Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2020

CON TÔI ĂN CẮP VẶT !


Các cô “bảo mẫu” trong các nhà trẻ không lạ gì cảnh tranh dành đồ chơi, giành giật nhau chí chóe của các em bé. Không ngày nào không có vài em mếu máo méc cô “Bạn ghẹo, bạn đánh, bạn cào, bạn dành đồ chơi của bé” và cuộc vật lộn với đám trẻ liên tục gào thét vì  giành dật đồ chơi tiếp diễn đến phút cuối của một ngày “giữ  trẻ”.
Tranh giành biểu hiện nhu cầu sở hữu. Sở hữu là khao khát tự nhiên của con người và ai cũng muốn có của riêng để giữ, để làm chủ, để được gọi là ông chủ, bà chủ. Nghèo lắm thì cũng làm chủ thân xác mình, làm chủ hơi thở, ý nghĩ của mình.
Chính vì có nhu cầu sở hữu mà con người ai cũng muốn vơ vét, tích trữ, thu gom cho mình ; nhưng khi mức độ thu gom, tích trữ vượt quá giới hạn cho phép thì biến thành tham lam, đưa đến hành động chiếm đoạt, trấn lột bất chính, phi pháp.
Đứa bé đòi quyền sở hữu trên những gì thuộc về bé. Bé giữ kỹ đồ chơi của bé. Bé có thể cho bạn cùng chơi, nhưng sẽ đòi lại sau đó, hoặc không cho bạn chơi cùng và khư khư giữ chặt cho mình. Bé biểu lộ quyền làm chủ trên của cải và quyết chí bảo vệ quyền làm chủ ấy bằng la hét thất thanh, inh ỏi khi có bạn nào rắp ranh chiếm đoạt. Ngay từ những tháng đầu đời, em bé đã diễn tả quyền làm chủ này khi không muốn cho ai đụng vào bình sữa của bé.
Lớn hơn một chút, bé sẽ muốn mẹ là của riêng bé, ba là của riêng bé, em Gấu là  của riêng bé… và tất cả, nếu được đều là cuả riêng bé. Khuynh hướng chiếm đoạt  làm của riêng bắt đầu lớn dần trong bé…
Đến một lúc, em thực hiện quyền làm chủ một cách phi pháp là ăn cắp tài sản của người khác và biến thành của  mình. Tiến trình từ nhu cầu sở hữu đến ăn cắp, chiếm đoạt được thực hiện rất nhanh, và tạo nhiều bước nhẩy vọt đáng chú ý.
Khi ăn cắp, em bé đã rơi vào tâm lý tham lam: muốn sở hữu thật nhiều. Nhưng tại sao em tham lam ? Em tham lam là do em chưa hiểu được giới hạn của quyền sở hữu và đòi hỏi của công bình xã hội. Nói cách khác, em chưa được dậy về công bình trong tương quan nhân loại.
Công bình là một ý niệm nền tảng trong đời sống chung của loài người. Công bình quy định ranh giới quyền lợi và bổn phận của mỗi người; đồng thời ấn định những nguyên tắc để đảm bảo trật tự của sở hữu. Trong một xã hội thiếu công bình, người ta sẽ bị cám dỗ “ăn thịt” nhau như cá lớn nuốt từng đàn cá bé. Trong thế giới không công bình, con người sẽ trở nên lang sói, điạ ngục của nhau, vì ai cũng muốn làm chủ, thống trị người khác.
Công bình bắt nguồn từ lòng tôn trọng người khác. Nhờ tôn trọng “con người” của người khác, ta sẽ tôn trọng của cải vật chất của họ. Nhờ tôn trọng nhân vị, ta sẽ tôn trọng mọi giá trị của nhân vị ấy. Thiếu lòng tôn trọng tha nhân như nền tảng của công bình, ta sẽ không thể học thuộc bài học công bình trong đời sống. Như thế, giáo dục về công bình là  giáo trình không thể thiếu trong gia đình và là bổn phận của cha mẹ đối với con cái.
Khi thấy con ăn cắp, cha mẹ bắt đầu khám phá con mình đã vượt ranh giới của sở hữu chính đáng, khi xâm phạm quyền làm chủ của người khác. Qua hành động  ăn cắp, em đã phá bỏ hàng rào phân định quyền sở hữu của em với quyền sở hữu của người khác. Và đó là vi phạm cần được chỉnh sửa.
Cha mẹ có thể chỉnh sửa thói ăn cắp nơi con bằng tập cho con một cung cách điều độ : điều độ trong ăn uống, điều độ trong ăn mặc, điều độ trong ăn chơi. Khi dậy em bé không phí phạm đồ ăn, thức uống, không vứt bỏ bừa bãi lương thực, không lấy quá nhiều đồ ăn vào điã rồi bỏ bứa, cha mẹ đang huấn luyện con tinh thần  điều độ chừng mực, một tinh thần cần thiết  của công bình. Khi hạn chế mua sắm áo quần, không mặc sức mua sắm hàng hiệu, cha mẹ đang đưa con vào điều độ khuôn khổ của tiêu dùng, một kỷ luật cần thiết cho công bình. Khi định mức chi phí giải trí, tạm gọi là ăn chơi, cha mẹ đang đưa con vào con đường điều độ hợp lý, một điều kiện cần thiết cho công bình. Nhờ chỉnh sửa con điều độ trong  chừng mực, khuôn khổ, hợp lý, cha mẹ  dẫn con đến gần hơn ý thức về công bình.
Nhưng còn một bước  nữa để đạt ý thức công bình nơi em bé mà cha mẹ phải làm, đó là giá trị của cải : vật chất và tinh thần. Khi đề cập đến những giá trị này, cha mẹ sẽ cho em thấy : không một giá trị nào mà không đòi máu xương, mồ hôi, nước mắt ; không một của cải nào mà không đến từ bàn tay chai sần vất vả, từ khối óc nhọc nhằn hy sinh. Chính vì thế, những giá trị ấy đòi mọi người phải tôn trọng quyền làm chủ của người có quyền sở hữu chúng. Và một khi ngang nhiên, ngang ngược, ngang tàng chiếm đoạt, người ta đã vi phạm một trọng tội đáng khinh bỉ. Sở dĩ đáng khinh bỉ vì không chỉ vi phạm quyền làm chủ của người khác trên của cải của họ, mà còn vi phạm chính nhân vị của người ấy; đồng thời hạ thấp nhân cách của mình. Bằng một phương pháp sư phạm tiệm tiến, cha mẹ dần dà cắt nghiã cho em : ăn cắp là vi phạm chính nhân vị của người khác.
Tại sao phải cho em bé biết : ăn cắp là vi phạm chính nhân vị của người khác, mà không chỉ là vi phạm tài sản vật chất của họ ? Vì ăn cắp vật chất chỉ là ăn cắp ở mức độ còn có thể bồi thường, nhưng ăn cắp những giá trị tinh thần như danh dự, uy tín thì  chẳng bao giờ có thể hàn gắn, đền trả. Từ ăn cắp vật chất, em bé sẽ lớn và có thể trở thành tên ăn cắp những tài sản tinh thần la điều không ai dám nghĩ, nhưng có thể xẩy ra.
Công bình như thế sẽ là điểm tựa để con cái bám chặt vào khi bị lòng tham cám dỗ. Công bình sẽ là ngọn hải đăng soi sáng những đêm đen bất chính của ích kỷ. Công bình sẽ là con đường thiết lập những tương quan vững chắc và sâu đậm cho tương lai trước mặt. Và công bình là bài học cha mẹ phải dậy cho con từ tấm bé khi hạt cỏ tham lam mới nhen nhúm nẩy mầm, len lỏi phát sinh trong tâm hồn thơ trẻ.
Xã hội hôm nay đang trải qua cơn khủng hoảng lớn về công bình. Nếu em bé trong gia đình ăn cắp, thì người lớn trong xã hội tham nhũng, hối lộ. Điều xấu tưởng nhỏ nơi em bé đã trở thành quốc nạn. Người ta không còn ý niệm về công bình xã hội và thản nhiên ăn cắp của công, biển thủ ngân qũy, làm mọi cách để chiếm đoạt tài sản của người khác và của quốc gia. Xã hội băng hoại khi công bình không còn chỗ đứng, và tệ hơn, khi người công chính bị cô lập, tẩy chay, dập vùi, tống khứ. Xã hội ngày càng nhiều tệ đoan, vì xã hội thiếu công bình. Xã hội ngày càng nhiều người nghèo khổ, vì xã hội không còn công bình. Một xã hội mà người ta không còn coi công bình là một giá trị, mà tệ hơn khi coi công bình là một cản trở thì xã hội ấy sẽ đi về đâu ?
Giữa bối cảnh bất lợi cho giào dục công bình, cha mẹ phải cố gắng hai lần hơn để chuẩn bị cho xã hội, đất nước những người con yêu mến công bình, dám dấn thân cho công bình. Chuẩn bị bằng giáo dục con cái tinh thần tôn trọng người khác và những gì thuộc về người khác.
Nhưng giáo dục công bình hay giáo dục bất cứ điều gì khác đều cần đến gương mẫu sống động. Nếu cha mẹ vui khi thấy con mang về nhà những đồ “lấy” được ở trường, hoặc “nhặt” được ở chợ mà không đặt vấn đề những thứ đó ở đâu, ai cho, thì em bé sẽ tiếp tục làm vui lòng cha mẹ bằng cách càng ngày càng “thỉnh” về nhà nhiều thứ khác. Nếu cha mẹ nhắm mắt trước những “cầm nhầm” của con thì con sẽ tiếp tục cầm nhầm vì biết cha mẹ không bao giờ muốn mở mắt. Nếu cha mẹ cũng “của người bồ tát, của mình lạt buộc”, tiện đâu “chôm” đấy thì con cái dại gì không phóng tay phát động phong trào đi “hôi của”. Trái lại, một gia đình có cha mẹ nghiêm khắc trong nếp sống công bình, không chấp nhận bất công ngay trong sinh hoạt gia đình sẽ giúp con cái nhận ra giá trị luân lý của công bình. Một gia đình ở đó cha mẹ luôn tỉnh táo trước những « bất thường” của con, nhất là những bất thường trong tiêu xài, đồ dùng, quần áo, con cái sẽ khó rơi vào cạm bẫy của trộm cắp, lưu manh.            
Giáo dục công bình sẽ dẫn con cái đến lòng vị tha, bác ái, vì nền tảng của lòng nhân ái chính là công bình. Người ta không thể thương người khác, giúp đỡ người khác nếu không sống công bình với người khác. Công bình làm cho thế giới loài người an bình và làm cho đời sống xã hội hài hoà, trật tự.
Để đất nước có công bình, gia đình phải sống công bình. Với những người con được yêu thương và đối xử trong công bình, xã hội sẽ có những công dân tốt với tư duy, hành động, nếp sống công bình “chí công vô tư”.   

