứ mạng loan báo Tin Mừng, ngoài công việc rao giảng Nước Thiên Chúa, ngoài sứ vụ tuyên xưng và giới thiệu “Đức Giêsu đã chết và sống lại” cho muôn dân, các môn đệ không còn một công việc, sứ mạng, sứ vụ nào khác phải làm và được phép làm, nghiã là không được chèo kéo thêm một nghề nghiệp nào khác ; không được móc ngoặc thêm dịch vụ to nhỏ, gầy béo, xa gần nào khác ; không được thủ thân, thủ phận bằng một toan tính, kế hoạch, cơ đồ nào khác, vì tất cả những gì  lệch ra ngoài việc Loán Báo Nước Trời sẽ  làm sao lãng sứ vụ phục vụ Tin Mừng, làm xa dần sứ mạng loan báo Đức Giêsu, làm lạc lối bước chân người môn đệ được sai đi truyền giáo.
Cũng bởi cám dỗ lo cho an ninh bản thân, lo cho an sinh trăm phần trăm được bảo đảm, lo cho ngày mai tự do, độc lập, không lệ thuộc ai, không tùy thuộc cơ chế nào là cám dỗ rất khủng khiếp không chỉ với người môn đệ, mà với tất cả mọi người, nên Đức Giêsu đã tỏ ra dứt khoát với chỉ thị này.
Không muốn các môn đệ quên mình được chọn và sai đi cho duy nhất một Ơn Gọi, một sứ mạng, một sứ vụ : Loan Báo Đức Giêsu chịu đóng đinh, rao giảng Nước Thiên Chúa đã đến gần, và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), Đức Giêsu còn biết rõ : chỉ có thể thực hiện được đòi hỏi thiêng liêng “loan báo Nước Trời”, nếu các môn đệ được sai đi hoàn toàn tách mình khỏi vấn vương vật chất, gỡ mình khỏi dan díu của cải, tự nguyện buông bỏ ràng buộc của thế gian dưới mọi hình thức, kiểu cách, mức độ, để toàn tâm, toàn ý, toàn thân thuộc về Đức Giêsu phục vụ Tin Mừng.
Hiểu như thế, chúng ta sẽ không còn thấy cái áo, cái quần, cái bao, cái bị, cây gậy, đôi giầy… là chính yếu, nhưng chính yếu là tinh thần từ bỏ và phó thác ; không còn nhìn ngó người anh em môn đệ bên cạnh có gì, người anh em cùng đi truyền giáo mang gì, vì tất cả chỉ là thứ yếu, khi cái chính yếu là tình trạng thư thái, nhẹ nhàng, không bị của cải ràng buộc, không bị tiền bạc trói chặt, không bị những giá trị trần tục linh tinh khác cầm chân, để người môn đệ có thể nâng tâm hồn lên với Chúa và tự do đến với mọi người mà không phải qua bất cứ cửa ải, trạm kiểm soát, hàng rào an ninh, quan thuế nào.
Xác định được điều chính yếu của chỉ thị “truyền giáo không hành trang vật chất” rồi, chúng ta mới thấy được giá trị của hành trang thiêng liêng mà Đức Giêsu muốn các môn đệ Ngài phải có trên đường truyền giáo.
Nếu Tin Mừng Mátthêu (10,1-16) tường thuật chi tiết cảnh Đức Giêsu sai mười hai tông đồ đi truyền giáo và chỉ thị “không được mang theo hành trang vật chất”, thì Tin Mừng Luca (24,13-35) vẽ lại cảnh Đức Giêsu đồng hành với hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về Emmau, sau khi Ngài sống lại, cũng với chỉ thị về hành trang, nhưng là chỉ thị về  “hành trang thiêng liêng phải mang theo” trên đường truyền giáo, khác với chỉ thị ở Tin Mừng Mátthêu : không được mang theo hành trang vật chất:
Trên con đường buồn thê lương, ảm đạm về Emmau, một làng “cách Giêrusalem chừng mười một cây số” (Lc 24,13), hai môn đệ kể cho nhau những chuyện buồn đã xẩy ra cho Thầy mình và cho nhóm các ông, những môn đệ của Đức Giêsu, hai ông phần vì  chán nản, thất vọng, phần vì “chậm tin vào lời các ngôn sứ” (Lc 24,25), và quên bẵng Lời Hứa “ngày thứ ba sẽ sống lại từ cõi chết” của Đức Giêsu, nên đã không nhận ra Ngài, khi Ngài đồng hành và nói chuyện với các ông.
