Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (10)

                                          SỰ CHẾT VÀ SỐNG LẠI
Không gì vô duyên hơn khi nói chuyện chết với người trẻ đang tràn đầy, sôi sục nhựa sống. Nhưng vì chết không xa lạ và không ở ngoài bản tính con người, nên hạnh phúc “làm người” không ở với những người sống mà quên mình sẽ chết, bởi chỉ biết mình sẽ chết, người ta mới có thể sống đẹp, sống hết mình, sống hết tình, sống hạnh phúc. 
Có một điều mà ai cũng nhận ra, đó là ở thời đại văn minh vật chất và trong xã hội thực dụng, hưởng thụ, sự chết xem ra ngày càng được cẩn thận che đậy, giấu kín: những đám tang không còn là “biến cố” quan trọng kéo chú ý, quan tâm, nghi thức an táng cũng đơn giản, vắn gọn, và người ta tránh né đề cập đến người chết, cái chết, làm như muốn xóa khỏi tim óc con người ý thức về sự chết như kết thúc không thể tránh ở cuối đường đời.
Người ta tránh né bàn về sự chết, vì người ta sợ chết, bởi chết kinh khủng qúa, khi phải từ bỏ tất cả, không chỉ từ bỏ những gì “mình có” như người thân yêu, của cải qúy giá, cuộc sống hấp dẫn, sinh động, mà còn phải từ bỏ cả những gì “mình là”: là người, là con, là cha, là mẹ, là nhân vật này, là siêu sao kia, là thần tượng nọ của bao nhiêu người. Người ta sợ chết vì chết là “dấu chấm hết” to đùng, vĩnh viễn: chấm hết sự sống, chấm hết thời gian có mặt, chấm hết không gian chiếm hữu, chưa kể chết đưa vào “hư vô”, ném vào một “trạng thái, một không gian” hoàn toàn không biết, không tiên liệu, không thể tưởng tượng. Nhưng đáng sợ hơn là phải giã từ, vĩnh biệt thế giới quen thuộc, thân thương với nhiều kỷ niệm, thế giới tuy buồn nhiều hơn vui, khổ nhiều hơn sướng, nhưng không ai muốn rời bỏ, đánh mất.
Thực ra, người ta không sợ chết cho bằng sợ không được sống nữa, bởi mất sự sống mới là đe dọa làm con người sợ chết khi “hiện hữu” hoàn toàn bị hủy diệt, tiêu tan; bởi không còn được sống nữa mới thực là thảm họa lớn và kinh hoàng  đối với con người, khi hữu thể không còn để lại một tàn dư, dấu vết. Vì sợ không còn được sống, nên dù kiếp sau có hoá thân, hoá kiếp thành rắn rít, chim cò, sâu bọ, người ta vẫn vui vẻ chấp nhận, vì còn được sống hơn phải tan biến vào hư vô; vì sợ không còn được sống, nên người ta phải hy vọng vào một “nơi nương tựa,  một chỗ dựa dẫm” khi mường tượng hồn sẽ “nhập” vào ai đó để được ở lại sống với thế gian, dù vất vưởng, lang thang, “ăn nhờ ở đậu”; cũng vì sợ chết, phần đông bám víu vào một tôn giáo, mà đức tin chỉ được coi và có giá trị như giải pháp trị liệu nỗi lo sợ “phải chết”.
1.   Chết và sống lại với người Kitô hữu: 
Đối với người Kitô hữu, Thiên Chúa không là “ý niệm” phát sinh từ sợ chết, và đức tin không phải thần dược lấy đi nỗi sợ này, vì Thiên Chúa của người Kitô hữu “không là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mt 22,32). Ngài còn “là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25), nên sự chết chỉ là một bước cần thiết dẫn từ sự sống này vào sự sống sắp tới, từ sự sống đời này vào sự sống đời sau, từ sự sống có giới hạn vào sự sống vô hạn, từ sự sống tạm thời vào sự sống vĩnh cửu, đời đời.
Sở dĩ con người sẽ có một đời sống vĩnh cửu, đời đời, vì linh hồn của mỗi con người có tính thiêng liêng, bất tử, là nguyên lý của sự sống, đã làm cho thân xác vốn là vật chất được trở thành “con người sống động”. Linh hồn ấy được ban trực tiếp từ chính Thiên Chúa là nguồn sống, trong khi thân xác được tạo nên từ cha mẹ, do sứ mạng được cộng tác với Thiên Chúa để sinh sản cho đầy mặt đất những con người (x. St 1,28). Bởi linh hồn và thân xác không là hai thực thể đối nghịch, nhưng là một thực thể duy nhất làm nên một bản tính duy nhất, nên lúc chết, tuy thân xác tan biến vì là vật chất, trong khi linh hồn không bị hủy hoại, tiêu tan vì thiêng liêng, bất tử, nhưng cả hai sẽ hiệp nhất với nhau, ở ngày sống lại sau hết, như hình ảnh trong sấm ngôn của ngôn sứ Êdêkien: “Tay Đức Chúa đặt trên tôi. Đức Chúa dùng thần khí đem tôi ra, đặt tôi giữa thung lũng; thung lũng ấy đầy xương cốt…” Bấy giờ, Người bảo tôi: “Ngươi hãy tuyên sấm trên các xương ấy; ngươi hãy bảo chúng: Các xương khô kia ơi, hãy nghe lời Đức Chúa. Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này với các xương ấy: Đây Ta sắp cho thần khí nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến thịt mọc trên các ngươi, sẽ trải da bọc lấy các ngươi. Ta sẽ đặt thần khí vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa” (Ed 37,1. 4-6).
Và sau này thánh Phaolô đã nhắc lại: “Đây tôi nói cho anh em biết mầu nhiệm này: không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn vang lên. Vì tiếng kèn sẽ vang lên, và những kẻ chết sẽ trỗi dậy mà không còn hư nát; còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi. Qủa vậy, cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt; và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1 Cr 15,51-53).  
Chúng ta cũng có thể dùng hình ảnh “hoa hướng dương”, một loại hoa chỉ nở rực rỡ khi nhận ánh sáng từ tia nắng mặt trời, và luôn hướng về mặt trời để diễn tả phần nào linh hồn là “hơi thở của Thiên Chúa” trong con người, và con người chỉ hạnh phúc khi hướng về Ngài, bởi con người được Ngài dựng nên và thuộc về Ngài, như thánh Phaolô đã viết: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14,6-7).
Vì thế, không có phút giây nào con người không thuộc về Thiên Chúa, vì vận mạng con người hoàn toàn ở trong tay Thiên Chúa, và sự chết, trước “Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống” sẽ chỉ là một bước vượt qua từ sự sống này vào sự sống đời sau nhờ được Thiên Chúa làm cho sống lại. Chính ở bước Vượt Qua cần thiết này mà người Kitô hữu hiểu được con người là ai và giá trị của sự chết, bởi  nhờ sự chết, chúng ta mới vào được đời sau bất tử.
Ngày nay, nhiều người không muốn tin vào mầu nhiệm sống lại đã được chính Đức Giêsu qủa quyết trong Tin Mừng: “Chính Thầy là là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26), “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54).
Như đã trình bầy ở phần trên, sở dĩ người ta chuộng “hoá kiếp, luân hồi” hơn sống lại, vì luân hồi, hóa kiếp sẽ được trở lại trong thế giới này, thế giới  đã sống trước đó nên quen thuộc, thế giới ở đó sẽ được “sống tiếp” chính nơi mình đã sống, gặp lại những người đã quen. Nhờ quen biết, quen thuộc, quen thân, quen đường quen lối, nên dù có phải hóa kiếp làm “thân gì” đi nữa, con người được hoá kiếp cũng vẫn đỡ lo, bớt sợ hơn “sống lại”,vì được trở lại thế giới đã quen biết, quen thuộc. Chính ý nghĩ chơi vơi không biết “sống lại” thế nào, “sống lại” ở đâu đã là nguyên nhân làm sợ và làm nhiều người tránh đặt vấn đề mầu nhiệm sống lại của Kitô giáo.
Cũng cần minh định: trong đức tin Kitô giáo, ý tưởng linh hồn của thân xác người này nhập vào thân xác của người kia là điều không thể chấp nhận, vì thân xác của chúng ta không là vỏ bọc, lớp áo mà người ta có thể thay đổi, cũng như linh hồn là linh hồn riêng biệt của từng thân xác, nên với người Kitô hữu, con người là một thực thể duy nhất gồm linh hồn và thân xác được hiệp nhất với Đức Giêsu.
2.   Đức Giêsu sống lại:
Tin Mừng Luca thuật lại sự kiện Đức Giêsu sống lại từ cõi chết như sau: “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giêsu đâu cả. Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ. Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại” (Lc 24,1-7).  
Dựa vào trình thuật của cả bốn Tin Mừng, những người vô thần cho rằng: Biến cố sống lại của Đức Giêsu không thể xẩy ra, vì một đàng là điều không thể quan niệm với trí óc của con người, đàng khác, không ai đã thấy Đức Giêsu sống lại, không một chứng nhân nào đã tận mắt thấy Đức Giêsu bước ra khỏi mồ khi Ngài sống lại. Do đó, họ có lý do cho biến cố sống lại của Đức Giêsu họăc là “xác tín” bệnh hoạn của các môn đệ xuất phát từ khao khát mang tính thần bí, không tưởng, hoặc là kết qủa của ám ảnh về lời hứa “ngày thứ ba Thầy sẽ sống lại” của Đức Giêsu trong đầu các môn đệ, nên khi mấy người phụ nữ nhẹ dạ, mê tín chạy về báo tin: “Thầy đã sống lại”, các môn đệ của Đức Giêsu đã chớp lấy cơ hội để tung tin đánh lừa thiên hạ, và cũng là cách “tự cởi trói, giải phóng mình”.
