Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2020

Chương 1: Ly Dị


Mục tiêu của tập chia sẻ là những vấn đề sau ly dị, nhưng không thể nói chuyện sau mà quên chuyện trước. Vì thế, rảo quanh câu chuyện ly dị một chút cũng là điều nên làm, trước khi cùng bạn chạm mặt với thời hậu ly dị nhiêu khê.
1.   Ly dị không còn khó khăn :
a.   Do xã hội cởi mở : 
Có nhiều chuyện người ta muốn làm, nhiều việc người ta muốn thử sức, nhiều món ăn chơi muốn liều lĩnh nếm mùi. Nhưng nếu phải vượt qua nhiều cản trở, nhiều hàng rào ngăn cấm, nhiều con mắt rình rập, nhiều điều kiện khó khăn thì người ta sẽ ngần ngại  hoặc không dám làm, hoặc không đủ điều kiện, phương tiện làm. Chú bé mười hai tuổi  rất muốn hút thuốc để làm người lớn, nhưng không tiệm nào bán thuốc lá cho trẻ vị thành niên, và  con nít  hút thuốc sẽ bị người lớn la rầy, trừng phạt. Nhờ thế mà cậu bé dù muốn làm người lớn sớm cũng may mắn không phải sớm làm người lớn hút sách, sa đoạ.
Ngày nay, ly dị không còn là điều cấm kỵ, khó nói, nhưng xã hội đã giải phóng gia đình, giải phóng lứa đôi, giải phóng luôn kỷ cương, truyền thống, nên ly dị trở thành chuyện nhỏ, riêng tư, không còn là chuyện lớn, gây ảnh hưởng cho đám đông, quần chúng. Vì là chuyện nhỏ, bình thường và riêng tư, người ta dễ dàng « mời » nhau ly dị khi không còn thích ở với nhau, thanh thản ký đơn ly hôn mà không sợ dư luận, vui vẻ tự giới thiệu « còn độc thân, vì mới ly dị » mà không chút ngượng ngùng, chia sẻ những mánh khóe để giựt về mình phần thắng khi Toà án  phân chia tài sản  mà không chút liêm sỉ, e ngại. Xã hội hôm nay không những mở cửa, mở đường mà còn tiếp tay, tiếp sức cho ly dị dưới chiêu bài giải phóng con người, giải phóng nữ giới, giải phóng gia đình…Cơ chế không còn can thiệp theo hướng cố gìn giữ nền tảng gia đình, cố trì kéo quyết định ly hôn với hy vọng đôi bên sẽ đi đến hoà giải , mà hầu như tạo điều kiện thuận lợi cho cách giải quyết nhanh, gọn, nhẹ là ly hôn khi hai người cảm thấy khó có thể tiếp tục đời sống vợ chồng. 
Xã hội cũng không giảm thiểu những quyền lợi của người ly dị ; trái lại, rộng tay trợ cấp cho các bà mẹ độc thân, tức những người đàn bà một mình nuôi con, trong đó phần lớn là những người mẹ đã ly dị  như quy chế hiện nay ở các nước Âu Châu. Vì thế, nhiều cặp vợ chồng đã chọn  ly dị như giải pháp kinh tế khi gia đình rơi vào bế tắc tài chánh.
Xã hội nhắm giải quyết tức thời những vấn đề trước mắt hơn quan tâm đến hậu qủa lâu dài, nên ưu tiên giải quyết ly dị mà không chuẩn bị cho người trong cuộc thế quân bình cần thiết sau ly dị, nhất là các con chung của hai người ly dị.
Ở  một xã hội cực đoan  đề cao tự do cá nhân, cực đoan « lăng xê » quyền phụ nữ, cực đoan giải phóng mọi cơ chế gò bó, ly dị được hoàn toàn tự do tung cánh và ở một góc độ nào đó, hôn nhân bị đặt vào thế đứng chênh vênh, dễ đổ vì không ngừng bị cám dỗ bởi những « thoải mái, dễ dàng » đến mức không còn bị ràng buộc bởi bất cứ định chế, tương quan nào.          
b.   Do tôn giáo mất dần ảnh hưởng :
Xã hội văn minh, con người thấy mình làm được mọi sự và đột biến thành thượng đế. Tâm thức toàn năng làm con người quên mình cần có tôn giáo. Đó là lý do hôn nhân không còn quy chiếu vào luật lệ, cơ cấu tôn giáo nữa và ảnh hường của tôn giáo giảm sút trầm trọng  trên đời sống hôn nhân, gia đình. Luật « bất khả phân ly » trong hôn nhân công giáo không còn được triệt để tôn trọng như xưa và số người công giáo rơi vào tình trạng « rối » tức là đã  ly dị dân sự, trong khi hôn phối đạo không thể hủy bỏ ngày càng tăng.
Tôn giáo là thành trì vững chắc nhất, nhưng một khi tôn giáo không còn được coi là thành trì, người ta sẽ tự buông lỏng và luân lý, đạo đức sẽ theo đó tự do nổi trôi. Chỉ còn lại lương tâm là tiếng nói sau cùng, nhưng tiếng nói ấy cũng yếu ớt và ít khi can đảm lên tiếng khi thành trì tôn giáo không còn để hướng dẫn, bảo vệ.
c.    Do quan niệm hôn nhân thay đổi:
Hôn nhân không còn được xem là một chọn lựa mang tính vĩnh cửu, đời đời; nghiã là chọn nhau  cả đời, lấy nhau trọn kiếp, sống chung đến chết, chết rồi vẫn thuộc về nhau. Hôn nhân bây giờ là khế ước, hợp đồng. Đã gọi là hợp đồng tức có sự đồng thuận, nhưng cũng dự phòng sẽ có bất thuận. Gọi là khế ước khi hai bên đồng ý những điều kiện được nêu ra, nhưng cũng tiên liệu có thể xẩy ra bất đồng khi một trong hai bên không tôn trọng điều kiện đã được ký kết và khế ước sẽ  mất giá trị, mất hiệu lực và bắt buộc phải hủy bỏ.
Chính vì hôn nhân được quan niệm thuần túy là hợp đồng, khế ước, nên vấn đề bãi bỏ hợp đồng hôn nhân, hủy bỏ khế ước hôn phối là điều không có gì phi lý, nếu đã chấp nhận định nghiã hôn nhân là hợp đồng, khế ước. Người ta sẽ đơn giản cho rằng: khi hợp đồng được thì ở, khi bất đồng thì “vui vẻ” chia tay; khi điều kiện chung được hai bên thoả mãn thì còn vợ chồng, khi điều kiện không còn thích hợp thì thoải mái “bye - bye”. Không ai ân oán, trách móc gì ai, cũng không ai tỵ nạnh, gây gỗ, vì ngay từ đầu đã hợp đồng tay đôi như thế !
d.   Do áp lực tứ phiá đã nhẹ bớt:
Tứ phiá đây phải kề lương tâm, gia đình, xã hội, tôn giáo. Lương tâm thì đã có tự do tháo khoán, cho phép, vì lương tâm thường “ba phải, a dua, dễ bị dụ” khi  lương tâm  mù quáng vì tham vọng, vì không được vững chắc đào tạo. Gia đình buông xuôi, bất lực trước tự do cá nhân. Xã hội mất phương hướng trước những chuyển biến ngày càng nhanh và dữ dội. Còn lại tôn giáo thì vai trò  không được nhìn nhận và ảnh hưởng ngày càng sút giảm.
Chính vì thế, áp lực từ bốn phiá vừa kể không còn là thành trì che chở hôn nhân, nên ly dị được thông thoáng, nhẹ nhàng, nhất là  người trong cuộc không còn nặng lòng với nhiều mặc cảm  “bỏ chồng bỏ vợ’như xưa. 
