Mừng
lễ Giáng Sinh, chúng ta không mừng một sứ giả, một sứ thần được Thiên Chúa gửi
đến để cứu chuộc, hay mừng một tướng quân được tổng tư lệnh quân đội đặc phái
ra mặt trận đang sôi bỏng để giải cứu quân và diệt thù, cũng không mừng vị đại
diện của Đấng Toàn Năng đến giải phóng,
nhưng mừng chính Thiên Chúa đến cứu độ, mừng Ngôi Lời đến chuộc tội nhân loại, mừng
chính Đức Chúa đến giải phóng dân Ngài.
Ngôn
sứ Isaia đãloan báo Thiên Chúa sẽ đến cứu
chuộc dân Ngài khi :
Người
đã phán : “Thật, chúng
là dân của Ta, là những đứa con không biết lừa dối!". Và đối với họ, Người
đã là một vị cứu tinh, trong mọi cơn quẫn bách. Không phải là một sứ giả hay một
thiên thần đã cứu thoát họ, nhưng là chính tôn nhan Người. Vì yêu mến và thương
cảm, chính Người đã chuộc họ về, đã vực họ dậy và mang họ đi suốt thời gian qúa
khứ” (Is 63,8-9).
Đấng
Cứu Độ đến cứu chúng ta không chỉ là Thiên Chúa, mà còn là người như chúng ta,
một người “bằng xương bằng
thịt”. Ngài cho chúng ta thấy
Ngài sinh ra như “trẻ sơ
sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”
(Lc 2,12) và “thấy Ngài là
Đấng oai hùng…, là vị thẩm phán của chúng ta…, là nhà lập pháp của chúng ta…,
là vua của chúng ta, chính Người sẽ cứu độ chúng ta” (Is 33,21.22).
Là
Thiên Chúa làm người, Ngài không đến giải phóng chúng ta bằng mưu lược, thủ đọan
chính trị, hay bằng vũ khí bạo lực, nhưng cứu độ bằng “thương xót chúng ta, tội lỗi chúng ta, Ngài chà đạp
dưới chân. Mọi lỗi lầm chúng ta, Ngài ném xuống đáy biển” (Mk 7,19), vì Ngài là Thiên Chúa giầu lòng
thương xót, Đấng Cứu Độ vô cùng nhân hậu, khoan dung.
Mừng
lễ Giáng Sinh, chúng ta mừng Thiên Chúa làm người, mừng con người được Thiên Chúa
chuộc lại, mừng vinh dự làm con Thiên Chúa của con người được Thiên Chúa làm
người ban lại nhờ của lễđền tội vô giá
của Ngài.
Vì
thế, chúng ta không mừng lễ Giáng Sinh như một người xa lạ với mầu nhiệm vào đời,
làm người của Thiên Chúa, vì mầu nhiệm Thiên Chúa làm người mang lại ơn cứu sống
đời đời cho chúng ta ; chúng ta không mừng lễ Giáng Sinh như khách bàng
quan, thờ ơ, lãnh đạm, vì ơn Bình An của Thiên Chúa làm người giải thoát chúng
ta khỏi mặc cảm tội lỗi của qúa khứ, khỏi thất vọng của hiện tại, khỏi hoang
mang, sợ hãi của tương lai ; chúng ta không mừng lễ Giáng Sinh như người
ngoài cuộc, bởi cứu chúng ta khỏi ách thống trị của tội lỗi, sự dữ và thần chết
là công cuộc của Thiên Chúa muốn thực hiện với con người và cho con người ;
chúng ta cũng không mừng lễ Giáng Sinh với nỗi buồn làm người, niềm đau thân phận,
tủi sầu số kiếp, vì chính Thiên Chúa đã xuống thế làm người nghèo hèn, mang
thân phận người mong manh, chia sẻ kiếp người truân chuyên, vất vả với mọi người.
Trái
lại, mừng lễ Chúa Giáng Sinh chính là mừng ngày chúng ta được sinh lại trong
Chúa, được mang tên Chúa, được đổi mới trong Chúa, được Chúa đổ đầy tình yêu và
mặc cho áo hy vọng của Lời Hứa.
Mừng
lễ Chúa Giáng Sinh cũng là mừng ngày chúng ta trở thành anh em với nhau trong
Chúa, vì hôm nay, tất cả chúng ta được Thiên Chúa trả lại quyền làm con Ngài.
Sau
cùng, mừng lễ Chúa Giáng Sinh, chính là mừng Thiên Chúa đến và cắm lều cư ngụ
giữa chúng ta, để từ nay, chúng ta không đơn độc trên đường đời, không lạc đường,
mất hướng giữa đêm đen, không hoảng hốt, lo sợ khi phong ba bão tốđiên cuồng nổi giận, không tuyệt vọng khi yếu
đuối phản bội, vàkhông đào ngũ, bỏ cuộc
khi khổ đau thử thách sức người có hạn, vì luôn có Ngài, cùng Ngài Vượt Qua.
Trong
tĩnh lặng an bình của đêm Giáng Sinh hồng phúc, chúng ta cùng nhau kính cẩn thờ
lậy Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thế làm người, và xin Bình An của “Emmanuen, Thiên Chúa ở cùng
chúng tôi” cho chúng ta yêu
mến, phụng sựNgài trong mọi người, và không
ngừng chung tiếng hát các thiên thần trong đêm cực thánh : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14).
Giáng
Sinh là Niềm Vui khôn tả cho cả đất trời, vạn vật : vui trên trời, vui dưới
thế, thần thánh vui, nhân loại vui, thảo mộc vui, động vật vui, toàn thể vũ trụ
vui nhưlời thánh vịnh : “Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng,
biển gầm vang cùng muôn hải vật, ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ” Tv 95,11-12).
Vui
vì “Thiên Chúa đã đóai
thương đến viếng thăm cứu chuộc dân Người” (Lc 1,68) ; vui vì biết mình được Thiên Chúa đến cứu như
lời thiên thần nói với các mục đồng ở cánh đồng Bêlêm đêm Giáng Sinh: “Tôi báo cho anh em một tin mừng
trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã
sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2, 10-11).
Tin
Mừng được các thiên thần loan báo trong đêm Giáng Sinh đã mặc khải bản tính
Thiên Chúa của Đức Giêsu : Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng được sai đến trong
thế gian để cứu chuộc nhân loại, Đấng mà các ngôn sứ đã loan báo từ ngàn năm
trước : “Này đây, một
Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là “Emmanuen”, nghiã là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23), Ngài là “ơn
cứu độ Chúa dành sẵn cho muôn dân”
(Lc 2,30-31), “Đấng sẽ cứu
ta khỏi địch thù, thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét…, soi sáng những ai ngồi nơi
tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta vào đường nẻo bình an” (Lc 1,71.79).
Tin
Mừng Giáng Sinh ấy cũng là trung tâm, là trái tim của lời rao giảng, như thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại đã giảng cho
người Do Thái : “Thiên
Chúa đã cho ông Đavít xuất hiện làm vua cai trị. Người đã làm chứng về ông rằng :
Ta đã tìm được Đavít, con của Giesê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý
muốn của Ta. Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho
Ítraen một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu”
(Cv 13,22-23). Và như Phêrô, tông đồ trưởng, vào ngày lễ Hiện Xuống, trước đông
đảo dân chúng đã lớn tiếng rao giảng : “Toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này : Đức
Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa, và
làm Đấng Kitô” (Cv 2,36).
Đặc
biệt Tin Mừng Cứu Độ ấy đã đuợc loan báo ngay giây phút đầu của Mầu Nhiệm Nhập
Thể, khi Đức Giêsu vừa sinh ra cho những người canh giữ chiên cừuở cánh đồng Bêlem.
Những
người chăn giữ chiên cừu này trong bối cảnh xã hội Do Thái thời đó bị coi như “không trong sạch”, bởi nghề nghiệp của họ không
cho phép họ được vàocác hội đường để cầu
nguyện và nghe cắt nghiã Kinh Thánh. Họ bị xếp đồng hạng với những người thu
thuế tội lỗi, những người làm việc cho đế quốc ngọai bang.
Thánh
sử Luca, dọc suốt Tin Mừng của Ngài, đặc biệt trong trình thuật Giáng Sinh đã
giới thiệu Đức Giêsu như Dung Mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót,
như nhân chứng sống động của Thiên Chúa là Tình Yêu vô bờ bến, như Đấng Cứu Độ
nhân hậu, bao dung được sai đến với những người bé mọn, đau khổ, bị đời bạc
đãi, khinh bỉ, bỏ rơi, hành hạ, như chính Ngài đã xác nhận lời Kinh Thánh nói về
Ngài trong hội đường ở quê hương Nadarét (x. Lc 4,21) : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, để
tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị
giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do
cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19).
