Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2020

CHÍNH THIÊN CHÚA ĐẾN CỨU CHÚNG TA

 

Mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta không mừng một sứ giả, một sứ thần được Thiên Chúa gửi đến để cứu chuộc, hay mừng một tướng quân được tổng tư lệnh quân đội đặc phái ra mặt trận đang sôi bỏng để giải cứu quân và diệt thù, cũng không mừng vị đại diện của  Đấng Toàn Năng đến giải phóng, nhưng mừng chính Thiên Chúa đến cứu độ, mừng Ngôi Lời đến chuộc tội nhân loại, mừng chính Đức Chúa đến giải phóng dân Ngài. 

Ngôn sứ Isaia đã  loan báo Thiên Chúa sẽ đến cứu chuộc dân Ngài khi :

Người đã phán : Thật, chúng là dân của Ta, là những đứa con không biết lừa dối!". Và đối với họ, Người đã là một vị cứu tinh, trong mọi cơn quẫn bách. Không phải là một sứ giả hay một thiên thần đã cứu thoát họ, nhưng là chính tôn nhan Người. Vì yêu mến và thương cảm, chính Người đã chuộc họ về, đã vực họ dậy và mang họ đi suốt thời gian qúa khứ (Is 63,8-9).

Đấng Cứu Độ đến cứu chúng ta không chỉ là Thiên Chúa, mà còn là người như chúng ta, một người bằng xương bằng thịt. Ngài cho chúng ta thấy Ngài sinh ra như trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ (Lc 2,12) và thấy Ngài là Đấng oai hùng…, là vị thẩm phán của chúng ta…, là nhà lập pháp của chúng ta…, là vua của chúng ta, chính Người sẽ cứu độ chúng ta (Is 33,21.22).

Là Thiên Chúa làm người, Ngài không đến giải phóng chúng ta bằng mưu lược, thủ đọan chính trị, hay bằng vũ khí bạo lực, nhưng cứu độ bằng thương xót chúng ta, tội lỗi chúng ta, Ngài chà đạp dưới chân. Mọi lỗi lầm chúng ta, Ngài ném xuống đáy biển (Mk 7,19), vì Ngài là Thiên Chúa giầu lòng thương xót, Đấng Cứu Độ vô cùng nhân hậu, khoan dung.

Mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta mừng Thiên Chúa làm người, mừng con người được Thiên Chúa chuộc lại, mừng vinh dự làm con Thiên Chúa của con người được Thiên Chúa làm người ban lại nhờ của lễ  đền tội vô giá của Ngài.

Vì thế, chúng ta không mừng lễ Giáng Sinh như một người xa lạ với mầu nhiệm vào đời, làm người của Thiên Chúa, vì mầu nhiệm Thiên Chúa làm người mang lại ơn cứu sống đời đời cho chúng ta ; chúng ta không mừng lễ Giáng Sinh như khách bàng quan, thờ ơ, lãnh đạm, vì ơn Bình An của Thiên Chúa làm người giải thoát chúng ta khỏi mặc cảm tội lỗi của qúa khứ, khỏi thất vọng của hiện tại, khỏi hoang mang, sợ hãi của tương lai ; chúng ta không mừng lễ Giáng Sinh như người ngoài cuộc, bởi cứu chúng ta khỏi ách thống trị của tội lỗi, sự dữ và thần chết là công cuộc của Thiên Chúa muốn thực hiện với con người và cho con người ; chúng ta cũng không mừng lễ Giáng Sinh với nỗi buồn làm người, niềm đau thân phận, tủi sầu số kiếp, vì chính Thiên Chúa đã xuống thế làm người nghèo hèn, mang thân phận người mong manh, chia sẻ kiếp người truân chuyên, vất vả với mọi người.

Trái lại, mừng lễ Chúa Giáng Sinh chính là mừng ngày chúng ta được sinh lại trong Chúa, được mang tên Chúa, được đổi mới trong Chúa, được Chúa đổ đầy tình yêu và mặc cho áo hy vọng của Lời Hứa.

Mừng lễ Chúa Giáng Sinh cũng là mừng ngày chúng ta trở thành anh em với nhau trong Chúa, vì hôm nay, tất cả chúng ta được Thiên Chúa trả lại quyền làm con Ngài.

Sau cùng, mừng lễ Chúa Giáng Sinh, chính là mừng Thiên Chúa đến và cắm lều cư ngụ giữa chúng ta, để từ nay, chúng ta không đơn độc trên đường đời, không lạc đường, mất hướng giữa đêm đen, không hoảng hốt, lo sợ khi phong ba bão tố  điên cuồng nổi giận, không tuyệt vọng khi yếu đuối phản bội, và  không đào ngũ, bỏ cuộc khi khổ đau thử thách sức người có hạn, vì luôn có Ngài, cùng Ngài Vượt Qua.

Trong tĩnh lặng an bình của đêm Giáng Sinh hồng phúc, chúng ta cùng nhau kính cẩn thờ lậy Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thế làm người, và xin Bình An của Emmanuen, Thiên Chúa ở cùng chúng tôi cho chúng ta yêu mến, phụng sự  Ngài trong mọi người, và không ngừng chung tiếng hát các thiên thần trong đêm cực thánh : Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người Chúa thương (Lc 2,14).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

NIỀM VUI GIÁNG SINH

 


Giáng Sinh là Niềm Vui khôn tả cho cả đất trời, vạn vật : vui trên trời, vui dưới thế, thần thánh vui, nhân loại vui, thảo mộc vui, động vật vui, toàn thể vũ trụ vui như  lời thánh vịnh : Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn hải vật, ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ Tv 95,11-12).