2.   Ly dị “muôn hình trạng”:
Ngày xưa, ly dị là quyết định  bất đắc dĩ của vợ chồng khi không còn khả thể hàn gắn, hoà giải, sau một thời gian yêu nhau, và chung sống hạnh phúc. Như thế, ly dị là tình trạng không còn hạnh phúc sống chung như vợ chồng, không còn khả thể cùng đi trên một con đường chung về chung một hướng, đến chung một bến bờ, gặp chung một điểm hẹn. Tắt một lời, ly dị là  thất bại của hai người, bất hạnh cho hai người, vì đi lệch  ý muốn và quyết định kết hôn ban đầu của hai người. Người ta không ly dị vì những lý khác ngoài lý do tình cảm, và chỉ khi nào “cực chẳng đã”, không còn giải pháp nào ít xấu hơn, người ta mới đành đưa nhau ra toà xé hôn ước.
Ngày nay, với đủ thứ tự do và nhãn hiệu, băng rôn nhân danh giải phóng, người ta ly dị dễ dàng và nhanh chóng vì đủ lý do. Ngoài ly dị vì thực sự không còn có thể ở chung, còn những ly dị để trốn thuế, ly dị để phân tán tài sản, ly dị để tránh nhà cửa bị tịch biên, ly dị để “ghép phom” đi Mỹ, ly dị để dễ làm ăn, ly dị để đánh lạc hướng đối thủ kinh tế, ly dị để làm áp lực trên cha mẹ, và vô số những kiểu ly dị thần kỳ không thể biết khác…
Vì ly dị qúa dễ dàng, nên ly dị trở thành phương tiện  cho những mục tiêu không còn thuộc phạm vi tình cảm, hạnh phúc, mà biến thái thành phương tiện cho những mục tiêu không chính đáng và thiếu trong sáng, lương thiện.
Ở đây, chúng ta chỉ bàn về hậu ly dị của những ly dị thực sự vì không thể sống chung  hạnh phúc.    
3.   Ly dị vì không thể sống chung hạnh phúc:
“Sống chung” khác “sống chung hạnh phúc”, vì người ta có thể chịu đựng hoặc bị bắt buộc sống chung mà không có hạnh phúc như sống chung trong bệnh viện, nhà tù, trại tập trung, ký túc xá, nhà trọ.  
Đời vợ chồng là đời sống chung có hạnh phúc, vì hạnh phúc là mục đích của hôn nhân. Không ai cưới vợ lấy chồng mà không mong tìm hạnh phúc, nên  sống với nhau mà không đem lại hạnh phúc cho nhau thì đó là một hôn nhân thất bại, hôn nhân bị kết án, hôn nhân trên đường tự  diệt.
Một khi hạnh phúc bị đe doạ, người trong cuộc sống hôn nhân lo sợ và đôn đáo tìm mọi phương thế chống đỡ nguy cơ, ngăn chặn tai ương, hoá giải sức công phá của đối thủ. Vợ thấy chồng có dấu hiệu “say nắng”, nàng sẽ không để nắng tiếp tục làm say chồng, nhưng ra tay tái lập vùng phủ sóng của mình để tránh cho chồng rơi vào “vùng phủ váy”. Đó là phản ứng tự nhiên và cần thiết để bảo vệ hạnh phúc hôn nhân, vì hôn nhân sống nhờ hạnh phúc, và lẽ sống của hôn nhân là hạnh phúc. Thiếu hạnh phúc, hôn nhân không thể tồn tại.
Ly dị là điểm dừng của một hành trình hôn nhân không hạnh phúc, là nhát dao cắt đứt đời hôn nhân không còn lửa yêu thương, là đoạn tuyệt với cuộc sống không còn hứng thú. Nói cách khác, ly dị là bản án  kết thúc đời sống chung của hai người trước đó đã hạnh phúc và nay trở thành gánh nặng bất hạnh cho nhau. Ly dị tự nó là một kết thúc, một chấm dứt, một đứt đoạn, xa lià. Không có gì tích cực ở ly dị, vì tự thân đã là một tiêu cực. Người ta chọn giải pháp ly dị vì không còn giải pháp nào ít xấu hơn, chứ không phải ly dị tự nó là giải pháp tốt đẹp, đáng mong đợi, tìm kiếm.      
Nhưng tại sao vợ chồng trước đó đã hạnh phúc mà nay không hạnh phúc ?
a.   Vì cái Tâm thay đổi:
Không gì thay đổi nhanh, kín đáo, triệt để, rốt ráo, tận cùng bằng cái Tâm của con người. Tâm là cái đáng yêu mà cũng đáng sợ nhất ở con người. Người có Tâm là người có lòng tốt, lòng nhân, lòng trung nghiã, lòng đạo hạnh, lòng bác ái, vị tha. Người không có Tâm là người gian ác, xảo trá, lật lòng, bất nhân, bất trung, bất nghiã, bất hiếu. Vì Tâm ở trong con người, nên khoảng cách từ “có Tâm” đến “không có Tâm”  rất gần  chỉ cách nhau một chữ “không” gồm một vần, một âm rất ngắn gọn.
Tâm tay đổi không ngừng: Đang tử tế trở thành đểu cáng, đang tuân phục  thành ngược ngạo. Người ta thay lòng đổi dạ tùy theo thời cơ, hoàn cảnh, vị thế. Thời hàn vi, Tâm có thể trong sáng, khiêm tốn, chân chất, thật thà, nhưng đến thời “đại phát” , thời “trưởng giả học làm sang”, người ta đánh mất cái Tâm thành, Tâm thiện và biến thành ông này bà nọ chảnh chọe, phách lối, độc ác, kiêu kỳ. Mới yêu nhau và về nhà chồng, người vợ đẹp trong mắt chồng, dễ thương trong tim chồng, ngoan ngùy trong nhà chồng, đằm thắm với họ nhà chồng, biết điều với bạn bè chồng, và trung tín với chồng nhờ tâm hồn đơn sơ, cái Tâm tuyệt vời. Nhưng tháng ngày trôi, khi làm ra tiền nhiều hơn chồng, ngoại giao sành sỏi hơn chồng, người vợ ấy  biến đổi thành bà tướng, “bà chằng” chẳng kính nể ai, không còn yêu chồng như ngày nào vì thành công tuyệt đỉnh và  kép trẻ xếp hàng chờ đến lượt. Cũng thế, người chồng xưa vốn  hiền hậu, tận tụy, hy sinh bỗng trở mặt hiếp đáp vợ, đánh đập con, khinh mạn gia đình vợ, vì cái Tâm của chàng đã thoái hoá, biến đổi.
Tâm chính là tổng hành dinh, cơ sở chỉ đạo điều hành mọi sinh hoạt đời sống. Tâm thiện, tâm lành phát sinh tư tưởng tốt, hành vi nhân hậu. Tâm ác độc, tâm mù qúang  chỉ sản sinh ý nghĩ gian tà và hành động đồi bại. Không thể có tâm độc mà đời sống tốt, cũng không có đời sống tốt nếu Tâm không được tu, tánh không được dưỡng.
Tu tâm để tâm không động bừa bãi theo đòi hỏi của bản năng và khuynh hướng xấu. Dưỡng tánh để đời sống không bị dục vọng như nước lũ cuốn trôi. Tâm tánh phải vững chắc để trụ lại trong đời đạo đức. Tâm tánh phải bền bỉ để không lạc lối về quê hương Hạnh Phúc. Tâm phải thiện để nắm cờ lệnh, quyết định tiến lùi, thắng thua; bởi có thể mọi người ao ước, và mọi việc đã chuẩn bị, nhưng Tâm của chủ thể không thuận thì chẳng có gì thành tựu. Ngay cả Trời muốn mà lòng người không muốn thì mọi công trình cũng sẽ dang dở, bất thành.
Cái Tâm rất quan trọng, nhưng không mấy người để ý đến Tâm và quan tâm giáo dục. Tâm con người cũng chính là  con người cần phải được gìn giữ, xây dựng, phát huy. Tâm không như cỏ dại phóng túng mọc bên đường, nhưng cần được hướng dẫn có hướng có đường: Hướng thiện và đường ngay nẻo chính.   
b.   Vì môi trường sống không lành mạnh:
Con người, ngoài cái Tâm, còn chịu ảnh hưởng của môi trường sống, vì con người là con vật có xã hội tính, nên người chung quanh, bè bạn, gia tộc rất cần thiết cho con người phát triển quân bình về mọi mặt. Nhưng cũng vì cần, mà môi trường tác động không ít trên nhân cách, chọn lựa của con người.