Thực
vậy, niềm vui Giáng Sinh được nhân lên gấp bội, vì Ngôi Lời Thiên Chúa đã không
chỉ làm người, mà còn làm người nghèo hèn, yếu đuối, bé nhỏ và chọn những người
yếu đuối, bé nhỏ, nghèo hèn là những người đầu tiên được loan báo Tin Vui Nhập
Thế, Nhập Thể, những người thứ nhất được đón nhận niềm vui của “Thiên Chúa làm người và ở giữa
chúng ta”, những người được
Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương đặc biệt, và dành cho vinh dự vượt xa mọi vinh dự
khi được gặp Hài Nhi Giêsu, Con Thiên Chúa làm người bằng xương bằng thịt vừa
sinh ra.
Như
những người chăn giữ chiên cừu được Thiên Chúa đặc biệt yêu thương, chúng ta
cũng được chung niềm vui Giáng Sinh với
các thiên thần, với Đức Maria và Thánh Giuse trong đêm nay, nếu chúng ta đón nhận
mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, khi nghe lời thiên thần “cùng nhau sang Bêlem” và nhận ra Hài Nhi Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ
vô cùng nhân hậu, bao dung, qua dấu chỉ rất đơn sơ, yếu đuối, nghèo hèn của “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm
trong máng cỏ” (Lc 2,12), và
như những mục đồng ngay sau đó trên đường về “vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa”, và kể lại cho mọi người “những điều họ đã được mắt thấy
tai nghe” đúng như thiên thần
đã nói với họ (Lc 2,20).
Vâng,
niềm vui Giáng Sinh chính là niềm vui được là người có Đức Kitô, tức là người “Kitô hữu”, vì Thiên Chúa đã đến gặp, ở với, và mời gọi chúng
ta đi vào mầu nhiệm Nhập Thể của Ngài, để trở nên môn đệ, nhân chứng, người loan
báo Tin Mừng Cứu Độ của Ngài cho muôn dân và làm cho họ trở thành môn đệ
(x. Mt 28,19).
Làm
người thì ai cũng phải chết, bởi đó là sự thật nghiệt ngã của định mệnh, mà không
ai tránh khỏi, dù “tiền rừng
bạc bể”, quyền lực thống trị
địa cầu, và ảnh hưởng bao trùm thế giới.
Khác
với mọi loài thụ tạo, con người là “thụ
tạo duy nhất biết mình sẽ chết”,
nên ai cũng sợ, và cái làm sợ hơn cả chính là không biết mình sẽ phải chết thế
nào, chết ra sao.
Tôi
sẽ chết bệnh hay chết vì tai nạn? Chết bất đắc kỳ tử hay chết dần chết mòn? Chết
ở nhà, bệnh viện hay ngoài đường phố, rừng rú, ruộng đồng? Chết ấm áp bên người
thân hay một mình lạnh lẽo? Chết thanh thản hay quằn quại, co quắp? Chết toàn
thây hay tan tành thân xác? Chết nhẹ nhàng hay vất vả, khó khăn? Chết bình an
hay tang thương, tức tưởi?
Những
vấn nạn không bao giờ có giải đáp trên đến một lúc sẽ đặt tôi trước một vấn nạn
mới, không cùng phạm trù, đó là : Tôi sẽ có một cái cái chết đẹp hay xấu,
một cái chết như hạt lúa bị chôn xuống đất, thối rữa đi để sinh ra nhiều bông hạt,
hay cái chết hoàn toàn bị hủy hoại, tiêu tan, không để lại dấu vết của một đời
có mặt và dấu hiệu của một sự sống mới?
Sở
dĩ câu hỏi mới bật ra trong tâm trí, vì khi đã đi hết con dường luận lý của nỗi
sợ chết, tôi khám phá ra mình hoàn toàn bất lực, vì không thể biết trước cách
thế mình sẽ phải chết, trừ một khả thể trong tầm tay của hiện tại đang sống, đó
là được phép chuẩn bị cho mình một cái chết đẹp ở tương lai.
Chuẩn
bị một cái chết đẹp như cái chết của mẹ Têrêsa Calcutta, là Bạn của những người
nghèo “không còn có thể nghèo
hơn” sống một cái chết được
triển hạn bên những đống rác thành phố, trong khu ổ chuột, và là Chị của những
người sắp chết bị lây lất bỏ rơi bên vệ đường Ấn Độ ; hoặc như cha Maximilien
Kolbe, chứng nhân của chân lý : “Không có tình yêu nào cao cả hơn là tình yêu của người đã hy
sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”
(Ga 15,13), khi tình nguyện chết thay cho Franciszek Gajowniczek, người bạn tù
còn vợ dại, con thơ trong trại tập trung Đức Quốc Xã ở Auschwitzngày 14.08.1941 ; và gần chúng ta nhất là
nghệ sĩ tài hoa Chí Tài mà cái chết của anh đang làm thổn thức hàng triệu con
tim trong những ngày này.
Mười
ba giờ ngày 09.12.2020, người ta phát hiện anh nằm bất động ở cầu thang lầu 7
chung cư, nơi anh ở, và ngay lập tức, tin anh đột qụy đã làm “se dạ thắt lòng” nhiều người Việt khắp năm châu :
Chí Tài đã bỏ dở cuộc chơi, ra đi không một lời trăn trối…
Sáng
nay thân xác anh đã về lại Mỹ trong đau đớn, nghẹn ngào của người vợ yêu dấu, và
thương tiếc, xót xa của gia đình, bạn hữu nghệ sĩ, và vô số người ái mộ, trong đó,
có tôi, người mang ơn, mắc nợ anh, vì anh đã cho tôi những tiếng cườivui tươi, sảng khoái, nhờ tấm lòng “nghệ sĩ vì người khác”, và tài năng đem lại niềm vui
cho mọi người của anh.
Tuy anh chết cô đơn, dù người thương anh, qúy
anh, say mê, thần tượng anhthì vô vàn,
vô số ; tuy anh chết co quắp, lạnh lẽo ngoài cầu thang, dù ở đâu anh cũng
có nhà cao cửa rộng ; tuy anh chết vì không được cấp cứu kịp thời, dù tiền
bạc anh không thiếu để được chăm sóc ở bệnh viện hiện đại, và bởi các bác sĩ nổi
tiếng, nhiều kinh nghiệm. Tắt một lời, nếu nhìn cách anh chết thì qủa thực anh đãkhông thiếu gì khi sống, nhưng giờ chết, anh
thiếu mọi sự.
Nhưng
dù thiếu nhiều thứ, nhiều sự, nhiều người ở giờ ra đi, nhưng anh sở hữu một kho
tàng qúy giá, một vinh dự tuyệt vời và vĩ đại, kho báu mà tất cả những cái anh
thiếu cộng lại cũng không thể đánh đổi, vinh dự mà cho dù người quyền thế nhất
thiên hạ, giầu có nhất trần gian cũng không thể chiếm hữu. Kho báu ấy là cái chết
đẹp, vinh dự ấy là tấm lòng của người nghệ sĩ suốt đời phục vụ tha nhân.
Anh
có cái chết đẹp, vì anh đã có cuộc sống đẹp, anh đã chết đẹp, vì anh đã sống đẹp,
bởi lẽ tự nhiên, và thường tình là “nếu
muốn chết đẹp, phải biết sống đẹp”.
Cái
chết của anh đẹp, không phải vì anh Hoài Linh, chị Việt Hương đã tổ chức đám
tang chu đáo, trang nghiêm, hoành tráng, cũng không phải vì anh giầu, anh hát
hay, đàn giỏi, diễn hài tinh tế, duyên dáng, nhưng cái chết của anh đẹp, tuyệt đẹp,
vì anh được chết trong trái tim của rất nhiều người, được tiếp tục sống trong tình
yêu đang thổn thức thương nhớ của nhiều người, và tên anh được không biết bao
nhiêu bờ môi đang ngậm ngùi, run rẩy réo gọi, vì bồi hồi luyến tiếc.
Cái
chết của anh đẹp, vì con người anh đã được chôn trong tim người khác, mà được
chôn trong tim ai, chính là được tiếp tục sống trong cuộc đời với họ, nhờ được ở
trong sự sống là trái tim mang tình yêu không bao giờ chết, chẳng bao giờ bị hủy
hoạu, tan biến.
Cái
chết của anh đẹp, vì anh không chết, nhưng sống mãi trong tình yêu, vì tình yêu
làm cho sống và sống mãi, bởi tình yêu thì bất tử, bất diệt, có sức “cải tử hoàn sinh”.