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

CON TÔI NÓI DỐI NHƯ CUỘI!

Tuổi thơ bắt đầu bằng nhận thức thế giới bên ngoài với những thực tại còn xa lạ với em. Cha mẹ là thực tại em nhận thức đầu tiên, sau đó là các thực tại khác… Giai đọan nhận thức các đối tượng ở bên ngoài là giai đoạn khởi đầu của tiến trình hình thành nhân cách, tức là tạo tương quan, tạo khoảng cách để định vi : định vị mình và định vị người khác. Chính ở giai đoạn nhiều biến đổi còn hỗn mang này, hiện tượng nói dối xuất hiện nơi em bé, hiện tượng mà nhiều cha mẹ đã hốt hoảng, thất vọng khi đối diện vì cho đó là vấn đề lớn.
Khoa tâm lý có cái nhìn khác:
1.   Ngưỡng cửa  của phát triển nhân cách:
Nói dối nơi các em bé không có gì trầm trọng. Em bé bóp méo, thay đổi sự thật là muốn chứng tỏ mình bắt đầu đang là “cái gì đó” sẽ ngon lành, ghê gớm lắm. Để đạt đến tình trạng định rõ chỗ đứng của mình đối với mọi người, em cần biểu lộ cái gì riêng tư, độc đáo của em mà nói dối là cái em có thể làm người khác chú ý đến em nhất. Kéo chú ý là điều em mong đợi để mọi người chung quanh nhận ra em là em, với những độc đáo của riêng em. Nói dối còn nói lên khả năng biến báo, sáng kiến tài tình “khác người” của em, vì em đang cần trở nên “khác” mọi người chung quanh. Ta có thể hiểu đơn sơ: nói dối như  ngưỡng cửa bước vào giai đọan khám phá chính mình và tìm hình thành một nhân cách của em bé.
2.   Nói dối như bông đuà:
Em bé 4, 5 tuổi rất hay nói dối để bông đùa, làm cho người khác cười. Khi dấu diếm hay cắt xén một sự thật, em không có ý lừa người khác, cho bằng làm cho người khác cười vui và nhận ra khả năng sáng chế độc đáo của em. Em đang ở thời kỳ tạo ấn tượng về mình nơi người khác, nên chọn bất cứ phương cách nào hữu hiệu để người khác có ấn tượng về mình.

3.   Nói dối để tránh một hình phạt, qưở trách:
Với trí thông minh ở tuổi lên 4 lên 5, em thừa biết phải làm gì để giảm thiểu hình phạt hay cơn tức giận của cha mẹ trước sai trái của em. Óc tưởng tượng tuy còn non nớt nhưng cũng đủ để em dàn thành một cảnh tượng mới, đạo diễn một tình tiết mới và thủ một vai trò mới hầu đánh lạc hướng người lớn. Em vận dụng  khả năng diễn xuất để cha mẹ không nhận ra sự thật mà vì sự thật ấy, em có thể sẽ bị phạt hoặc bị la rầy. Sợ hình phạt cũng là nguyên nhân để em bé nói dối, bịa chuyện, đặt điều. Ở điểm này, cha mẹ cần lưu ý để không biến hình phạt thành mục đích của giáo dục mà quên đi mục đích chính của giáo dục là sự trưỏng thành của con.

4.   Nói dối để tránh một trách nhiệm do lười biếng, ỷ lại:
Em bé quen hưởng thụ sẽ nói dối để không phải làm việc. Trong trường hợp này, nói dối là cách trốn việc. Em nói dối đau bụng để khỏi đi học, được ở nhà xem phim hoạt hoạ hay chơi “game”. Em nói dối đã học bài để được tiếp tục chơi với bạn.

5.   Nói dối do dánh giá quá thấp chính bản thân mình:
Rất nhiều trẻ em nói dối vì thiếu thốn, yếu kém, thua thiệt. Vì không có được những “cái mình muốn có” trong thực tế, nên em bé phải nói dối để tạo cho mình một thế giới ảo, trong đó em sẽ có tất cả những gì em muốn, mặc dù tất cả những cái có đó đều ảo. Em cần có, dù có trong ảo tưởng để lấp đầy những thiếu thốn đang có nơi em. Em cần nói dối vì không đủ  khả năng nhận ra giá trị thực của mình, nên phải vay mượn những giá trị ảo khi nói dối. Đánh giá thấp về mình là một trong những nguyên nhân lớn của hiện tượng nói dối nơi trẻ em. Vấn đề của người lớn là làm thế nào để trẻ em phân biệt đuợc thực - hư, thật - ảo với quá trình đào tạo nhận thức về Thiện - Ác, Xấu - Tốt.
Đối diện với con lần đầu nói dối, cha mẹ nào không hoảng, vì nghĩ : con mình bằng ấy tuổi mà đã “ba xạo”, nói dối. Nỗi lo lắng không hẳn đã vô lý và không nền tảng, vì kinh ngihiệm cho thấy: không uốn nắn tinh thần tôn trọng sự thật từ tấm bé, đứa trẻ sẽ biến chất thành chú cuội nói dối chuyên nghiệp và khi lớn lên sẽ dễ rơi vào những cám dỗ của lừa đảo, mánh mung.
Trách nhiệm làm cha mẹ thường đẩy các vị đến những biện pháp đột ngột, bất ngờ đối với con cái và gây nên những phản ứng bất lợi nơi con. Khi bị cha mẹ thình lình tấn công, em bé sẽ hốt hoảng và không hiểu gì, nhất là khi em không đủ khả năng để nhận ra “nguy hiểm độc hại cho tương lai” của nói dối. Cha mẹ nhìn xa, còn em chẳng nhìn. Cha mẹ thấy, còn em không thấy gì. Hai bên xung kích. Hai bên xung đột. Căng thẳng cho cả hai bên. Căng thẳng cho em vì em chỉ là con muỗi. Căng thẳng cho cha mẹ là phải lấy búa lớn mà đập muỗi con. Không tương xứng, không cần thiết,  không hữu hiệu, không ích lợi cho cả hai bên.
Các nhà tâm lý đề nghị những giải pháp khác để giúp cha mẹ giải quyết hiện tượng nói dối của con cái ở tuổi ấu thơ. Đây là những giải pháp được nghiên cứu cẩn thận, áp dụng có hiệu qủa và nhất là luôn nhắm mục tiêu giúp con cái trưỏng thành.
6.   Cha mẹ trước hết hãy lắng nghe con.
Thiếu thời giờ cho con và không quan tâm lắng nghe con ngày nay đã trở thành vấn đề lớn của các gia đình. Vì hoàn cảnh khó khăn, vất vả cuả đời sống vật chất, cha mẹ đã không còn đủ thời giờ dành cho con, nên càng ngày khoảng cách giữa cha mẹ - con cái càng bị kéo xa, đào sâu. Có những người cha không gặp con ba ngày liền, vì đòi hỏi của công việc. Có những người mẹ không có đến 5 phút thủ thỉ tâm sự với con mỗi ngày. Thiếu giờ đã kéo theo thiếu quyến luyến, tâm sự và nhiều cái thiếu khác.
Lắng nghe con là nhiệm vụ hàng đầu của cha mẹ, vì không lắng nghe, cha mẹ không thể biết con mình đang ở đâu, đang cần gì và một khi cha mẹ phó mặc con mình cho “dòng trôi định mệnh”, con cái sẽ mất hẳn hướng đi trong cuộc sống. Lắng nghe con, cha mẹ sẽ biết: tại sao con tôi nói dối ? Tại con lo âu chuyện gì hay vì con qúa sợ một hình phạt nào đó do con tưởng tượng ? Lắng nghe con, cha mẹ sẽ thông cảm với mặc cảm yếu kém, thua thiệt bấy lâu đè nặng tâm hồn con và giúp con giải toả nhanh chóng những áp lực tâm lý này. Chính vì thế, liệu pháp đầu tiên cha mẹ nên dùng, đó là ngồi với con để nghe con nói.