Vui vì Thiên Chúa đã đóai thương đến viếng thăm cứu chuộc dân Người (Lc 1,68) ; vui vì biết mình được Thiên Chúa đến cứu như lời thiên thần nói với các mục đồng ở cánh đồng Bêlêm đêm Giáng Sinh: Tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa (Lc 2, 10-11).

Tin Mừng được các thiên thần loan báo trong đêm Giáng Sinh đã mặc khải bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu : Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng được sai đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, Đấng mà các ngôn sứ đã loan báo từ ngàn năm trước : Này đây, một Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghiã là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1,23), Ngài là ơn cứu độ Chúa dành sẵn cho muôn dân (Lc 2,30-31), Đấng sẽ cứu ta khỏi địch thù, thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét…, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta vào đường nẻo bình an (Lc 1,71.79).

Tin Mừng Giáng Sinh ấy cũng là trung tâm, là trái tim của lời rao giảng, như  thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại đã giảng cho người Do Thái : Thiên Chúa đã cho ông Đavít xuất hiện làm vua cai trị. Người đã làm chứng về ông rằng : Ta đã tìm được Đavít, con của Giesê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta. Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ítraen một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu (Cv 13,22-23). Và như Phêrô, tông đồ trưởng, vào ngày lễ Hiện Xuống, trước đông đảo dân chúng đã lớn tiếng rao giảng : Toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này : Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa, và làm Đấng Kitô (Cv 2,36).

Đặc biệt Tin Mừng Cứu Độ ấy đã đuợc loan báo ngay giây phút đầu của Mầu Nhiệm Nhập Thể, khi Đức Giêsu vừa sinh ra cho những người canh giữ chiên cừu  ở cánh đồng Bêlem.

Những người chăn giữ chiên cừu này trong bối cảnh xã hội Do Thái thời đó bị coi như không trong sạch, bởi nghề nghiệp của họ không cho phép họ được vào  các hội đường để cầu nguyện và nghe cắt nghiã Kinh Thánh. Họ bị xếp đồng hạng với những người thu thuế tội lỗi, những người làm việc cho đế quốc ngọai bang.

Thánh sử Luca, dọc suốt Tin Mừng của Ngài, đặc biệt trong trình thuật Giáng Sinh đã giới thiệu Đức Giêsu như Dung Mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót, như nhân chứng sống động của Thiên Chúa là Tình Yêu vô bờ bến, như Đấng Cứu Độ nhân hậu, bao dung được sai đến với những người bé mọn, đau khổ, bị đời bạc đãi, khinh bỉ, bỏ rơi, hành hạ, như chính Ngài đã xác nhận lời Kinh Thánh nói về Ngài trong hội đường ở quê hương Nadarét (x. Lc 4,21) : Thần Khí Chúa ngự trên tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa (Lc 4,18-19).

Thực vậy, niềm vui Giáng Sinh được nhân lên gấp bội, vì Ngôi Lời Thiên Chúa đã không chỉ làm người, mà còn làm người nghèo hèn, yếu đuối, bé nhỏ và chọn những người yếu đuối, bé nhỏ, nghèo hèn là những người đầu tiên được loan báo Tin Vui Nhập Thế, Nhập Thể, những người thứ nhất được đón nhận niềm vui của Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta, những người được Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương đặc biệt, và dành cho vinh dự vượt xa mọi vinh dự khi được gặp Hài Nhi Giêsu, Con Thiên Chúa làm người bằng xương bằng thịt vừa sinh ra.  

Như những người chăn giữ chiên cừu được Thiên Chúa đặc biệt yêu thương, chúng ta cũng  được chung niềm vui Giáng Sinh với các thiên thần, với Đức Maria và Thánh Giuse trong đêm nay, nếu chúng ta đón nhận mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, khi nghe lời thiên thần cùng nhau sang Bêlem và nhận ra Hài Nhi Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ vô cùng nhân hậu, bao dung, qua dấu chỉ rất đơn sơ, yếu đuối, nghèo hèn của một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ (Lc 2,12), và như những mục đồng ngay sau đó trên đường về vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, và kể lại cho mọi người những điều họ đã được mắt thấy tai nghe đúng như thiên thần đã nói với họ (Lc 2,20).

Vâng, niềm vui Giáng Sinh chính là niềm vui được là người có Đức Kitô, tức là người Kitô hữu, vì Thiên Chúa đã đến gặp, ở với, và mời gọi chúng ta đi vào mầu nhiệm Nhập Thể của Ngài, để trở nên môn đệ, nhân chứng, người loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Ngài cho muôn dân và làm cho họ trở thành môn đệ (x. Mt 28,19).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2020

CÁI CHẾT ĐẸP

Tưởng nhớ Nghệ Sĩ Chí Tài



Làm người thì ai cũng phải chết, bởi đó là sự thật nghiệt ngã của định mệnh, mà không ai tránh khỏi, dù tiền rừng bạc bể, quyền lực thống trị địa cầu, và ảnh hưởng bao trùm thế giới.

Khác với mọi loài thụ tạo, con người là thụ tạo duy nhất biết mình sẽ chết, nên ai cũng sợ, và cái làm sợ hơn cả chính là không biết mình sẽ phải chết thế nào, chết ra sao.

Tôi sẽ chết bệnh hay chết vì tai nạn? Chết bất đắc kỳ tử hay chết dần chết mòn? Chết ở nhà, bệnh viện hay ngoài đường phố, rừng rú, ruộng đồng? Chết ấm áp bên người thân hay một mình lạnh lẽo? Chết thanh thản hay quằn quại, co quắp? Chết toàn thây hay tan tành thân xác? Chết nhẹ nhàng hay vất vả, khó khăn? Chết bình an hay tang thương, tức tưởi?