Qủa thực, không ai đã thấy tận mắt Đức Giêsu khi Ngài bước ra khỏi mồ sau khi hòn đá bịt kín cửa mồ được lăn ra một bên, nhưng Tin Mừng đã ghi lại rất chi tiết: Đức Giêsu sống lại đã hiện ra với Maria Mácđala (x. Ga 20,11-18), với các môn đệ nơi các ông ở, khi cửa đều đóng kín vì sợ người Do Thái (x. Ga 20,19-23), với các tông đồ bên bờ hồ Galilê (x. Ga 21,4-23), với hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về Emmau (x. Lc 24,13-35), và sau này Phaolô không ngừng nhắc nhở các giáo đoàn: “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.” (1 Cr 15,3-8).  
Đó là sự kiện có thực, biến cố đã xảy ra trăm phần trăm, chứ không phải “xác tín” đến từ thị kiến hay giấc mơ nào, càng không là âm mưu ngụy tạo hiện trường sống lại để lừa bịp dân chúng như những người Do Thái thuộc phe chống Đức Giêsu đã nghi ngờ, vu khống, và lập mưu đánh lừa dư luận theo kế hoạch mua chuộc lính gác của các thượng tế và kỳ mục: “Các anh hãy nói thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự. Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dậy” (Mt 28,23-15).
Sự kiện sống lại của Đức Giêsu có thực, vì chính các môn đệ của Đức Giêsu khi được mấy phụ nữ chạy từ mộ về báo tin “Thầy đã sống lại” cũng đã nghi ngờ, không tin vì “cho là chuyện vớ vẩn” (Lc 24,11), cũng như đám đông đã sửng sốt, kinh ngạc khi Đức Giêsu phục sinh hiện ra với họ.
Biến cố phục sinh của Đức Giêsu đã xẩy ra công khai trước mắt nhiều người, ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có người đã không tin và Đức Giêsu đã quở trách lòng tin yếu kém của họ, như môn đệ Tôma và cho họ được sờ vào các vết thương trên  thân xác phục sinh của Ngài (x. Ga 20,24-29) để chứng thực không phải ma, nhưng là Ngài, và tất cả đều đã tuyên xưng: “Chúng tôi đã thấy Chúa phục sinh”, và  họ đã như môn đệ Gioan, “đã thấy và đã tin” (Ga 20,8).
Biến cố, sự kiện ấy không là phép lạ, như Đức Giêsu đã làm phép lạ cho Ladarô, và con trai bà goá thành Nain được sống lại, nhưng chính “thần tính, thiên tính” nơi Đức Giêsu được thể hiện. Nói cách khác, đây chính là lúc Đức Giêsu thực hiện quyền Thiên Chúa của Ngài trên tử thần, tội lỗi “để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1 Cr 15,54-55). 
Thực vậy, không ai đã tận mắt thấy Đức Giêsu sống lại, nhưng quang cảnh, hiện trường sống lại nhiều người được thấy, như tông đồ Gioan, khi “tới mộ trước, ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó…”. Còn Phêrô thì “vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (Ga 20,5-7). Tất cả đều đã thấy ngôi mộ trống, và những gì trong ngôi mộ trống này đều làm chứng Đức Giêsu đã sống lại, ra khỏi cõi chết và đi gặp các anh em Ngài.
3.   Đức Giêsu sống lại là Hy Vọng của toàn thể nhân loại:
Không gì đau khổ hơn là sống mà cạn kiệt niềm  hy vọng, bởi nếu không còn hy vọng làm giầu, hy vọng tìm lại sức khỏe, hy vọng phục hồi danh dự, uy tín, thì ít ra cũng còn hy vọng được người thân thương yêu, bạn hữu thông cảm. Nhưng đau khổ ấy chưa lớn bằng nỗi tuyệt vọng khi biết mình sống để rồi chết; sống rồi vĩnh viễn tiêu tan, không còn được có mặt; sống rồi mất hút vào hư vô, không còn cơ hội được tiếp tục sống, dù là sống đời sống khác, ở nơi khác, trong thế giới khác. 
Bởi linh hồn con người tự bản tính là bất tử, vì thiêng liêng, phi vật chất, nên con người là con vật “không chịu chết”, dù biết mình phải chết. Chính vì “không muốn chết, không chịu chết”, nhưng lại phải chết mà con người vật vã đau khổ, quay quắt lo âu, chơi vơi thất vọng.
Và Đức Giêsu Thiên Chúa đã đến trong thế giới loài người, để đem lại cho toàn thể nhân loại niềm hy vọng không phải chết, nhưng được tiếp tục sống đời đời. Đây là Tin Vui lớn lao, Tin Mừng cả thể Thiên Chúa mặc khải cho con người qua sự chết và sống lại của Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể.
Đức Giêsu đã không chỉ nói về sự phục sinh của Ngài, hay rao giảng về sự sống đời đời cho những ai tin vào Ngài, nhưng Ngài đã “chết thật” như con người, để “sống lại” như Thiên Chúa, nghiã là chết với con người, trong bản tính nhân loại như mọi người, và sống lại với quyền năng Thiên Chúa của Ngài, để làm chứng cho mọi người thấy và tin Ngài là Thiên Chúa và con người, đồng thời tin con người phải chết, nhưng Thiên Chúa sẽ cho sống lại với Ngài, nhờ sự chết như con người, và nhờ sự Phục Sinh do bản tính và quyền năng Thiên Chúa  của Ngài.
Vì thế, không có Đức Giêsu Thiên Chúa làm người đã chấp nhận chết như con người, thì con người sẽ mãi mãi kinh hãi, lo sợ, tuyệt vọng trước cái chết, vì chết tàn phá, hủy hoại kinh khủng quá, lại luôn đe dọa và không hé lộ bất cứ một sự gì phiá sau bức tường sự chết; không có Đức Giêsu Thiên Chúa làm người sống lại như Thiên Chúa với thần tính của Ngài, thì ai dám tin phiá sau sự chết là sự sống vĩnh cữu, tiếp nối sự chết là đời sống mới “không bao giờ phải chết nữa”.
Thánh Phaolô khi rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại đã mạnh dạn qủa quyết: “Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15,13-14). Thánh nhân còn khẳng định: “Nếu Đức Kitô không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,17-19).  
Qủa thực, không còn lời nào rõ ràng, minh bạch và thuyết phục hơn những lời của thánh tông đồ dân ngoại khi cho chúng ta thấy tầm quan trọng tuyệt đối của biến cố Đức Giêsu phục sinh, bởi tất cả cục diện của nhân loại đều thay đổi khi Đức Giêsu sống lại, vì sự sống lại của Ngài là nền tảng của đức tin, nền tảng của niềm hy vọng, nền tảng của Lời Hứa Nước Trời, nguồn mạch của ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.       
Vâng, nếu không có Đức Giêsu đã chết và sống lại, chúng ta sẽ không dám sống tử tế, sống vì tha nhân, sống cho mọi người, bởi ích lợi gì những hy sinh quên mình, những hy sinh phục vụ, những hy sinh chịu thiệt thòi vì công lý và vì Nước Trời? Nếu không có Đức Giêsu đã chết và sống lại, chúng ta sẽ không tin ai, không tin sự gì, bởi tin để làm gì, khi chết là hết, chết là chấm dứt tất cả, chết là trở về hư vô?  Nếu không có Đức Giêsu đã chết và sống lại, chúng ta sẽ không thể hạnh phúc, vì hạnh phúc nào cũng đòi phải có niềm hy vọng được sống như điều kiện. Nếu không có Đức Giêsu đã chết và sống lại, chúng ta không thể yêu ai bằng tình yêu cao cả là chết cho họ, vì sự hy sinh chết cho người mình yêu không mang lại cho ai hy vọng được sống đời đời.
Nhưng vì có Đức Giêsu đã chết và sống lại, thế giới đã không thiếu những người mẹ xin được chết thay con, những người vợ sẵn sàng chết thay chồng, những cụ ông, cụ bà trong nhà dưỡng lão mong được về với Thiên Chúa là Đấng họ tôn thờ, yêu mến sau cuộc sống trần gian tràn đầy ý nghiã, bởi tất cả đều hạnh phúc trong niềm hy vọng được sống lại, được gặp Thiên Chúa và được gặp lại nhau trong hân hoan, vui mừng của những người từ nay biết mình sẽ không bao giờ phải chết, nhưng trường sinh bất tử trong Đấng đã làm người, đã chết như họ và sống lại với quyền năng Thiên Chúa, để toàn thể nhân loại cùng được sống lại và sống đời đời như Ngài, nhờ được Ngài cứu độ bằng sự chết và phục sinh vinh quang.
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (9)

HẠNH PHÚC
Hạnh phúc là ước mơ của mọi người, và không ai muốn mình, cũng như người mình thương yêu phải bất hạnh, bởi ngay từ buổi đầu tạo dựng, Thiên Chúa đã cho con người được hạnh phúc viên mãn đời đời. Vấn đề là chính con người đã đánh mất hạnh phúc qúy báu ấy, vì bất trung, kiêu ngạo không nghe lời Thiên Chúa.
Nhưng vì được tạo dựng với bản tính khao khát hạnh phúc, nên con người mãi mãi khắc khoải đi tìm hạnh phúc, mặc dù hạnh phúc không dễ tìm giữa một thế giới đầy cực nhọc, bất hạnh, mà nguyên nhân là tội lỗi (x. St 3,16-19).
1.   Hạnh Phúc của con người:
Hạnh phúc là không bất hạnh. Nhiều người chọn câu trả lời này, vì không biết định nghiã thế nào cho đúng, vì rất khó nhận diện và định nghiã hạnh phúc.
    Thực vậy, không có hạnh phúc đứng một mình, nên sẽ thật vô nghiã khi nói về một hạnh phúc lơ lửng khơi khơi, trống trơn biệt lập, bởi “hạnh phúc” là trạng thái nổi trôi trên giòng đời của một con người không mấy lúc không lo âu, sợ hãi, bi quan, trái ý, và thường xuyên bị ám ảnh bởi rủi ro, tai họa. Do đó, người ta chỉ có thể có những khoảnh khắc hạnh phúc, mà không có hạnh phúc như “hạnh phúc là”, và như lòng mong uớc, đó là tình trạng bình an sâu lắng, lâu dài, bền vững.