Vì
thế, cái chết đẹp hoàn toàn khác những cái chết không đẹp khi không chỉ thân xác,
mà cả cuộc đời đã sống sẽ đơn giản và mau chóng được chôn trong lòng đất, hoặc đốt
thành tro để không còn được “tiếp
tục sống” trong tiếc nhớ,
ngưỡng mộ, biết ơn của tình yêu trong trái tim phục sinh của người khác.
Qủa
thực, để có được cái chết đẹp hôm nay, anh Chí Tài ơi, anh đã tận tụy, miệt mài
xây dựng một đời sống rất đẹp, khi quên mình sống cho bạn hữu ; khi dẹp bỏ
“cái tôi” kiêu căng, tham vọng, háo danh,
háo thắng, đấu đá, kèn cựa ; khi ghìm mình, ép mình chịu đựng những “thái qúa ,bất cập” của đàn em, đàn anh, bạn bè, người
cộng tác ; khi dằn lòng, đè nén bản thân để giữ gìn hoà khí, bảo vệ tình
thân, tình nghiã.
Đọc
và nghe những chia sẻ của bạn hữu và những người quen biết anh, tôi nhận ra ở
anh con người dám sống quên mình, xóa mình vì người khác.
Có
quên mình sống vì người khác, khi tận tình giúp đỡ những người em mới vào nghề
còn ngỡ ngàng, lo lắng, anh mới có được cái chết đẹp từ những tình cảm thương
nhớ của các em trong nghề ; có bỏ mình sống cho người khác, khi kín đáo
chia sẻ vật chất và nâng đỡ tinh thần những nghệ sĩ đàn anh già nua, bệnh tật,
không còn làm ra tiền để nuôi thân, anh mới có được cái chết đẹp từ ân tình sâu
sa của các vị tiền bối, đànanh đàn chị ;
có hết tình hết mình vì tha nhân, anh mới có được cái chết đẹp, khi khắp nơi từmiền trung bão lụt, nơi anh vừa lặn lội thăm
viếng, làm từ thiện, đến những thành phố xa xôi Cali, Paris, Munich và nhiều nơi
trên thế giới, ở đó những người đã được anh cho cười thoải mái, cười sảng khoái,
cười “nặc nẽo, sặc sụa, đã đời” đang tỏ lòng biết ơn, tiếc nuối
bằng cầu nguyện cho linh hồn anh được trường sinh bất tử trong tình yêu của Thiên
Chúa và của mọi người.
Cám
ơn anh Chí Tài !
Với
tôi, anh là người đẹp, con người rất đẹp, vì anh đã sống đẹp với mọi người, và
chết đẹp trong trái tim mọi người, bởi có sống đẹp, anh mới được chết đẹp như
những gì rất đẹp đang diễn ra mấy hôm nay quanh đám tang anh, và tôi nghĩ, chị
Kỳ Duyên đã có nhận xét chính xác về anh, khi chị chia sẻ : “Anh Chí Tài là người nghệ sĩ duy
nhất không có anti-fan”, vì
“Anh dễ thương, hiền hoà, lành
tính. Anh đa tài : đàn hay, hát giỏi, tấu hài, diễn xuất, sáng tác… cái gì
anh cũng làm được và làm rất tốt. Nhưng cái em sẽ nhớ nhất về anh là dù trên sân
khấu hay ngoài đời, bao giờ anh cũng sẵn sàng nâng đỡ người bên cạnh…” (trích Tuổi Trẻ 9.12.2020).
Cùng
với mọi người đang chôn anh trong trái tim, mai táng anh trong tình thân, tình
bạn, tôi tạm biệt anh, linh hồn Giuse Nguyễn Chí Tài và hẹn gặp lại anh trên
Thiên Đàng, ở đó, anh sẽ còn hát hay, đàn giỏi, tấu hài, diễn xuất tuyệt vời hơn
nữa, vì khán giả sẽ là Ba Ngôi Thiên Chúa, cùng triều thần thiên quốc, thần thánh
trên trời, và vô số người thân, bạn hữu, fan mến mộ, yêu qúy anh.
Trình
thuật về buổi gặp gỡ giữa sứ thần Gabrien và trinh nữ Maria ở Nadarét mà thánh
sử Luca đã chi tiết kể lại xem ra đã không đặt trọng tâm vào người nhận sứ điệp
“Truyền Tin” là Đức Maria, nhưng đặt trọng tâm vào “Ngôi Lời Thiên Chúa” sắp được
thụ thai bởi quyền phép Chúa Thánh Thần,
và được sinh ra từ cung lòng Đức Trinh Nữ (x. Lc 1,26-38).
Thực
vậy, ngay từ lời chào khởi đầu cuộc diện kiến, sứ thần đã giới thiệu Đức Chúa,
và khẳng định : “Bà đầy ơn sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1,28). Tiếp liền
sau đó, sứ thần cho Trinh Nữ biết Tên của Con Trẻ mà Trinh Nữ sẽ mang thai và hạ
sinh, và Đấng có tên Giêsu ấy chính là Con của Thiên Chúa Tối Cao, Đấng “được
Thiên Chúa xức dầu tấn phong và sai đến”, mà toàn dân hằng mong đợi, như Kinh
Thánh đã nói về Ngài : “Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một
người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền của người con ấy được
bền vững… Đối với người ấy, Ta sẽ là Cha, và đối với Ta, người ấy sẽ là con” (2
S 7,12.14), “Phần ngươi, hỡi Bêlem Épratha, ngươi bé nhỏ nhất trong các thị tộc
Giuđa, nhưng từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh
Ítraen. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa” (Mk 5,1), và
chính xác, rõ ràng hơn là “Đức Chúa sẽ ban cho các ngươi một dấu chỉ : Này
đây một trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuen” (Is
7,14).
Nhưng
điểm quan trọng hơn mà thánh Luca muốn nhấn mạnh, đó là : qua Đức Giêsu, mầu
nhiệm về Thiên Chúa vốn được giữ kín tự ngàn xưa, nay “được thông báo cho muôn
dân biết, để họ tin và vâng phục Thiên Chúa” ( Rm 16,26) hầu được cứu rỗi, bởi
Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa và là Ngôi Lời của Thiên Chúa “đã trở nên người
phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14 ), và chỉ người Con Một này, “Đấng hằng ở
nơi cung lòng Chúa Cha” mới tỏ được cho chúng ta biết mầu nhiệm về Thiên
Chúa, bởi ngoài Ngôi Lời, chưa bao giờ có ai thấy Thiên Chúa (x. Ga 1,18).
Đến
lúc này thì sứ thần gặp phải vấn nạn của Trinh Nữ : “Việc ấy sẽ xảy ra
cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34).
Vấn
nạn rất thông minh và nhân bản, vấn nạn rất chân thành và đơn sơ, vấn nạn rất
lương thiện và công bằng, vì việc thụ thai mà không “ăn ở” với đàn ông là việc
ngoài sức tưởng tượng, việc của thượng giới, việc của trời thần, chứ loài người
làm sao thực hiện được. Cũng vì là việc không thể có, và vượt trí khôn nhân loại,
mà những người chống lại Giáo Hội mãi mãi dùng sự kiện “Trinh Nữ thụ thai và
sinh hạ con trai” làm tiền đề để bôi bác, chể diễu, phỉ báng Kitô giáo, và chụp
cho người Kitô hữu cái mũ “mê tín nhảm nhí, phản khoa học, mê muội trước một đức
tin huyền hoặc, phi lý, phản tự nhiên”.
Qủa
thực, nếu Thiên Chúa không can thiệp thì việc ấy không thể thực hiện ; nếu
Chúa Thánh Thần không tác động, thì bào thai không thể thành hình trong cung
lòng của Trinh Nữ ; nếu quyền năng Đấng Tối Cao không rợp bóng trên con
người, thì không bao giờ có chuyện trinh nữ mà thụ thai và sinh con, vì đi ngược
luật tự nhiên của chính Đấng Tối Cao thiết lập trên thụ tạo của Ngài.
Nhưng
chính vì luật tự nhiên, quy trình tự nhiên, đòi hỏi tự nhiên, điều kiện tự
nhiên trong việc cưu mang và sinh sản con người nằm trong tay Thiên Chúa, do
chính Thiên Chúa tạo dựng, nên đối với Thiên Chúa, việc thay đổi luật tự nhiên
cũng không khác việc lập nên luật tự nhiên ấy. Nói cách khác, Ngài có toàn quyền
làm điều Ngài muốn, toàn năng để thực hiện những việc mà loài người không thể
tưởng tượng, chưa hề quan niệm, nhất là Ngài toàn thiện để mọi sự được trở nên
tốt đẹp đối với những ai yêu mến Ngài.