7.   Giúp con phân biệt thế giới thực và thế giới ảo:
Trẻ em thường lẫn lộn hai thế giới thực - ảo, vì chưa định hình được thế giới bên ngoài, đồng thời chưa định được vị trí của mình đối với thế giới. Giúp em phân biệt hư - thực là giúp em va chạm với thực tế, đụng độ với cuộc sống thực bằng cách để em trực tiếp  với người khác và tập làm những công việc nhỏ, thường ngày như giúp mẹ dọn bàn, xắp xếp ngăn nắp đồ chơi. Những công tác nhỏ tưởng không cần thiết, nhưng rất hữu hiệu để giúp em gặp gỡ thế giới thực bên ngoài.

8.   Bầy tỏ niềm cảm thông và hiểu biết bằng cách cắt nghiã sự kiện nói dối một cách tích cực.
Có đôi khi, cha mẹ không nên quyết đoán tính tiêu cực cần phải tránh của nói dối, nhưng có thể tìm cách cắt nghiã một cách tích cực. Thí dụ : cha mẹ có thể nói với con : “Ba biết con không nói thật với ba khi con làm bể kíếng, vì  tận thâm tâm, con đã không hề muốn làm bể kiếng”. Khi nghe  điều này, em bé sẽ được cởi mở tâm tư và ra khỏi ngõ bí của mặc cảm, vì được ba em gỡ bí, giải toả. Em nhận ra cha mình thật giỏi, thật tài vì đã đọc được bí mật của em khi biết em không hề muốn làm bể kiếng. Thế là em hạnh phúc vì được thông cảm và nhất là “sự thật: không muốn làm bể kiếng” của em được chấp nhận. Nhờ thế, em sẽ không nói dối nữa.

9.   Tìm giải pháp hơn là hình phạt:
Khi em bé nói dối để tránh một hình phạt thì việc làm của cha mẹ khi khám phá ra sự thật sẽ là cùng em tìm một giải pháp chung, hơn là lên án, quyết định một hình phạt. Hình phạt là sự xấu em đang tránh, nay cha mẹ lại áp đặt trên  em, hoá ra em trở thành người thất bại đã không tránh được hình phạt vì nói dối không xuôi, che đậy sự thật chưa kín. Nghĩ như thế, em sẽ tìm cách nói dối chuẩn hơn, dấu diếm kỹ hơn với hy vọng sẽ không còn bị phạt trong những lần nói dối tiếp theo.  

10.  Cắt nghiã tại sao phải nói thật.
Mục tiêu của giáo dục sự thật là cho em bé biết sự thật luôn là điều mọi người tìm kiếm và yêu mến. Không ai thích dối trá, cũng như không ai muốn làm bạn với người nói dối. Hãy đặt cho em câu hỏi : “Nếu ai nói dối con, con có thích họ không ? Nếu bị người khác lừa dối, con sẽ vui hay buồn ?”. Khi nhận ra người nói dối là người không được ai thích, em sẽ tránh không nói dối để được mọi người thương, vì nhu cầu cần được yêu và được chấp nhận rất mạnh trong em ở tuổi này, như đã nói ở phần trên. Đàng khác, em sẽ tìm niềm vui được nghe sự thật hơn nỗi buồn bị người khác nói dối, đánh lừa.  

11.  Đề cao thái độ lương thiện, thành thực bằng cách khen ngợi con khi con nói thật.
Thí dụ : khi con làm bể ly tách trong nhà và thú nhận mình đã làm bể thì cha mẹ lập tức hãy khen ngợi em, vì em đã nói thật, bằng cách không đá động gì đến giá trị vật chất của ly tách em đã làm bể. Người mẹ khôn ngoan sẽ nói : “Ôi, con của mẹ giỏi quá, ngoan qúa, vì con đã nói hết với mẹ và chẳng dấu mẹ điều gì, ngay cả khi con đánh bể đồ trong nhà!” thay vì cau có, khó chịu: “Đến khổ, con làm bể cái tách này là kỷ niệm của ông ngoại, cái ly này mẹ mua rất đắt ở Singapore”. Khi đặt giá trị vật chất lên trên giá trị tinh thần, cha mẹ đã vô tình dậy con một thang giá trị sai lệch để đánh giá mọi sự, mọi việc trong đời. Một cách nào đó, cha mẹ đã khẳng định một cách sai lầm: “cái ly, cái tách quan trọng và qúy giá hơn sự thật”. Vì thế, cái tách, cái ly, cho dù là kỷ niệm qúy hay đắt tiền cũng không thể được xếp hạng cao hơn sự trung thực của con trong giáo dục gia đình. Đây là thiếu sót mà nhiều cha mẹ đã vấp phải. Thiếu sót này đã làm con cái đau lòng và đẩy chúng  lún sâu hơn trong nói dối.
 
12.  Làm gương nói thật:
Trí khôn và tâm hồn em bé là trang giấy trắng, là tấm bảng chưa viết chữ (tabula rasa), nên bất cứ một việc làm, cử chỉ, lời nói nào của cha mẹ cũng được ghi nhận và hằn sâu đến khó gột rửa. Chính vì thế, cha mẹ phải thận trọng và đừng để con học thói xấu thiếu thành thật của cha mẹ, ngay trong những việc cỏn  con, tưởng không ảnh hưởng gì. Thí dụ : Khi chuông điện thoại reo, người mẹ liền để ngón tay lên miệng, ra dấu cho con im lặng và nói nhỏ: “Đừng nói mẹ ở nhà!”. Em bé sẽ không hiểu tại sao mẹ đang ở nhà mà lại dặn em nói : mẹ không ở nhà. Đơn giản là mẹ đã dậy con nói dối, dậy con thiếu thành thật ngay từ tấm bé.
Giáo dục sự thật và lòng trung thực đòi cha mẹ phải tuyệt đối tránh làm gương xấu cho con khi lôi kéo con vào những trò gian dối, lừa lọc, thiếu trung thực. Bất cứ một việc làm gian dối, một lời nói không  đúng sự thật nào đều là thuốc độc giết tính trung thực, trọng sự thật của con cái. Xã hội hôm nay rất thiếu sự thực, khi người người nói dối, nhà nhà nói dối. Người ta không còn biết ngượng khi nói dối và thản nhiên lấy điều dối trá làm sự thật. Nói dối nghiễm nhiên trở thành một thứ “văn hoá”, văn hoá của diệt vong, văn hoá sự chết ; vì nói dối sẽ tiêu diệt mọi tương quan  giữa con người, sẽ phá đổ mọi công trình của cộng đồng nhân loại, và nhất là sẽ tàn phá chính bản thân  người nói dối. Nói dối đang thống trị và lộng hành trong xã hội hôm nay. Nếu gia đình không còn là lớp học dậy sự thật, huấn luyện lòng trung thực, đào tạo tinh thần  trọng sự thật thì mong gì xã hội ngày mai sẽ tốt hơn, trong sạch hơn với bầu khí không còn ô nhiễm bởi gian dối, lừa đảo?   
13.  Tạo bầu khí yêu thương: Sở dĩ em bé nói dối cha mẹ là vì sợ cha mẹ la rầy, quát mắng, trừng phạt. Nhưng tại sao em sợ? Em sợ vì em biết mình sẽ không được tha thứ khi nói thật, mà sự thật thường làm đau lòng, sự thật thường khó đón nhận. Vì thế khi phải “xuất đầu lộ diện” một mình mà không có tình yêu thương, tha thứ đi cùng, sự thật sẽ dễ bị đánh gục và trở thành nguyên nhân của đổ vỡ, đau khổ. Đó là lý do người lớn cũng như em bé rất ngại nói thật.
Sống trong gia đình thiếu bầu khí yêu thương, tha thứ, em sẽ sẽ khám phá ra rằng : bất cứ một lỗi lầm, sai sót nào của ai cũng bị trừng phạt và gây nên căng thẳng cho mọi người; vì thế, đến lượt em làm sai, em thấy ngay số phận của mình và hình phạt sẽ gánh chịu. Thiếu yêu thương, người ta sẽ không dám nói thật. Thiếu tình mẹ cha sẵn sàng thông cảm, thứ tha, em bé sẽ không dám nói thật và nói dối sẽ là giải pháp duy nhất để em thoát khỏi nhục hình.
Tạo một bầu khí yêu thương, bao dung, rộng lượng trong gia đình là khích lệ con cái sống trung thực với chính mính và với mọi người. Trung thực là nguồn vui nội tâm, là hạnh phúc khi sống với người khác, là niềm hãnh diện của một lương tâm trong sáng, lành mạnh. Phát huy tính trung thực nơi con cái là gián tiếp xây dựng tình yêu thương, tha thứ giữa mọi thành phần của gia đình để không một lỗi lầm, sai phạm nào của con cái mà không được cha mẹ thứ tha, thông cảm; đồng thời không một “cám dỗ” nói dối, gian ngoa nào có thể làm sụp đổ lòng tự tin và niềm tin vào tình yêu của cha mẹ nơi con cái.  