Chính tình trạng “bình an” bền vững và lâu dài mới đủ điều kiện để được gọi là hạnh phúc, khác với những khoảnh khắc hạnh phúc ngắn ngủi, chóng qua, như hạnh phúc ngày đầu làm mẹ, bữa tiệc đoàn tụ gia đình sau bao nhiêu năm xa cách, giây phút ái ân của vợ chồng sau những tháng dài xa nhau…    
Sở dĩ hạnh phúc không dễ tìm, dễ đạt như lòng mong ước vì:
a.   Nặng lòng với qúa khứ của bản thân:
Ai cũng có qúa khứ, và qúa khứ luôn làm nặng lòng, bởi có mấy người quên được kỷ niệm vui ít buồn nhiều của qúa khứ; mấy người không buồn, không tủi, không hận khi nhớ lại dòng đời trôi qua, với những khuôn mặt đã làm mình đau, hoặc mình làm đau, và bao nhiêu biến cố đã để lại trên cuộc đời những vết hằn khó phai, những vết thương sâu hoăm khó rịn.
b.  Đau khổ trong tương quan với người khác:
Không ai sống một mình, không phải vì không muốn, nhưng vì không thể, do những nhu cầu thiết yếu của chính bản thân chỉ được đáp ứng nhờ những tương quan, liên đới với người khác. Nhưng những tương quan chằng chịt, những liên đới giăng mắc từ gia đình đến xã hội ấy không luôn mang lại hạnh phúc, mà thường là cơ hội và lý do của đau khổ, bất hạnh, điều mà ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm.
Những bất hoà, bạo hành gia đình giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em, những màn chơi xấu, chơi hèn của bạn hữu, đồng nghiệp, đồng chí, đồng hương, đồng bào, những trò lật lọng, lừa đảo, tiêu lòn, tháo cáy, phản bội được lập trình và thực hiện bởi chính cộng sự viên thân tín, và vô số những cú đấm, cú đá, cú đâm của người khác nối đuôi nhau làm nên chuỗi dài những “trái ý, bực bội, căng thẳng, chán nản, thất vọng, sầu buồn” không cho con người hạnh phúc.
c.    Bị đe dọa bởi cái nhìn của người khác:
Ngay cả với người sống khép kín, không muốn giao du, thân thiện với người chung quanh để tránh “nhiều chuyện”, nặng lòng, mệt óc cũng không tránh khỏi cái nhìn của người khác, bởi ai cũng có thể và có quyền nhìn người khác để nhận định, đánh giá, ca ngợi, thần tượng, suy tôn, hoặc khinh bỉ, tẩy chay, ném đá.
Thực vậy, nhìn mình thì dù sao cũng còn “có cửa” để “khoan hồng, châm chước, nhưng bị người khác nhìn thì vô phương “thủ thân, tự vệ”, bởi người khác hoặc không biết rõ, không hiểu cặn kẽ, không thông cảm, hoặc  ác ý, cố tình “đánh cho chết, đập cho nát, bứng cho sạch, nhổ tận gốc”, thì cái nhìn đa phần sẽ rất tiêu cực và làm ta sợ hãi khi rơi vào tầm ngắm, lọt vào tầm nhìn đe dọa của họ.  
Tóm lại, hạnh phúc không luôn trong tầm tay vì những rủi ro đưa đến bất hạnh  thì hầu như lúc nào và ở đâu cũng đeo đuổi, bám gót con người. Chúng là những ám ảnh của qúa khứ, và những tương quan phức tạp, nhiêu khê, khó đo lường giữa người với người.
2.   Hạnh Phúc của người Kitô hữu:
   Nếu hạnh phúc với con người đã khó đạt, thì với người con Chúa, hạnh phúc sẽ dễ hay khó hơn ?
Các thánh trả lời chúng ta qua kinh nghiệm thiêng liêng của các vị khi khẳng định: cho dù tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa nhiều đến đâu, và tình yêu của Thiên Chúa đổ trên chúng ta tràn trề đến mức nào, chúng ta vẫn không thể nói: “tôi bơi lội trong hạnh phúc viên mãn”, bởi một lý do đơn giản: hạnh phúc ấy chỉ có ở thiên đàng.
Đó là lý do Đức Giêsu đã không ngừng nhắc nhở, động viên các môn đệ Ngài về  “phần thưởng của anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12), về hạnh phúc vinh hiển, ở thời tái sinh, khi Con Người ngự đến (x.Mt 19,28), về “niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15,11), khi được ở trong Thầy, như Thầy ở trong Chúa Cha (x.Ga 15,9-10).  
Đó là lý do trong Hiến Chương Nước Trời, Đức Giêsu đã hứa Hạnh Phúc đích thực và viên mãn là “Đất hứa làm gia nghiệp, được Thiên Chúa ủi an, được Thiên Chúa cho thỏa lòng, được Thiên Chúa xót thương, được nhìn thấy Thiên Chúa, được sở hữu Nước Trời, được phần thưởng lớn lao trên trời” cho những ai “bất hạnh” trong cuộc đời này vì nghèo khó, và khóc lóc sầu khổ, bị “vu khống đủ điều xấu xa”, và bị “sỉ vả bách hại” vì thực thi Công Lý của Thiên Chúa và sống lý tưởng Tin Mừng (Mt 5,2-12). Bởi nếu con người có thể tìm thấy, gặp được ngay trên trần gian này hạnh phúc đích thực, tròn đầy, viên mãn, vĩnh cửu thì Đức Giêsu đã chẳng hứa một Hạnh Phúc đời sau trong Vương Quốc của Ngài.  
Nhưng chúng ta có thể đặt vấn đề: Nếu ngay ở thế gian này, chúng ta đã có Thiên Chúa ở cùng, thì tại sao chúng ta không đạt được hạnh phúc trọn vẹn, đích thực như ở thiên đàng?
Câu trả lời rất đơn sơ: vì tương quan giữa chúng ta và Thiên Chúa không là tương quan khép kín, đóng chặt, nhưng là tương quan mở ra cho tha nhân, tương quan hướng đến người khác, nghiã là tương quan  giữa ta với Thiên Chúa và tương quan giữa ta với anh em là hai tương quan đồng thời, cùng lúc như hai mặt của một thực thể, hai điều khỏan của cùng một giới răn như Đức Giêsu đã dậy: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn của ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,37-39).
Chính vì có tha nhân tham dự, chính vì phải đặt tha nhân vào tương quan giữa ta với Thiên Chúa, chính vì không thể có Chúa mà thiếu tha nhân, chính vì không được loại trừ tha nhân ra khỏi tương quan giữa Chúa với ta, mà hạnh phúc không thể trọn vẹn, không bao giờ hoàn hảo bao lâu ta còn ở với tha nhân, bởi như ta, tha nhân dễ ganh ghét, tha nhân nhiều tham vọng, tha nhân lắm lầm lỗi, tha nhân vốn tội lụy, tha nhân mang bản tính con người bất toàn, có giới hạn, yếu đuối hay sa ngã, và đó chính là nguyên nhân gây ra bất hạnh, lý do hạnh phúc viên mãn, tròn đầy không thể gặp được ở trần gian.
Như thế, tương quan giữa ta với Chúa không đủ để cho hạnh phúc tròn đầy, hoàn hảo, như ý muốn ban đầu của Thiên Chúa, vì tương quan của ta với Thiên Chúa không cho phép chúng ta quên mình đang sống giữa anh em cùng thân phận yếu đuối, tội lụy. Họ vừa  là cơ hội mang lại nhiều hạnh phúc, vừa là nguyên nhân của không ít khổ đau, bất hạnh.     
Thực vậy, khi nhìn các linh mục, tu sĩ sống đời sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, chúng ta muốn tin rằng các vị không bao giờ bất hạnh, vì đã đạt đến hạnh phúc viên mãn với Thiên Chúa, và thế gian chẳng ảnh hưởng gì đến hạnh phúc “riêng tư”, tuyệt vời giữa Thiên Chúa với các vị. Nhưng khi được các vị chia sẻ, chúng ta mới biết các vị cũng đau khổ, cũng gặp nhiều trái ý, bất hạnh như mọi người, mặc dù trong khi thi hành sứ vụ, các vị luôn cố gắng tỏ ra hạnh phúc, lạc quan để không làm thất vọng những người đang được các vị nâng đỡ, ủi an…
Chúng ta cũng đừng quên, các linh mục, tu sĩ cũng được tạo dựng cùng bản tính con người, nên cũng sợ hãi, nghi nan, chịu thử thách và đau khổ như chúng ta. Tuy vậy, những yếu đuối của phận người nơi các vị không làm giảm đi ý nghiã, cũng không hạ thấp giá trị của ơn gọi và sứ vụ của đời tận hiến. Trái lại, chính những  đau khổ nơi các vị đã giúp các vị hoàn thành tốt đẹp hơn sứ vụ được trao phó: “ở giữa mọi người để phục vụ mọi người”.
Nói như thế không có nghiã phủ nhận những cảm nghiệm thiêng liêng lâng lâng, ngây ngất, xuất thần trong hạnh phúc được Thiên Chúa hoàn toàn “sở hữu, làm chủ”, khi linh hồn đi vào kết hiệp hoàn hảo với Thiên Chúa, nhưng chỉ muốn nói lên giới hạn của hạnh phúc “được gọi là viên mãn, tròn đầy” mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai được cùng Ngài hiển trị trong vinh quang Nước Ngài, sau hành trình dương gian.