Trong suốt hành trình, Đức Giêsu sau khi lắng nghe tâm sự buồn của hai ông, đã cắt nghiã Kinh Thánh cho hai ông “bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ. Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24,27), và nhắc hai ông một điều rất quan trọng : “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” (Lc 24,26).  
Nhận lời mời của hai môn đệ “khi gần tới làng họ muốn đến” (Lc 24,28), Đức Giêsu đã ở lại với họ. Và “khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người…” (Lc 24,30-31).     
“Nhận ra Người, tức nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã chết và sống lại” là mục đích của truyền giáo, là mơ ước, khát khao, thao thức, khắc khoải của nhà truyền giáo. Và hôm ấy, trên đường Emmau, chính Đức Giêsu đã đóng vai nhà truyền giáo khi làm cho hai môn đệ “nhận ra Người”.
Đức Giêsu đã làm cho hai ông nhận ra Người là Thiên Chúa khi cắt nghiã Kinh Thánh, và đồng bàn chia sẻ lương thực với hai ông. Ngài đã thi hành sứ vụ truyền giáo cho hai môn đệ của mình, vì các ông “chẳng hiểu gì cả” và lòng trí lại chậm tin (x. Lc 24,25).
Như thế, hành trang truyền giáo mà Đức Giêsu không những chỉ thị cho chúng ta phải trang bị, mà còn tự mình thực hành sứ vụ truyền giáo với hành trang đó trên đường Emmau chính là Lời Ngài và Mình Máu Ngài. Hai hành trang thiêng liêng không thể thiếu cho người môn đệ, hai bao bị không thể bỏ quên trên đường truyền giáo, cũng là đôi dép và cây gậy không thể rời xa người được sai đi.
Lời Chúa và Thánh Thể là hành trang Đức Giêsu muốn và chỉ thị người được sai đi phải có, phải mang theo, phải gắn bó thiết thân, phải yêu mến tận tình, phải phục vụ tận tụy, vì Lời Chúa và Thánh Thể là nguồn mạch cứu độ, là ánh sáng và sự sống đời đời, bởi Lời và Mình Máu Chúa là chính Chúa, Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.
Nếu hai môn đệ trên đường Emmau, khi ngthe Đức Giêsu nói chuyện và giải thích Kinh Thánh đã thấy “lòng bừng cháy lên” (Lc 24,32) thì trái tim người được rao giảng cũng chỉ bùng sáng khi Lời Thiên Chúa được gieo vào tâm hồn họ. Nếu mắt hai môn đệ trên đường Emmau đã chỉ “mở ra và họ nhận ra Người ”, khi Đức Giêsu “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (Lc 24,30-31), thì mắt người được loan báo Tin Mừng, mắt người chưa nhận ra Đức Giêsu, mắt người ngoại đạo sẽ chỉ mở ra khi Thánh Thể được cử hành, để nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất quyền năng và nhân hậu.
Vì thế, ngoài hành trang Lời Chúa và Thánh Thể, người môn đệ không thể trông cậy vào bất cứ hành trang nào khác, dù là những hành trang đầy giá trị của quyền lực, của cải, thế giá, ảnh hưởng, tài giỏi, khôn ngoan… để làm cho người khác nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài”, bởi việc thánh hoá tâm hồn, đổi mới con tim, cải thiện đời sống thuộc quyền của Thiên Chúa, tuy có cần sự cộng tác của con người, nên phương tiện, cách thế được xử dụng cũng phải là phương tiện, cách thế của Thiên Chúa.    