Huấn luyện con cái tôn trọng sự thật là bổn phận tương đối khó trong xã hội nhiều gian dối ngày nay. Tuy khó, nhưng phải thực hiện, vì đó là nền tảng của một lương tâm ngay thẳng, trong sáng. Thiếu lương tâm ngay thẳng, con cái sẽ vào đời qua những ngõ quanh co khi mất điểm tựa, tiêu chí cho các chọn lựa. Thiếu lương tâm trong sáng, cuộc sống con cái sẽ mịt mờ, vô định, vì thiếu ánh sáng sự thật soi dẫn. Bao nhiêu thảm hoạ đã ập đổ trên những con người  không có sự thật mà nguyên nhân là sự thiếu quan tâm của cha mẹ trong công tác giáo dục sự thật khi con cái còn ấu thơ, bé bỏng. Với thiện chí và khả năng, chúng ta không thể tiếp tục để thế giới hôm nay chìm đắm trong gian dối, bằng bắt đầu sống sự thật ngay hôm nay  trong chính gia đình, với con cái mình.    

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

CÂU CHUYỆN TRỪ QỦY


Sáng nay người viết nhận được thư của người bạn ở Đà Lạt. Trong thư, anh đề nghị người viết chia sẻ với bạn đọc về chuyện ma qủy và trừ qủy. Cũng trong tuần này, người viết được đọc thông cáo của Toà Giám Mục Đà Lạt liên quan đến việc của “nhóm trừ qủy” của chị Têrêsa Nguyễn Thị Thương, giáo dân thuộc giáo xứ Bảo Lộc.
Thực ra, người viết đã thực hiện một cuốn sách đặc biệt về ma qủy dầy 158 trang do Phương Đông và Nhà Sách Đức Bà Hoà Bình đồng xuất bản tại Sàigòn. Lúc đầu, cuốn sách có tên “Ma Qủy”, nhưng khi kiểm duyệt vào năm 2015, cơ quan văn hoá đã từ chối đề tựa này, nên người viết bắt buộc phải lấy một tựa đề khác  nhẹ nhàng, kín đáo hơn: “Xin Chớ Để Chúng Con Sa Chước Cám Dỗ”. Nhờ thế mới có được giấy phép xuất bản vào năm 2016.
Sách gồm 7 chương:
·      Chương 1 : Có ma qủy không?
·      Chương 2 : Ma qủy là ai?
·      Chương 3 : Những mũi nhọn hoạt động của ma qủy.
·      Chương 4 : Chiến thuật cám dỗ của ma qủy.
·      Chương 5 : Một số hiệp hội và phong trào phò Satan chống phá Đức Giêsu.
·      Chương 6 : Sợ ma qủy? Trừ qủy.
·      Chương 7 : Đức Maria, Đấng đã đạp giập đầu Satan.
Với nội dung trên, rất mong quý Bạn sẽ có dịp tìm hiểu thêm về ma qủy, trong đó có cả việc trừ qủy mà dư luận đang xôn xao. Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, toàn bộ cuốn sách sẽ được chia sẻ cùng qúy Bạn trên trang Tin Mừng Đường Phố, hoặc Hãy Ra Khơi: tinmungduongpho.blogspot.com/ hayrakhoi.com
Riêng trong bài này, người viết chỉ chia sẻ một vài nhận định chung quanh hiện tượng trừ qủy:
1.   Trừ qủy bằng quyền năng của Thiên Chúa:
Quyền năng trừ qủy từ Thiên Chúa phải được ban từ Đấng Bản Quyền trong Giáo Hội, cụ thể là Đức Giám Mục giáo phận sở tại. Vì thế, bất cứ ai không được Đức Giám Mục chính thức ban  quyền trừ qủy đều bị coi là trừ qủy ngoài quyền năng của Thiên Chúa, cho dù người ấy có “nhân danh Thiên Chúa” khi trừ qủy.
   Trong nhiều trường hợp, những người tự mình trừ qủy  thường :
a.   Tự cho mình trực tiếp nhận sứ mạng trừ qủy từ Thiên Chúa qua thị kiến.
Họ thường qủa quyết: “Chúa nói thế này, Chúa bảo thế kia”, và không ngượng ngùng kể lại những cảnh tưởng Chúa hay Đức Mẹ hiện ra với họ, hoặc nói với họ những “sứ điệp”, mà hầu hết được sao chép từ sứ điệp đã được mặc khải cho vị thánh nào đó. Còn lại thì đều là những “mặc khải” không phù hợp giáo lý đức tin, xa Tin Mừng, nếu không muốn nói là  lỏng lẻo, rời rạc, mâu thuẫn.
b.   Đánh đồng mọi hiện tượng bệnh lý là qủy ám:
Đặc điểm của những người trừ qủy “tự do, tự phát” này là tình trạng thiếu khả năng y học, thiếu hiểu biết thần học, thiếu kỹ năng tâm lý, nên bất cứ hiện tượng bất thường nào trên thân xác và tinh thần của người nào đó đều bị họ coi là do ma qủy quậy phá, xâm nhập. Với họ, ma qủy bao trùm mọi nơi, mọi lúc, không chế mọi sự, mọi người, nên đau bụng, nhức đầu, thậm chí nhìn không tỏ, nghe không rõ cũng do ma qủy làm, và bất cứ ai đến xin họ giúp đỡ cũng được xếp vào hàng ngũ những người  bị qủy ám.
Vì thiếu khả năng và kiến thức trong nhiều lãnh vực, nên có những bệnh nhân chỉ cần đi gặp bác sĩ, được điều trị sẽ khỏe mạnh bình thường đã trở thành người bị qủy ám và chịu đủ mọi “kiểu cách trừng phạt” đôi khi rất dã man để trục qủy, đuổi qủy, lấy qủy ra khỏi người.
c.    “Nhân danh Thiên Chúa” cách bừa bãi và mê tín:
Quan sát cảnh tượng trừ qủy của những người trừ qủy “tự biên tự diễn”, chúng  ta nhận thấy tính cách đồng bóng, mê tín trong cách thức trừ qủy, khi họ luôn miệng “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần”, và biến lời “nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa” thành câu thần chú, làm như cứ đọc thần chú là có tác dụng trừ qủy, cứ nhân danh Thiên Chúa là có hiệu lực đuổi được qủy ngay.
Chưa kể năng quyền trừ qủy phải được trao ban từ Đấng Bản Quyền thuộc Giáo Hội, hành vi “nhân danh Thiên Chúa” cách bừa bãi và thiếu “thánh thiêng” đã  làm chứng việc trừ qủy không còn là hành vi đức tin, nhưng thuần đồng bóng, mê tín, mượn danh Giáo Hội “đánh lận con đen”
d.   Sử dụng bạo lực:
Trừ qủy theo kiểu “tự phát” thường dùng bạo lực để trục qủy ra khỏi người bị qủy ám như dùng tay chân  đánh, đá, hoặc dùng roi quất mạnh trên người. Đây là điểm hoàn toàn khác với phương thức trừ qủy của giáo quyền dựa trên đức tin của  tòn thể Giáo Hội và ơn phù trợ của Thiên Chúa.