3.   Hạnh phúc của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người
Chúng ta hãy chiêm ngắm Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người những lúc Ngài buồn, để nhận ra một điều rất quan trọng, đó là hành trình dương thế giữa nhân loại đã không luôn làm Ngài hạnh phúc: Ngài đã không hạnh phúc khi thấy đám đông “lầm than, vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36); Ngài đã không hạnh phúc khi “phải quở trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Người làm mà không sám hối” (Mt 11,20); Ngài đã không hạnh phúc  trước những người Pharisêu, kinh sư, luật sĩ cứng lòng, kiêu căng luôn tìm mọi  kẽ hở, cơ hội để hạ uy tín, lên án, hãm hại Ngài (x. Mt 12,2.24); Ngài đã không hạnh phúc khi phải nặng lời khiển trách các kinh sư và người Pharisêu giả hình (x. Mt 23); Ngài đã không hạnh phúc khi phải thốt lên: “Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi” (Mt 23,37); Ngài không hạnh phúc khi “các thượng tế và kỳ mục trong dân họp tại dinh của vị thượng tế tên là Caipha và cùng nhau quyết định dùng mưu bắt và giết Ngài” (x. Mt 26,3-4); Ngài không hạnh phúc khi “một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giuđa Ítcariốt, đi gặp các thượng tế mà nói: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì qúy vị muốn cho tôi bao nhiêu”. Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giêsu” (Mt 26,14-16); Ngài không hạnh phúc khi cảnh báo Phêrô: “Thầy bảo thật anh: nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (Mt 26,34).
Cũng hãy chiêm ngắm Đức Giêsu xao xuyến, lo sợ trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt, và bồi hồi nói với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được”, rồi trong nước mắt thổn thức, Ngài sấp mặt xuống đất thống thiết cầu nguyện: “Lậy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này” (Mt 26,38-39), và giờ phút sau cùng chịu treo trên Thánh Giá, trong nỗi đau tận cùng của Con Thiên Chúa bị mọi người, và cả Chúa Cha bỏ rơi, Đức Giêsu đã  rướn mình nức nở khóc với Thiên Chúa Cha: “Lậy Thiên Chúa, lậy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46).  
Qủa thực, không chỉ con người bất hạnh, không chỉ người Kitô hữu đau khổ, mà cả “Thiên Chúa làm người” cũng không hạnh phúc, vì bản tính con người đã bị tội lỗi gieo mầm ganh ghét, tham lam, kiêu căng, gian ác, hận thù, bạo lực là nguyên nhân của mọi đau khổ, bất hạnh.
Làm người giữa nhân loại, Đức Giêsu đã đón nhận đau khổ và bất hạnh như  bao thân phận con người khác vốn không tránh khỏi bất hạnh, khổ đau. Ngài đã không tìm cách tránh đau, diệt khổ, cũng không dùng quyền năng Thiên Chúa phát minh, sáng chế “máy hạnh phúc tự động”. Trái lại, Ngài cùng chịu thử thách giập vùi, chịu sầu buồn, xao xuyến, lo âu, nghi nan với con người, và cũng rấm rức, nức nở, nghẹn ngào khóc như mọi người. Chỉ một điều khác với con người là Ngài đã đặt tất cả đau khổ, bất hạnh trong tình yêu vô cùng và đến cùng của Ngài cho hạnh phúc được cứu sống của con người; đã hướng tất cả trái ý, nghịch lòng đến tình yêu thương xót dành cho nhân loại; đã dùng tất cả đau đớn của thân xác, nát tan của tâm hồn để làm nên của lễ xóa tội muôn dân, mà không để đau khổ của tinh thần biến thành lửa hận thù, không để đau đớn của thân xác trở thành bạo lực.
Tắt một lời, Đức Giêsu đã không hứa lấy đi khỏi thân phận người hết mọi đau khổ, cũng không loan báo một kế sách bứng gốc cây “bất hạnh” khỏi mặt đất, nhưng với tình yêu, và bằng tình yêu, Ngài làm cho bất hạnh trở thành con đường dẫn về hạnh phúc, biến đau khổ thành niềm hy vọng, bình an. Không diệt hết đau khổ, nhưng với tình yêu, đau khổ sẽ không còn sức mạnh phá hoại, tiêu diệt của nó, bất hạnh mất hẳn mãnh lực đánh gục con người. Trái lại, đau khổ, bất hạnh được bàn tay Thiên Chúa  biến đổi, “thánh hoá” để trở nên của lễ sinh ơn cứu rỗi, mang lại bình an, hạnh phúc cho nhân loại.
Vì thế, dù khao khát hạnh phúc, dù say mê, hăng hái đi tìm hạnh phúc đến đâu, người trẻ cũng không bao giờ toại nguyện với lý tưởng hạnh phúc mình ước mơ, vì trong cuộc đời này, hạnh phúc luôn bị đe dọa bởi tội lỗi của chính mình, và của mọi người. Bởi bao nhiêu hạnh phúc đã bị bức tử từ trong trứng nước vì ích kỷ của nhau? Bao nhiêu hạnh phúc đã bị chặt ngang lưng, chém bay đầu vì lòng tham vô đáy của nhau? Bao nhiêu hạnh phúc đã phải “cao bay xa chạy” vì sự độc ác của nhau? Bao nhiêu hạnh phúc đã xơ xác, tàn lụi vì tính kiêu căng, độc tài, độc đóan, độc quyền của nhau? Bao nhiêu công trình hạnh phúc đã dầy công xây dựng nay bị phá sập trong nháy mắt vì thiếu tín nhiệm và phản bội nhau? Bao nhiêu mái ấm hạnh phúc đã cháy rụi, không để lại tàn tích, khi tình yêu hoảng sợ “bỏ chạy mất dép”, vì vợ chồng đấu đá, bất hoà? Và còn vô số những “bao nhiêu bất hạnh” khác, không thể kể xiết trong cõi đời ô trọc, bể dâu vô thường này.
Vâng, vì cuộc đời là hành trình nhiều vất vả, cực nhọc, nguy hiểm, rủi ro, và người trẻ Kitô hữu như “những chiên con giữa bầy sói dữ”, nên không ngạc nhiên có những lúc người trẻ cảm thấy hụt hẫng, ngao ngán, chán nản, muốn bỏ cuộc, buông xuôi, đào ngũ trên đường theo Đức Giêsu; không lạ lẫm khi người trẻ bức xúc, nổi giận vì bất mãn trước những tiêu cực của cuộc đời và ngang ngược, “đổi trắng thay đen” của người đời. Chẳng thế mà Đức Giêsu đã cho chúng ta thấy trước: đường Ngài đi không là đường thênh thang, dễ đi, vì sẽ chẳng có trên thế gian này con đường thênh thang nào dẫn đến hạnh phúc đích thực, mà chỉ duy nhất con đường hẹp, con đường “Từ Bỏ chính mình và vác thập giá mình” (Mt 16,24). Đó là con đường từ bỏ “Cái Tôi” ích kỷ, kiêu căng, ganh ghét, tham lam, gian dối, sở hữu, thống trị, hưởng thụ là nguyên nhân đem đến bất hạnh cho mình và cho người khác; con đường từ bỏ những gì phá hoại hạnh phúc là vênh vang tự đắc, vu khống hàm hồ, kết án oan sai, người hơn mình thì ghét, kẻ kém mình thì khinh, “trên đội dưới đạp”, ăn gian nói dối, kiếm tìm tư lợi…
Vâng, hạnh phúc đích thực chỉ có thể tìm được, khi người trẻ can đảm theo Đức Giêsu bước đi trên con đường hẹp mang tên Từ Bỏ. Chỉ trên con đừơng Từ Bỏ này, chúng ta mới hy vọng nắm bắt được hạnh phúc tròn đầy, viên mãn ở ngày Đức Giêsu “đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên thần theo hầu” và chúng ta được nghe Ngài phán: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25,34-36), bởi  chúng ta đã vâng lời Đức Giêsu đặt để tất cả những trái ý, phật lòng, đau khổ, bất hạnh vì bị ganh ghét, lợi dụng, hiểu lầm, miệt thị, vu khống, kết án oan uổng  khi phục vụ anh chị em mình; đã noi guơng Ngài chọn yêu thương trong mọi sự, mọi cảnh huống, để tình yêu từng ngày làm dậy men hạnh phúc của Thiên Chúa giữa anh em.
Thực vậy, men mà Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” muốn chúng ta, những môn đệ của Ngài chôn trong đấu bột nhân loại đầy bất hạnh vì tội lỗi chính là tình yêu, vì chỉ tình yêu mới cho đau khổ một ý nghiã cứu độ, chỉ tình yêu mới đem lại cho đời người bất hạnh vì phải chết hạnh phúc được cứu sống, chỉ tình yêu mới ban cho con người niềm vui ơn cứu độ giữa biển đời đầy sóng gió đe dọa.
Và chúng ta bình an theo Ngài đi trên đường hạnh phúc của tình yêu giữa cuộc đời nhiều rủi ro bất hạnh do tội lỗi, vì có Ngài, Đấng đã ân cần khguyến khích, động viên: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).
Xin Đức Giêsu ban cho người trẻ nghị lực qủa cảm và tình yêu dồi dào để cùng mọi người bước đi trên “con đường Từ Bỏ” đến gặp Chúa là Hạnh Phúc đích thực, viên mãn, đời đời.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (8)


                                         THIÊN CHÚA CỦA SỰ SỐNG
Sự sống con người luôn là đề tài nóng bỏng và sôi nổi, nhưng hầu như các buổi tranh luận đều có khuynh hướng dẫn đến một kết luận chung đó là con người muốn toàn quyền trên sự sống của mình, toàn quyền quyết định sự sống của mình, và tìm mọi cách toàn quyền tạo nên sự sống theo ý mình muốn. Và tất nhiên, khuynh hướng khẳng định con người toàn quyền trên sự sống của mình đồng nghiã với khuynh hướng  phủ nhận quyền của Thiên Chúa trên sự sống và sự chết của con người.
Khẳng định quyền trên sự sống của mình, con người xác định chủ quyền bất khả xâm phạm trên thân xác khi chủ trương tự do tính dục, hủy bỏ mọi luật lệ, cấm kị trong sinh hoạt tình dục, và tự do phá thai. Tự cho mình toàn quyền trên sự sống, con người cũng cho mình quyền chấm dứt sự sống, khi đồng tình ủng hộ tự do tử tự, và kỹ thuật trợ tử theo ý muốn.