Những vấn nạn không bao giờ có giải đáp trên đến một lúc sẽ đặt tôi trước một vấn nạn mới, không cùng phạm trù, đó là : Tôi sẽ có một cái cái chết đẹp hay xấu, một cái chết như hạt lúa bị chôn xuống đất, thối rữa đi để sinh ra nhiều bông hạt, hay cái chết hoàn toàn bị hủy hoại, tiêu tan, không để lại dấu vết của một đời có mặt và dấu hiệu của một sự sống mới?

Sở dĩ câu hỏi mới bật ra trong tâm trí, vì khi đã đi hết con dường luận lý của nỗi sợ chết, tôi khám phá ra mình hoàn toàn bất lực, vì không thể biết trước cách thế mình sẽ phải chết, trừ một khả thể trong tầm tay của hiện tại đang sống, đó là được phép chuẩn bị cho mình một cái chết đẹp ở tương lai.

Chuẩn bị một cái chết đẹp như cái chết của mẹ Têrêsa Calcutta, là Bạn của những người nghèo không còn có thể nghèo hơn sống một cái chết được triển hạn bên những đống rác thành phố, trong khu ổ chuột, và là Chị của những người sắp chết bị lây lất bỏ rơi bên vệ đường Ấn Độ ; hoặc như cha Maximilien Kolbe, chứng nhân của chân lý : Không có tình yêu nào cao cả hơn là tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13), khi tình nguyện chết thay cho Franciszek Gajowniczek, người bạn tù còn vợ dại, con thơ trong trại tập trung Đức Quốc Xã ở Auschwitz  ngày 14.08.1941 ; và gần chúng ta nhất là nghệ sĩ tài hoa Chí Tài mà cái chết của anh đang làm thổn thức hàng triệu con tim trong những ngày này.

Mười ba giờ ngày 09.12.2020, người ta phát hiện anh nằm bất động ở cầu thang lầu 7 chung cư, nơi anh ở, và ngay lập tức, tin anh đột qụy đã làm se dạ thắt lòng nhiều người Việt khắp năm châu : Chí Tài đã bỏ dở cuộc chơi, ra đi không một lời trăn trối…

Sáng nay thân xác anh đã về lại Mỹ trong đau đớn, nghẹn ngào của người vợ yêu dấu, và thương tiếc, xót xa của gia đình, bạn hữu nghệ sĩ, và vô số người ái mộ, trong đó, có tôi, người mang ơn, mắc nợ anh, vì anh đã cho tôi những tiếng cười  vui tươi, sảng khoái, nhờ tấm lòng nghệ sĩ vì người khác, và tài năng đem lại niềm vui cho mọi người của anh.

    Tuy anh chết cô đơn, dù người thương anh, qúy anh, say mê, thần tượng anh  thì vô vàn, vô số ; tuy anh chết co quắp, lạnh lẽo ngoài cầu thang, dù ở đâu anh cũng có nhà cao cửa rộng ; tuy anh chết vì không được cấp cứu kịp thời, dù tiền bạc anh không thiếu để được chăm sóc ở bệnh viện hiện đại, và bởi các bác sĩ nổi tiếng, nhiều kinh nghiệm. Tắt một lời, nếu nhìn cách anh chết thì qủa thực anh đã  không thiếu gì khi sống, nhưng giờ chết, anh thiếu mọi sự.

Nhưng dù thiếu nhiều thứ, nhiều sự, nhiều người ở giờ ra đi, nhưng anh sở hữu một kho tàng qúy giá, một vinh dự tuyệt vời và vĩ đại, kho báu mà tất cả những cái anh thiếu cộng lại cũng không thể đánh đổi, vinh dự mà cho dù người quyền thế nhất thiên hạ, giầu có nhất trần gian cũng không thể chiếm hữu. Kho báu ấy là cái chết đẹp, vinh dự ấy là tấm lòng của người nghệ sĩ suốt đời phục vụ tha nhân.

Anh có cái chết đẹp, vì anh đã có cuộc sống đẹp, anh đã chết đẹp, vì anh đã sống đẹp, bởi lẽ tự nhiên, và thường tình là nếu muốn chết đẹp, phải biết sống đẹp.

Cái chết của anh đẹp, không phải vì anh Hoài Linh, chị Việt Hương đã tổ chức đám tang chu đáo, trang nghiêm, hoành tráng, cũng không phải vì anh giầu, anh hát hay, đàn giỏi, diễn hài tinh tế, duyên dáng, nhưng cái chết của anh đẹp, tuyệt đẹp, vì anh được chết trong trái tim của rất nhiều người, được tiếp tục sống trong tình yêu đang thổn thức thương nhớ của nhiều người, và tên anh được không biết bao nhiêu bờ môi đang ngậm ngùi, run rẩy réo gọi, vì bồi hồi luyến tiếc.

Cái chết của anh đẹp, vì con người anh đã được chôn trong tim người khác, mà được chôn trong tim ai, chính là được tiếp tục sống trong cuộc đời với họ, nhờ được ở trong sự sống là trái tim mang tình yêu không bao giờ chết, chẳng bao giờ bị hủy hoạu, tan biến.

Cái chết của anh đẹp, vì anh không chết, nhưng sống mãi trong tình yêu, vì tình yêu làm cho sống và sống mãi, bởi tình yêu thì bất tử, bất diệt, có sức cải tử hoàn sinh.

Vì thế, cái chết đẹp hoàn toàn khác những cái chết không đẹp khi không chỉ thân xác, mà cả cuộc đời đã sống sẽ đơn giản và mau chóng được chôn trong lòng đất, hoặc đốt thành tro để không còn được tiếp tục sống trong tiếc nhớ, ngưỡng mộ, biết ơn của tình yêu trong trái tim phục sinh của người khác.    