Vâng, là người Kitô hữu với ơn gọi và sứ mạng loan báo “Đức Giêsu chịu chết và sống lại”, chúng ta không thể bỏ quên Lời Chúa và Thánh Thể là hành trang vô cùng quan trọng, không thể thiếu, không thể xa chúng ta dù một bước trên đường truyền giáo. Nếu không, tất cả thiện chí, ước mơ, cố gắng, công trình truyền giáo của chúng ta sẽ trở nên vô ích, và không mang lại ơn ích thiêng liêng cho ai, kể cả cho chính chúng ta, vì ngoài Lời Chúa và Thánh Thể, chúng ta không giúp  lòng trí ai “bừng cháy lên được”, cũng như không thể cộng tác với Thiên Chúa làm cho mắt muôn người “mở ra và nhận ra Người”.
Jorathe Nắng Tím    

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

ĐƯỢC SỐNG LẠI


Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 5, MÙA CHAY, Năm A
Được sống đã là một hạnh phúc, nay được sống lại thì niềm vui phải ngàn lần lớn hơn, nên khó có lời để diễn tả nước mắt hạnh phúc, thay cho giòng lệ xót xa, tiếc thương của hai chị em Mácta và Maria khi em trai Ladarô chết đã bốn ngày vừa được Đức Giêsu gọi ra khỏi mồ, trong khi “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11,44).
Tin Mừng cho chúng ta biết: gia đình ba chị em Mátta, Maria và Ladarô là chỗ thân tình của Đức Giêsu, nơi Ngài và các môn đệ thường ghé nghỉ ngơi trên đường truyền giáo, như thánh sử Gioan ghi rõ: “Đức Giêsu qúy mến cô Mácta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô” (Ga 11,5), nên khi Ladarô lâm bệnh, hai cô chị đã cho người đến báo với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng” (Ga 11,3).  
Cứ sự thường, khi nghe người thân đau nặng, người ta tức tốc, vội vàng về ngay, vì biết có thể không kịp gặp, bởi cơn bệnh có thể lấy đi bất cứ lúc nào sự sống của người thân. Nhưng hôm ấy, Đức Giêsu có một thái độ bình tĩnh đến khác thường, khi Ngài không về Bêtania ngay để gặp ba chị em trong cơn khốn quẫn, mà sự có mặt của Ngài vô cùng cần thiết đối với họ. Trái lại, “sau khi được tin anh Ladarô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở” (Ga 11,6). Hơn thế nữa, Ngài còn tỏ ra vui, khi nói với các môn đệ: “Ladarô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin” (Ga 11,14).
Thái độ và việc làm của Đức Giêsu cho chúng ta thấy: điều quan trọng hơn đối với Ngài lúc này không phải Ladarô được khỏi bệnh, cho bằng anh được sống lại từ cõi chết để mọi người tin Ngài là Đấng làm cho con người được ra khỏi cái chết để đi vào sự sống với Ngài: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).
Qủa thật, khi mặc khải Chân Lý sự sống lại và sự sống này, Đức Giêsu đã giải toả nỗi lo nhức nhối của con người, khi biết mình phải chết, nhưng hoàn toàn vô vọng vì không biết sự gì tiếp nối sau cái chết, chết rồi đi đâu, có một sự sống khác sau khi chết hay chết là hết, chết là trở về tuyệt đối hư vô?  
Khi cho Ladarô ra khỏi mồ trở lại sự sống, Đức Giêsu đã thực hiện lời tuyên sấm của ngôn sứ Êdêkien: “Các xương khô kia ơi, hãy nghe lời Đức Chúa. Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này với các xương ấy: Đây Ta sắp cho Thần Khí nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến thịt mọc trên các ngươi, sẽ trải da bọc lấy các ngươi. Ta sẽ đặt Thần Khí vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa” (Ed 37,4-6). “Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta” (Ed 37,13).