Đứng trước trào lưu loại bỏ sự có mặt và quyền can thiệp của Thiên Chúa trong sự sống của con người, người trẻ Kitô hữu là thành phần có nhiều liên quan và chịu ảnh hưởng nặng nề do hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục, và sinh hoạt xã hội ngày càng không mấy thuận lợi và phù hợp với Tin Mừng. Vì thế, người trẻ thường phải đối diện với những thách đố khó vượt qua, để có thể trung thành với giáo huấn của Giáo Hội về sự sống, những thách đố mà chúng ta cùng chia sẻ sau đây:
1.   Thách đố trước chân lý Thiên Chúa là Thiên Chúa của sự sống:
Giữa một xã hội không còn phò sự sống, nhưng ủng hộ tự do tính dục, cởi trói tình dục, tự do phá thai, người trẻ sẽ không khỏi giao động và tự hỏi: Thiên Chúa có còn được can thiệp vào đời sống và sự sống của con người nữa không?
Câu hỏi ấy cũng là thắc mắc của Ápraham, người được Thiên Chúa Giavê chọn  làm tổ phụ dân riêng khi Thiên Chúa truyền cho ông đem giết  Isaác, con trai duy nhất của ông làm của lễ dâng Ngài. Ông không hiểu Thiên Chúa muốn gì, khi bảo ông giết con, đứa con duy nhất nối dòng, để ông có thể trở thành tổ phụ một dân “đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển”.
Tuy không dám nghi ngờ Thiên Chúa, nhưng ông phân vân tự hỏi không lẽ Thiên Chúa ông mới gặp và tôn thờ cũng không khác các thần mà trước đây ông đã thờ, bởi các thần ấy đều ưa thích của lễ là sinh mạng con người, lễ tế phải là máu của  chúng sinh. Nhưng đúng lúc ông vung dao chém Isaác bị trói trên đống củi, thì sứ thần gọi tên ông và nói: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa… Ông Ápraham ngước mắt nhìn thì thấy phía sau có con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây. Ông Ápraham liền đi bắt con cừu ấy mà dâng làm lễ toàn thiêu thay cho con mình” (St 22,12-13).
Qua thách đố và sự can thiệp bất ngờ ở phút chót, Thiên Chúa đã mặc khải cho Ápraham: Ngài là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa của người sống, Thiên Chuá tuyệt đối tôn trọng sự sống. Không như các thần khác, Thiên Chúa Giavê không “khát máu” con người, nhưng nuôi dưỡng, gìn giữ, bênh vực, bảo vệ sự sống mà Ngài đã ban cho con người. Là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa muốn dân riêng của Ngài tuyệt đối tôn trọng sự sống như hồng ân vô giá Ngài ban, và không được làm bất cứ điều gì tổn thương, nguy hại đến sự sống con người.
Người Kitô hữu hôm nay cũng như Ápraham ngày xưa bị đặt trước thách đố rất cam go khi phải chọn lựa giữa quyền tối thượng của Thiên Chúa trên sự sống và tiến triển của khoa học xem ra như đang tranh giành vị thế làm chủ sự sống của Thiên Chúa.   
Cách riêng người trẻ, với tinh thần và lòng ngưỡng mộ khoa học đang bị cám dỗ nặng nề đi vào lựa chọn: con người có quyền tối thượng quyết định mọi vấn đề liên quan đến sự sống của mình, mà quên rằng không phải bất cứ việc gì, sự gì người ta có thể làm là người ta phải làm, và được phép làm, như khi vừa phát minh kỹ thuật “nhân bản vô tính” với con lừa Dolling (cloning), người ta muốn thực hiện ngay cho con người, khi phát minh kỹ thuật chọn phái tính, chọn kích thước, chọn mầu tóc, mầu da, mầu mắt, cha mẹ muốn áp dụng ngay để sản suất những đứa con “hoàn toàn ưng ý” như người ta chế tạo các búp bê.
Giáo Hội không nói “không”, không phủ nhận một cách cực đoan, mù qúang  công việc và thành qủa của khoa học. Trái lại, Giáo Hội khuyến khích, ủng hộ khoa học để khoa học làm công việc của mình với mục đích phục vụ chính đáng hạnh phúc của con người, nhưng đồng thời Giáo Hội cảnh báo khoa học những rủi ro tiềm tàng, những nguy hiểm có thể xẩy ra cho toàn thể nhân loại nếu những phát minh không được sử dụng và hướng đến phục vụ con người một cách toàn diện, nghiã là không tôn trọng toàn thể con người với tất cả quyền sống làm người. Nói cách khác, khi cảnh báo khoa học không được lạm dụng những phát minh trong lãnh vực sự sống, Giáo Hội nhắc nhớ khoa học phải khôn ngoan không vì cuộc chạy đua điên cuồng của các công trình phát triển mù quáng, mà bản tính con người, giá trị con người không còn được bảo vệ, tôn trọng.
Bởi một khi không tôn trọng bản tính con người với mầu nhiệm được sinh ra làm người của mỗi con người, chúng ta sẽ không nhận quyền tối thượng là quyền tạo dựng và quan phòng của Thiên Chúa trên con người nữa. Thái độ từ chối này sẽ không chỉ mang tính cách “vô thần” mà còn mang tính “phi nhân”, bởi khi phủ nhận đấng tạo dựng, người ta cũng phủ nhận luôn giá trị và mầu nhiệm của thụ tạo là con người.
Thực vậy, khoa học có lãnh vực và giới hạn của khoa học, và khoa học chỉ có giá trị khi tôn trọng toàn thể, toàn diện, toàn phần con người gồm hồn và xác, giá trị thân xác và giá trị tinh thần, mặt nổi thấy được, và chiều sâu huyền nhiệm, nên bất cứ một phủ nhận, một tổn thương, một vi phạm dù nhỏ đối với bất cứ phần nào của con người cũng là hành vi phạm tội chống lại con người, mà chúng ta phải luôn cẩn trọng.  
2.   Thách đố trước sứ mạng đồng cộng tác với Thiên Chúa trong công trình của sự sống:
Một sứ mạng vô cùng cao cả mà con người được Thiên Chúa ký thác, đó là “được cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng những con người mới”, một sứ mạng mà con người hoặc sơ ý không nhận ra hoặc cố tình không quan tâm, chú ý.
Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa đã ban cho họ khả năng sinh ra những con người mới, khi chúc lành cho Evà, Ađam, và nói: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất” (St 1,28). Đây là mầu nhiệm tạo dựng được nối dài, khi con người trở thành cung lòng của Thiên Chúa để cưu mang và ban cho thế giới những con cái mới của Ngài.
Ý thức vai trò và sứ mạng cao cả và quan trọng này, con người nói chung, và người Kitô hữu nói riêng sẽ không xem chuyện sinh ra những con người là chuyện bình thường, và chuyện giết bỏ con người cũng bình thường, bình thường như chuyện “có bầu, dính thai” khi nam nữ ăn ở, gần gũi nhau.
Qủa thực, không có chuyện gì dễ hơn chuyện nam nữ có con với nhau, vì thân thể của hai người nam nữ được Thiên Chúa cấu tạo tuyệt vời cho sứ mạng cộng tác với Thiên Chúa để sinh ra những con người mới. Chính vì qúa dễ khi tất cả đã được lập trình, chuẩn bị, nên người ta dễ hạ bậc, giáng cấp chuyện phi thường vì từ tay Thiên Chúa xuống hàng tầm thường, để rồi không ngại ngùng, không tiếc xót, không hối hận khi bỏ đi những sự sống bị coi là “không vừa ý, không đúng lúc, không thuận lợi”.
Hãy nhìn ra chung quanh để thấy có bao nhiêu thai nhi bị trục ra khỏi lòng mẹ, bao nhiêu bào thai vô tội bị chính mẹ mình từ chối và đào thải như vứt bỏ một cái gì rất nhơ nhớp, ghê tởm, kinh dị; bao nhiêu “cha mẹ” không xứng đáng với thiên chức và danh xưng cao qúy Cha - Mẹ đã chau mày, chặt lưỡi, lắc đầu, thở dài bực bội, khó chịu, nổi giận khi nghe tin “có thai, có bầu”; bao nhiêu tổ chức nhân đạo thu gom mỗi ngày hàng trăm thai nhi đủ cỡ tháng tuổi bị giết chết trong các nhà thương, phòng khám phụ khoa, cơ sở “Kế họach gia đình”.
Vì “tạo ra” sự sống qúa dễ, “chế ra” con người qúa nhanh mà “sản phẩm con người” trở thành rẻ rúng, mất giá trầm trọng, để khi cần hủy bỏ những sản phẩm “bất đắc dĩ, ngoài kế hoạch hoặc thặng dư”, người ta không chút ngượng ngùng, bận tâm, nhưng cho đó là công tác bình thường, không ảnh hưởng đến ai.
Qua những nghiên cứu tâm lý cũng như những tâm sự của rất nhiều bà mẹ đã phá thai, chúng ta biết thêm một sự thật rất buồn, đó là không bà mẹ nào đã “vui vẻ” phá thai, nhưng tất cả đều đã trải qua những giây phút một mình vô cùng căng thẳng trước khi đi đến quyết định loại bỏ con, và nỗi ám ảnh giết con ấy đằng đẵng đeo bám và ảnh hưởng trầm trọng đời sống tâm lý của các bà mẹ đáng thương nhiều hơn đáng trách.      
Ở đây, chúng ta cần ghi nhận tâm tình chia sẻ, lòng thương xót và thái độ tôn trọng của Giáo Hội đối với những bà mẹ tuy làm điều không đúng, nhưng rất đáng thương này. Là Mẹ nhân từ, Giáo Hội luôn cảm thương con cái mình, nhất là khi con cái rơi vào tình trạng bế tắc đưa đến sai phạm. Giáo Hội cũng hiểu biết với tình Mẹ thương con những phụ nữ có thai vì bị hãm hiếp, và mang lại cho chị em những hướng dẫn cần thiết cũng như nâng đỡ, đồng hành với chị em trên chặng đường không luôn dễ dàng vượt qua.      