Vợ chồng được bao bọc bởi những người tốt sẽ tránh được nhiều cạm bẫy, cám dỗ đưa đến trác táng, sa đoạ. Người chồng chỉ giao du, thân thiện với  những người xấu, thì trước sau sẽ xấu như họ. Sẽ khó tránh say xỉn một ngày nếu ngày đêm theo chiến hữu vào qúan nhậu. Làm sao tránh khỏi bỏ vợ bỏ con, nếu  không chịu vắng bóng ở  phòng trà, trên sàn nhẩy, qúan bia ôm, nhà trọ massage. Nghe riết những lời thị phi khích bác, bôi nhọ cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ, hỏi làm sao không có ngày trút giận, đổ hờn lên chồng, vợ ?  Gần mực thì đen là thế, nhưng ở đây hơn cả gần vì đang dìm mình trong mực, hỏi làm sao tránh khỏi đen đúa ?
Môi trường tốt cũng như làn khí trong lành, không ô  nhiễm. Những đổi thay làm đổ vỡ hôn nhân hầu hết đều do ảnh hưởng xấu của môi trường  xấu. Chị vợ đua đòi chưng diện, anh chồng dở chứng “tứ đổ tường”  hầu như đều bắt đầu bằng ham muốn “phải bằng anh bằng chị”, không chịu thấp cơ, thua kém ai. Và khởi đầu đua đòi ấy đã kết thúc bằng thảm họa ly dị, khi hai người không còn nhận ra nhau như hai người bạn đồng hành tay trong tay, vai sánh vai, lòng bên lòng, đồng tâm nhất trí trên đường tìm Hạnh Phúc.    
c.    Vì hai siêu vi trùng cực nguy hiểm : gian dối và bạo lực:
Hạnh phúc là em bé rất ngây thơ, thành thật. Em bé Hạnh Phúc không biết  ăn gian, nói dối, và rất sợ bị người khác lừa gạt. Vì thế, em bé Hạnh Phúc rất kín đáo, thường e ấp dấu mình và tế nhị, chân thành khi lộ diện. Em dị ứng với những gì không thật. Không thật với em được hiểu như không yêu em, và gian dối là độc dược giết chết em. Em bị đột tử khi chồng bị vợ phát giác có bồ nhí, có con rơi, có em út chân dài, có nuôi “gà móng đỏ” . Em bị “nhồi máu cơ tim”  bất đắc kỳ tử, nếu chẳng may chồng biết vợ đang nằm trong tay người đàn ông lạ, hay đang đầu tư nuôi trai tơ. Và tất cả những gì không thật khác như mánh khóe, gian lận, lừa đảo tiền bạc, của cải… đều làm em ngã bệnh trầm trọng.
Bên cạnh gian dối là bạo lực. Em bé Hạnh Phúc, vì bé  bỏng nên sợ bị bạo hành,  đánh đập. Ông chồng mà “thượng  cẳng tay, hạ cẳng chân”  là em bé Hạnh Phúc bỏ nhà đi ngay. Chị vợ mà đanh đá, dữ dằn, chanh chua nhiếc mắng chồng không mỏi miệng là xua đuổi em tứ khắc. Là Hạnh Phúc, em không thích sống trong bạo lực, với đám vũ phu, và gian dối.
Không biết bao nhiêu gia đình đã tan nát vì vợ chồng không tin nhau, hoặc hung dữ bạo hành. Tình yêu vợ chồng đặt trên nền tảng của lòng tin và tình âu yếm, dịu dàng. Gian dối giết tình yêu, cũng như bạo lực làm  hạnh phúc chết ngạt. Cả hai không cho tình yêu sống, và hạnh phúc tồn tại, nên dù tình yêu trước đó có đẹp đến đâu, chuyện tình có thơ mộng lý tưởng  cỡ nào  cũng đành buông tay nhắm mắt  vì sức tàn phá không gì có thể đề kháng của siêu vi trùng gian dối và bạo lực.   
d.   Vì vợ, chồng có qúa nhiều tính xấu:
Không ai là thánh, nên sức chịu đựng của mỗi người đều có giới hạn. Sống chung với một người không bỏ sót một tính xấu nào thì có Trời cũng phải bỏ trốn. Nết xấu hay tính tốt là do luyện tập. Sống ươn lười, bê tha, hung dữ, gian xảo, lăng loàn là sống theo bản năng, mà đã trót làm người tất phải chế ngự chúng, nếu không con người sẽ không hơn con vật. Ý thức tốt xấu và  ý chí tự do cho phép con người vượt trên bản năng khi làm chủ chính mình để sống đúng nhân phẩm, nhân vị, nhân cách. Chính những  “Nhân” này làm con người là người đích thực, người cao cả, người cao thượng, người cao qúy.
Có những tính xấu bỏ qua được, nhưng  có những nết xấu làm chết người, giết hạnh phúc, ngăn chặn  đường tương lai như ghen tuông vô cớ, tham lam vô độ, và lẳng lơ, sàm sỡ vô duyên.
Người ghen tuông vô cớ  là người ích kỷ vì luôn muốn sở hữu người mình yêu. Ghen tuông với bất cứ ai, ghen tuông vì bất cứ lý do lớn nhỏ nào, ghen tuông không suy nghĩ để tìm căn cớ, nguyên nhân, người ghen tuông vô cớ hủy hoại hạnh phúc của chính bản thân mình vì cơn điên rực lửa ghen tuông không ngừng thiêu đốt tâm hồn; đồng thời nghiền nát người mình yêu vì  sở hữu họ một cách bệnh hoạn và mù quáng. Thực ra, người ghen tuông vô cớ  không yêu ai, nhưng chỉ yêu mình. Họ bực tức, khổ sở khi ghen tuông chỉ vì sợ mất quyền làm  chủ nhân duy nhất trên vợ chồng mình.
Người tham lam vô độ cũng là người ích kỷ.  Chỉ nghĩ về mình, chỉ vun vén cho mình, chỉ một mình hưởng thụ nên mới vô độ tham lam. Đã tham lam thì chẳng bao giờ chia sẻ, nên làm chồng, vợ của  người tham lam, người ta suốt đời  chẳng được sẻ chia. Người tham lam vật chất cũng là người tham lam tinh thần. Ở họ, chẳng ai được gì và mọi người chỉ là những mồi ngon thoả mãn lòng tham không đáy, vô độ của họ.
Lẳng lơ, sàm sỡ vô duyên tưởng chỉ là thiếu sót nhỏ, không ảnh hưởng lớn trên hạnh phúc lứa đôi, nhưng thực tế, đó là những mũi dao sắc nhọn làm mất máu hạnh phúc hôn nhân nhiều nhất.
Người vợ lẳng lơ không được gọi là người vợ hiền thục, đằm thắm, đoan trang, tế nhị. Nàng sẽ làm gia đình xào xáo vì những quan hệ dễ dãi, hời hợt tuy bề ngoài xem ra không trầm trọng, nhưng thực tế  sẽ kín đáo làm  tình yêu và hạnh phúc  của vợ chồng hao mòn mất máu. Người chồng sàm sỡ thì dù có duyên đến mấy cũng chỉ là anh chàng vô duyên khi những lời trăng hoa, tán tỉnh rẻ tiền nhưng nặng ý tứ của anh làm tan hạnh phúc gia đình, như người ta không vấp ngã vì một ngọn núi sừng sững trước mặt, nhưng té ngã vì viên sỏi, cục đá. Những chuyện nhỏ tưởng linh tinh như vài ba câu bông đuà, không ý tứ có thể là nguyên nhân chính dẫn đền ly tán gia đình một ngày.      
e.    Vì không cùng quan niệm sống, không cùng chính kiến, không cùng khát vọng thiêng liêng, không cùng ước mơ lý tưởng.