Qủa thực, để có được cái chết đẹp hôm nay, anh Chí Tài ơi, anh đã tận tụy, miệt mài xây dựng một đời sống rất đẹp, khi quên mình sống cho bạn hữu ; khi dẹp bỏ cái tôi kiêu căng, tham vọng, háo danh, háo thắng, đấu đá, kèn cựa ; khi ghìm mình, ép mình chịu đựng những thái qúa ,bất cập của đàn em, đàn anh, bạn bè, người cộng tác ; khi dằn lòng, đè nén bản thân để giữ gìn hoà khí, bảo vệ tình thân, tình nghiã.

Đọc và nghe những chia sẻ của bạn hữu và những người quen biết anh, tôi nhận ra ở anh con người dám sống quên mình, xóa mình vì người khác.

Có quên mình sống vì người khác, khi tận tình giúp đỡ những người em mới vào nghề còn ngỡ ngàng, lo lắng, anh mới có được cái chết đẹp từ những tình cảm thương nhớ của các em trong nghề ; có bỏ mình sống cho người khác, khi kín đáo chia sẻ vật chất và nâng đỡ tinh thần những nghệ sĩ đàn anh già nua, bệnh tật, không còn làm ra tiền để nuôi thân, anh mới có được cái chết đẹp từ ân tình sâu sa của các vị tiền bối, đàn  anh đàn chị ; có hết tình hết mình vì tha nhân, anh mới có được cái chết đẹp, khi khắp nơi từ  miền trung bão lụt, nơi anh vừa lặn lội thăm viếng, làm từ thiện, đến những thành phố xa xôi Cali, Paris, Munich và nhiều nơi trên thế giới, ở đó những người đã được anh cho cười thoải mái, cười sảng khoái, cười nặc nẽo, sặc sụa, đã đời đang tỏ lòng biết ơn, tiếc nuối bằng cầu nguyện cho linh hồn anh được trường sinh bất tử trong tình yêu của Thiên Chúa và của mọi người.

Cám ơn anh Chí Tài !

Với tôi, anh là người đẹp, con người rất đẹp, vì anh đã sống đẹp với mọi người, và chết đẹp trong trái tim mọi người, bởi có sống đẹp, anh mới được chết đẹp như những gì rất đẹp đang diễn ra mấy hôm nay quanh đám tang anh, và tôi nghĩ, chị Kỳ Duyên đã có nhận xét chính xác về anh, khi chị chia sẻ : Anh Chí Tài là người nghệ sĩ duy nhất không có anti-fan, vì Anh dễ thương, hiền hoà, lành tính. Anh đa tài : đàn hay, hát giỏi, tấu hài, diễn xuất, sáng tác… cái gì anh cũng làm được và làm rất tốt. Nhưng cái em sẽ nhớ nhất về anh là dù trên sân khấu hay ngoài đời, bao giờ anh cũng sẵn sàng nâng đỡ người bên cạnh… (trích Tuổi Trẻ 9.12.2020).

Cùng với mọi người đang chôn anh trong trái tim, mai táng anh trong tình thân, tình bạn, tôi tạm biệt anh, linh hồn Giuse Nguyễn Chí Tài và hẹn gặp lại anh trên Thiên Đàng, ở đó, anh sẽ còn hát hay, đàn giỏi, tấu hài, diễn xuất tuyệt vời hơn nữa, vì khán giả sẽ là Ba Ngôi Thiên Chúa, cùng triều thần thiên quốc, thần thánh trên trời, và vô số người thân, bạn hữu, fan mến mộ, yêu qúy anh.    

Jorathe Nắng Tím

 

    

     

      

 


“ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA, KHÔNG CÓ GÌ LÀ KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC”

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Vọng, Năm B

 


Trình thuật về buổi gặp gỡ giữa sứ thần Gabrien và trinh nữ Maria ở Nadarét mà thánh sử Luca đã chi tiết kể lại xem ra đã không đặt trọng tâm vào người nhận sứ điệp “Truyền Tin” là Đức Maria, nhưng đặt trọng tâm vào “Ngôi Lời Thiên Chúa” sắp được thụ thai bởi quyền  phép Chúa Thánh Thần, và được sinh ra từ cung lòng Đức Trinh Nữ (x. Lc 1,26-38).

Thực vậy, ngay từ lời chào khởi đầu cuộc diện kiến, sứ thần đã giới thiệu Đức Chúa, và khẳng định : “Bà đầy ơn sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1,28). Tiếp liền sau đó, sứ thần cho Trinh Nữ biết Tên của Con Trẻ mà Trinh Nữ sẽ mang thai và hạ sinh, và Đấng có tên Giêsu ấy chính là Con của Thiên Chúa Tối Cao, Đấng “được Thiên Chúa xức dầu tấn phong và sai đến”, mà toàn dân hằng mong đợi, như Kinh Thánh đã nói về Ngài : “Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền của người con ấy được bền vững… Đối với người ấy, Ta sẽ là Cha, và đối với Ta, người ấy sẽ là con” (2 S 7,12.14), “Phần ngươi, hỡi Bêlem Épratha, ngươi bé nhỏ nhất trong các thị tộc Giuđa, nhưng từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ítraen. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa” (Mk 5,1), và chính xác, rõ ràng hơn là “Đức Chúa sẽ ban cho các ngươi một dấu chỉ : Này đây một trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuen” (Is 7,14).

Nhưng điểm quan trọng hơn mà thánh Luca muốn nhấn mạnh, đó là : qua Đức Giêsu, mầu nhiệm về Thiên Chúa vốn được giữ kín tự ngàn xưa, nay “được thông báo cho muôn dân biết, để họ tin và vâng phục Thiên Chúa” ( Rm 16,26) hầu được cứu rỗi, bởi Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa và là Ngôi Lời của Thiên Chúa “đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14 ), và chỉ người Con Một này, “Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha” mới tỏ được cho chúng ta biết mầu nhiệm về Thiên Chúa, bởi ngoài Ngôi Lời, chưa bao giờ có ai thấy Thiên Chúa (x. Ga 1,18).