Gọi ra khỏi mồ Ladarô, người đã chết; mở huyệt cho dân ra khỏi gông cùm của chết chóc, Thiên Chúa đã qủa quyết: Ngài là Đấng nắm giữ sự sống của con người, và duy một mình Ngài mới cho con người được sống lại và được sống đời đời, mầu nhiệm sự sống mà Đức Giêsu đã mặc khải qua phép lạ cho Ladarô sống lại ở Bêtania.
Qua phép lạ này, chúng ta ghi nhận:
1.   Con đường chúng ta phải đi để được Thiên Chúa ban sự sống viên mãn và đời đời:
a.   Lắng Nghe Đức Giêsu:
Như hai chị em Mácta và Maria say mê lắng nghe Đức Giêsu, khi các cô quấn quýt bên Ngài, lúc thì nũng nịu bắt đền: “Nếu có Thầy ở đây, thì em con đã không chết” (Ga 11,21), vì các cô biết: khi nghe tin Ladarô, em trai các cô đau nặng, Đức Giêsu đã không thu xếp về ngay, mà vẫn “lưu lại hai ngày tại nơi đang ở” (Ga 11,6); lúc thì một chút giận dỗi, phụng phịu: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết” (Ga 11,24). Nhưng luôn luôn các cô chăm chú Lắng Nghe Lời Ngài.
b.  Đón nhận Đức Giêsu:
Gia đình Bêtania rất yêu mến và từ lâu đã luôn đón tiếp Đức Giêsu với tất cả lòng trân trọng, và chân tình qúy mến. Bất cứ lúc nào cả ba chị em đều dành cho Đức Giêsu tình cảm nồng nàn và sự đón tiếp ân cần, nồng hậu, cũng như sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ Ngài và các môn đệ trên đường truyền giáo.
Đức Giêsu cũng đáp lại tấm lòng của ba chị em bằng tình cảm đặc biệt của Ngài, như hôm nay, cả đám đông đều thấy Ngài khóc (Ga 11,35), vì “thổn thức trong lòng và xao xuyến” xót thương Ladarô và cảm thương hai chị em Mácta, Maria (x. Ga 11,33), và nhiều người có mặt đã ngạc nhiên nói với nhau: “Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!” (Ga 11,36).
Thực vậy, thánh sử Gioan đã ghi lại nét dễ thuơng của hai chị em Mácta và Maria, khi ân cần, vồn vã đón tiếp Đức Giêsu trong trình thuật phép lạ cho Ladarô sống lại:
·               “Vừa được tin Đức Giêsu tới, cô Mácta liền ra đón Người” (Ga 11,20).
·               Khi được chi Mácta  gọi và nói nhỏ: “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy!... cô Maria vội đứng lên và đến với Đức Giêsu.” (Ga 11,28-29).
Tâm tình niềm nở, trông ngóng, mong mỏi được đón tiếp Đức Giêsu của hai cô được biểu hiện qua thái độ nhanh nhẩu, vội vàng, ngay lập tức diễn tả qua cụm từ “liền ra đón”, “vội đứng lên và đến với”. Tất cả đã nói lên các cô rất hân hoan, vui mừng được đón tiếp Đức Giêsu vào nhà mình, đến với mình, ở lại với mình trong bất cứ cảnh huống, tâm trạng nào.
c.    Tin Đức Giêsu:
Con đường thiêng liêng nào cũng phải dẫn đến niềm tin vào Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, cũng như các phép lạ Đức Giêsu làm cũng chỉ có mục đích “cho mọi người tin vào Ngài”, như Đức Giêsu đã nói với các môn đệ trước khi lên đường đến Bêtania: “Ladarô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin” (Ga 11,14), hoặc với Mácta: “Chị có tin thế không ?” (Ga 11,26), “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” (Ga 11,40)
Thực vậy, con đường đến với “Đức Giêsu là Sự Sống Lại và là Sự Sống” chỉ có thể thực hiện khi đạt đến Niềm Tin: Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ, Đấng đã đến trong  đời để cứu độ loài người và ban lại cho con người sự sống đời đời.