Ở
đây, dù là việc thụ thai khi chưa hề chung sống với chồng là việc bất khả thểđã gây bối rối cho Đức Maria, nhưng vì là người
đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa toàn năng và yêu mến Thánh Ý Ngài, nên Đức
Maria đã không nghi nan, lo sợ nữa, khi được sứ thần Gabrien trấn an : “Thánh
Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà”, và
để lời mình có giá trị thuyết phục, sứ thần đã cho Đức Maria biết : “Kìa
bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người
con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu
tháng”, và sứ thần kết luận : “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không
thể làm được” (Lc 1,35-37).
“Không
có gì là không thể làm được”, khi Thiên Chúa đến với con người, “đến trong con
người”, trở thành “người con” của con người, được sinh ra từ cung lòng của một
con người.
“Không
có gì là không thể làm được”, khi cho cung lòng con người được cưu mang Thiên
Chúa, cho thân xác con người được trở thành nhà Thiên Chúa ở, Đền Thờ Thiên Chúa
ngự, cho Máu Thịt Thiên Chúa trở nên của ăn, của uống nuôi sống con người.
“Không
có gì là không thể làm được”, khi Thiên Chúa không “tàng hình” để cứu chuộc,
không “vô hình” để cứu chữa, nhưng làm người hữu hình như mọi người, để chịu
đau đớn trên thân xác, chịu đau khổ trong tâm hồn, bị đóng đinh chết và chôn
trong mồ như mọi người, để mọi người được làm con Thiên Chúa, chia sẻ thiên
tính của Ngài khi được “đồng hình đồng dạng” với Ngài.
“Không
có gì là không thể làm được”, khi sống lại vinh quang từ cõi chết, và cho mọi
người được “nhìn thấy Đấng Cứu Độ của mình” (x. Ga 20 ; Mt 5,8).
Vâng,
vì tin chắc rằng : “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”,
Trinh Nữ Maria đã đón nhận ơn gọi và sứ vụ “làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa” là mầu
nhiệm vượt xa khả năng hiểu biết của loài người ; vì tin “đối với Thiên
Chúa, không có gì là không thể làm được”, Đức Maria, người Kitô hữu tiên khởi
đã sẵn sàng trở thành khí cụ trong tay Thiên Chúa để Lời Hứa của Thiên
Chúa với Ítraen, dân Ngài trong Cựu Ước được hoàn thành mỹ mãn trong Tân Ước, với
Giáo Hội của Đức Giêsu, một Giáo Hội mở ra cho hết mọi người của mọi thời và mọi
nơi.
Cùng
với Đức Maria, chúng ta ngợi khen Chúa, vì những việc kỳ diệu, mà loài người
cho là “không thể làm được” Ngài đã thực hiện, vì xót thương ; tạ ơn Chúa
vì biết bao “điềm thiêng, dấu lạ”, mà loài người “không thể tin là có được” đã
được Chúa ban phát trong cuộc đời mỗi người, và với Đức Maria, người tín hữu
gương mẫu, Kitô hữu tuyệt vời đã tín thác trả lờisứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của
Chúa, xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38), chúng ta hãy giúp nhau
tín thác dấn thân phụng sự Chúa trong mọi người, bằng “loan truyền Chúa chịu chết,
và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, Chúa chúng
ta lại đến”.
Hình
ảnh người môn đệ truyền giáo, cũng là người Kitô hữu truyền giáo đích thực và sống
động mà chúng ta gặp được trong Tin Mừng của ngày lễ Giáng Sinh chính là những
mục đồng ở Bêlem, trong đêm Chúa sinh ra đời.
Thánh
Luca ghi lại rất rõ những gì đã xẩy ra với họ trong đêm hồng phúc ởBêlem : Họ là những người “thức đêm canh giữ đàn vật”. “Bỗng
sứ thần đứng bên họ, và vinh quangcủa
Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ :
“Anh em đừng sợ. Này tôi
báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm
nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng
Kitô, Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ thấy một trẻ
sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”
(Lc 2,8-12). Họ đã cùng nhau hối hả sang Bêlem. “Đến
nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ… Rồi các
người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã
được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”
(Lc 2,16.20).
Những
biến cố dồn dập xẩy ra trong đêm Giáng Sinh với những người chăn chiên, chính là trình tự có lớp langcủa hành trình trở thành người Kitô hữu truyền
giáo :
1.Người
Kitô hữu truyền giáo là người lắng nghe và đáp trả tiếng gọi của Thiên
Chúa :
Thiên
Chúa gọi rất nhiều người, nhưng không nhiều người đã lắng nghe và đáp trả. Những
người này đã không như những mục đồng ở Bêlem đã lắng nghe lời sứ thần và đáp
trả bằng bảo nhau : “Nào
chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết”, và “họ
liền hối hả ra đi” (Lc 2,15-16).
Bởi
có tin lời sứ thần, là tiếng gọi của Thiên Chúa, họ mới hối hả ra đi, và có vội
vã lên đường đi tìm, họ mới gặp “một trẻ
sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”
(Lc 2,12) như dấu chỉ mà sứ thần đã báo trước cho họ.
2.Người
Kitô hữu truyền giáo là người nhận ra
Thiên Chúa qua hình hài con người bé nhỏ, nghèo hèn, yếu đuối :
Nhận
ra Thiên Chúa sẽ rất dễ trên thiên đàng, hay sẽ không qúa khó trong những thánh
đuờng nguy nga, ở những buổi lễ hoành tráng, long trọng. Nhưng vô cùng khó nhận
ra Ngài qua hình hài một trẻ sơ sinh, bọc tã, nằm trong máng cỏ, ở chuồng chiên
lừa, giữa đêm khuya, với cha mẹ đơn sơ, nghèo nàn.
Mặc
dù đã được sứ thần báo trước, và đã thấy xẩy ra đúng như dấu chỉ của sứ thần,
nhưng chấp nhận một Thiên Chúa sinh ra làm người trong hình hài bé nhỏ, yếu đuối,
hoàn cảnh cùng cực, túng quẫn, nghèo hèn như những gì thấy trước mắt là một thách
đố vô cùng cam go của các mục đồng, vì vượt qúa sức tưởng tượng của họ.
Đây
cũng là thách đố lớn của người Kitô hữu truyền giáo, bởi Thiên Chúa không luôn
oai hùng, dũng mạnh, vinh quang, bách chiến bách thắng, nhưng thường ẩn mình
sau dáng dấp tiều tụy, bước đi siêu vẹo, nước mắt nhục nhằn, thân xác bầm tím,
sâu hoắm những vết thương của những con người bị đời nguyền rủa, lên án, khai
trừ ; và kín đáo giấu mình trong thân phận hẩm hiu, bất hạnh của những con người
bị khinh miệt, bạc đãi, bỏ rơi, tẩy chay, bóc lột, chà đạp, dầy xéo.
3.Người
Kitô hữu truyền giáo là người lên đường sau khi đã gặp Đức Giêsu để làm chứng về
Ngài, bằng kể lại “những việc kỳ diệu Thiên Chúa đã
làm”.
Tin
Mừng ghi rõ : các người chăn chiên “ra
về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai
nghe, đúng như đã được nói với họ”
(Lc 2,20).
Như
họ đã hối hả cùng nhau “lên đường”
từ cánh đồng chăn giữ chiên cừu đến hang Bêlem để gặp Hài Nhi Giêsu, nay họ cũng
vội vã “lên đường” trở về nơi họ đang sống, nơi họ đang làm
việc, với cha mẹ, vợ con, anh chị em, hàng xóm láng diềng, người thân kẻ lạ
chung quanh và công khai tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa, và kể cho mọi người những
điều họ đã nghe, đã thấy.
Họ
đã kể lại và làm chứng trước mọi người về những gì đã xẩy ra từ giây phút sứ thần
đánh thức họ, báo tin cho họ, đến khi họ được thấy tận mắt Hài Nhi mà họ nhận là
Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của họ và của toàn dân, vì tin vào lời sứ thần (x. Lc
2,11).
Thực
vậy, người Kitô hữu từ giây phút đầu, từ khởi điểm của hành trình đi theo Đức
Giêsu cho đến khi trở thành người Kitô hữu truyền giáo đích thực đã nhịp nhàng
theo bước chân những người chăn chiên ở cánh đồng Bêlem năm xưa trong đêm Giáng
Sinh, ở đó, cả mục đồng và người Kitô hữu đã cùng lắng nghe và đáp lại tiếng gọi
đi gặp Đức Giêsu ; cả hai đã lên đường đi tìm Đức Giêsu, đã đón nhận mầu
nhiệm Thiên Chúa làm người qua hình hài con người yếu đuối, bé nhỏ, nghèo hèn ;
và sau khi đã có Đức Giêsu, cả hai đã lại lên đường vừa đi vừa tôn vinh ca ngợi
Thiên Chúa và loan báo Tin Mừng Cứu Độ.