Đến lúc này thì sứ thần gặp phải vấn nạn của Trinh Nữ : “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34).

Vấn nạn rất thông minh và nhân bản, vấn nạn rất chân thành và đơn sơ, vấn nạn rất lương thiện và công bằng, vì việc thụ thai mà không “ăn ở” với đàn ông là việc ngoài sức tưởng tượng, việc của thượng giới, việc của trời thần, chứ loài người làm sao thực hiện được. Cũng vì là việc không thể có, và vượt trí khôn nhân loại, mà những người chống lại Giáo Hội mãi mãi dùng sự kiện “Trinh Nữ thụ thai và sinh hạ con trai” làm tiền đề để bôi bác, chể diễu, phỉ báng Kitô giáo, và chụp cho người Kitô hữu cái mũ “mê tín nhảm nhí, phản khoa học, mê muội trước một đức tin huyền hoặc, phi lý, phản tự nhiên”.    

Qủa thực, nếu Thiên Chúa không can thiệp thì việc ấy không thể thực hiện ; nếu Chúa Thánh Thần không tác động, thì bào thai không thể thành hình trong cung lòng của Trinh Nữ ; nếu quyền năng Đấng Tối Cao không rợp bóng trên con người, thì không bao giờ có chuyện trinh nữ mà thụ thai và sinh con, vì đi ngược luật tự nhiên của chính Đấng Tối Cao thiết lập trên thụ tạo của Ngài.

Nhưng chính vì luật tự nhiên, quy trình tự nhiên, đòi hỏi tự nhiên, điều kiện tự nhiên trong việc cưu mang và sinh sản con người nằm trong tay Thiên Chúa, do chính Thiên Chúa tạo dựng, nên đối với Thiên Chúa, việc thay đổi luật tự nhiên cũng không khác việc lập nên luật tự nhiên ấy. Nói cách khác, Ngài có toàn quyền làm điều Ngài muốn, toàn năng để thực hiện những việc mà loài người không thể tưởng tượng, chưa hề quan niệm, nhất là Ngài toàn thiện để mọi sự được trở nên tốt đẹp đối với những ai yêu mến Ngài.

Ở đây, dù là việc thụ thai khi chưa hề chung sống với chồng là việc bất khả thể  đã gây bối rối cho Đức Maria, nhưng vì là người đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa toàn năng và yêu mến Thánh Ý Ngài, nên Đức Maria đã không nghi nan, lo sợ nữa, khi được sứ thần Gabrien trấn an : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà”, và để lời mình có giá trị thuyết phục, sứ thần đã cho Đức Maria biết : “Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng”, và sứ thần kết luận : “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,35-37).  

“Không có gì là không thể làm được”, khi Thiên Chúa đến với con người, “đến trong con người”, trở thành “người con” của con người, được sinh ra từ cung lòng của một con người.

“Không có gì là không thể làm được”, khi cho cung lòng con người được cưu mang Thiên Chúa, cho thân xác con người được trở thành nhà Thiên Chúa ở, Đền Thờ Thiên Chúa ngự, cho Máu Thịt Thiên Chúa trở nên của ăn, của uống nuôi sống con người.

“Không có gì là không thể làm được”, khi Thiên Chúa không “tàng hình” để cứu chuộc, không “vô hình” để cứu chữa, nhưng làm người hữu hình như mọi người, để chịu đau đớn trên thân xác, chịu đau khổ trong tâm hồn, bị đóng đinh chết và chôn trong mồ như mọi người, để mọi người được làm con Thiên Chúa, chia sẻ thiên tính của Ngài khi được “đồng hình đồng dạng” với Ngài.

“Không có gì là không thể làm được”, khi sống lại vinh quang từ cõi chết, và cho mọi người được “nhìn thấy Đấng Cứu Độ của mình” (x. Ga 20 ; Mt 5,8).

Vâng, vì tin chắc rằng : “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Trinh Nữ Maria đã đón nhận ơn gọi và sứ vụ “làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa” là mầu nhiệm vượt xa khả năng hiểu biết của loài người ; vì tin “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Đức Maria, người Kitô hữu tiên khởi đã sẵn sàng trở thành khí cụ trong tay Thiên Chúa để Lời Hứa của Thiên Chúa với Ítraen, dân Ngài trong Cựu Ước được hoàn thành mỹ mãn trong Tân Ước, với Giáo Hội của Đức Giêsu, một Giáo Hội mở ra cho hết mọi người của mọi thời và mọi nơi.

Cùng với Đức Maria, chúng ta ngợi khen Chúa, vì những việc kỳ diệu, mà loài người cho là “không thể làm được” Ngài đã thực hiện, vì xót thương ; tạ ơn Chúa vì biết bao “điềm thiêng, dấu lạ”, mà loài người “không thể tin là có được” đã được Chúa ban phát trong cuộc đời mỗi người, và với Đức Maria, người tín hữu gương mẫu, Kitô hữu tuyệt vời đã tín thác trả lời  sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38), chúng ta hãy giúp nhau tín thác dấn thân phụng sự Chúa trong mọi người, bằng “loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, Chúa chúng ta lại đến”.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020

NGƯỜI KITÔ HỮU TRUYỀN GIÁO

 


Hình ảnh người môn đệ truyền giáo, cũng là người Kitô hữu truyền giáo đích thực và sống động mà chúng ta gặp được trong Tin Mừng của ngày lễ Giáng Sinh chính là những mục đồng ở Bêlem, trong đêm Chúa sinh ra đời.