Tin là điều kiện không thể thiếu để “được sống lại và được sống” như Đức Giêsu khẳng định: “Ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).
Như thế, chúng ta không còn nghi ngờ, nghi nan về điều kiện để được sống lại và được sống đời đời, vì chính Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đã công khai mặc khải. Vấn đề là chúng ta có cố gắng đi con đường về sự sống như ba chị em gia đình Bêtania không: Con đường “lắng nghe Chúa, đón tiếp Chúa, và tin vào Chúa”, bởi để tin vào Ngài, chúng ta phải bắt đầu bằng Lắng Nghe Ngài nói và đón tiếp Ngài vào cuộc đời chúng ta.
Và để tiến bước trên con đường Chúa muốn, chúng ta cần tháo cởi khỏi mình những giây nhợ của “cái tôi” ích kỷ, ganh ghét, kiêu căng, những “vải buộc” của thành kiến, kỳ thị, nhất là tấm vải che lương tâm, và bịt kín ánh sáng của Thần Khí, như lệnh truyền của Đức Giêsu: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi”, khi Ladarô vừa ra khỏi mồ, “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11,44), bởi “Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là Sự Sống và Bình An” (Rm 8,6).  
Jorathe Nắng Tím

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

COVID-19 có phải là dấu chỉ Tận Thế?


Cứ mỗi lần tai họa thiên nhiên hay chiến tranh bùng nổ chỗ này, chỗ kia, nhất là khi đại dịch hoành hành đe doạ tiêu diệt toàn thể nhân loại trong một thời gian ngắn như hiện trạng của Covid-19, chúng ta lại được nghe chuyện tận thế, bị ám ảnh bởi thảm cảnh tận thế, và run sợ do hình ảnh hãi hùng về ngày tận thế được vẽ ra.
Thực ra, không phải vô lý mà nhiều người nói về ngày tận thế, không phải ngẫu nhiên mà không ít người lo sợ bước chân dồn dập ngày càng gần của tận thế, cũng không phải vô ý, vô tình mà người này rỉ tai người kia mua sẵn nến để đốt trong những ngày trước tận thế, chuẩn bị áo trắng trước khi thiên thần tạt qua từng nhà và chỉ cứu những ai mặc áo trắng, theo lệnh của Thiên Chúa, càng không phải vô căn cứ mà người ta lo lắng ngày tận thế không xa, trái lại, tất cả đều có lý do.
Lý do là có nhiều tiên báo của những người được gọi là tiên tri của thời đại đã xẩy ra đúng, như bà Vanga, một người đàn bà mù người Bungari, mà một số lời tiên báo về đại hoạ trên thế giới đã được nhiều người công nhận, thí dụ: như vụ đánh bom tháp đôi  ở New York ngày 11.09.2001, và năm 2020, Âu Châu sẽ vắng bóng người qua lại trên đường phố…
Nhưng lý do có sức thuyết phục hơn cả là những cảnh báo về ngày tận thế được ghi lại trong Kinh Thánh, nhất là được chính miệng Đức Giêsu nói với các môn đệ trong Tin Mừng. Những lời này được coi như nền tảng vững chắc cho những quyết đoán của nhiều người về ngày tận thế không xa.  
Trong Cựu Ước thì ngôn sứ Đanien nói nhiều về viễn cảnh ngày cuối cùng, đặc biệt từ chương 8 đến chương 12. Ở Tân Ước thì Tin Mừng Máccô ghi lại những gì Đức Giêsu trả lời các môn đệ về “những gì sẽ xảy ra và những điềm báo khi tất cả sắp đến hồi chung cục” (x. Mc 13,4).