Tóm lại, những người có đạo tự cho mình quyền trừ qủy thường “nhân danh Thiên Chúa” để trừ qủy, nhưng lại từ chối quyền của Giáo Hội, và không tuân phục Đấng Bản Quyền địa phương là điều kiện để việc trừ qủy được công nhận là việc làm của đức tin khi dựa vào quyền năng Thiên Chúa, và hiệp thông với toàn thể Hội Thánh.    
Trong những trường hợp này, việc “nhân danh Thiên Chúa” của họ chỉ được coi như bình phong, lá chắn cho việc làm mê tín, không thuộc đức tin, không hiệp thông với Giáo Hội, và những kinh đọc, thánh ca của Giáo Hội được họ sử dụng khi “tự ý trừ qủy” đều không mang tính thần thiêng, và không có giá trị đức tin để sinh ơn ích siêu nhiên.
2.   Trừ qủy bằng quyền của ma qủy:
Ma qủy là lòai thụ tạo thiêng liêng, nên chúng có khả năng quậy phá con người một cách “thiêng liêng”.
Tuy bị trừng phạt, nhưng Thiên Chúa không lấy khỏi chúng bản tính thiêng liêng mà Ngài đã ban khi tạo dựng nên chúng. Vì thế chúng có thể làm khổ con người một cách “thiêng liêng”, mà con người không thấy, vì chúng mang bản tính thiêng liêng, vô hình, vô tượng.
Do đó, chúng ta biết chắc: có hiện tượng bị qủy ám, và Tin Mừng đã nhiều lần kể lại những phép lạ trừ qủy  Đức Giêsu đã làm, cũng như chính Đức Giêsu  đã công bố: “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ qủy, thì qủa là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt 12,28), đồng thời ban quyền trừ qủy cho các môn đệ của Ngài, như Tin Mừng Máccô đã khẳng định: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những người có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được qủy…” (Mc 16,17).
Đối với ma qủy, chúng gieo rắc tai ương cho con người, nhưng cũng chính chúng có khả năng lấy đi tai ương chúng đã gieo để nạn nhân của chúng tin theo chúng, vì thấy chúng “toàn năng”, làm được việc lạ. Bởi thế có những phép lạ do ma qủy làm, cũng như những người bị qủy ám được chữa khỏi bởi quyền năng của qủy, được thực hiện do những kẻ tin vào ma qủy, và trở thành cánh tay nối dài của chúng.
Khác với Giáo Hội nhân danh Thiên Chúa và với quyền năng của Thiên Chúa trừ qủy, những người theo ma qủy, tự nguyện làm tay sai cho ma qủy sẽ dựa vào quyền năng phá hoại, hủy diệt, làm hại con người của chính ma qủy để “trừ qủy”. Nói cách khác, ma qủy dùng chiến thuật nhập vào một người nào đó, sau đó sẽ dùng những người chấp nhận “bán linh hồn” cho chúng, tình nguyện đầu quân phục vụ chúng “nhân danh qủy” là chúng để “trừ qủy” cũng là chúng, với mục đích làm cho nạn nhân bị “chúng ám” và nhiều người chứng kiến “phép lạ” chúng làm mà tin vào chúng.
Tin Mừng Mátthêu thuật lại: sau khi Đức Giêsu chữa “người bị qủy ám vừa mù lại vừa câm”, thì những người Pharisêu  nói rằng: “Ông này trừ được qủy chỉ là nhờ dựa thế qủy vương Bêendêbun”. Biết ý nghĩ của họ, Đức Giêsu nói: “Bất cứ nước nào tự chia rẽ, thì sẽ điêu tàn. Bất cứ thành nào, nhà nào chia rẽ thì sẽ không tồn tại” (Mt 12,25).
Khi nói điều này, Đức Giêsu cảnh cáo những người Pharisêu, vì họ đang xúc phạm đến Chúa Thánh Thần khi “chụp mũ” Ngài dựa vào tướng qủy Bêendêbun để trừ qủy, vì họ ghen tương với quyền năng làm phép lạ, cũng như uy tín của Ngài trên đám đông, trong khi Ngài “dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ qủy” (Mt 12,28). Bằng chứng là tiếp liền sau đó, Đức Giêsu đã thẳng thắn lên tiếng trách mắng họ: “Ai không đi với tôi, là chống lại tôi; và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán. Vì thế, tôi nói cho các ông hay: mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha” (Mt 12,30-31).
Ngoài ra, Ngài cũng gián tiếp thừa nhận có những người dựa thế qủy vương để trừ qủy, để củng cố điều Ngài khẳng định: “Nếu Xatan trừ Xatan, thì Xatan tự chia rẽ” (Mt 12,26), vì qủa thực nước của Xatan không còn có thể tồn tại vì  Thiên Chúa đã có mặt giữa loài người, và “triều đại của Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt 12,28), như Ngài nói với những người Pharisêu cứng lòng bị Ngài coi là đang ở dưới ách thống trị của thần dữ Xatan.       
Thực vậy, ma qủy ám hại con người là điều có thực, vì chúng là kẻ phá họai, tìm gieo rắc tai ương, bất hạnh và sự chết đời đời trong nhân loại. Là loài thụ tạo thiêng liêng, chúng làm được phép lạ để lừa phỉnh loài người, hầu tin ở chúng chống lại Thiên Chúa, nên trước hiện tượng qủy ám, qủy nhập, người môn đệ Đức Giêsu cần xác tín: Thiên Chúa mới là Chủ Tạo, ma qủy tuy làm được những điều lạ, sự lạ cũng chỉ là thụ tạo như chúng ta, khác chăng là  bản tính thiêng liêng, vì thuộc đẳng thiên thần.
Trước những việc lạ, sự lạ ma qủy làm, người đi theo Đức Giêsu phải tuyệt đối tín thác và dựa vào quyền năng của Thiên Chúa, mà không được đầu quân làm tay sai cho chúng để phỉnh lừa thiên hạ, bởi chúng rất mưu mô, xảo trá, biết dùng mọi thủ đọan để lôi kéo chúng ta bỏ Thiên Chúa đi theo chúng.
Và để giữ vững đức tin, không gì quan trọng và hữu hiệu hơn với người Kitô hữu là sống tinh thần Vâng Phục Hội Thánh là Hiền Thê yêu dấu, là Thân Thể mầu nhiệm của Ngài. Chính lòng yêu mến, vâng phục Giáo Hội là bảo chứng hùng hồn: chúng ta thuộc về Chúa; là xác quyết không thể chối cãi: chúng ta là chi thể của Nhiệm thể Giáo Hội có Đức Giêsu là Đầu; là bảo đảm chắc chắn: chúng ta thực hiện Thánh Ý khi “nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi”.
Xin Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ thương xót cứu chữa, và chớ để chúng con sa chước cám dỗ và cạm bẫy của ma qủy.
Jorathe Nắng Tím