Sở
dĩ không thể tách người Kitô hữu ra khỏi người loan báo Tin Mừng, nhưng gọi người
Kitô hữu là “Kitô hữu truyền giáo” như tựa đề của bài chia sẻ, vì truyền
giáo là căn tính làm nên người Kitô hữu, bởi nếu chỉ gặp Đức Giêsu, biết Đức Giêsu,
tức có Đức Giêsu, mà không giới thiệu Đức Giêsu cho người khác cùng đến gặp, không
kể lại và làm chứng cho mọi người những việc kỳ diệu Đức Giêsu đã làm, không
loan báo sứ điệp cứu độ của Đức Giêsu cho người khác, thì danh xưng Kitô hữu sẽ
trở thành “hữu danh vô thực”, vì không có người Kitô hữu không truyền
giáo, không có người có Đức Kitô mà không làm chứng, loan báo, rao giảng Đức
Kitô.
Qủa
thực, Thiên Chúa đã rất khôn ngoan và quan phòng khi chọn những người chăn chiên
dốt nát, nghèo hèn, bị xã hội và Giáo Hội thời bấy giờ xếp vào hạng “ô uế”
làm những người Kitô hữu ở giờ đầu của lịch sử Nhập Thể, Cứu Chuộc, sau Đức Mẹ
và thánh Giuse, để nói cho chúng ta biết :Thiên Chúa đặc biệt yêu thương
những người bé nhỏ, như Đức Giêsu đã mặc khải qua lời cầu nguyện của Ngài với
Chúa Cha : “Lậy Cha là Chúa Tể trời
đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái
biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lậy Cha,
vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11,25-26).
Bên
cạnh là mặc khải về căn tính truyền giáo của người Kitô hữu, đó là người Kitô hữu
có Chúa Giêsu để ban phát Chúa Giêsu, có Chúa Giêsu để làm cho Chúa Giêsu được
biết và yêu mến, có Chúa Giêsu để “làm
cho mọi người trở thành môn đệ”
(Mt 28,19).
Tóm
lại, qua sứ điêp Giáng Sinh, chúng ta được Thiên Chúa dậy bảo : mỗi người
Kitô hữu là một nhà truyền giáo, một môn đệ rao giảng Tin Mừng, và không ai được
miễn trừ trách nhiệm và quyền lợi truyền giáo do đòi hỏi của “căn tính Kitô hữu”.
Chân lý này còn nhắc chúng ta việc truyền giáo không là đặc lợi, đặc vụ, độc
quyền của hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ, và những người có kiến thức thần học,
nhưng là sứ vụ của tất cả mọi Kitô hữu, là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi người
Kitô hữu, bởi Thiên Chúa dùng mỗi người
một cách khác nhau để loan báo Tin Mừng, và điều Ngài cần ở mỗi người là tình yêu
dành cho Ngài, là kinh nghiệm yêu thương, hiệp nhất với Đức Giêsu, là lòng quảng
đại của trái tim người môn đệ đích thực luôn khao khát cho “danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý
Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.
Ước
gì Giáng Sinh năm nay, tất cả người Kitô hữu chúng ta được đồng hành với anh em
mục đồng nghèo khó, chân chất, đơn sơ, hồn nhiên trong tĩnh lặng của cánh đồng
Bêlem giữa đêm khuya thanh vắng đang hối hả cùng nhau đến gặp Chúa, và trên đường
trở về, như người Kitô hữu truyền giáo được cùng họ tôn vinh Thiên Chúa và kể lại
cho mọi người những kỳ công Thiên Chúa đã làm cho chính mình và nhân loại.
Tội
sợ người muôn mặt, và người khác cũng sợ cái muôn mặt của tôi. Thế ra chúng tôi
đều sợ nhau, mà không ai nói cho ai biết.
Bởi
nói cho nhau thế nào được, khi muôn mặt là bí quyết riêng của mỗi người, bí quyết
để tồn tại trong xã hội nhiễu nhương, giả dối ; bởi tiết lộ thế nào được
khi muôn mặt là kỹ năng được xem là có hiệu qủa trong xã hội lọc lừa, cạm bẫy ;
bởi trao đổi với người khác thế nào được khi muôn mặt là nghệ thuật có đẳng cấp
cho phép “thay hình đổi dạng” nhanh chóng và phù hợp với mọi nhu cầu, hoàn cảnh ;
bởi chia sẻ kinh nghiệm thế nào được, khi xác xuất thành công tỷ lệ thuận với
khả năng muôn mặt.
Qủa
thực, chúng tôi muôn mặt đến độ chính chúng tôi không còn biết mình là ai,
không còn nhận diện được mặt nào là mặt thật nguyên thủy của mình. Nếu thập thò
quan lộ, chúng tôi có sẵn vô số bộ mặt trái ngược nhau : mặt nô bộc trung
thành, mặt bầy tôi dễ bảo, mặt ngây ngô, sợ hãi luôn miệng thưa bẩm, xin chỉ bảo,
hướng dẫn đối với quan trên, thủ trưởng ; nhưng với cấp dưới, thì mặt
chúng tôiđổi mầu hống hách, cửa quyền,
kiêu căng, trịch thượng, giáo điều, lề luật. Nếu tanh tanh mùi chữ, thì đeo
ngay mặt khoa bảng khinh khỉnh, mặt trí thức ngạo mạn, mặt lạnh lùng, vô cảm của
kẻ có chữ trước những người dân lành, cả nể, dễ tin. Nếu xúng xính phẩm hàm, mũ
mão, thì mặt trời cũng phải thua, mặt trăng cũng phải cúi đầu trước mặt cao ngạo,
coi thường phàm nhân của chúng tôi.
Thôi
thì đủ thứ mặtngắn dài, to nhỏ, vuông
tròn, lồi lõm được chúng tôi sử dụng ; đủ loại mầu sắc xanh, đỏ, tím,
vàng, lam, hường, đen, xám được bôi trét để ngụy trang, che giấu mặt thật ;
đủ tính cách “hỉ, nổ, ái, ố” cho diện mạo phong phú, diệu kỳ.
Chúng
tôicần tất cả để bảo đảm tốc độ đổi mặt,
bởi để thành công, tùy người, tùy việc mà mặt tức tốc được thay đổi, vì mặt được
dùng trước người nghèo, trước đám bần cùng, vô gia cư, vô địa táng hoàn toàn
khác với mặt phải mang khi trình diện người giầu sang, kẻ cóthế lực, ảnh hưởng. Chúng tôi còn cần trơ trẽn
ở cấp độ cao để có thể biến bộ mặt thiểu não van xin, khúm núm, qụy lụy, luồn
cúi hèn hạ trước những người chúng tôi
đang cầu cạnh, thành diện mạo tự mãn, tự phụ, vô ơn, phản phúc trước những người
ơn đã hết thời và nay không còn gì để chúng tôi khai thác, lợi dụng.
Nhưng
rồi muôn mặt cũng đến lúc phải trắng mặt, rơi mặt, lộ mặt, khi thiên hạ mệt mỏi
tránh xa, khi chính chúng tôi cũng ngao ngán muốn từ bỏ, vì sau mỗi ngày sống
muôn mặt, chúng tôi thấy mình nghèo đi nhân cách ; trước mỗi hành trình muôn
mặt, hành trang hạnh phúc của chúng tôi lại nhẹ vơi đi ; và sau mỗi chuyến
đầu tư muôn mặt, gia sản tinh thần hao hụt, giảm sút đến đáng lo ngại.
Chợt
một buổi chiều ở những cây số gần cuối đường đời, tiếng nói định mệnh thì thầm
nhắc nhở : Mỗi người chỉ có một mặt, một khuôn mặt giống Đấng Tạo Dựng,
một nét mặt mang hình ảnh Ngài, một sắc mặt phảng phất ánh sáng Tôn Nhan,
nên đeo vào mình muôn mặt, đắp lên mặt nhiều mầu sắc sẽ chỉ là phủ nhận bản
thân, khi chối từ sự thật làm nên mình, tránh né sự thật thuộc về mình, bức tử
sự thật tạo nên những tương quan tốt đẹp vớingười khác, và hủy diệt sự thật là điều kiện của hạnh phúc, bình an.