Bên cạnh nạn phá thai, như thách đố phải lựa chọn trước sứ mạng cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng con người, chúng ta còn bị đặt trước cám dỗ tự cho phép mình kết liễu sự sống của mình cũng như của người khác khi họ yêu cầu. Đó là trường hợp tự tử và giúp người bệnh được chết sớm.
Với cả hai trường hợp, lập trường của Giáo Hội rất cứng rắn và không thay đổi, đó là không ai có quyền quyết định sự sống và sự chết của con người, bởi sự sống, sự chết thuộc quyền Thiên Chúa, và Thiên Chúa luôn ban cho con người đủ ơn để vượt qua mọi khó khăn, thử thách trên hành trình cuộc đời, và trong mọi thử thách, gian truân, Giáo Hội có nhiệm vụ nâng đỡ niềm tin và hy vọng của dân Chúa, nhân loại.
Chúng ta cũng đừng quên: tự do của mỗi người không bao giờ được coi là quyết định có giá trị tuyệt đối, khi tự do đó vi phạm chính bản tính con người và giá trị con người, như khi quyết định tự tử, hoặc giúp người khác kết liễu sự sống theo yêu cầu của họ, dựa vào tự do, người ta đã hủy diệt tự do cùng với sự sống, hủy diệt khả năng lựa chọn cùng với sự tồn tại của hữu thể. Đó là điều hoàn toàn phi lý, không thể chấp nhận được, vì là một giải pháp không giải quyết gì, nhưng hủy diệt mọi khả năng, khả thể “giải quyết”.
Về những người bệnh muốn chết sớm và yêu cầu bác sĩ giúp họ kết thúc sớm cuộc đời, chúng ta nên nghe những chia sẻ của các bác sĩ trong cuộc. Các bác sĩ này đã kể lại: Hầu hết các bệnh nhân xin được trợ tử, tức xin được giúp chấm dứt sớm sự sống đều liên tục thay đổi ý kiến, quyết định. Cũng chính bệnh nhân đã nài nỉ được kết thúc sớm cuộc đời khi cơn đau ào tới tưởng như không còn có thể chịu đựng đã lại khóc lóc van xin các bác sĩ khẩn trương chữa trị, cứu sống.
Vì thế, không được phép dựa vào yêu cầu của bệnh nhân, vì quyết định của họ trong tình trạng đau ốm không đủ điều kiện và lý do khả tín. Đàng khác, chúng ta phải hiểu rằng khi xin chúng ta giúp kết  liễu nhanh cuộc đời, chính là lúc họ gián tiếp nài xin chúng ta giúp họ xoa dịu nỗi đau.  
Thực vậy, khi không ủng hộ những hành vi tự chấm dứt sự sống của mình hoặc giúp kết thúc sự sống của người khác theo yêu cầu của họ, người Kitô hữu không thể bị coi là thờ ơ, lạnh lùng trước đau khổ tinh thần và đau đớn thể xác. Trái lại, chúng ta được mời gọi đóng góp mọi nỗ lực để xoa dịu cơn đau của chính mình, cũng như giúp người anh em vượt qua khủng hoảng, thử thách ở giai đọan cuối đời, làm thế nào để chính chúng ta, cũng như người anh em tìm lại được bình an để tiếp tục sống hoặc bình an để ra đi. Đây là sứ vụ rất khó khăn đòi chúng ta một niềm tin tưởng rất mãnh liệt vào ơn phù trợ của Thiên Chúa cho chúng ta cũng như cho người anh em đau khổ mà chúng ta đang phục vụ, đồng hành.
Do đó, những phát minh khoa học liên quan sự sống con người ngày càng tuyệt vời thì thách đố tin nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa của sự sống, nắm giữ quyền tối thượng và tuyệt đối trên sự sống và sự chết của con người càng trở nên cam go, khó vượt qua, do cám dỗ “thần tượng khoa học”, sùng bái con người, với niềm tin tuyệt đối vào khả năng vượt xa Thiên Chúa của con người, điều mà phong trào “đòi Thiên Chúa phải chết” chủ trương, cổ động. Điển hình là phong trào khuyến khích “thụ thai ống nghiệm” đang được nhiều người tán thành, ủng hộ.
Ở đây, người viết không đi vào chi tiết, mà chỉ ghi lại câu chuyện của một sinh viên Pháp, qua những chia sẻ rất thực của anh: trong ba năm đại học, để có tiền sống, anh làm việc bán thời gian trong “nhà băng tinh trùng” với công tác lấy tinh trùng của những người đàn ông tự nguyện đến bán. Sau này, chính anh vì lợi  nhuận đã bán tinh trùng của mình hai lần một tuần… Phần đông, không ai quan tâm đến tinh trùng đã được bán, và theo điều luật, cũng không ai được biết tinh trùng của mình được cấy cho ai, và kết qủa như thế nào. Nhưng riêng anh, vì tò mò, và nhờ quen biết, anh được một bác sĩ của nhà băng tinh trùng tiết lộ: tinh trùng của anh đã được cấy cho hai trăm phụ nữ, và tạo ra hơn một trăm em bé. Nghe vậy, anh đã bị sốc nặng, trầm cảm và nhiều năm phải ở trong bệnh viện tâm thần.
Tóm lại, không phải Giáo Hội không biết và không cảm thông nỗi buồn của những người mẹ hiếm muộn, hoặc không thể có con, cũng như Giáo Hội không ngây thơ trước những vần đề nghèo đói ở nhiều quốc gia, được dùng làm tiền đề cho chủ trương ngừa thai và phá thai tự do, nhưng Giáo Hội không thể đồng loã với những chủ trương lạm dụng mọi phát minh khoa học để vi phạm quyền sống của con người, và hạ thấp, làm tổn thương nhân vị, nhân phẩm. Giáo Hội cũng không thể  hèn nhát nhượng bộ vì áp lực của những tổ chức chủ trương tuyển lựa con người ngay từ bào thai, để tạo một thế giới chỉ  gồm những “siêu sao, ưu tú, ưu việt, đỉnh cao trí tuệ loài người”, khi chủ trương diệt ngay trong lòng mẹ những bào thai “có vấn đề”, bởi theo Giáo Hội, thế giới không thể bị phân chia làm hai loại người: một bên là siêu nhân phải gìn giữ, một bên là rác rưới, gánh nặng của xã hội phải dẹp bỏ.
Vâng, hơn bao giờ hết, chúng ta cần ý thức bổn phận của người Kitô hữu trong việc tôn trọng, gìn giữ, bảo vệ sự sống trong xã hội loài người, vì Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa giữ quyền sống chết của con người, và chúng ta, tất cả đều được kêu gọi hoặc trực tiếp cộng tác vào công trình “tạo dựng” những con người mới, hoặc giáo dục, xây dựng những con người tử tế cho xã hội, và công dân của Nước trời.
Bởi nếu chúng ta xác tín Thiên Chúa là nguyên ủy và cùng đích của đời sống con người, chúng ta sẽ không nhân danh tự do để tranh giành với Ngài quyền tối thượng và tuyệt đối trên sự sống sự chết của con người; nếu chúng ta tin Thiên Chúa tín nhiệm con người và chọn con người làm cộng sự viên của Ngài trong sứ mạng sinh sản cho đầy mặt đất những con người mới, chúng ta sẽ tự biết phải làm gì để sự sống con người được tuyệt đối tôn trọng, giá trị con người được đề cao, nhân vị, nhân phẩm không bị hạ giá, chà đạp; nếu chúng ta nhận ra chính thân xác mình đã được thánh hoá để trở thành Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ không coi thường, làm ô uế, nghèo nàn thân xác mình, nhưng biết tôn trọng, gìn giữ để xứng đáng là Nhà của Thiên Chúa Ba Ngôi cư ngụ (x. 1 Cr 6,19).
Vẫn biết giữa một xã hội vô thần, vật chất, thực dụng, hưởng thụ, tôn trọng thân xác mình và thân xác người khác, cũng như tôn trọng sự sống và sự chết con người là những thách đố cam go, khó vượt qua. Đặc biệt người trẻ trong thế giới nhiều khuynh hướng, chủ trương đan xen, chồng chéo, đa chiều sẽ rất khó phân định để có những chọn lựa đúng.
Chính trong hoàn cảnh và giai đọan khó phân định, Đức Giêsu có mặt trong Giáo Hội của Ngài để soi sáng, hướng dẫn chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta đến với Giáo Hội của Ngài, ở đó Chúa Thánh Thần là sự sống, tình yêu và sự thật sẽ dậy chúng ta phải làm gì, như Ngài đã dậy chúng ta cầu nguyện và gọi đúng tên Thiên Chúa: “Ápba, Cha ơi”! (x. Gl 4,6)
Jorathe Nắng Tím

NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA TRONG ĐỨC GIÊSU

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 Phục Sinh, năm A
Trước khi lên đường đi Giêrusalem, sau khi đã căn dặn các môn đệ, Đức Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha với tâm tình đặc biệt tha thiết  nói lên tình yêu gắn bó giữa Con và Cha trong vinh quang của giờ sắp đến, giờ mà công trình cứu chuộc được hoàn tất, giờ mà Thánh Ý Chúa Cha được trọn vẹn thể hiện, giờ mà kế hoạch của Ba Ngôi Thiên Chúa được hoàn thành.
“Lậy Cha, giờ đã đến.  Xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha. Thật vậy, Cha  đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời  cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17,1-3).
Trong giờ phút trang trọng này, Đức Giêsu đã nhấn mạnh nhiều lần động từ “tôn vinh”, và danh từ “vinh quang”: “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con. Vậy giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha: xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian” (Ga 17,4-5), để nói lên vinh quang của Thiên Chúa chính là con người được cứu độ, được sống đời đời, được hạnh phúc viên mãn trong Thiên Chúa, khi con người nhận biết Đức Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng được Chúa Cha sai đến trong thế gian để cứu độ loài người.