Tất cả những khác biệt luôn có thể làm phong phú hai người yêu nhau, nếu cả hai ý thức mình cần được bổ túc bởi người bạn đường, và mình cũng góp phần làm giầu cho người ấy bằng những “cái khác” chỉ riêng mình có. Hãy nhìn cơ thể của nam và nữ, ta sẽ thấy Thượng Đế tạo hai người nam - nữ rất khác biệt, nhưng nếu không khác biệt thì lấy gì để quyến rũ, thu hút nhau. Nếu nàng có hết những gì chàng có, và ngược lại chàng chẳng thiếu phần thân thể nào của nàng thì hỏi hai người sẽ có gì riêng biệt để cho nhau, có gì bí mật để lôi cuốn, “mời mọc” nhau ? Thượng đế khôn ngoan và lãng mạn đã để những khác biệt ở  người nam và người nữ , để họ mê say khám phá nhau, ngụp lặn hạnh phúc trong đại dương bí mật của nhau, và mãi mãi đắm đuối mạo hiểm cuộc đời nhau.  Khác biệt của vợ chồng  qủa thật huyền nhiệm, tuyệt vời !
Nhưng những khác biệt về quan niệm sống, chính kiến, khát vọng thiêng liêng, ước mơ, lý tưởng, nếu không được cả hai đồng thuận trong suy nghĩ vừa kể sẽ dẫn đến nhiều mâu thuẫn, đối kháng trong đời sống chung. Chồng sẽ khó chiều được vợ, và vợ cũng sẽ bó tay, nếu suốt ngày “ông nói gà, bà nói vịt”, rồi to tiếng tranh đấu, giằng co.
Vì thế, vợ chồng không nên coi thường những bất đồng, dù là những bất đồng nhỏ. Chúng nhỏ nhưng rì rỏ đêm ngày cũng sẽ lấy hết máu của tình yêu và làm cạn kiệt nhựa sống của cây xanh Hạnh Phúc. Đừng quên tình yêu, hạnh phúc hôn nhân rất khó nuôi, nên chỉ sơ ý, vô tình, tình yêu có thể đau bệnh và hạnh phúc vỡ tan.
f.     Vì trục trặc trong sinh hoạt chăn gối:
Một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến ly dị là những trục trặc trong sinh hoạt chăn gối. Vợ chồng không chỉ hạnh phúc vì có người chia sẻ tâm tình buồn vui, ước mơ, hoài bão, mà còn  hạnh phúc vì được chia sẻ thân xác nhau. Chuyện ăn nằm, ân ái là chuyện rất quan trọng trong đời sống hôn nhân, vì hôn nhân tìm được nguồn khoái cảm tuyệt vời trong hảnh động ân ái, giao hợp. Lấy chồng mà không được hưởng hạnh phúc làm vợ thì thật đáng thương một đời con gái đi lấy chồng. Lấy vợ mà không được thoả mãn nhu cầu sinh lý với vợ thì qủa thực không còn gì ấm ức, bực bội, chán nản hơn. Chuyện vợ chồng gần gũi thân xác là chuyện phải được cả hai người quan tâm, để những giây phút nằm bên nhau trở thành  thời gian thư giãn, khoảng khắc bình an, thời điểm biểu lộ trọn vẹn và tuyệt vời tình yêu dâng hiến cho nhau. Chính trong bầu khí thân mật, riêng tư của vợ chồng, hạnh phúc hôn nhân được thăng hoa, nở rộ.
Khó có thể là người chồng hoàn hảo trong sinh hoạt chăn gối, cũng như khó là người vợ tuyệt vời khi ân ái, gần gũi chồng. Đó là ý nghĩ tiêu cực thường  ám ảnh vợ, chồng . Những ý nghĩ tiêu cực phát sinh từ một vài khiếm khuyết trong những lần ân ái đã hằn sâu trong tâm trí vợ, chồng và ảnh hưởng không tốt đến sinh hoạt chăn gối. Vì thế, việc đầu tiên vợ, chồng phải làm, đó là xóa khỏi tâm trí mặc cảm “yếu xìu, thiếu kinh nghiệm, bất lực, không đủ sức” để vui vẻ, thoải mái chia sẻ hết tình và hết mình với chồng, vợ sinh hoạt ân ái. Thực ra, khả năng đem lại hưng phấn, hạnh phúc tuyệt vời cho người bạn đời không chỉ hệ tại ở kỹ năng, nhưng phần lớn do thái độ nhiệt tình, tình cảm nồng nàn, cử chỉ âu yếm, hành động cưng chiều và lòng tôn trọng, hỗ tương nhau.
Vì nắm giữ vai trò quan trọng trong hạnh phúc hôn nhân, sinh hoạt chăn gối của vợ chồng không được trở thành nhàm chán, không hứng thú, thiếu sáng kiến như gánh nặng phải mang. Hãy biến những lần ân ái thành những cuộc mạo hiểm kỳ thú ở đó cả hai người cùng hăm hở, say mê khám phá kho tàng hạnh phúc. Có như vậy, hôn nhân mới đứng vững và phong phú triển nở, tránh được đổ vỡ, ly tan bằng đọan kết ly dị.
Như thế, ly dị có nhiều bộ mặt, nhiều nguyên nhân, nhiều động lực khác nhau, nên sẽ không có hai cuộc ly dị y hệt nhau, như chẳng bao giờ có hai cuộc tình với những người tình  cùng một “kích thước” thân xác và cùng “trọng lượng”  tâm hồn. Đó là lý do không ai có thể phán xét một cuộc ly dị mà không sợ sai lầm, hồ đồ, phiếm diện, thiếu công bình. Mỗi cuộc ly dị là một hoàn cảnh duy nhất, đặc thù, không thể lặp lại, so sánh, vì có hai chuyện tình nào hoàn toàn giống nhau ?
Qua một vài nét về ly dị, chúng ta có được cái nhìn tổng quát về hiện trạng ly dị ngày càng đáng báo động. Điều này thúc đẩy chúng ta đề cập những vấn đề của hậu ly dị, tức tìm những giải pháp thích hợp để đời sống ly dị không trở thành ngõ bí, đường cụt cũng thê thảm, nặng nề, và ngột ngạt như những tháng ngày tiền ly dị.




HẬU LY DỊ

Lời Ngỏ!
Tôi còn nhớ, ngày xưa khi còn bé, nghe đến hai chữ ly dị là mắt mẹ tôi trợn trừng bực bội, vì bà cụ gớm ghiếc chuyện vợ chồng bỏ nhau, kinh tởm cảnh ly thân, ghét cay ghét đắng những ai ly dị và kịch liệt lên án những ý đồ đem nhau ra toà xé hôn thú.
Mẹ tôi qua đời đã gần mười năm. Chỉ trong mười năm gần đây, con số ly dị tăng vọt với tốc độ chóng mặt và thống kê mới nhất của Pháp cho ra con số làm lạnh xương sống những ai sắp bước vào đời hôn nhân : 37,8 % các cặp vợ chồng ly dị sau 5 năm  chung sống.
Ba mươi bẩy phẩy tám phần trăm là tỷ lệ ngất ngưởng và làm chóng mặt nhiều người, nhất là các bậc cha mẹ, trong số đó có mẹ tôi. Và tôi  không biết nếu mẹ  còn sống, liệu bà có chịu nổi khi nghe nhiều cháu của bà đã ly dị, nhiều gia đình trong xóm đã tan vỡ, nhiều người quen biết có con ly thân hoặc chính họ cũng đã vừa giải quyết xong chuyện gia đình bằng phương án ra toà ly dị.