Ở
trạm dừng chân cuối đường này, chúng tôi giật mình nhận ra đây là những cây số
sau cùng của đường về, và thảng thốt, hốt hoảng vì qũy thời gian sống không còn
bao nhiêu, nên ai nấy mạnh dạn nói cho nhau như lời giã biệt về câu chuyện buồn
muôn mặt, nói với nhau như lời trăn trối vềqúa khứ dài bất hạnh vì đã trót mải mê một đời muôn mặt vô nghiã.
Hôm
nay còn được đi nốt vài cây số cuối cùng, xin gửi lại những người đi sau tâm
tình của lũ chúng tôi là những người đã vô phúc sống một đời dài muôn mặt, bằng
liên tục đeo trên mình những mặt nạ “giả hình, giả nhân giả nghiã” rất ghê tởm,
và khờ dại hủy hoại khuôn mặt nhân ái, nét mặt hiền lành, sắc mặt bao dung là
hình ảnh sống động của Đấng Chủ Tạo rất yêu thương và giầu lòng thương xót đã
ban cho loài người, để mọi người nhận ra nhau là anh em cùng một Cha trên trời,
qua khuôn mặt mang nhiều nét giống Cha yêu thương, nhân hậu.
Vì trông đợi Đấng Cứu Độ, Đấng đến để giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ của Thần Dữ, khỏi xiềng
xích của tội lỗi, khỏi cảnh bị hành hạ, đàn áp bất công, khỏi tình trạng “mạnh
được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé” nên Mùa Vọng là muà của niềm vui hy vọng được
cứu thoát, được trả tự do, đuợc nhận lại quyền sống của con người, và quyền hưởng
hạnh phúc Nước Trời của con Chúa ; vì trông mong Đấng là Nguồn Vui ơn cứu
rỗi, là Nguồn mọi sự thánh thiện và ơn phúc, mà tâm hồn trông đợi trong Mùa Vọng
được Thiên Chúa mặc cho áo “hồng ân cứu độ”, và choàng cho “đức chính trực công
minh, như chú rể chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang” (Is 61,10).
Như gương mẫu lý tưởng của những người đi theo Đức
Giêsu, Đức Maria là người Kitô hữu đầu tiên đã sống niềm vui trông đợi Đấng Cứu
Thế của Mùa Vọng, khi cất tiếng Ngợi Khen : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức
Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ
hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm
phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí
thánh chí tôn!” (Lc 1,46-49).
Đức Mẹ đã sống Mùa Vọng tuyệt vời của người nữ tỳ
nghèo hèn tuyệt đối tín thác vào ông chủ là Thiên Chúa, và luôn khiêm tốn,
nhưng tinh tế nhận ra những điều cao cả Thiên Chúa thực hiện trên phận hèn nữ tớ
của mình.
Niềm vui trông đợi Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ của Đức
Maria, người Kitô hữu đầu tiên, vì Mẹ là người thứ nhất được mang Đức Kitô
trong cung lòng và “sống Đức Kitô” suốt cuộc đời đã tuôn tràn xuống tâm hồn tất
cả các Kitô hữu khác, đang khi họ trông đợi Đức Giêsu trở lại trong vinh quang,
điều mà thánh Phaolô tông đồ không ngừng nhắn nhủ các giáo đoàn : “Anh em
hãy vui mừng luôn mãi” (1 Tx 5,16).
Nhưng niềm vui của muà trông đợi Chúa Cứu Thế không là
niềm vui của thế gian, niềm vui tìm kiếm từ bản năng, niềm vui bắt nguồn từ tội
lỗi mà hậu qủa tất yếu của những niềm vui ấy là hủy hoại, tàn phá, tiêu diệt.
Trái lại, niềm vui bắt nguồn từ Thiên Chúa, niềm vui đến từ Thánh Thần, nên hoa
trái đem lại sẽ là chính Thiên Chúa, Nguồn Vui bất tận, Nguồn Mạch Bình An, Hạnh
Phúc viên mãn, đời đời.
Và để niềm vui của Tin Mừng không bao giờ tàn phai,
như Thánh Thần không bao giờ bị dập tắt, người Kitô hữu được Thiên Chúa mời gọi :
“cầu nguyện không ngừng và tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”, bởi “đó là điều Thiên
Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5,17-18).
Cầu nguyện để Niềm Vui từ trái tim Đức Giêsu, Đấng Cứu
Độ giầu lòng thương xót chảy vào cuộc đời luôn cần lòng thương xót của chúng
ta ; cầu nguyện để Niềm Vui của Thánh Thần Tình Yêu làm tràn đầy trái tim
trống vắng, non nớt, yếu đuối, hay hoảng hốt, lo sợ, nghi nan, thất vọng của
chúng ta trước thử thách ; cầu nguyện để Niềm Vui từ Lời Hứa của Thiên
Chúa hướng dẫn và nâng đỡ hành trình trông đợi của chúng ta ; cầu nguyện để
trong mọi hoàn cảnh, đời chúng ta mãi là tiếng hát Tạ Ơn, bài ca Tán Tụng, thi
thơ Ngợi Khen “Đấng Tòan Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người
thật chí thánh chí tôn. Lòng thương xót Người trải qua từ đời nọ đến đời kia với
những ai kính sợ Người” (Lc 1,49-50), trong Niềm Vui của Thiên Chúa, Đấng cứu độ
tôi.
Xin Chúa ban cho mỗi người được từng ngày sống niềm
vui của người môn đệ luôn tín thác trông đợi vào Lời Hứa được Thiên Chúa yêu
thương, cứu độ.
Khuynh
hướng được coi là có ảnh hưởng mạnh và bao trùm thế giới vật chất, thực dụng
ngày nay chính là khuynh hướng phủ nhận những thực tại siêu nhiên, thiêng
liêng, vô hình như Thiên Chúa, ma qủy, thiên đàng, hoả ngục, mà hệ luận được chờ
đón chính là : con người là thiên chúa của mình, thiên chúa là sản phẩm do
con người làm ra. Vì lẽ đó, tội, phúc không còn là vấn đề làm con người phải
băn khoăn, lo lắng, sợ hãi.
Khuynh
hướng này lan tràn, len lỏi khắp nơi, không chỉ trong môi trường “thế gian”, mà
ngay giữa hàng ngũ môn đệ Đức Giêsu cũng có những người ủng hộ khuynh hướng vô
thần, duy vật chất rất nguy hiểm này.
Đây
là chiêu rất độc, trò rất hiểm Xatan đang triệt để tận dụng để phá nát thế giới,
triệt tiêu tình huynh đệ giữa con người, đẩy nhân loại xa khỏi vòng tay thương
xót, nhân hậu của Thiên Chúa. Để thực hiện mục tiêu trên, Xatan sử dụng những kỹ
thuật phù hợp với bản chất Gian Dối, Ganh ghét, Hận Thù, Bạo Lực, Hủy Diệt của
chúng.
1.Là
“Bạo Lực Hủy Hoại”, Xatan áp dụng chiêu trò Vu Khống, Tố
Cáo :
Hành
vi bạo lực kinh khủng, tàn bạo nhất của thời đại mới là Vu Khống, Tố Cáo người
khác trên mạng xã hội để bôi nhọ danh dự, gây căng thẳng, bất hoà, tạo nghi ngờ,
làm mất tin tưởng, phá hoại hiệp nhất, đạp đổ sự nghiệp của cá nhân cũng như của
cộng đoàn.
Ở
thời đại văn minh “kỹ thuật số”, đội quân bạo lực của Xatan không còn sử dụng
những khí giới thô sơ, lỗi thời để tàn phá, giết chóc, nhưng dùng “bàn phím” của
truyền thông để hồ đồ tố cáo, trân tráo vu oan, nhẫn tâm mạ lỵ như vũ khí cực kỳ
tân kỳ, hiệu qủa.
Kinh
Thánh cho chúng ta biết Vu Khống, Tố Cáo là chiêutrò đắc dụng của Xatan. Nó và bè lũ là những
tay chuyên nghiệp tố cáo, vu oan ; là những tên “ngậm máu phun người” rất
thiện nghệ, làm hại thanh danh, uy tín của người khác bằng tung tin giật gân,
phao tin khủng khiếp, giật tin nóng bỏng để lôi kéo đám đông, khích động quần
chúng, dụ dỗ người cả tin, nhẹ dạ vào chiến dịch mạ lỵ, đấu tố người khác một
cách hồ đồ, bất công, phi nhân, tàn nhẫn.