Thánh Luca ghi lại rất rõ những gì đã xẩy ra với họ trong đêm hồng phúc ở  Bêlem : Họ là những người thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần đứng bên họ, và vinh quang  của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ : Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ (Lc 2,8-12). Họ đã cùng nhau hối hả sang Bêlem. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ… Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ (Lc 2,16.20).

Những biến cố dồn dập xẩy ra trong đêm Giáng Sinh với những người chăn chiên, chính  là trình tự có lớp lang  của hành trình trở thành người Kitô hữu truyền giáo :

1.   Người Kitô hữu truyền giáo là người lắng nghe và đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa :

Thiên Chúa gọi rất nhiều người, nhưng không nhiều người đã lắng nghe và đáp trả. Những người này đã không như những mục đồng ở Bêlem đã lắng nghe lời sứ thần và đáp trả bằng bảo nhau : Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết, và họ liền hối hả ra đi (Lc 2,15-16).

Bởi có tin lời sứ thần, là tiếng gọi của Thiên Chúa, họ mới hối hả ra đi, và có vội vã lên đường đi tìm, họ mới gặp một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ (Lc 2,12) như dấu chỉ mà sứ thần đã báo trước cho họ.

2.   Người Kitô hữu  truyền giáo là người nhận ra Thiên Chúa qua hình hài con người bé nhỏ, nghèo hèn, yếu đuối :

Nhận ra Thiên Chúa sẽ rất dễ trên thiên đàng, hay sẽ không qúa khó trong những thánh đuờng nguy nga, ở những buổi lễ hoành tráng, long trọng. Nhưng vô cùng khó nhận ra Ngài qua hình hài một trẻ sơ sinh, bọc tã, nằm trong máng cỏ, ở chuồng chiên lừa, giữa đêm khuya, với cha mẹ đơn sơ, nghèo nàn.

Mặc dù đã được sứ thần báo trước, và đã thấy xẩy ra đúng như dấu chỉ của sứ thần, nhưng chấp nhận một Thiên Chúa sinh ra làm người trong hình hài bé nhỏ, yếu đuối, hoàn cảnh cùng cực, túng quẫn, nghèo hèn như những gì thấy trước mắt là một thách đố vô cùng cam go của các mục đồng, vì vượt qúa sức tưởng tượng của họ.

Đây cũng là thách đố lớn của người Kitô hữu truyền giáo, bởi Thiên Chúa không luôn oai hùng, dũng mạnh, vinh quang, bách chiến bách thắng, nhưng thường ẩn mình sau dáng dấp tiều tụy, bước đi siêu vẹo, nước mắt nhục nhằn, thân xác bầm tím, sâu hoắm những vết thương của những con người bị đời nguyền rủa, lên án, khai trừ ; và kín đáo giấu mình trong thân phận hẩm hiu, bất hạnh của những con người bị khinh miệt, bạc đãi, bỏ rơi, tẩy chay, bóc lột, chà đạp, dầy xéo.    

3.   Người Kitô hữu truyền giáo là người lên đường sau khi đã gặp Đức Giêsu để làm chứng về Ngài, bằng kể lại những việc kỳ diệu Thiên Chúa đã làm.  

Tin Mừng ghi rõ : các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ (Lc 2,20).

Như họ đã hối hả  cùng nhau lên đường từ cánh đồng chăn giữ chiên cừu đến hang Bêlem để gặp Hài Nhi Giêsu, nay họ cũng vội vã lên đường trở về nơi họ đang sống, nơi họ đang làm việc, với cha mẹ, vợ con, anh chị em, hàng xóm láng diềng, người thân kẻ lạ chung quanh và công khai tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa, và kể cho mọi người những điều họ đã nghe, đã thấy.

Họ đã kể lại và làm chứng trước mọi người về những gì đã xẩy ra từ giây phút sứ thần đánh thức họ, báo tin cho họ, đến khi họ được thấy tận mắt Hài Nhi mà họ nhận là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của họ và của toàn dân, vì tin vào lời sứ thần (x. Lc 2,11).

Thực vậy, người Kitô hữu từ giây phút đầu, từ khởi điểm của hành trình đi theo Đức Giêsu cho đến khi trở thành người Kitô hữu truyền giáo đích thực đã nhịp nhàng theo bước chân những người chăn chiên ở cánh đồng Bêlem năm xưa trong đêm Giáng Sinh, ở đó, cả mục đồng và người Kitô hữu đã cùng lắng nghe và đáp lại tiếng gọi đi gặp Đức Giêsu ; cả hai đã lên đường đi tìm Đức Giêsu, đã đón nhận mầu nhiệm Thiên Chúa làm người qua hình hài con người yếu đuối, bé nhỏ, nghèo hèn ; và sau khi đã có Đức Giêsu, cả hai đã lại lên đường vừa đi vừa tôn vinh ca ngợi Thiên Chúa và loan báo Tin Mừng Cứu Độ.

Sở dĩ không thể tách người Kitô hữu ra khỏi người loan báo Tin Mừng, nhưng gọi người Kitô hữu là Kitô hữu truyền giáo như tựa đề của bài chia sẻ, vì truyền giáo là căn tính làm nên người Kitô hữu, bởi nếu chỉ gặp Đức Giêsu, biết Đức Giêsu, tức có Đức Giêsu, mà không giới thiệu Đức Giêsu cho người khác cùng đến gặp, không kể lại và làm chứng cho mọi người những việc kỳ diệu Đức Giêsu đã làm, không loan báo sứ điệp cứu độ của Đức Giêsu cho người khác, thì danh xưng Kitô hữu sẽ trở thành hữu danh vô thực, vì không có người Kitô hữu không truyền giáo, không có người có Đức Kitô mà không làm chứng, loan báo, rao giảng Đức Kitô.