TRONG MỘT THẾ GIỚI BẠO LỰC

Những ngày tháng cách ly vì Covid-19, sinh hoạt toàn cầu như chậm lại, người người xem ra hiền lành, nhu mì, dễ thương hơn, và người ta có cảm tưởng đại dịch đã giúp ai nấy ý thức hơn về cuộc đời ngắn ngủi, vô thường, và phận người bèo bọt, mong manh như “hoa sớm nở tối tàn”, để có thể hy vọng từ nay cuộc sống cộng đồng  sẽ an bình, hoà thuận, thân ái hơn.
Nhưng thực tế chứng minh ngược lại: bạo lực vẫn khủng khiếp, khi “cách ly” chưa chấm dứt, dịch bệnh vẫn hung hăng hoành hành, tỷ số tử vong vẫn trồi sụt từng ngày, thì khắp nơi trên thế giới bạo lực đã làm tan hoang.
Ở Mỹ, hằng triệu người xuống đường biểu tình bạo động, đốt xe, phá tiệm, hôi của, bắn chết người trên khắp các thành phố của Mỹ, vì một cảnh sát da trắng đã bạo lực khống chế George Floyd, một người da đen 46 tuổi, và dùng đầu gối ghì chặt cổ suốt 8 phút 46 giây, khiến anh này nghẹt thở và tử vong tại chỗ. Ở Pháp,  ủng hộ cao trào chống kỳ thị chủng tộc đang nở rộ ở Mỹ, hàng ngàn người biểu tình hò hét inh ỏi đòi trả lại công lý cho Adama Traoré, cũng là người gốc Phi Châu đã chết sau vài giờ bị bắt giam tại đồn hiến binh Persan, vùng Beaumont -sur- Oise ngày 19/7/2016. Và khắp nơi, từ Úc qua Hồng Kông, từ Trung Đông sang Nam Mỹ… ở đâu cũng tràn ngập bạo lực đang đe dọa, làm sợ hãi. Cả Việt Nam được xem là đất nước an ninh, người dân cũng nơm nớp lo sợ bạo lực bất ngờ ập đến, như thời sự an ninh chính thức của nhà nước vừa thông báo: vào lúc 20 giờ ngày 5/6/2020 có hơn 200 thanh niên cùng mặc áo vàng cam chở nhau trên những chiếc xe gắn máy với hung khí như giáo mác, cây ba chiã xông vào đập phá, đâm chém loạn xạ trong Quán Ốc trên đường số 6, phường An Lạc A, quận  Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh làm đông đảo thực khách hốt hoảng bỏ chạy. Một người đàn ông chạy không kịp đã bị nhóm côn đồ này đánh gục nằm sõng sượt trên sàn nhà.      
Tình trạng bạo lực xã hội, hiện tượng bạo hành gia đình, không khí bạo lực trên khắp các phương tiện truyền thông là sự thật không thể chối cãi và ngày càng làm chúng ta sợ hãi, lo lắng cho một tương lai không an lành. Chúng ta lo cho con em khi bạo lực không chỉ trên đường phố, ngoài công lộ, nhưng có mặt ngay trong lớp học, giữa sân trường dưới đủ hình thức rất tồi tệ, dã man như thầy cô đánh học trò như “đánh địch, diệt thù”, và học trò canh me, chặn đường xử đẹp thầy cô như trong phim sát thủ, chiến tranh; chúng ta lo cho chính chúng ta khi bạo lực tràn lan, và có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, do bất cứ ai, vì bất cứ lý do nào: dừng xe trước đèn đỏ và ngơ ngác, lơ đãng nhìn chung quanh cũng có thể “chết oan” vì vô tình bị côn đồ kết tội “nhìn đểu”, nên cha mẹ chỉ thực sự an tâm khi con cái  trở về nhà bình an sau giờ đi học, đi làm vì ra đường không biết có về lại nhà được không, bởi trăm mối nguy hiểm bên ngoài.
Thực vậy, bất hạnh lớn nhất của chúng ta là phải sống trong một thế giới đầy bạo lực, khi không nơi nào bảo đảm an ninh, không chỗ nào có an bình, không địa điểm nào an toàn, không bị đe dọa, bởi hạnh phúc chúng ta đi tìm là được sống bình an trong một thế giới công lý được tôn trọng, luật pháp được thượng tôn, nhân quyền được bảo đảm.
Nỗi lo sợ trước bạo lực của chúng ta rất chính đáng, vì bạo lực đặt chúng ta trước những lo sợ “rất đáng sợ” vì những lý do sau:
1.   Đầu óc bạo lực không  biết đến bất cứ sự gì ngoài bạo lực:
Khi thấy những người cầm dao chém loạn xạ trên người khác, chúng ta ngạc nhiên vì thấy họ hành xử như người “không biết hậu qủa của hành vi giết người sẽ là bản án tử hình”. Họ cũng chẳng quan tâm đến đối tượng của hành vi bạo lực là ai, như Nguyễn Văn Đông 53 tuổi chỉ trong 15 phút đã chém chết bốn người của gia đình người em trai: gồm em trai, ông Nguyễn Văn Hải 51 tuổi, vợ ông Hải 49 tuổi, con gái ông Hải 28 tuổi, và bé Nguyễn Đỗ Huyền My 1 tuổi, cháu nội ông Hải. Riêng chị Hồng Nhung 24 tuổi, con dâu ông Hải tuy cũng bị chém, nhưng được cứu sống trong đường tơ kẽ tóc, tại huyện Đan Phượng, Hà Nội, lúc 7 giờ 30 sáng ngày 1/9/2019 .
Điều này cho chúng ta thấy khi đầu óc bị bạo lực xâm chiếm, người ta không còn biết gì khác ngoài bạo lực, không còn lý luận nào khác ngoài logic bạo lực, không còn giải pháp nào khác ngoài phươngán bạo lực, không còn lối ra nào khác ngoài cửa bạo lực.
2.   Trái tim bạo lực không hướng đến bất cứ điều gì ngoài ganh ghét, thù hận:
Câu chuyện bạo lực đầu tiên trong thế giới loài người được Kinh Thánh kể lại là cuộc thảm sát Aben mà thủ phạm chính là Cain, anh ruột của Aben, chỉ vì ganh ghét, khi Thiên Chúa nhận lễ vật của Aben, mà không đoái nhìn đến của lễ của Cain. Lòng ganh ghét đã biến thành thù hận, và thúc đẩy Cain đến hành động dụ em ra ngoài đồng rồi “xông đến giết Aben, em mình” (St 4,8).  
Cain cũng như những người có trái tim bạo lực đã không hướng đến tình người, tình yêu gia đình, tình nghiã huynh đệ, nhưng ganh ghét chiếm cứ toàn bộ trái tim và hận thù trở thành động lực của hành vi bạo lực: giết chết, tiêu diệt.
3.   Bạo lực dẫn đến hủy diệt:
Người ta thường ngụy biện: bạo lực là phương tiện hữu hiệu để đạt mục đích, nên không ngần ngại chủ trương: mục đích biện minh cho phương tiện. Thế là bạo lực được xử dụng trong moi sinh hoạt, bạo lực được dùng ở mọi hoàn cảnh, tình huống, miễn sao đạt mục đích được đề ra. Vì thế, nhiều người đã không nhận ra chân lý rất quan trọng đó là tự bản chất, bạo lực đã là một điều xấu, hành vi xấu nên cho dù lý giải thế nào, ngụy biện đến đâu, bạo lực cũng vẫn là bạo lực, và mãi là nguyên nhân của sự dữ lớn nhất, sự ác tồi tệ hơn tất cả.
Bởi bạo lực dẫn đến hủy diệt, nên bạo lực đe dọa sự sống; bởi bạo lực  mang lại chết chóc, nên bạo lực đe đọa sinh mạng của con người đang sống, nên ai cũng sợ bạo lực, cũng tránh né những con người bạo lực, vì ai cũng yêu mến sự sống, người nào cũng ra sức gìn giữ mạng sống là giá trị nền tảng của các giá trị khác.
Qủa thực, bạo lực ngày càng lan tràn, đe dọa thế giới loài người, và bạo lực sẽ biến thế giới này thành một nơi không còn tình thuơng và sự sống là hai “cái thiếu ở hoả ngục”, bởi ở đó chỉ có những người ganh ghét, hận thù nhau, và đời đời phải nuốt “trái đắng khủng khiếp nhất của bất hạnh” là sự chết của linh hồn như hình phạt dành cho họ.
Vì thế, chỉ một nền văn minh tình thương và sự sống nơi những con người “hiền lành, khiêm tốn, yêu chuộng công lý, hoà bình” mới có thể  giải cứu thế giới hôm nay khỏi nguy cơ bạo lực. Nhưng để có trái tim “hiền lành và khiêm nhường” để xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống, chúng ta không thể tự mình thực hiện, nếu không tin vào ơn phù trợ của Đấng là Tình Yêu và Sự Sống. Chính Ngài đã ban cho con người sự sống và tình yêu để con người được hạnh phúc khi yêu thương nhau trong cuộc sống làm người.
Jorathe Nắng Tím   

TẠI SAO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO ĐI THEO GIÁO PHÁI? (4)