Trong lời cầu nguyện này, Đức Giêsu đã khẳng định Ngài được tôn vinh nơi những người được Chúa Cha ban cho Ngài (x. Ga 17,10), những người mà Ngài đã ban cho họ Lời của Thiên Chúa, những người đã tin nhận Ngài được Chúa Cha sai đến (x. Ga 17,8). Tóm lại, tất cả những ai đón nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế đều sẽ đi vào đời sống hạnh phúc bất diệt của Thiên Chúa, bởi họ nhận được ân huệ của Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến, tin thờ Ngài, và “nên một” với Đức Giêsu.
Động từ “cho” cũng được dùng đến mười lần trong đọan Tin Mừng này, để nói lên ân huệ Thiên Chúa ban cho nhân loại qua Đức Giêsu để “Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con; và Con được tôn vinh  nơi họ” (Ga 17,10).
Sau cùng, lời cầu nguyện của Đức Giêsu đã trở thành nền tảng xây dựng cộng đoàn tín hữu đầu tiên, khi “tất cả đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện” (Cv 1,14), hợp nhất trong vui mừng, hy vọng, và hăng say loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại, là ơn Cứu Độ đem đến sự sống đời đời và hạnh phúc trong Thiên Chúa cho mọi người. 
Cũng chính vì tin tưởng lời cầu xin Chúa Cha “gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta” của Đức Giêsu (Ga 17,11), mà người Kitô hữu vui mừng vì “được chia sẻ những xỉ nhục, đau khổ của Đức Kitô”, để khi vinh quang của Ngài “tỏ hiện” cũng sẽ được “vui mừng, hoan hỷ” với Ngài (x. 1P 4,13-14).
Xin Chúa cho chúng ta nhận ra ơn huệ được là người Kitô hữu, người có Đức Kitô trong cuộc đời, để sống hay chết, vinh hay nhục, sướng hay khổ, thất bại hay thành công, chúng ta vẫn “loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến trong vinh quang”
Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (7)

CHẾT CHO NGƯỜI MÌNH YÊU
Như nhiều người, tôi đã nhiều lần tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa phải chết? Bởi nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thì Ngài dư quyền năng, đủ quyền phép để không phải chịu đóng đinh, mà vẫn cứu chuộc được nhân loại. Tôi đã thắc mắc như những  người Do Thái năm xưa đã thắc mắc, trong số đó có các môn đệ của Đức Giêsu.
Qủa thực, câu hỏi của bao người từ hơn hai ngàn năm nay, cũng là vấn nạn của người trẻ hôm nay: Cuộc thương khó và tử nạn của Đức Giêsu trên Thánh Giá có thực sự cần thiết không?
Vì cho là không cần thiết, nên tông đồ Phêrô mới vội vàng lên tiếng can ngăn:   
“Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16,22), khi Đức Giêsu loan báo sẽ lên Giêrusalem, ở đó “phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21); vì cho là cực kỳ phi lý một Thiên Chúa phải chết bởi tay con người, nên nhiều môn đệ đã ngã lòng, trốn chạy, bỏ rơi Thầy; vì không thể tin nổi một Thiên Chúa mà chịu treo trần truồng trên thập giá, mà không thể tự cứu mình, mà đám đông mới bực mình hỏi đểu: “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27,40); và cũng vì không thể lý giải sự kiện Thiên Chúa chết, mà nhiều người của thời đại thực dụng đã cho rằng Đức Giêsu đã tự nguyện chọn cái chết như một cách thức tự tử, khi biết mình hết thời, bị hoàn toàn bế tắc, rơi vào hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan”, khi tứ phía đối phương bao vây, xiết chặt, như nhà lãnh tụ cách mạng bị dồn vào đường cùng, tướng quân thất thủ trên trận địa, nên thay vì đầu hàng đã chọn phương án tự sát.  
Những ý nghĩ về cuộc thương khó và cái chết của Đức Giêsu trên có thể không sai, nếu Đức Giêsu chỉ là con người, mà không phải Thiên Chúa. Nói cách khác, trên bình diện nhân loại, người ta có thể suy diễn như vậy, và Đức Giêsu cùng lắm sẽ được tôn vinh là một người khí phách, can trường đi đến cùng đường lối, chủ trương, lý thuyết của mình được chứng minh bằng cái chết tự nguyện. Nhưng với đức tin và giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta nhìn nhận liền sau cái chết “nhân tính” của Đức Giêsu là sự phục sinh “thiên tính” của Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa làm người. Ngài là Tất Cả: là Thiên Chúa đã đau khổ, bị bỏ rơi, chịu đóng đinh, rồi sống lại. Sự sống lại đã cho cuộc sống trần gian của Ngài một ý nghiã và chiếu sáng sự sống nhân loại ấy bằng ánh sáng của Tình Yêu Cứu Độ.
1.   Hiến mạng sống vì người mình yêu:
Nghiã cử này không lạ với con người, như người mẹ sẵn sàng chết thay con, vợ hy sinh chết cho chồng, người chiến sĩ chết vì đất nước, quê hương, đồng bào. Nhưng hành động can trường bỏ mình, tự nguyện mất mình, xoá mình ấy cần một lý do, một động lực, một mục đích, như sống thì phải có “lẽ sống”, chết cũng cần một “lẽ chết”, nếu không cuộc sống sẽ vô nghiã, và cái chết cũng vô lý, vô vị.
“Lẽ chết” của những cái chết tự nguyện chính là tình yêu dành cho người mình yêu, như mẹ chết thay con vì yêu con, vợ chết cho chồng vì yêu chồng, tình nhân chết cho nhau vì yêu nhau, người lính chết ngoài mặt trận vì yêu quê hương, đồng bào. Không tình yêu, không ai dại dột mất mạng, toi mạng, bởi không ai điên khùng, vô duyên đến độ chết cho người mình không quen biết, không thân thiết, không yêu thương.
Và Đức Giêsu đã hiến mạng sống mình vì tình yêu, như những người yêu nhau đã chết cho nhau, vì nhau, khi nói với các môn đệ trước khi lên Giêrusalem để chịu bắt bớ, hành hình: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13), bởi ngoài cái chết, không còn cách nào để bầy tỏ tình yêu vô cùng và đến cùng của Thiên Chúa dành cho con người, không lời nào, việc làm nào đủ sức thuyết phục con người tin ở tình yêu bao la, vô tận của Thiên Chúa  đối với mình.
Như thế “lẽ chết” của Đức Giêsu chính là yêu con người, vì tình yêu Thiên Chúa mới cứu chuộc, chứ không phải đau khổ đã cứu chuộc, bởi đau khổ mà thiếu tình yêu, đau khổ không vì yêu thương, thì đau khố ấy chỉ làm con người bất hạnh nhiều hơn, nặng hơn gánh sầu, và tăng thêm khốn nạn cho nhân loại, mà không mang một giá trị cứu rỗi nào. 
2.   Hiến mạng sống mình vì sự sống của người mình yêu:
Không ai chết cho người không cần sống, như người mẹ chỉ chết cho con, khi bà biết cái chết của bà sẽ cho con bà được sống, và cái chết tự nguyện ấy được gọi là  cái chết thế mạng. Cũng như người vợ trong tiểu thuyết “Anh phải sống”  của nhà văn Khái Hưng thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã nói lên tình yêu hy sinh vĩ đại của chị Lạc, vợ anh phó Thức khi lẳng lặng buông tay khỏi vai chồng, chấp nhận bị cuốn trôi theo giòng nước lũ, “chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ”, để chồng được sống, khi thấy chồng không còn đủ sức xốc nổi mình nữa.   
Đức Giêsu cũng chết vì sự sống của con người, bởi cứ theo lẽ thường, thì con người phải chết, nghiã là sau khi nguyên tổ phạm tội, con người mất quyền làm con Thiên Chúa. Không còn là con, nên mất quyền thừa kế, không được dự phần hạnh phúc trong nhà Cha. Đó là lý do con người không có sự sống siêu nhiên trong Thiên Chúa, không có sự sống vĩnh cửu trong nhà Cha trên trời, không có đời sau vĩnh hằng trong vinh quang của Thiên Chúa sau khi lìa cõi đời tạm bợ, ngắn ngủi trên trần gian.
Vì thế, nếu không có cái chết thế mạng của Con Thiên Chúa, con người không thể hoà giải với Thiên Chúa, Đấng con người đã xúc phạm, khước từ; không có cái chết chuộc mạng của Đức Giêsu, nhân loại không thể nối lại được ân tình với Thiên Chúa; không có tình yêu hiến mạng của Ngôi Lời nhập thể, con người không được sống sự sống đời đời của Thiên Chúa, như Tin Mừng Gioan đã ghi lại lời Đức Giêsu: “Tôi là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”, “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10-11), bởi “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,9).
Cũng qua cái chết của Đức Giêsu, chúng ta khám phá bản chất đích thực của tội. Tội không chỉ là những vi phạm, làm tổn thương ở mức độ bình thường, nhưng tội  giết chết Thiên Chúa trong tâm hồn người có tội. Do đó, tội trở thành vấn đề sống chết đối với con người, bởi khi tội lỗi thống trị, con người không có sự sống của Thiên Chúa, khi tội lỗi chiếm cứ tâm hồn, Thiên Chúa phải lánh mặt và con người bị giam cầm trong bóng tối tử thần. Đó chính là lý do, để cứu con người có tội khỏi chết, Đức Giêsu đã phải chết để thế mạng, hầu con người tìm lại ánh sáng sự sống.
3.   Hiến mạng sống mình vì hạnh phúc của người mình yêu:
Hạnh phúc lớn nhất của con người là biết mình được Thiên Chúa yêu thương, bởi “được Thiên Chúa yêu thương”, con người biết mình sẽ không lo sợ gì, không phải thiếu thốn chi, vì Thiên Chúa là người cha toàn năng, nhân hậu và quan phòng, không để con cái mình phải đói rách, cơ hàn (x. Mt 6,25-34).