Qủa thực, Thiên Chúa đã rất khôn ngoan và quan phòng khi chọn những người chăn chiên dốt nát, nghèo hèn, bị xã hội và Giáo Hội thời bấy giờ xếp vào hạng ô uế làm những người Kitô hữu ở giờ đầu của lịch sử Nhập Thể, Cứu Chuộc, sau Đức Mẹ và thánh Giuse, để nói cho chúng ta biết :Thiên Chúa đặc biệt yêu thương những người bé nhỏ, như Đức Giêsu đã mặc khải qua lời cầu nguyện của Ngài với Chúa Cha : Lậy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lậy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha (Mt 11,25-26).

Bên cạnh là mặc khải về căn tính truyền giáo của người Kitô hữu, đó là người Kitô hữu có Chúa Giêsu để ban phát Chúa Giêsu, có Chúa Giêsu để làm cho Chúa Giêsu được biết và yêu mến, có Chúa Giêsu để làm cho mọi người trở thành môn đệ (Mt 28,19).   

Tóm lại, qua sứ điêp Giáng Sinh, chúng ta được Thiên Chúa dậy bảo : mỗi người Kitô hữu là một nhà truyền giáo, một môn đệ rao giảng Tin Mừng, và không ai được miễn trừ trách nhiệm và quyền lợi truyền giáo do đòi hỏi của căn tính Kitô hữu. Chân lý này còn nhắc chúng ta việc truyền giáo không là đặc lợi, đặc vụ, độc quyền của hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ, và những người có kiến thức thần học, nhưng là sứ vụ của tất cả mọi Kitô hữu, là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi người  Kitô hữu, bởi Thiên Chúa dùng mỗi người một cách khác nhau để loan báo Tin Mừng, và điều Ngài cần ở mỗi người là tình yêu dành cho Ngài, là kinh nghiệm yêu thương, hiệp nhất với Đức Giêsu, là lòng quảng đại của trái tim người môn đệ đích thực luôn khao khát cho danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Ước gì Giáng Sinh năm nay, tất cả người Kitô hữu chúng ta được đồng hành với anh em mục đồng nghèo khó, chân chất, đơn sơ, hồn nhiên trong tĩnh lặng của cánh đồng Bêlem giữa đêm khuya thanh vắng đang hối hả cùng nhau đến gặp Chúa, và trên đường trở về, như người Kitô hữu truyền giáo được cùng họ tôn vinh Thiên Chúa và kể lại cho mọi người những kỳ công Thiên Chúa đã làm cho chính mình và nhân loại.

Jorathe Nắng Tím

MUÔN MẶT

 

Tội sợ người muôn mặt, và người khác cũng sợ cái muôn mặt của tôi. Thế ra chúng tôi đều sợ nhau, mà không ai nói cho ai biết.

Bởi nói cho nhau thế nào được, khi muôn mặt là bí quyết riêng của mỗi người, bí quyết để tồn tại trong xã hội nhiễu nhương, giả dối ; bởi tiết lộ thế nào được khi muôn mặt là kỹ năng được xem là có hiệu qủa trong xã hội lọc lừa, cạm bẫy ; bởi trao đổi với người khác thế nào được khi muôn mặt là nghệ thuật có đẳng cấp cho phép “thay hình đổi dạng” nhanh chóng và phù hợp với mọi nhu cầu, hoàn cảnh ; bởi chia sẻ kinh nghiệm thế nào được, khi xác xuất thành công tỷ lệ thuận với khả năng muôn mặt.

Qủa thực, chúng tôi muôn mặt đến độ chính chúng tôi không còn biết mình là ai, không còn nhận diện được mặt nào là mặt thật nguyên thủy của mình. Nếu thập thò quan lộ, chúng tôi có sẵn vô số bộ mặt trái ngược nhau : mặt nô bộc trung thành, mặt bầy tôi dễ bảo, mặt ngây ngô, sợ hãi luôn miệng thưa bẩm, xin chỉ bảo, hướng dẫn đối với quan trên, thủ trưởng ; nhưng với cấp dưới, thì mặt chúng tôi  đổi mầu hống hách, cửa quyền, kiêu căng, trịch thượng, giáo điều, lề luật. Nếu tanh tanh mùi chữ, thì đeo ngay mặt khoa bảng khinh khỉnh, mặt trí thức ngạo mạn, mặt lạnh lùng, vô cảm của kẻ có chữ trước những người dân lành, cả nể, dễ tin. Nếu xúng xính phẩm hàm, mũ mão, thì mặt trời cũng phải thua, mặt trăng cũng phải cúi đầu trước mặt cao ngạo, coi thường phàm nhân của chúng tôi.

Thôi thì đủ thứ mặt  ngắn dài, to nhỏ, vuông tròn, lồi lõm được chúng tôi sử dụng ; đủ loại mầu sắc xanh, đỏ, tím, vàng, lam, hường, đen, xám được bôi trét để ngụy trang, che giấu mặt thật ; đủ tính cách “hỉ, nổ, ái, ố” cho diện mạo phong phú, diệu kỳ.

Chúng tôi  cần tất cả để bảo đảm tốc độ đổi mặt, bởi để thành công, tùy người, tùy việc mà mặt tức tốc được thay đổi, vì mặt được dùng trước người nghèo, trước đám bần cùng, vô gia cư, vô địa táng hoàn toàn khác với mặt phải mang khi trình diện người giầu sang, kẻ có  thế lực, ảnh hưởng. Chúng tôi còn cần trơ trẽn ở cấp độ cao để có thể biến bộ mặt thiểu não van xin, khúm núm, qụy lụy, luồn cúi hèn hạ trước  những người chúng tôi đang cầu cạnh, thành diện mạo tự mãn, tự phụ, vô ơn, phản phúc trước những người ơn đã hết thời và nay không còn gì để chúng tôi khai thác, lợi dụng.  