“Qủa thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có động đất ở nhiều nơi, sẽ có những cơn đói kém. Những sự việc ấy là khởi đầu các cơn đau đớn.” (Mc 13,8), hoặc “Khi anh em thấy Đồ - Ghê - Tởm đứng ở nơi nó không được phép đứng - người đọc hãy lo mà hiểu! – thì bấy giờ ai ở miền Giuđê hãy trốn lên núi; ai ở trên sân thượng thì đừng xuống và đừng vào lấy gì ra khỏi nhà; ai ở ngoài đồng đừng trở lại lấy áo choàng của mình. Khốn thay những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó! Anh em hãy cầu xin cho những sự ấy đừng xảy ra vào mùa đông. Vì những ngày đó sẽ là những ngày gian nan đến mức từ lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa tạo thành vạn vật cho đến bây giờ, chưa khi nào xảy ra và sẽ không còn xảy ra như vậy nữa” (Mc 13,14-19). Và “trong những ngày ấy, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mc 13, 24-26).    
Trước những lời tiên báo về ngày chung cuộc, ai trong chúng ta cũng đều nơm nớp lo âu cho số phận chung của cả nhân loại, và âu lo về số phận của bản thân mình.
Trong lo âu cho mọi người và âu lo cho riêng mình, khi không ít những dấu chỉ, điềm báo như ngày càng tỏ lộ rõ ràng và sát cạnh, người Kitô hữu phải có chọn lựa  nào?
1.            Những đau đớn, khổ sở, tai họa xẩy ra cho cá nhân hay cho cộng đồng nhân loại không được hiểu là những điềm báo mang thuần tính cánh chung:
Bởi khi nói về những tai ương khốn khó, Đức Giêsu đã lập tức cảnh giác các môn đệ: “Anh em hãy coi chừng, kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy  đến nói rằng: “Chính Ta đây!”, và họ sẽ lừa được nhiều người. Khi anh em nghe có giặc giã, thì đừng khiếp sợ. Những việc đó phải xẩy ra, nhưng “chưa phải là chung cục” (Mc 13,5-7).
Đàng khác, Ngài đã đặt những gian truân, vất vả, đe dọa được loan báo đó trong bối cảnh truyền giáo, ở đó nhà truyền giáo, cũng là những môn đệ của Ngài không ngừng bị bách hại, như chiên ở giữa bầy sói (x. Mt 10,16 ): “Phần anh em, anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng và các hội đường; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết” (Mc 13,9).
Sở dĩ truyền giáo luôn đi liền với tai ương, khốn khó, vì Ngôi Lời “đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11); vì “nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,18.20).
Cũng như ngôn sứ Đanien trong Cựu Ước đã nói về những tai ương, khốn khó trong thời của kẻ dữ hoành hành, thống trị: “Những kẻ hiểu biết trong dân sẽ dậy dỗ nhiều người; nhưng họ sẽ ngã gục vì gươm đâm lửa đốt, sẽ bị đầy ải, bị cướp bóc trong một thời gian. Khi họ ngã gục, những kẻ đến trợ giúp họ thì ít, còn những kẻ liên kết với họ vì xảo quyệt thì nhiều” (Đn 11,33-35). Đó cũng là thời kỳ “Vua sẽ mặc sức hoành hành, sẽ tự cao tự đại, tôn mình lên trên hết các thần. Y sẽ nói những điều kỳ quặc chống lại Thiên Chúa...” (Đn 11,36).
2.            Lời cầu nguyện và đời sống chứng nhân của những người thuộc về Thiên Chúa rút ngắn những ngày gian nan, khốn khó:
Thiên Chúa là Tình Yêu, nên Ngài không thể làm gì khác ngoài yêu thương; Thiên Chúa là người Cha nhân hậu, nên không lẽ “khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bọ cạp?” (Lc 11,11-12).
Tai hoạ mang đến khổ đau cho con người, ngoài một phần rất nhỏ do bất toàn, giới hạn, tương đối của thiên nhiên, vạn vật, còn phần lớn đều do con người, vì thiếu yêu thương đã gây ra cho nhau.