Thế giới hôm nay thay đổi rất nhanh và tận căn gốc. Ly dị ngày xưa là điều cấm kỵ. Gia đình có người ly dị bị bà con thân tộc, láng giềng khinh chê, và người ly dị rất khó hội nhập vào đời sống xã hội. Ly dị ngày nay là chuyện bình thường, « không có gì phải ầm ĩ » đôi khi còn được coi là thời trang ăn khách, thức thời, hợp thời, chịu chơi, nắm bắt trào lưu, theo kịp thời đại…Ngày xưa ly dị là điều không nên, đáng buồn, đáng trách. Ngày nay ly dị là chuyện nhỏ giữa hai người, và đơn thuần là cách giải quyết đơn giản, nhanh chóng, gọn nhẹ mâu thuẫn vợ chồng. Ngày xưa để ly dị phải mất ít là một năm với đủ thủ tục rắc rối và nhiều lần gặp gỡ để hoà giải. Ngày nay chỉ cần một tháng,  hầu toà mươi phút, nếu cả hai đồng thuận chia tay.
Những nguyên nhân đưa đến ly dị cũng thay đổi nhiều. Ngày xưa nguyên nhân phải chính đáng, rõ ràng, thực sự. Ngày nay, chỉ cần cảm thấy chán là có thể  nộp đơn ly dị. Người ta ly dị dễ dàng với bất cứ một lý do cỏn con nào, một câu chuyện bá láp, tàm xàm  cũng có thể được thổi phồng, phóng đại thành những nguyên nhân lớn, nhân tố quyết định dưới bình phong nhân quyền, lớp áo nhân vị, lá bùa nhân phẩm để đạt mục đích ly dị.       
Như thế, nguyên nhân ly dị, thủ tục ly dị, quan niệm về ly dị đã thay đổi và  thuận lợi cho người ly dị, nhưng những vấn đề hậu ly dị, những việc phải làm sau ly dị, những khó khăn phải giải quyết khi hôn thú đã được chính thức xé bỏ vẫn còn là vết thương làm nhức nhối và là nan đề đối với hai người trong cuộc. Họ vẫn nặng một quá khứ, vẫn chênh vênh một nỗi niềm, vẫn choáng váng một thất bại, và vẫn mê mê tỉnh tỉnh một cơn say. Hai người ly dị vì thế ít nhiều sẽ mất quân bình tâm lý, vì thế thăng bằng xã hội vừa bị sụp đổ.
Tập chia sẻ đến với bạn như bàn tay người bạn đường luôn yêu thương và sẵn sàng đồng hành. Bàn tay ấy xin được nắm chặt tay bạn trên đoạn đường tạm gọi là gập ghềnh, khó đi của thời hậu ly dị với ước mơ trao gửi bạn tâm tình tương kính, cảm thông,  chia sẻ. Nhờ đó, chúng ta sẽ vượt qua nhiều cạm bẫy nguy hiểm của khúc quanh hậu ly dị này.
Jorathe Nắng Tím

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (9)


ĐỘC CHIÊU
Ngay từ buổi đầu tạo dựng, khi chỉ có hai ông bà nguyên tổ Ađam, Evà với Thiên Chúa trong vườn địa đàng, thì ma qủy đã sử dụng “độc chiêu” chia rẽ nội bộ bằng gây mâu thuẫn, hiểu lầm giữa những người thuộc về nhau, cùng nhau làm việc, cùng cộng tác thực hiện một công trình chung. Và “nạn nhân” của chiêu độc đầu tiên do Satan tung ra chính là Thiên Chúa và ông bà nguyên tổ, tiếp theo là hai con của ông bà: Cain và Aben.
Khi tung độc chiêu chia rẽ lần thứ nhất trong lịch sử nhân loại, Satan đã đánh vào tương quan giữa con người với Thiên Chúa, vì đây là tương quan thiết yếu, nền tảng của tất cả các tương quan khác, bởi con người chỉ hiện hữu trong tương quan là thụ tạo đối với Thiên Chúa là Đấng Chủ Tạo, và Adam - Evà chỉ có mặt trong địa đàng, do tương quan con cái được sinh ra bởi người cha Thiên Chúa. Vì thế, tương quan mà Satan và bè lũ cần phải ưu tiên đánh phá, hủy diệt đầu tiên, chính là tương quan Chủ Tạo - Thụ Tạo và Cha - Con giữa Thiên Chúa và con  người.
Bởi tương quan nào cũng được xây trên nền tảng tình yêu hiệp nhất, tình yêu tin tưởng, tình yêu sự thật, nên độc chiêu phân ly, chia rẽ luôn được cấu trúc bằng những ganh ghét, ghen tương, gian dối, ngờ vực để bẻ gẫy tương quan tin tưởng, cắt đứt tương quan hiệp nhất, và  xóa bỏ tương quan sự thật, như Satan đã áp dụng chiến thuật cám dỗ Evà.
Satan đã đánh trúng điểm yếu của Evà, đó là “muốn biết mọi sự như Thiên Chúa biết”. Biết như Thiên Chúa biết đồng nghiã với “đồng hàng, cùng đẳng cấp” với Thiên Chúa, điều mà “cựu tổng lãnh thiên thần” Luxiphe, cũng có tên là Satan đã mơ ước và thực hiện khi lôi kéo một số thiên thần nổi loạn khác chống lại Thiên Chúa, nhưng đã bị tổng lãnh thiên thần Micae tiêu diệt tống xuống hoả ngục (x. Kh 12,7-9).
Đánh trúng điểm yếu kiêu căng “muốn bằng Thiên Chúa” của Evà, Satan đã thành công ngoài sức tưởng tượng, khi phá vỡ công trình yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người mà Ngài luôn tin tưởng khi trao ban vinh dự và trách nhiệm “thống trị mặt đất” (St 1,28). Quyết định muốn biết những gì Thiên Chúa biết của Evà là hành vi phản bội trắng trợn của ông bà nguyên tổ, cộng sự viên thiết thân của Thiên Chúa. Việc làm phản bội, bất tuân và tự ý tách rời, chia rẽ khỏi Thiên Chúa của ông bà đã biến Thiên Chúa thành “nạn nhân” cùng với con người, khi toàn bộ kế hoạch, và công trình của Thiên Chúa đã được thiết kế với sự hợp tác tự do của con người từ buổi đầu Tạo Dựng đã bị tan vỡ, sụp đổ. Cũng vì thất bại này, Thiên Chúa đã nghĩ đến kế hoạch Cứu Chuộc sẽ được Đức Giêsu thực hiện, vì Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng và đến cùng, nên không nỡ để con người phải chết đời đời vì tội lỗi.
Cũng với “độc chiêu” này, Satan đã chiếm cứ trái tim Cain khi đổ đầy ghen tương, ganh ghét, và thúc đẩy Cain dùng bạo lực gây nên thảm cảnh “huynh đệ tương tàn”, bằng dụ em ra đồng và “xông đến giết Abel, em mình” (St 4,8).
Lần thứ hai sử dụng độc chiêu, Satan đánh phá tương quan giữa con người với con người, khác với lần trước: giữa con người với Thiên Chúa và lần này Satan cũng đã thành công khi máu Aben đã đổ và trở thành hình phạt cho Cain. Chỉ ma qủy là kẻ đã thắng cuộc, còn Cain và Aben, cả hai anh em đều là nạn nhân của độc chiêu chia rẽ, tiêu diệt của Satan.
Với độc chiêu chia rẽ, Satan và bè lũ tiếp tục áp dụng từ đó đến giờ và từ giờ cho đến tận thế. Chúng không có nhiều chiêu độc, chỉ một vài độc chiêu thôi, mà chia rẽ nội bộ, phá hoại các tương quan là độc chiêu hơn các chiêu độc khác.
Sở dĩ độc hơn các chiêu độc khác, vì chia rẽ nội bộ là cú đánh thôi sơn mang tính quyết định, bởi một khi nội bộ bị phân tán vì tranh giành quyền lợi hay ghen tương đố kỵ, cộng đoàn tan vỡ vì nghi ngờ, đấu đá, gia đình xào xáo, bất hoà vì kiêu căng, ích kỷ thì  không kế hoạch nào có thể thực hiện, cũng chẳng công trình nào có thể  đứng vững, tồn tại, kể cả chẳng cánh tay nào có thể chống đỡ. Bằng chứng là ngay cả công trình tốt đẹp ban đầu của Thiên Chúa với loài người cũng tan tành, sụp đổ.