Ngôn
sứ Dacaria đã khởi đầu thị kiến thứ bốn : “Người lại cho tôi thấy thượng tế
Giêsua đang đứng trước mặt thần sứ của Đức Chúa ; còn Xatan đứng bên phải
ông để tố cáo ông” (Dcr 3,1); thánh Gioan trong sách Khải Huyền đã viết vềtên tố cáo, tức Xatan bị Thiên Chúa trừng
phạt : “Và tôi nghe có tiếng hô to trên trời : “Thiên Chúa chúng ta
thờ giờ đây ban ơn cứu độ, giờ đay biểu dương uy lực với vương quyền, và Đức
Kitô của Người giờ đây cũng biểu dương quyền bính, vì kẻ tố cáo anh em của ta,
ngày đêm tố cáo họ trước toà Thiên Chúa, nay bị tống ra ngoài” (Kh 12,10).
Như
thế, Xatan và bè lũ không bao giờ ngưng tố cáo chúng ta với người khác để vùi
giập, chà đạp, nghiền nát cuộc đời chúng ta. Chúng còn “ngày đêm tố cáo chúng
ta trước toà Chúa”. Vì thế, tất cả ý muốn cũng như hành vi tố cáo người khác, vu
khống tha nhân đều xuất phát từ Xatan, được Xatan giúp lập trình, lên kế hoạch,
được Xatan hướng dẫn, kích hoạt, ủng hộ, khuyến khích, cung cấp phương tiện. Cũng chính vì thủ đọan và hành động
tố cáo anh em thuộc về Xatan, nên những ai làm công việc gian ác, bẩn thỉu này
đều là những kẻ thuộc về Thần Dữ, là cánh tay nối dài của ma qủy, là khí cụ đắc
dụng của Xatan.
Xatan
còn là đứa khiêu khích, gây xáo trộn, khi sành sỏi trong nghề “thổi lửa”, là
nghề thổi phồng, làm lớn chuyện, “bé xé ra to”, diễn dịch với ác tâm, tà ý, nên
qua cửa miệng của Xatan thì chuyện nhỏ, nhẹ tênh cũng thành nặng nề, to lớn ;
chuyện không đáng cũng biến thành nguyên nhân “gây hậu qủa nghiêm trọng” ;
chút xíu lỗi lầm cũng trở thành “ngàn cân trọng tội”.
Xatan
còn là “thầy dùi” của bạo lực, khi đẩy đưa, lèo lái người khác vào khó khăn,
nguy hiểm, như nó đã làm với ông Gióp, với mục đích “hành hạ ông” (G 2,7) :
Sau những lời bênh vực Gióp của Đức Chúa, Xatan thưa lại với Đức Chúa : “Da
đổi da! Tất cả những gì người ta có, người ta đều sẵn sàng cho đi để cứu mạng sống
mình. Ngài cứ thử giơ tay đánh vào xương vào thịt nó xem, chắc chắn là nó sẽ
nguyền rủa Ngài thẳng mặt!” (G 2,4-5).
Và
cho đến tận thế, Xatan vẫn mãi xử dụng những chiêu trò quen thuộc, nhưng ngày
càng tinh vi có sức tàn phá kinh khủng, theo làn sóng duy vật chất, thực dụng.
2.Là
cha đẻ của Gian Dối, Xảo Quyệt, Xatan tận dụng đòn phép dụ dỗ, mê hoặc, lừa đảo con
người :
Thánh
Gioan khẳng định trong sách Khải Huyền : “Con Mãng Xà bị tống ra, đó là
Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma qủy hay Xatan, tên chuyên mê hoặc toàn thể
thiên hạ” (Kh 12,9).
Xatan
không trừ ai, không nể nang ai, nhưng lừa đảo, mê hoặc toàn thể nhân loại. Vì
thế, không ai, dù ở địa vị, phẩm hàm nào dám tự hào mình đứng vững trước những
chiêu trò dụ dỗ, mua chuộc, lừa phỉnh của Xatan, bởi nó có đủ ngón nghề kinh dị
để thiên hạ bị lọt lưới, sa bẫy mê hoặc, như thánh Phaolô đã ra lo sợ khi viết
cho giáo đoàn Thêxalônica : “Tôi đã sai người đi hỏi cho biết lòng tin của
anh em ra sao, sợ rằng tên cám dỗ đã cám dỗ anh em, và công lao khó nhọc của
chúng tôi trở nên vô ích” (1 Tx 3,5).
Khi
lừa đảo ai, Xatan bóp méo sự thật, tô vẽ những chuyện huyền hoặc nhưng hấp dẫn
để lừa phỉnh. Và để người ta tin là sự thật những điều nó nói, việc nó làm, Xatan
mặc cho gian dối y phục “chân lý”, tạo cho xảo quyệt vỏ bọc “thật” hơn cả sự thật,
tốt đẹp hơn cả điều thiện hảo, như dùng vỏ bọc đức tin để gieo rắc tà thuyết ;
vỏ bọc nhân ái để chia rẽ, tiêu diệt ; vỏ bọc hiền lành để cắn xé, tàn
sát ;vỏ bọc khiêm tốn để đàn áp,
thống trị ; vỏ bọc vâng phục để phản bội, phản phúc ; vỏ bọc thiên thần
để cưỡng bách, hãm hại, như khẳng định của thánh tông đồ dân ngoại : “Điều
tôi làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để những kẻ muốn có cơ hội tự phụ là những người
ngang hàng với chúng tôi, không còn cơ hội đó nữa. Vì những kẻ đó là tông đồ giả,
là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Đức Kitô. Lạ gì đâu! Vì chính Xatan cũng đội
lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người
phục vụ sự công chính” (2 Cr 11,12-15).
Tuy
biết những gì dối trá đều thuộc ma qủy, nhưng dối trá lại tràn ngập trong mọi
sinh hoạt cuộc sống. Người ta lừa gạt, bịp bợm, tráo trở, đổi trắng thay đen,
ăn không nói có, ngụy trang sự kiện, dàn dựng hiện trường, ngụy tạo chứng cớ
cách thản nhiên đến đáng sợ. Mà không chỉ người thế gian lừa nhau, cả người có
đạo cũng trắng trợn, nhẫn tâm gạt gẫm, bán đứng, làm khổ nhau.
3.Là
Ganh Ghét, Xatan lợi dụng “cái tôi ích kỷ” để gây chia rẽ, bất hòa :
Sở
dĩ có ghen ghét, ganh tỵ, chia rẽ, bất hoà vì ai cũng cho cái tôi của mình vĩ đại,
không thể thay thế, nên coi thường đồng nghiệp, đánh giá thấp cấp trên, vô ơn với
người thi ân, chê bai không căn cớ mọi người, phê bình vô trách nhiệm mọi việc ;
vì tôn sùng “cái tôi” như trung tâm của vũ trụ, nên những người này thường lên
mặt kiêu căng, dù không biết gì cả, lại mắc bệnh ham tranh luận, đấu lý, dù kém
cỏimọi mặt, non nớt trong mọi phương diện.
Do
sở trường của họ là ganh tỵ, nên tâm hồn họ lúc nào cũng sôi sục lửa ghen ghét,
vì không chịu được người khác đẹp hơn mình, giỏi hơn mình, thành công hơn mình,
hạnh phúc hơn mình, đạo đức hơn mình. Khả năng trổi vượt của họ là nghĩ xấu,
nói xấu người khác, và làm cho bầu khí của bất cứ nơi nào họ có mặt ngày càng
trở nên tồi tệ, bế tắc, vì sức tàn phá của lòng dạ kiêu căng, phán đoán lệch lạc,
tính bất chấp sư thật, và thói suy diễn tiêu cực, bất công, và độc ác, mọi sự,
mọi việc của họ.
Khi
làm việc với ai, hay phụ trách công tác trong cộng đoàn, người kiêu căng vì thần
tượng “cái tôi” của mình, nên mải mê tìm sơ hở của người khác để chia rẽ nội bộ,
kéo bè kéo đảng nhằm phục vụ tham vọng làm chủ, làm thầy, làm tướng, làm lãnh tụ.
Họ là người không thể làm việc với ai, bởi
chỉ muốn một mình quyết định, một mình được trân trọng, một mình được đánh
bóng, tuyên dương ; họ cũng không chia sẻ thành qủa của công việc với ai,
vì với họ “tất cả thành công là nhờ họ, do một tay họ làm nên” còn thất bại là
do thiếu sót, sai lầm, tội lỗi của người khác ; đặc biệt họ là người vô
ơn, phản phúc, vì kiêu căng nghĩ rằng đời họ do chính họ làm nên, mà chẳng cần
đến bàn tay của bất cứ người nào khác.