Bạn cứ nhìn vào những đau khổ Bạn chịu, những khốn khổ cộng đòan phải chịu, những tai ương thế giới phải chịu đã phát sinh từ đâu? Nếu không phải từ tâm hồn vô cảm, từ trái tim không biết chạnh lòng thương xót, từ kiêu căng, ngạo mạn muốn mọi người quy phục, hầu hạ mình, từ ích kỷ chỉ nghĩ đến “cái tôi”, mà hành xử bất công, bất chính, từ tham lam vô độ khi cướp của, chiếm đọat tài sản của người khác, nước khác, từ tham vọng bá chủ, toàn trị khi tìm cách truy diệt các dân tộc khác, quốc gia khác, từ khuynh hướng ganh ghét, bạo lực phủ nhận quyền sống và làm tổn thương sự sống của đồng loại, ngay cả những tai họa tự nhiên cũng từ tay con người gây ra, khi không tôn trọng thiên nhiên và tàn phá môi trường sống.
Tuy thế, Thiên Chúa vẫn dành cho con người quyền cầu xin để những khổ đau, tai họa được giảm bớt, những ngày gian nan được rút ngắn lại, như Tin Mừng Máccô khẳng định: “Nếu Chúa không rút ngắn những ngày ấy lại, thì không ai được cứu thoát; nhưng vì những kẻ Người tuyển chọn, Người đã rút ngắn những nngày ấy lại” (Mc 13,20).
Đó là lý do Giáo Hội kêu gọi chúng ta cầu nguyện trong cơn gian nan, khốn khó của thế giới cũng như trong thử thách của chính bản thân.
Nhiều người bĩu môi thiã bãi khi nghe Đức Thánh Cha phát động phong trào lần chuỗi cầu xin ơn giải thoát thế giới khỏi đại dịch, có người phì cười khi các Nữ Bề Trên Tổng Quyền các Dòng kêu gọi dành ngày Chúa Nhật 22.03.2020 là ngày “Liên Đới cầu nguyện” cho các nạn nhân bị Covid-19 làm tổn thương; nhiều người cho rằng cầu nguyện chỉ làm mất thời giờ của người khác, vì theo họ: cầu nguyện ích gì cho buổi ấy, cầu nguyện giải quyết được gì, nhất là cầu nguyện chỉ là việc làm mê tín, viển vông, ảo tưởng, tự lừa dối, phỉnh gạt mình, khi qúa lo lắng, sợ hãi.
Với chúng ta, người Kitô hữu, cầu nguyện là sức sống của Thiên Chúa tràn đầy trong chúng ta, cầu nguyện là tình yêu của chúng ta được hoà quyện trong tình yêu Chúa, cầu nguyện là sức mạnh của Ba Ngôi Thiên Chúa trong thân phận người yếu hèn, dòn mỏng, bởi chỉ cầu nguyện, chúng ta mới được ở lại trong Đức Giêsu và Chúa Cha để niềm vui được trọn vẹn (x. Ga 15,10-11); chỉ cầu nguyện, chúng ta mới được kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu để Ngài ở đâu thì ta cũng ở đó với Ngài (x. Ga 17,24), và sinh nhiều hoa trái, như cành nho sinh hoa kết trái, nếu gắn liền với cây nho (x. Ga 15,4-5); chỉ cầu nguyện, chúng ta mới nên bạn hữu của Đức Giêsu để được biêt tất cả những gì Đức Giêsu nghe được từ Chúa Cha (x. Ga 15,15); chỉ cầu nguyện, chúng ta mới khỏi sa chước cám dỗ, không rơi vào cạm bẫy của Satan (x; Mc 14,38); chỉ cầu nguyện, chúng ta mới được ở trong bình an của Đức Giêsu, dù sẽ phải gặp nhiều gian nan, khốn khó (x. Ga 16,33).