Thực vậy, hầu hết những thất bại chua cay, ê chề của tổ hợp này, công ty nọ, cũng như đổ vỡ của cộng đoàn này, tổ chức kia đều có nguyên nhân từ chia rẽ nội bộ, vì chỉ cần một xích mích cỏn con, một bất đồng nhỏ cũng đả đủ làm nổ tung tất cả công trình mà tất cả đã dầy công xây dựng; chỉ cần tham vọng bất chính của một thành viên, hành động bất tín của một phần tử, ý đồ bất trung của một cộng sự cũng dư sức tạo thành đám cháy dữ dội, khủng khiếp đốt  hết mọi người và xóa sạch toàn thể cơ đồ.
Như những người từng trải nghiệm và là nạn nhân của độc chiêu chia rẽ do chính Satan đạo diễn, người môn đệ của Đức Giêsu thừa biết Satan là gian dối, ganh ghét, bạo lực, chết chóc, và với những ngón thâm độc này, Satan và bè lũ không ngừng và không mệt mỏi tìm cách phá hoại các tương quan giữa con người với Thiên Chúa, tương quan giữa con người với con người.
Để phá hoại tương quan giữa con người với Thiên Chúa, chúng gieo vào lòng con người mối nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa và tình yêu của Ngài dành cho con người. Để thực hiện mục tiêu trên, chúng tìm cách đưa chính con người lên hàng Thiên Chúa, như đã thổi hơi kiêu căng cho Evà, khi khích bà cần phải ăn trái cấm để biết như Thiên Chúa biết, cho đến khi con người mất hết ý niệm về Thiên Chúa, mà chỉ còn ý niệm: con người là thiên chúa của chính mình. Nói cách khác, ma qủy chia rẽ con người xa khỏi Thiên Chúa bằng gieo vào lòng người ý nghĩ: chính con người tạo nên Thiên Chúa, chính con người đúc tạc Thiên Chúa như ý mình, và ý muốn của con người là được tự do thoả mãn mọi khao khát của dục vọng. Và để thực hiện, chúng bắt đầu bằng biến Thiên Chúa thành tác giả của mọi tai ương, đau khổ của con người, và nặng lời quy trách Thiên Chúa đã dựng nên con người để hành hạ con người, để rồi kết án Thiên Chúa là tên tội đồ gian ác, kè thù của nhân loại cần phải xoá tên.
Triệt tiêu được tương quan giữa con người với Thiên Chúa, Satan tìm cách truy diệt tương quan giữa con người với con người bằng tạo ngờ vực, mâu thuẫn, đối kháng, hận thù dẫn đến kết luận sau cùng: “Người khác chính là hoả ngục của tôi”, người khác đe dọa hiện hữu của tôi, nên tôi phải tìm giết chết người khác bằng bạo lực, như Cain dã giết chết Aben, em mình.
Vâng, nhà truyền giáo, ngoài những khó khăn đối với bên ngoài, còn phải đối diện, đối đầu với những khó khăn nội bộ, giữa những người cùng làm việc, cùng cộng tác trong việc truyền giáo với mình. Không thể tránh những đụng chạm, kể cả đụng độ trong công việc chung; không thể cùng làm mà không có những bất đồng ý kiến; không thể cùng đi mà không có bước trước bước sau, nên nhà truyền giáo phải hết sức cẩn trọng để bảo vệ sự hiệp nhất nội bộ, gìn giữ tinh thần hiệp thông giữa anh em cùng lý tưởng, bởi Satan khi dụng độc chiêu, nó luôn chuẩn bị rất kỹ lưỡng theo quy trình rất độc:
1.   Triệt để khai thác điểm yếu của mỗi người:
Ma qủy có rất nhiều thời gian để chuẩn bị, và chúng chuẩn bị một cách rất kỹ lưỡng, chi tiết để khi phát súng lệnh nổ, thì mọi người coi như “nốc ao - knock - out”, không còn kịp trở tay, đối phó, và một trong những việc chúng chuẩn bị chu đáo nhất chính là điều nghiên điểm yếu của mỗi người. Điểm yếu có thể là vết chàm, vết nhám trong lý lịch của đương sự, như tội lỗi, sai phạm của đương sự còn được dấu kín, chưa ai hay, hoặc tham vọng đương sự đang háo hức, nôn náo tìm đường thực hiện.
Riêng về tham vọng thì ma qủy biết không ai không có, nên khai thác triệt để điểm yếu này: người tham vọng nhiều của cải thì có chiêu dụ dỗ vật chất, kẻ chạy đua danh vọng, chức quyền, ngôi thứ cũng sẵn cả lố “hàng độc » để chiêu dụ, rủ rê.
Đánh vào điểm yếu của từng thành phần, Satan đốt nóng tị hiềm bằng so sánh đương sự với người khác đang cùng làm việc, thổi to lửa đố kị bằng kích thích lòng ham muốn vượt cao, vượt xa mọi người ở đương sự, khi đưa ra những mối lợi khổng lồ và hứa hẹn một tương lai huy hoàng, ngời sáng, để thúc đẩy đương sự đi vào quy trình chia rẽ, phản bội khởi đầu bằng những bực bội, bức xúc vu vơ,  bất mãn vô căn cớ, yêu sách chung chung, ý kiến mơ hồ, nhập nhằng và kết thúc bằng bất hoà, bất hợp tác, bất tuân phục, bất kể “ân sâu nghiã nặng », bất cần tình huynh đệ, bất xét công trình chung đã vất vả xây dựng, bất chấp lý tưởng, đường hướng cao đẹp đã cùng đi. 
2.   Thời điểm  chống phá:
Sau khi đã “dọn lòng” từng người như đã dọn lòng Evà khi rỉ rả: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết  ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,5), Satan sẽ cẩn thận chọn thời điểm thuận lợi nhất để “tung chưởng” tấn công. Tất nhiên thời điểm phải trùng khớp với cơ hội tốt nhất phục vụ mục tiêu chia rẽ nội bộ, phá nát tương quan, đốt cháy tình liên đới, gây rối lọan, hoang mang, tạo khủng hoảng ở mọi lãnh vực, bình diện.
3.   Đánh lận con đen, tung hoả mù để làm lạc hướng:
Khi độc chiêu đã tung ra, Satan cần làm cho người trong cuộc, nhất là những người vô tư, còn phân vân, do dự, chưa nắm rõ vấn đề, chưa đứng hẳn vào hàng ngũ đối thủ hay đồng minh thấy rằng việc cải cách, thay đổi nội bộ chỉ là việc cần thiết phải thực hiện vì ích lợi chung, cho tương lai lâu dài và bền vững của tổ chức, cộng đoàn, chứ không có mục đích nào khác.
Sử dụng chiêu bài “lợi ích chung” là chiêu bài quen thuộc thường gặp ở bất cứ  xung đột, thanh trừng, phế lập nội bộ nào. Với chiêu độc này, người bên ngoài cộng đoàn, và ngay người trong cuộc cũng rơi vào trạng thái “bình an” cho đến khi tất cả tan tành, nát vụn, người ta mới nhận ra mưu thâm, “chiêu độc” của Satan, như Evà đã mang “ảo tưởng bình an” khi Rắn Satan đã qủy quái lái vấn đề “Thiên Chúa cấm ăn trái của cây ở giữa vườn” sang chuyện “biết điều thiện điều ác”, để Evà “bình an” trong ảo tưởng “mình là người chỉ muốn biết đâu là ác đâu là thiện”.