BẦU KHÍ THÂN THIỆN CỦA GIA ĐÌNH  GIÁO HỘI

Tuổi trẻ trong Giáo Hội được coi như trẻ thơ trong gia đình, và trẻ thơ rất cần bầu khí yêu thương, thân thiện, được quan tâm, chăm sóc để quân bình thể lý cũng như tâm lý. Thiếu bầu khí yêu thương, bé thơ “sẽ không lớn nổi thành người”.
Có rất nhiều bạn trẻ bất mãn với Giáo Hội vì những lý do rất nhỏ và ít người quan tâm, lưu ý, như đến nhà thờ mà tưởng mình đi giữa chốn không người, khi không ai tỏ ra thân thiện, niềm nở. Đó là trường hợp của  Cường, mười bẩy tuổi. Em đã chia sẻ tâm trạng lạc lõng của người xa lạ mỗi lần đi dự lễ, vì không ai lịch sự, dễ thương với em. Trái lại, em có cảm tưởng mọi người đến đây để tranh giành một cái gì đó, và bầu khí luôn căng thẳng, nặng nề. Gặp lại em năm em mười tám, em cho biết: em đã gia nhập đạo khác, vì ở đây, em hạnh phúc với bầu khí thân thiện như trong gia đình, bởi ai cũng cởi mở, quan tâm đến người khác, nhất là những người mới “xuất hiện” giữa cộng đoàn.
Qủa thực, bầu khí thân thiện rất quan trọng. Không chỉ quan trọng vì là đòi hỏi của cộng đoàn đức tin, như cộng đòan tín hữu tiên khởi ở Giêrusalem, ở đó “tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau… Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ, vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và đuợc toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,44.46-47), bởi  bầu khí bác ái là điều kiện để đức tin được lớn lên, như thánh Giacôbê qủa quyết: “Thực vậy, một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,26). Hành động đâ chinh là việc làm của đức ái không chỉ cần thiết cho đức tin, mà còn cần thiết trên bình diện con người, bởi người ta chỉ tìm đến nơi có tình yêu thương, chỉ hướng về nơi có người thương mình, và không mất thời giờ ở lại với những người không quan tâm, không đằm thắm, không thân thiện với mình.
Đó là lý do đã đẩy những người trẻ khao khát bầu khí thân thiện xa khỏi cộng đoàn đức tin và mở đường cho họ tìm đến những giáo phái đáp ứng được nhu cầu “thân thiện”.
Sự thật không thể chối cãi là một cộng đoàn sống bác ái đích thực, một tổ chức đặt trọng tâm vào yêu thương sẽ lan toả bầu khí “cởi mở, thân thiện”, khác với những cộng đoàn khép kín, độc tôn, mâu thuẫn, tranh chấp, và tìm kiếm nhiều sự ở ngoài đức ái. Hãy quan sát một cộng đoàn thiếu bác ái, ở đó nhiều phe cánh chống phá nhau, nhiều tham vọng nổi cộm lấn át mục đích chân chính của cộng đoàn đức tin, nhiều luồng dư luận trái chiều nhắm hạ bệ, đốn gục nhau, nhiều tin đồn, hay những câu chuyện được khéo léo hư cấu với ác ý gây thiệt hại, và chắc chắn khi người trẻ phải bơi lội trong bầu khí độc hại này, họ sẽ ngộp thở và phải tìm đường thoát thân, vì họ rất nhạy bén và dị ứng với những gì không phải là công bình, bác ái.    
Thực ra, trong sinh hoạt cộng đoàn, chúng ta cò khuynh hướng “lý thuyết.” nhiều hơn thực hành, trong khi những “thái độ của đức ái” được tỏ ra lại là những điểm nhấn cần thiết nuôi dưỡng và nâng đỡ người trẻ.
Như nhyững em bé trong gia đình, người trẻ trong Giáo Hội cần những nụ cười, những ánh mắt, những bàn tay xiết chặt thân tình, thiện cảm của cha anh, hay bạn đồng lứa khi đến với cộng đoàn; các em cần những đôn đả, sốt sắng, nhiệt tình quan tâm của người lớn trong gia đình Giáo Hội khi các em thập thò muốn tham gia, cộng tác nhưng còn bẽn lẽn, e ngại trước ngưõng cửa “cộng đoàn”; các em cần bậc cha anh mở lời thân thiện hướng dẫn; các em cần những cử chỉ bộc lộ tình yêu thương đích thực của các thành viên thuộc gia đình Giáo Hội. Và bởi các em rất nhạy cảm trước yêu thương, nên cũng dễ thất vọng trước những lạnh lùng, hờ hững; bởi các em rất nhạy bén trước ân tình, nên cũng nhanh chóng bỏ cuộc khi ân tình vắng bóng.
Vì còn thơ bé, nên tình cảm giữ phần ưu tiên. Chẳng thế mà người ta dỗ dành em bé bằng tình cảm của trái tim  hơn lý luận của trí óc. Người trẻ của chúng ta cũng vậy. Tuy thân xác có to lớn, vạm vỡ, nhưng tâm hồn rất thơ ngây, non dại  và các em cần những biểu lộ thân thiện, những ân tình được biểu lộ từ bậc cha anh, không chỉ trong đời s&ông nhân bản, mà cả trong đời sống đức tin.
Chính vì thế, khi không lưu ý đến những thái độ thân thiện đối với người trẻ, chúng ta dễ làm người trẻ mang ấn tượng xấu về một gia đình Giáo Hội không yêu thương thực sự, hình ảnh xấu về những người của Giáo Hội không sống điều mình dậy, cảm tưởng xấu về một cơ chế “muôn mặt và giả hình”. Và tất nhiên, những ấn tượng, hình ảnh, cảm tưởng tiêu cực này sẽ trở thành nọc độc nguy hiểm làm suy yếu đức tin công giáo của người trẻ.
Tuy thế, những lời nói, cử chỉ, thái độ, cung cách thân thiện đó phải được xây dựng trên Tin Mừng, chứ không được xem như những “thủ đoạn” ngoại giao; phải được thấm nhuần tinh thần của Đức Giêsu, chứ không mang tính  trần thế với duy nhất chủ đích “lấy lòng, đắc nhân tâm” người trẻ.
1.   Xây dựng trên đòi hỏi: Đức Ái phải trở thành dấu chỉ:
Nhiều người lầm tưởng: đức ái không cần biểu lộ. Chính vì ý nghĩ này, mà đức tin chết lúc nào không hay, bởi việc làm của đức tin phải được thể hiện và biểu lộ qua đức ái. Nếu đức ái không cần được biểu lộ, thì chắc chắn Đức Giêsu đã không căn dặn các môn đệ của Ngài: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con con yêu thương nhau” (Ga 13,35).
Vì đức ái là dấu chỉ quan trọng để người ta nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa Tình Yêu mà Đức Giêsu đã muốn các môn đệ Ngài bầy tỏ thái độ yêu thương, ân cần quan tâm, thân thiện, ân tình trong đối xử với nhau; vì đức ái là dấu hiệu duy nhất để người ta phân biệt ai là môn đệ đích thực của Đức Giêsu, mà Ngài đã muốn những ai đi theo Ngài phải biểu lộ tình nghiã huynh đệ với nhau trước mắt mọi người, nên khi làm ngược lại, hoặc ngượng ngùng biểu lộ thân thiện với nhau trong cộng đoàn, chúng ta đã không làm theo những gì Đức Giêsu căn dặn.
Người trẻ cần tham chiếu dấu chỉ, cần nhìn vào dấu hiệu để nhận định, chọn lựa, nên khi không thấy dấu hiệu thân thiện, không gặp dấu chỉ thân tình, người trẻ sẽ phán đoán: ở đây không có tình yêu thương, cộng đoàn này thiếu tình huynh đệ, và họ sẽ chán ngán rút lui, thất vọng đi tìm “đức tin” ở nơi khác.
2.   Xây dựng trên đòi hỏi: Phục Vụ phải trở thành gương sáng:
Thái độ thân thiện, ân cần, cởi mở không chỉ phát xuất từ tình yêu, nhưng còn từ ước muốn phục vụ người khác, bởi yêu thương sẽ chỉ là “yêu xuông », “thương trên môi miệng”, nếu yêu thương thiếu phục vụ.
Đức Giêsu đã không bao giờ tách rời cặp đôi Yêu Thương - Phục Vụ trong giáo huấn của Ngài, bởi sứ vụ của Ngài, cũng như của các môn đệ Ngài là “đến không phải để người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giqá cứu chuộc muôn người.” (Mt 20,28), nên không có tình yêu nhàn hạ, tình yêu lười biếng, tình yêu hưởng thụ, tình yêu ích kỷ, nhưng tình nào cũng vất vả phục vụ, yêu ai cũng phải nhọc nhằn hy sinh, thương người nào cũng không tránh khỏi nặng lòng, mệt trí, khổ thân vì hạnh phúc của họ, và thước đo tình yêu chính là hy sinh phục vụ, mà cao điểm là hiến mạng sống mình để phục vụ hạnh phúc của người mình yêu, như Đức Giêsu đã khẳng định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Và phục vụ trong tình yêu, phục vụ vì tình yêu phải trở thành gương sáng cho người khác, như Đức Giêsu đã qùy xuống rửa chân cho các môn đệ của Ngài, vì muốn trở nên gương sáng phục vụ cho các ông khi nói với các ông: “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Thầy, là Chúa, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,13-15).
Bởi nếu phục vụ không cần thiết phải được biểu lộ ra cho mọi người thấy mà nhận ra ai là môn đệ Ngài và noi theo, thì Đức Giêsu đã không làm công việc rửa chân này, vì Ngài đã dậy dỗ các môn đệ  qúa nhiều về tinh thần phục vụ rồi.
Thực vậy, dấu hiệu, dấu chỉ, gương sáng rất quan trọng, vì tạo ấn tượng nhanh chóng và hữu hiệu, nhất là với người trẻ. Chẳng thế mà người ta cần những hình ảnh qủang cáo khắp nơi để tạo ấn tượng trong tâm trí quần chúng, cũng như chúng ta cần những thái độ thân thiện, ân cần quan tâm phát xuất từ đức ái phục vụ để tạo ấn tượng đẹp về một Đức Giêsu nhân hậu, một Giáo Hội, gia đình của Thiên Chúa yêu thương trong tim óc người trẻ. Và trong thực tế, cũng vì bỏ quên mình phải trở thành “dấu chỉ, dấu hiệu” của Thiên Chúa tình yêu, gương sáng làm chứng về một Thân Thể duy nhất, hiệp nhất trong yêu thương là Giáo Hội mà chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội giúp người trẻ xây dựng vững chắc đời sống đức tin của họ.
Một cách lương thiện, chúng ta phải nhìn nhận: có nhiều bạn trẻ công giáo không nhận được những niềm nở, thân thiện, những cởi mở, quan tâm khi đến với cộng đoàn, mặc dù chúng ta đã luôn cố gắng, bởi không ít những người trẻ công giáo bỏ đạo đi theo giáo phái đã bộc bạch tâm trạng thất vọng này, khi bị cộng đoàn giáo xứ, giáo họ hoặc bỏ rơi, hoặc lạnh lùng, hờ hững.
Chia sẻ với Bạn những điều mắt thấy tai nghe từ những bạn trẻ công giáo rời bỏ cộng đoàn đức tin công giáo để gia nhập các giáo phái ngày càng nhiều và ráo riết hoạt động thu hút giới trẻ, người viết dám ước mong những nngười có trách nhiệm cộng đoàn quan tâm hơn đến người trẻ vốn rất nhạy cảm và non nớt nên rất cần được đồng hành trong bầu khí thân thiện, ân tình của những người cùng một gia đình Giáo Hội, vì “cùng một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha” (Ep 4,5-6).     
Jorathe Nắng Tím  