Vâng Giáo Hội là Giáo Hội cầu nguyện, nhờ cầu nguyện Giáo Hội ở trong Thiên Chúa và đi dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Đấng đã ngự đến làm tràn đầy tâm hồn các tông đồ tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa khi các vị đang cầu nguyện (x. CV 1,14; 2,1-5).
Do đó, trong gian nan, thử thách của cá nhân, của Giáo Hội cũng như của thế giới, như tình trạng đại dịch Covid-19 hiện nay, việc làm quan trọng của toàn thể Giáo Hội là cầu nguyện, vì Chúa đã hứa: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7,7), và tin vào tình yêu đặc biệt Thiên Chúa dành cho “những kẻ Người đã tuyển chọn” (Mc 13,20).     
3.            Trông đợi  ngày Chúa đến, với Niềm Vui hy vọng của người  được cứu rỗi:
Đức Giêsu, ngay khi cảnh báo những gian nan, khốn khó sắp xẩy đến, cũng không quên đặt tất cả vào bối cảnh, đòi hỏi và ưu tiên của Truyền Giáo: “Người ta sẽ nộp anh em cho hội đồng, hội đường; anh em sẽ bị đánh đòn… Nhưng trước tiên, Tin Mừng phải được rao giảng cho mọi dân tộc” (Mc 13,9-10).  
Tiếp đến Ngài nhấn mạnh: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” Mc 13, 13).
Như thế, Đức Giêsu muốn Giáo Hội đặt ưu tiên của việc truyền giáo trên tất cả mọi công việc, và lo lắng khác, kể cả chuyện ngày tận thế, và những ý nghĩ băn khoăn muốn biết khi nào Chúa đến, bởi ngày tận thế, Thiên Chúa “sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13,27).
Hình ảnh này rất tích cực, rất phấn khởi và không có gì làm sợ hãi, bởi đông đảo những người được tuyển chọn “từ bốn phương, từ đầu mặt đất đến cuối chân trời” sẽ tụ họp quanh Nhan Thánh Thiên Chúa để nhận phần thưởng, như thị kiến của thánh Gioan trong sách Khải Huyền: “kià một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế” (Kh7,9), “Bấy giờ tôi thấy trời mới, đất mới, vì trời cũ, đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa -ở-cùng- họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,1-4).
Thực vậy, Niềm Hy Vọng  ngày Chúa trở lại  được bảo đảm trăm phần trăm là ngày hạnh phúc, vì không chỉ tin ở Lời Hứa: “Thầy ở cùng với anh em mọi ngày cho đến ngày tận thế” (Mt 28,20), chúng ta còn tin vào lời trấn an của Đức Giêsu: “Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13,32).
Điều này nói lên tính “không quan trọng” của việc biết trước hay đoán trước ngày tận thế so với sứ vụ loan báo Tin Mừng (x. Mc 13,10), so với việc tỉnh thức cầu nguyện (x. Mc 13,33), so với bổn phận sống Đức Ái (Ga 15,12), so với lòng trông cậy, bền chí trong gian nan, thử thách của đời người Kitô hữu trên đường làm chứng Nước Trời (Mc 13,13), bởi niềm hy vọng không gì có thể lay chuyển ở chúng ta, chính là: “Đức Giêsu đã tự hiến tế chỉ một lần, để xóa bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xóa bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người” (Dt 9,28).
Ước gì mỗi người luôn sống bình an trong niềm hy vọng “trông đợi ngày Chúa đến”, bằng cố gắng và bền chí mỗi ngày để trở nên “chứng nhân” của Thiên Chúa tình yêu, Đấng đến không phải để “ăn trộm, giết hại và phá hủy” (Ga 10,10), và làm đoàn chiên hoảng sợ, tán loạn, nhưng để yêu thương, băng bó, chữa lành, phục vụ và  hiến mạng sống để chiên được bình an, được no nê, ấm áp, “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Jorathe Nắng Tím