4.   Giảm thiểu tối đa mức nghiêm trọng khi bắt đầu, và gia tăng tối đa độ trầm trọng khi sắp đạt mục tiêu:
Để lôi kéo đồng minh, để nhiều người tiếp tay thực hiện công trình “chia rẽ nội bộ, phá hoại hiệp nhất”, Satan tránh làm người ta sợ, bởi nếu sợ, người ta sẽ không dám đầu quân vào hoạt động phá hoại, chia rẽ, sợ sẽ không ai dám liều mạng, sợ sẽ chẳng người nào dại dột đâm đầu vào lửa, vì e ngại mưu đồ chia rẽ chẳng may đổ bể  từ trong trứng nước.
Vì thế, ma qủy cất giấu rất kỹ, che đậy cẩn thận “độc chiêu” khi khởi sự, chỉ thập thò từ từ hé hộ, dần dần tăng tốc, cho đến khi mọi sự đã chín mùi, lòng người ngờ vực, ganh ghét đã bùng cháy, lúc đó Satan mới vận dụng toàn lực lượng để “dứt điểm” cho mọi sự vỡ tan, khi mà mọi người nhìn nhau như kẻ thù, tội đồ, kẻ phản bội, đứa phá hoại, tên chỉ điểm. Và thành công mỹ mãn của Satan là triệt phá tận nền móng tương quan yêu thương, kính trọng, tín nhiệm, hợp tác giữa anh em cùng lý tưởng, giữa thành viên cùng cộng đoàn, giữa phần tử cùng tổ chức, giữa cả những người đã tận hiến cho Thiên Chúa và đi chung một tuyến đường phục vụ.     
Chia sẻ về độc chiêu của Satan chính là vạch mặt ma qủy, và lột trần âm mưu  tách loài người ra khỏi Thiên Chúa, và thủ đoạn chia rẽ nhân loại, biến thế giới thành một hoả ngục khổng lồ vì giữa người với người không còn yêu thương, tín nhiệm, hiệp nhất, hiệp thông, cộng tác.
Chia sẻ chiêu độc của Satan cũng là tâm tình kính gửi người môn đệ của Đức Giêsu trên đường truyền giáo: tâm tình cảm thông những khó khăn trước sức tấn công vũ bão, kinh hoàng của ma qủy luôn nhắm thẳng vào sự hiệp nhất của cộng đoàn truyền giáo; tâm tình chia sẻ những ưu tư của các Đấng Bậc trong Giáo Hội trước nguy cơ của trào lưu thế tục ngày càng len lỏi sâu, rộng trong hàng ngũ môn đệ nhằm phá hoại  căn tính Hiệp Thông của Thân Thể Đức Giêsu là Giáo Hội.
Và xin Đức Giêsu phục sinh ban cho tất cả các nhà truyền giáo trái tim hiệp nhất, đôi chân vững chãi để luôn trụ lại trong tình yêu cộng đoàn, và bàn tay quảng đại để trao ban, đón nhận tình huynh đệ hiệp thông, như ý muốn và lời cầu xin của Đức Giêsu: “Lậy Cha, xin cho tất cả nên một, như Cha ở trong con, và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17,21). 
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2020

ĐỨC GIÊSU, ĐƯỜNG DẪN ĐẾN CHÚA CHA


Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5, Phục Sinh, Năm A
Không ai làm người mà không đi, không ai vào đời mà không lên đường. Bởi con người cần đi,  nên cả nhà vỗ tay   mừng  những bước chân chập chững  đầu đời của em bé; bởi đời là những con đường, nên hạnh phúc của cha mẹ là thấy con tìm được đường hạnh phúc, chọn đúng đường phải đi, khi đến tuổi trưởng thành vào đời.
Vì đời là những con đường, được làm nên bởi vô số  con đường: có đường ngắn, đường dài, đường thênh thang, đường trắc trở, đường hạnh thông, đường cùng bế tắc, đường đưa đến thành công, đường dẫn đến thất bại, đường bình an, hạnh  phúc, đường nguy hiểm, đe dọa, đường sự sống được  bảo đảm, đường nắm chắc sự chết, đường ngay thẳng, công chính, đường bất chính quanh co, đường nhân ái, vị tha, đường  ích kỷ, hận thù, bạo lực…  
Vì có qúa nhiều con đường, nên người ta phải chọn cho mình một  đường để đi, vì thời gian sống không cho phép mãi  do dự, chần chờ trước  nhiều con đường đan kín, chằng chịt trước mặt, và cũng không ai có thể kịp thời đến đích, nếu cứ liên tục thay đường, đổi hướng, nhưng phải dứt khoát chọn một con đường, quyết tâm đi trên một con đường tốt nhất, nhanh nhất, bảo đảm thành công, hạnh phúc nhất. Nếu không, cuộc đời sẽ mãi là “đường đi không đến”.
Thực vậy, có rất nhiều rủi ro để đường đời biến thành “đường đi không đến”: rủi ro chọn sai đường, rủi ro ảo tưởng về con đường mình chọn, rủi ro bị dụ dỗ vào tử lộ, đường chết, rủi ro không thoát ra khỏi đường nguy hiểm, đầy mìn chông, cạm bẫy, rủi ro “đi loanh quanh cho đời mỏi mệt”, mà chẳng bao giờ đến đích hạnh phúc.
Kinh nghiệm cho thấy: nhiều người trong chúng ta không cần phải chờ đến ngày hưu, tuổi già, giờ chết mới tiếc nuối con đường mình đã chọn, mới xót xa con đường mình đã đi, mới ân hận đã không chọn con đường tốt đẹp, mà ngay ở tuổi thanh xuân năng động, chúng ta đã phải sống tâm trạng buồn, và cay đắng, bẽ bàng ấy rồi.      
Xuống thế làm người với tình yêu vô cùng và đến cùng, Đức Giêsu đã muốn giải phóng nhân loại khỏi nỗi lo lạc đường, giải thoát con người khỏi nỗi buồn lầm đường lạc lối, bởi khi chọn lựa sai lầm “đường đời”, người ta không thể đạt đích bình an, hạnh phúc, như thánh ý Thiên Chúa khi tạo dựng con người: được sinh ra để hạnh phúc trong Thiên Chúa.
Chương trình của Đức Giêsu, vì thế, là chương trình đem đến hạnh phúc toàn diện cho đời con người được đặt trên nền tảng đức tin, mà không đặt trên cơ sở chính trị, hay xã hội bằng trở nên Đường dẫn con người đến với Chúa Cha, như Ngài đã hai lần khẳng định trong Tin Mừng Gioan của chúa nhật thứ năm Phục Sinh: “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,10-11). Và từ chân lý này, Ngài qủa quyết với các môn đệ: “Thầy là Đường, Sự Thật và Sự Sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6).
Ở đây, chúng ta thấy được kế hoạch của Thiên Chúa trong mối tương quan và tương trợ chặt chẽ giữa Đức Giêsu và toàn thể nhân loại, khi Đức Giêsu không chỉ là Thiên Chúa, mà còn là Con Người, để trở thành Đường của Thiên Chúa dẫn con người về với Thiên Chúa. Để thực hiện công cuộc là “con đường dẫn con người về với Chúa Cha”, Đức Giêsu tha thiết mời gọi các môn đệ của Ngài cùng hợp tác với Ngài để giải phóng con người  khỏi kiếp nô lệ toàn diện gồm cả thể lý, luân lý và thiêng liêng.   
Để hợp tác với Đức Giêsu là “Đường dẫn nhân loại đến với Chúa Cha”, các môn đệ được mời gọi “chuyên lo cầu nguyện, phục vụ Lời Thiên Chúa” (Cv 6,4),  phục vụ anh em (x. Cv 6,3), sau khi các ông nhận ra đây chính là di chúc của Đức Giêsu để lại cho các ông trước khi Ngài lên đường đi Giêrusalem chịu khổ nạn và chịu chết.
Thực vậy, sứ mạng của các môn đệ Đức Giêsu chính là loan báo Đức Giêsu, Con Đường Thiên Chúa trao tặng nhân loại, Con Đường dẫn nhân loại về với Thiên Chúa là Nguồn Cội và Cùng Đích của con người.