Nhưng để nhận ra tình cha của Thiên Chúa luôn quan tâm lo lắng cho hạnh phúc của con cái, con người chỉ có thể cảm nghiệm tình yêu ấy khi chiêm ngắm cái chết của Đức Giêsu. Chính nhờ cái chết “bất hạnh” của Ngài, mà con người được trả lại hạnh phúc đã mất do tội lỗi; chính qua cái chết “tang thương, bẽ bàng” của Ngài, mà con người tìm lại được thiên đàng đã đóng cửa. 
Trong cái chết và phục sinh của Đức Giêsu, con người không còn lo sợ sẽ phải chết đời đời là bất hạnh lớn nhất, bởi chỉ hai chữ đời đời thôi cũng đủ làm con người sợ hãi, do khao khát bất tử tiềm tàng trong bản tính con người, bởi con người được sinh ra từ cung lòng Thiên Chúa là Đấng hằng sống, vô thủy vô chung.
Không những cái chết của Đức Giêsu đã chuộc lại sự sống đã mất, mà sự phục sinh của Ngài còn bảo đảm sự sống mới bất diệt của con người. Đó là hạnh phúc lớn mà con người nhận được từ cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu.
Ngoài hạnh phúc được sống sự sống đời đời của Thiên Chúa, vì được Đức Giêsu  xóa hết tội và trả lại quyền làm nghiã tử của Thiên Chúa, con người còn nhận ơn Bình An của Đức Giêsu, mà chỉ sau khi sống lại Đức Giêsu mới chính thức ban cho các môn đệ của Ngài, bởi đó là ơn Bình An của Thiên Chúa đã chết và sống lại, ơn Bình An mà thế gian không ban được. Đó là Bình An cho tâm hồn được hoàn toàn giải phóng khỏi ách nô lệ của tội lỗi, khi được Máu Thiên Chúa rửa sạch mọi tội khiên, lỗi lầm.   
Nhận ơn bình an từ Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại, chúng ta sẽ không xao xuyến trước những thử thách của cuộc đời, không sầu tủi vì nghèo hèn, chán nản vì bị khinh chê, nao núng, ngã lòng vì bị truy lùng, bách hại, nhưng bình an trong mọi hoàn cảnh, bình an trong mọi thử thách, và vui mừng hớn hở vì phần thưởng Thiên Chúa dành cho trên trời thật lớn lao (x. Mt 5,12).
Qủa thực, Yêu là mong ước và nỗ lực đem lại hạnh phúc cho người mình yêu, và đối nghịch với Yêu là Thù khi chỉ muốn và làm mọi cách để kẻ thù phải khổ sở, bất hạnh.
Thiên Chúa yêu thương nên tìm mọi cách cho con người hạnh phúc với Ngài, ngay cả khi con người tự ý khước từ hạnh phúc, tự mình cắt đứt, cách ly với nguồn hạnh phúc là Thiên Chúa, tự nguyện rời xa hạnh phúc địa đàng như ông bà nguyên tổ đã nghe Rắn Độc ăn qủa Thiên Chúa cấm. 
4.   Hiến mạng sống để làm theo ý Chúa Cha:
Đức Giêsu không tự ý mình chọn cái chết, như nhiều người quy tội tự tử, quyên sinh cho Ngài, nhưng “tự nguyện chịu khổ hình và chịu chết”, vì tự nguyện vâng lời Thiên Chúa Cha, Đấng sai Ngai xuống thế gian với một sứ vụ là thế mạng cho con người, chuộc mạng cho loài nguời, để mọi người được sống đời đời.
Hình ảnh đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt, khi tha thiết cầu nguyện: “Lậy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này” (Mt 26,39) đã làm chứng Đức Giêsu ý thức “lên Giêrusalem chịu khổ hình và chịu đóng đinh” là một chén rất đắng đót, nhưng vì yêu mến và vâng lời Chúa Cha, Ngài đã thân thưa liền sau đó: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39), bởi vì giây phút này, vì chén đắng này mà Ngài đến trong thế gian.
Như thế, cuộc khổ hình và đóng đinh mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa phải chịu đã nằm trong kế họach yêu thương con người của Thiên Chúa Cha, đã ở trong chương trình chuộc lại con người đã hư mất vì tội lỗi của Chúa Cha, nên Đức Giêsu đã không chọn cái chết, vì công cuộc truyền giáo của Ngài bị bế tắc, thất bại, cũng không bất đắc dĩ chọn cái chết như một giải pháp của bại tướng để bảo toàn uy tín, danh dự, nhưng là sứ vụ được trao phó: thực hiện thánh ý “chuộc lại con người” của Thiên Chúa Cha đã có từ lúc nguyên tổ loài người sa ngã, phản bội, khi tự đánh mất quyền làm con và sự sống đời đời Thiên Chúa dành cho họ.
Tóm lại, cái chết của Đức Giêsu là chọn lựa của Thiên Chúa như cách thức tốt nhất để chuộc tội con người, trả cho con người ơn làm con và sự sống đời đời. Sự chết ấy còn là biểu chứng hùng hồn nói cho con người biết Thiên Chúa yêu thương họ “vô cùng và đến cùng”, đến hy sinh chính mạng sống.
Đây là sự thật của mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, mà chúng ta không thể chối cãi, nếu chúng ta khiêm tốn chiêm ngưỡng với đôi mắt đức tin và dưới ánh sáng của Tin Mừng, ở đó chúng ta sẽ được Chúa Thánh Thần dậy bảo để biết: Nếu không có mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Giêsu, không ai được cứu rỗi, tức không được hưởng hạnh phúc trong Thiên Chúa, với Thiên Chúa, vì ách thống trị của tội lỗi, tử thần; nếu Đức Giêsu không chịu khổ hình và đóng đinh chết trên Thánh Giá, không người nào được sống lại và lên trời, vì giữa loài người và Thiên Chúa không còn tình nghiã, bởi không có Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là Con Người làm trung gian giao hoà; nếu không có Đức Giêsu chịu đổ máu trên Thánh Giá, tội lỗi loài người và mỗi người mãi mãi ngăn cách Thiên Chúa với con người, và tình nghiã Cha Con giữa Thiên Chúa và con người không bao giờ được phục hồi, chuộc lại; nếu Đức Giêsu không chết như con người thì con người chẳng bao giờ bình an vì tương lai không lối thoát sau khi lìa bỏ cõi đời. Nhưng qua cái chết và sống lại từ cõi chết, Đức Giêsu đã đem đến cho con người, cho từng người ơn Bình An viên mãn, ơn Bình An trước mọi thách đố, kể cả sự chết, vì mọi người biết mình sẽ được sống lại với Đức Giêsu và như Đức Giêsu trong vinh quang của Ngài, với điều kiện đón nhận ơn cứu chuộc từ sự chết và phục sinh của Ngài.
Vâng, Đức Giêsu đã chấp nhận chết trên Thánh Giá, và người Kitô hữu “rao giảng một Đấng Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do Thái cho là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 2,23-24).
Cũng vậy, không ít người đương thời với chúng ta cho là “tào lao, chạm mạch, mát giây, không cần thiết” sự chết của Đức Giêsu. Nhưng với chúng ta, đó là tình yêu vô cùng cao qúy, lớn lao của Thiên Chúa khi “chết cho con người để con người khỏi phải chết, nhưng được sống”; đó là tình thiên thu, bền vững của một Thiên Chúa nhân từ và trung tín đã không chịu bỏ rơi con mình, dù con ngược ngạo, bội phản, bất xứng, nhưng cứu cho kỳ được, và tìm mọi cách chuộc lại những gì đã hư mất.
Thiên Chúa cũng nói với chúng ta: Ngài là Hy Vọng của mỗi người, nguồn hy vọng không bao giờ vơi cạn, niềm hy vọng không bao giờ làm chúng ta thất vọng, và cũng nói với chúng ta từ mầu nhiệm Tử Nạn, từ trên cao Thánh Giá lòng thương xót vô biên, vô cùng của Ngài, đồng thời dậy chúng ta học xót thương anh em với Ngài, bởi chỉ lòng xót thương mới sinh ơn Cứu Rỗi, chỉ lòng xót thương mới đem lại ơn Bình An, chỉ lòng xót thương mới nẩy sinh niềm Hy Vọng được sống lại và sống đời đời. 
Với Đức Giêsu chịu chết trên Thánh Giá, chúng ta nhận ra sự cao cả của Thiên Chúa khi sai Con Một của mình xuống thế gian và chết để cứu chuộc muôn người, đồng thời nhận ra sự cao cả của con người khi hiến mạng sống để làm chứng Công Lý và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa giữa anh em.
Và với Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta học yêu đến hy sinh mạng sống cho người mình yêu. “Mạng sống” đây chính là những chịu đựng anh hùng trước những trái ý, thiệt thòi, bất công người khác gây ra; “mạng sống” được dâng hiến đây chính là những tha thứ qủang đại khi bị xúc phạm, làm tổn thương; “mạng sống” bị mất đi đây chính là những việc làm âm thầm, kín đáo, yên ắng, vô tư, vô vị lợi vì hạnh phúc của mọi người, bởi trên Thánh Giá, khi tự nguyện chết cho chúng ta được sống, Đức Giêsu đã khiêm nhường, hiền lành, vâng phục, chịu đựng, bao dung, thương xót và bình an để luôn hướng về Thiên Chúa như con cái và hướng đến đồng loại như anh em là “mẫu người” mà Thiên Chúa đã muốn khi tạo dựng nhân loại.
Qủa thực, không có Đức Giêsu, nếu không có Thánh Giá; không có ơn Cứu Độ, nếu Đức Giêsu đã không làm người và chịu đóng đinh; không có hạnh phúc được sống đời đời, nếu Đức Giêsu đã không sống lại từ cõi chết. Vì thế, đã là người Kitô hữu, chúng ta phải gắn bó với sự chết vì yêu thương của Đức Giêsu, bởi sự chết của Thiên Chúa làm người đã chuộc lại cho Thiên Chúa sự sống Thiên Chúa mà con người đã làm mất, để “nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài”, Thiên Chúa được tôn vinh và chúng ta được sống hạnh phúc trong vinh quang của Ngài.
Jorathe Nắng Tím