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA

Đói là thử thách đáng sợ, là tai ương khủng khiếp của con người. Cứ nhìn những em bé gầy giơ xương, mới năm bẩy tuổi mà già như ông cụ chỉ vì đói, những thước phim ghi lại cảnh đói năm 1945 ở miền bắc Việt Nam với hơn một triệu người chết la liệt, chết co quắp, chết nhăn nhó tang thương vì đói đã làm rùng mình, kinh sợ. Bởi là người ai cũng sợ sống mà thiếu ăn; làm người, ai cũng hãi sống mà phải đói, cũng như không mấy người dám nghĩ đến cảnh phải chết đói, để phải thành “ma đói” dưới âm phủ. Chẳng thế mà người ta vẫn giữ tục lệ dành cho tử tội trước khi bị hành quyết được ăn một bữa no nê, để khỏi phải làm người chết đói.
Thời Cựu Ước, dân Do Thái những năm tháng trong sa mạc, trên đường từ Ai Cập về Đất Hứa đã thấm thiá cái đói của đoàn người lữ hành “thiếu thốn” trên hành trình dằng dặc dài và gian khổ. Trong những ngày đói ăn đó Thiên Chúa Giavê đã nuôi họ bằng manna từ trời như sách Đệ Nhị Luật đã ghi lại lời của Môsê nói với dân: “Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn manna là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra” (Đnl 8,3).
Thiên Chúa Giavê đã nuôi dân Ngài bằng manna là lương thực nuôi thân xác. Không của ăn, dân sẽ chết lả vì đói; không nước uống, dân sẽ chết khô vì khát, và Thiên Chúa đã chăm sóc, nuôi nấng dân Ngài, không để họ phải chết vì đói khát trong sa mạc. Nhưng Thiên Chúa còn muốn đi xa hơn, muốn làm nhiều hơn cho con người, khi ban cho con người lương thực thiêng liêng, lương thực ban sự sống đời đời, lương thực mà ai ăn sẽ không còn đói, và nguồn nước, ai uống sẽ không còn  khát. Lương thực ấy chính là Mình và Máu Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa đã được chính Đức Giêsu mặc khải: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).
Khi ban cho con người Mình và Máu, Đức Giêsu Thiên Chúa cho chúng ta được thông hiệp vào chính Thân Thể của Ngài, được kết hiệp với Chúa Cha, được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa (x. Ga 6,56-57). Đồng thời, chúng ta cũng được thông hiệp với anh em, khi ăn thịt và uống máu Con Thiên Chúa, vì tất cả đều là chi thể của một Thân Thể Đức Giêsu, như thánh Phaolô đã khẳng định: “Chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1 Cr 12,13).
Như thế, Mình và Máu Đức Giêsu không chỉ nuôi sống linh hồn và ban cho chúng ta sự sống đời đời, mà còn cho chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa và hiệp thông với anh em. Chính nhờ kết hiệp với Thiên Chúa mà chúng ta được sống đời đời, và nhờ hiệp thông với anh em mà chúng ta trở thành chi thể sống động, chi thể yêu thương của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội.
Qủa thế, nếu manna đã được Thiên Chúa ban để nuôi dân riêng trong sa mạc, thì Mình và Máu Đức Giêsu là lương thực được Thiên Chúa ban để nuôi Giáo Hội, dân mới của Thiên Chúa, “bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,17).
Chính Thánh Thể quy tụ, hiệp nhất, xây dựng, nuôi sống Giáo Hội, nên không có Giáo Hội, nếu không có Thánh Thể. Một Giáo Hội thiếu Thánh Thể, một Giáo Hội không yêu mến Thánh Thể, không tìm về Thánh Thể là nguồn tình yêu, ân sủng, sức sống sẽ là một Giáo Hội “không có Đức Giêsu”, không hiệp thông, không hiệp nhất, không sinh sôi nẩy nở, vì là một Thân Thể “không đầu”, cạn kiệt sức sống, chết lả, khô héo.
Trước những phong trào cải cách không muốn tin vào mầu nhiệm Thánh Thể, không chấp nhận sự hiện diện đích thực và sống động của Đức Giêsu trong Mình Máu thánh, như đám đông người Do Thái ngày xưa đã phẫn nộ la ó phản đối khi nghe Đức Giêsu tuyên bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống” (Ga 6,54-55), ngay cả các môn đệ cũng có người cho những lời Ngài nói khó nghe qúa và từ lúc đó, nhiều  môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa (Ga 6,66), chúng ta, những người Kitô hữu, giữa một thế giới không còn muốn tin, trong lòng một xã hội muốn triệt hạ và loại bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ khó tránh khỏi những cám dỗ “nghi ngờ mầu nhiệm Thánh Thể”, và chỉ coi Thánh Thể như một biểu tượng, một biểu trưng mang tính hình thức, chứ không là Mình và Máu thật của Đức Giêsu, Thiên Chúa.
Chúng ta cũng bị cám dỗ hời hợt với Thánh Thể, khi không nhận ra Thánh Thể chính là Tình Yêu của Thiên Chúa, nên không thể đón nhận Thánh Thể với trái tim rực lửa hận thù, rước Mình Máu Chúa với lòng dạ ganh ghét, kiêu căng, ích kỷ, bởi Tình Yêu đòi hiệp nhất, hiệp thông, trao ban, chia sẻ như Mình Máu thánh đã được hiến dâng để làm nên một dân tộc mới hiệp nhất với Đức Giêsu, Thiên Chúa và hiệp thông với mọi người như các chi thể của một Thân Thể duy nhất.
Thực vậy, Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng và sáng kiến tình yêu của Ngài luôn độc đáo, táo bạo, kỳ diệu mà bí tích Thánh Thể là một trong những sáng kiến đó, để ở lại và nuôi dưỡng linh hồn chúng ta một cách thực sự và sống động cho đến tận thế.
Mừng lễ Mình Máu thánh Chúa, chính là dịp sống lại lòng suy tôn Thánh Thể và yêu mến Thánh Lễ, ở đó tất cả chúng ta là Giáo Hội được quây quần, hiệp nhất nên một trong một tấm Bánh, một Thân Thể mầu nhiệm là Đức Giêsu.
Jorathe Nắng Tím