 Đi trên Con Đường Giêsu, chúng ta không lạc lối về quê nhà, không mất hướng về  mái ấm của Cha, không trệch đường về bến bờ Hạnh Phúc, bởi Đức Giêsu là Con Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống vĩnh cửu.
Đi với Đức Giêsu trên Đường của Ngài, trên Đường là Ngài, chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách của cuộc đời, vượt qua mọi phong ba bão táp của dòng đời, vượt qua mọi thách đố, cạm bẫy nguy hiểm của người đời, vì Ngài là  Đường Vượt Qua: vượt qua đau khổ đến vinh quang, vượt qua tội lỗi đến ân sủng, vượt qua kiếp nô lệ đến vinh dự làm con, vượt qua sự chết đến phục sinh khải hoàn.
Đi với Đức Giêsu trên Đường của Thiên Chúa dành cho con người, chúng ta được chính Đức Giêsu bảo đảm an toàn trên đường, và tới bến Thiên Đàng bình an, vì Ngài là Con Đường Cứu Độ trong chương trình Yêu Thương nhân loại của  Chúa Cha.     
Đi trên Đường của Đức Giêsu, với Đức Giêsu, chúng ta không sợ  sói rừng, cũng không sợ đói khát, vì Ngài là Mục Tử nhân lành bảo vệ đoàn chiên và dắt đoàn chiên đến đồng cỏ xanh tươi, bên bờ suối mát, để chiên được thoải mái, no nê (x. Tv 23).
Vâng, trước đường đời muôn lối, muôn ngả, người Kitô hữu chỉ có một Con Đường tuyệt vời là Đức Giêsu, Đường có Thiên Chúa đồng hành và dẫn đến Thiên Chúa. Con Đường này trăm phần trăm bảo đảm niềm vui sống của cuộc đời dương thế, vì người môn đệ luôn an tâm bước đi trong sự thật và sự sống, dù phải ở trong những tình huống khó khăn, nghiệt ngã. Con Đường mang tên Giêsu ấy cũng là con đường duy nhất và tuyệt đối bảo đảm cho người môn đệ hạnh phúc đời đời, vì không con đường nào có thể dẫn đến với Thiên Chúa, như chính Đức Giêsu đã  qủa quyết: “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6).
Chân nhận Đức Giêsu là Con Đường cứu độ, chúng ta không có quyền ích kỷ  một mình bước đi trên Con Đường ấy, nhưng sứ mệnh được trao cho những ai muốn đi theo Đức Giêsu, chính là hợp tác với Ngài để làm cho mọi người cũng nhận ra Ngài là Con Đường duy nhất đem lại sự thật, sự sống và dẫn con người đến với Thiên Chúa, bởi làm môn đệ Đức Giêsu, chính là được nhận vào “nòi giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người” (1 P,2,9), và kỳ công vô cùng lớn lao là Ngôi Lời đã “xuống thế làm người, chịu khổ hình, chịu chết và sống lại” để trở nên Đường cho mọi người đến được với Thiên Chúa.
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2020

XA MẶT CÁCH LÒNG

Hơn bao giờ hết, trong những ngày phải cách ly vì Covid: mọi người phải ở trong nhà, không ra ngoài đi lại, gặp gỡ, trừ trường hợp khẩn cấp. Mọi sinh hoạt thân hữu, đoàn thể, văn nghệ, thể thao, ẩm thực, nghề nghiệp, tôn giáo… đều phải ngưng lại và hạn chế tối đa đã tạo nên một tình trạng xa mặt: cha mẹ già không  gặp mặt con cháu như chúng vẫn quây quần, tụ họp ngày cuối tuần, thầy cô không gặp mặt học trò vì trường lớp đóng cửa đìu hiu, bạn bè không gặp mặt nhau vì càphê, quán xá then cài buồn bã, tình nhân không gặp mặt người tình vì đường phố cấm xe cộ lưu thông, cấm khách bộ hành qua lại, cha xứ  không gặp mặt giáo dân vì thánh lễ không được cử hành ở nhà thờ, sư trụ trì không gặp mặt phật tử vì chuà chiền không mở cửa đón thiện nam tín nữ đến lễ Phật, nghe giảng kinh. Đó là chưa kể tình trạng cách ly giữa các quốc gia. Nhưng đau thương hơn cả là các bệnh nhân Covid không được gặp mặt thân nhân suốt thời gian cách ly chữa trị, cả những người chết vì Covid cũng không được đông đảo thân nhân, bạn hữu đưa tiễn đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Qủa thực, thời gian cách ly vì Covid làm chúng ta xa mặt, nhưng không cách lòng. Bằng chứng là tin nhắn, điện thoại giữa người thân yêu,  đồng nghiệp, đồng môn, đồng hương, đồng đạo… liên tục qua lại, trao đổi. Điện thoại qua lại hỏi thăm tin tức, gửi gắm tâm tình; trao đổi tin nhắn để nâng đỡ, củng cố niềm hy vọng, chia sẻ ưu tư, lo lắng. Và đó là điều rất đáng mừng và cần phát huy.
Nhưng điều đáng mừng và cần phát huy “tuy xa mặt mà không cách lòng” ấy sẽ đứng vững được bao lâu, khi nền tảng đạo đức bị đào bới bởi “cái tôi” kiêu căng, hợm hĩnh, ích kỷ, tham lam trong xã hội ngày càng phình to, tăng theo cấp số nhân, đến nỗi tìm một người khiêm tốn, có tinh thần vị tha trong xã hội hôm nay là việc khó thực hiện; điều qúy báu “dù xa mặt mà lòng vẫn không cách” sẽ tồn tại mãi không, khi gốc rễ của lòng lương thiện, tính thật thà, tâm hồn cao thượng đang bị cầy xới, và người ta không còn dám tin tưởng nói cho nhau sự thật, chia sẻ tâm tư, trao đổi tâm sự; ở đâu sẽ là nơi bảo đảm cho “xa mặt mà không cách lòng”, khi gian dối, lọc lừa, giả mạo len lỏi trong mọi ngõ ngách sinh hoạt của đời sống, như những vi khuẩn độc hại len lỏi trong từng đường gân, mạch máu con người của thời đại duy vật, thực dụng; và bao nhiêu người còn dám kỳ vọng một tương lai “không xa mặt, cách lòng”, khi hiện tại là những bạo hành táo tợn trong gia đình, những thanh trừng băng đảng, cướp bóc đẫm máu ngoài xã hội, những màn đánh ghen, đòi nợ dã man, tàn nhẫn làm ghê tởm, sợ hãi. Và tình nguời ngày càng cạn khô làm “xa mặt cách lòng”, tình đời ngày càng phũ phàng, bạc bẽo làm mặt đã xa, lòng càng muốn cách.
Vâng, Covid cho chúng ta kinh nghiệm buồn vì xa mặt, nhưng kinh nghiệm buồn cảnh báo chúng ta một nỗi buồn lớn hơn gấp nhiều lần, nếu phải cách lòng nhau, khi con người không còn tin nhau, không còn trọng nhau, không còn thương mến nhau, để rồi có gần sát bên nhau vì nhà chật chội, có phải ở chung một phòng trọ vì không đủ tiền thuê riêng, có ngồi chung một văn phòng, có làm chung một công việc, có đi chung một chuyến xe, chuyến đò cũng vẫn thấy “xa mặt cách lòng”, vì chẳng ai muốn nhìn mặt ai, không ai muốn thấy mặt người bên cạnh, nên tình phải lạnh lùng, dửng dưng, hồn phải băng giá, hờ hững, tim phải hoang vắng, cô quạnh như lòng ngàn dặm cách xa, vì chẳng còn ai thương ai, nhớ ai, cũng không còn người ra vào khắc khoải ngóng trông hình bóng cũ và nhớ nhớ, thương thương.    
Ước gì chúng ta sẽ không phải sống thêm thảm cảnh đau lòng khác là “cách lòng”, sau thảm cảnh “xa mặt” vì Covid hôm nay.
Jorathe Nắng Tím