Thực
vậy, Xatan khai thác triệt để “cái tôi” kiêu căng của mỗi người để phá hoại
bình an của gia đình nhân loại, bởi nó biết : “cái tôi” là cái dễ làm cho
con người ganh ghét, hận thù, xa cách nhau nhất. “Cái tôi” cũng là cái có mặt ở
mọi nơi, trong mọi hàng ngũ, ngay cả hàng ngũ những người loan báo Tin Mừng,
như thánh Phaolô viết : “Có những kẻ rao giảng về Đức Kitô vì lòng ganh tỵ
và tranh chấp” (Pl 1,15), nên chỉ cần khơi dậy lòng kiêu căng, khiêu khích tính
háo thắng, ngạo mạn của “cái tôi” là lập tức Xatan có ngay một chiến trường đẫm
máu con người.
Vì
“hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ…”
là những việc do tính xác thịt gây ra (x. Gl 5,20,21), mà “cái tôi kiêu căng”
là điển hình, nên Đức Giêsu đã đòi hỏi những người muốn đi theo Ngài “phải từ bỏ
mình”, tức từ bỏ “cái tôi” kiêu căng, thống trị”, “cái tôi” tham vọng, ích kỷ, “cái
tôi” trịch thượng, hống hách, vô ơn, bởi “những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì
đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê”, để “chúng
ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ganh tỵ nhau” (Gl 5,24.26)
hầu làm cho “hoa trái của Thần Khí là : bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục,
nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5;22-23) được rực rỡ, xum
xuê.
4.Là
Diệt Vong, Chết Chóc, Xatan sử dụng kế độc làm con người tuyệt vọng :
Kế
độc của Xatan là lấy đi niềm hy vọng ở con người, bởi một khi không còn hy vọng,
con người không thể sống, vì không còn nghị lực để vượt qua những khó khăn,
gian truân, thử thách của cuộc sống, nhờ hy vọng vào Đấng đã hứa ban Hạnh Phúc
và Sự Sống đời đời trong vương quốc yêu thương, bình an của Ngài.
Qủa
thực, Xatan sử dụng kế độc tước đọat hy vọng của con người, bằng gieo nghi ngờ
về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và Lòng Thương Xót vô cùng của Ngài, bởi đánh mất
niềm hy vọng vào Thiên Chúa thương yêu, người ta sẽ tự đánh mất mình, khi đánh
mất lý do sống, ý nghiãsống, tương lai
mai hậu của sự sống, đồng thời không còn khả năng bảo đảm nhân phẩm, nhân vị,
vì hành trình nhân loại hoàn toàn rơi vào bế tắc, vô nghiã, khi không còn Thiên
Chúa là Đấng đã tạo dựng những con người
sống, Đấng trân qúy, gìn giữ, bảo vệ sự sống và hứa ban cho con người sự sống của
chính Ngài.
Thánh
tông đồ trưởng Phêrô đã xác quyết : Đức Giêsu chính là iềm hy vọng của
chúng ta (x. 1P 3,15), như lời thánh vịnh : “Xin đổ tình thương xuống
chúng con, lậy Chúa, như chúng con hằng hy vọng ở Ngài” (Tv 32,22), vì “Thiên
Chúa là nguồn hy vọng”, và chúng ta được tràn trề hy vọng, “nhờ quyền năng của
Thánh Thần” (x. Rm 15,13), niềm hy vọng mà thánh Phaolô đã giải thích : “Chúng
ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải hy vọng. Thấy được điều mình trông mong,
thì không còn phải là hy vọng nữa : vì ai lại hy vọng điều mình đã thấy rồi?
Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi
chờ” (Rm 8,24-25).
Qủa
thực, không đặt hy vọng vào Chúa và Lời Hứa của Ngài, chúng ta không thể đi tới
đích Sự Sống, Bình An, Hạnh Phúc đời đời Chúa hứa ban, như Phêrô đã chối Chúa
vì không hy vọng vào Lời Hứa “ngày thứ ba Người sẽ sống lại” (Lc 18,33), nhưng
rất may mắn Phêrô đã không rơi vào tuyệt vọng, vì “ngay lúc ông còn đang chối
thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông : “Hôm
nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần”. Và ông ra ngoài khóc lóc thảm
thiết” (Lc 22,61-62).
Đó
là nưc mắt của Hy Vọng, khi Phêrô bắt gặp cái nhìn âu yếm, bao dungcủa Thầy ; nước mắt của hy vọng được
khoan hồng, tha thứ mà ông tìm lại được ở đôi mắt nhân hậu, thương xót của Thầy ;
nước mắt của lòng trông cậy vào lượng hải hà khoan nhân của Thiên Chúa, Đấng Cứu
Độkhông bao giờ từ bỏ, xua đuổi ai.
Khác
với Giuđa, cũng là môn đệ, nhưng đã mất hy vọng vào Thầy mình, khi “Xatan đã nhập
vào ông” (Lc 22,3), và gieo vào lòng ông “ý định nộp Đức Giêsu” (Ga 13,2). “Hắn
đi nói chuyện với các thượng tế và lãnh binh Đền Thờ về cách thức nộp Người cho
họ. Họ rất mừng và đồng ý cho hắn tiền. Hắn ưng thuận và tìm dịp để nộp Đức
Giêsu cho họ, lúc không có dám đông” (Lc 22,4-6).
Giuđa
là môn đệ trong Nhóm Mười Hai, là người ở bên cạnh Đức Giêsu và được Ngài
thương yêu, dậy dỗ, nhưng ma qủy vẫn thành công khi lấy đi niềm hy vọng của ông
ở Đức Giêsu, và đẩy ông đến tuyệt vọng, khi “ra đi thắt cổ” (Mt 27,5).
Thực
vậy, Xatan ở giữa loài người (x. Kh 2,13). “Nó rảo quanh cõi đất và lang thang
khắp đó đây” (G 2,2), để cám dỗ loài người làm điều xấu xa, đồi bại hầu đi
đến diệt vong (x. 1 Tx 3,5), để “cản trở” chúng ta làm điều tốt lành, thánh thiện
và đi theo đường lối của Thiên Chúa (x. 1Tx 2,18), để làm cho tâm trí con người
trở nên tối tăm, không còn nhận được ánh sáng sự thật của Thiên Chúa.
Xatan
còn “đội lốt thiên thần sáng láng” (2 Cr 11,14) để đánh lừa chúng ta, vì Xatan
có sức mạnh của nó, sức mạnh do bản tính “thiên thần” thiêng liêng, mà Thiên
Chúa đã không lấy lại khi đuổi chúng ra khỏi thiên đàng, vì Ngài tôn trọng mọi
thụ tạo Ngài đã dựng nên, như thánh Phaolô đã cắt nghiã : “Còn việc tên
gian ác xuất hiện là do tác động của Xatan, có kèm theo đủ thứ phép mầu, dấu lạ,
điềm thiêng, và đủ mọi mưu gian chước dối, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã
không đón nhận lòng yêu mến chân lý, để được cứu độ” (2 Tx 2,9-10).
Qủa
thực Xatan lắm chiêu trò, ma qủy nhiều mưu thâm chước độc, thế gian nhiều cạm bẫy
nguy hiểm, và cuộc chiến với Xatan là cuộc chiến có thật, cuộc chiến rất cam
go, đòi phải có ơn Chúa và nhiều cố gắng, hy sinh, như Đức Giêsu đã nói : “Anh
em hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Mt 26,41), hay “loài qủy này chỉ trị được bằng ăn chay, cầu
nguyện (Mt 17,21). Nhưngchiến thắng
luôn thuộc về Thiên Chúa và những kẻ trung thành biết đặt hy vọng vào Ngài, vì “Thiên
Chúa là nguồn bình an, chẳng bao lâu nữa sẽ đè bẹp Xatan, bắt nó phải ở dưới
chân anh em” (Rm 16,20), cho dù có “hết một ngàn năm ấy, Xatan sẽ được thả ra
khỏi hoả ngục. Nó sẽ ra đi mê hoặc các nước ở khắp bốn phương thiên hạ là Gốc
và Magốc, và tập hợp chúng lại để giao chiến ; số chúng nhiều như cát biển.
Chúng tiến lên lan tràn khắp mặt đất, bao vây doanh trại dân thánh và Thành Đô
được Thiên Chúa yêu chuộng. Nhưng có lửa từ trời rơi xuống thiêu hủy chúng. Ma
qủy, tên mê hoặc chúng, bị quăng vào hố lửa và diêm sinh, ở đó đã có Con Thú và
tên ngôn sứ giả, và chúng sẽ bị làm khổ ngày đêm đời đời kiếp kiếp” (Kh 20,7-10).
Xin
Chúa cho chúng ta ơn bình an và ánh sáng của Ngài, để không rơi vào cạm bẫy
nguy hiểm và những chiêu trò ác độc làm hại linh hồn chúng ta của Xatan và bè
lũ.