Nhưng rồi muôn mặt cũng đến lúc phải trắng mặt, rơi mặt, lộ mặt, khi thiên hạ mệt mỏi tránh xa, khi chính chúng tôi cũng ngao ngán muốn từ bỏ, vì sau mỗi ngày sống muôn mặt, chúng tôi thấy mình nghèo đi nhân cách ; trước mỗi hành trình muôn mặt, hành trang hạnh phúc của chúng tôi lại nhẹ vơi đi ; và sau mỗi chuyến đầu tư muôn mặt, gia sản tinh thần hao hụt, giảm sút đến đáng lo ngại.   

Chợt một buổi chiều ở những cây số gần cuối đường đời, tiếng nói định mệnh thì thầm nhắc nhở : Mỗi người chỉ có một mặt, một khuôn mặt giống Đấng Tạo Dựng, một nét mặt mang hình ảnh Ngài, một sắc mặt phảng phất ánh sáng Tôn Nhan, nên đeo vào mình muôn mặt, đắp lên mặt nhiều mầu sắc sẽ chỉ là phủ nhận bản thân, khi chối từ sự thật làm nên mình, tránh né sự thật thuộc về mình, bức tử sự thật tạo nên những tương quan tốt đẹp với  người khác, và hủy diệt sự thật là điều kiện của hạnh phúc, bình an.

Ở trạm dừng chân cuối đường này, chúng tôi giật mình nhận ra đây là những cây số sau cùng của đường về, và thảng thốt, hốt hoảng vì qũy thời gian sống không còn bao nhiêu, nên ai nấy mạnh dạn nói cho nhau như lời giã biệt về câu chuyện buồn muôn mặt, nói với nhau như lời trăn trối về  qúa khứ dài bất hạnh vì đã trót mải mê một đời muôn mặt vô nghiã.

Hôm nay còn được đi nốt vài cây số cuối cùng, xin gửi lại những người đi sau tâm tình của lũ chúng tôi là những người đã vô phúc sống một đời dài muôn mặt, bằng liên tục đeo trên mình những mặt nạ “giả hình, giả nhân giả nghiã” rất ghê tởm, và khờ dại hủy hoại khuôn mặt nhân ái, nét mặt hiền lành, sắc mặt bao dung là hình ảnh sống động của Đấng Chủ Tạo rất yêu thương và giầu lòng thương xót đã ban cho loài người, để mọi người nhận ra nhau là anh em cùng một Cha trên trời, qua khuôn mặt mang nhiều nét giống Cha yêu thương, nhân hậu.  

Jorathe Nắng Tím         

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

ANH EM HÃY VUI LÊN TRONG CHÚA!

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật III Muà Vọng, Năm B

Vì trông đợi Đấng Cứu Độ, Đấng đến để giải phóng  nhân loại khỏi ách nô lệ của Thần Dữ, khỏi xiềng xích của tội lỗi, khỏi cảnh bị hành hạ, đàn áp bất công, khỏi tình trạng “mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé” nên Mùa Vọng là muà của niềm vui hy vọng được cứu thoát, được trả tự do, đuợc nhận lại quyền sống của con người, và quyền hưởng hạnh phúc Nước Trời của con Chúa ; vì trông mong Đấng là Nguồn Vui ơn cứu rỗi, là Nguồn mọi sự thánh thiện và ơn phúc, mà tâm hồn trông đợi trong Mùa Vọng được Thiên Chúa mặc cho áo “hồng ân cứu độ”, và choàng cho “đức chính trực công minh, như chú rể chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang” (Is 61,10).

Như gương mẫu lý tưởng của những người đi theo Đức Giêsu, Đức Maria là người Kitô hữu đầu tiên đã sống niềm vui trông đợi Đấng Cứu Thế của Mùa Vọng, khi cất tiếng Ngợi Khen : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!” (Lc 1,46-49).

Đức Mẹ đã sống Mùa Vọng tuyệt vời của người nữ tỳ nghèo hèn tuyệt đối tín thác vào ông chủ là Thiên Chúa, và luôn khiêm tốn, nhưng tinh tế nhận ra những điều cao cả Thiên Chúa thực hiện trên phận hèn nữ tớ của mình.

Niềm vui trông đợi Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ của Đức Maria, người Kitô hữu đầu tiên, vì Mẹ là người thứ nhất được mang Đức Kitô trong cung lòng và “sống Đức Kitô” suốt cuộc đời đã tuôn tràn xuống tâm hồn tất cả các Kitô hữu khác, đang khi họ trông đợi Đức Giêsu trở lại trong vinh quang, điều mà thánh Phaolô tông đồ không ngừng nhắn nhủ các giáo đoàn : “Anh em hãy vui mừng luôn mãi” (1 Tx 5,16).  

Nhưng niềm vui của muà trông đợi Chúa Cứu Thế không là niềm vui của thế gian, niềm vui tìm kiếm từ bản năng, niềm vui bắt nguồn từ tội lỗi mà hậu qủa tất yếu của những niềm vui ấy là hủy hoại, tàn phá, tiêu diệt. Trái lại, niềm vui bắt nguồn từ Thiên Chúa, niềm vui đến từ Thánh Thần, nên hoa trái đem lại sẽ là chính Thiên Chúa, Nguồn Vui bất tận, Nguồn Mạch Bình An, Hạnh Phúc viên mãn, đời đời.

Và để niềm vui của Tin Mừng không bao giờ tàn phai, như Thánh Thần không bao giờ bị dập tắt, người Kitô hữu được Thiên Chúa mời gọi : “cầu nguyện không ngừng và tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”, bởi “đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5,17-18).

Cầu nguyện để Niềm Vui từ trái tim Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót chảy vào cuộc đời luôn cần lòng thương xót của chúng ta ; cầu nguyện để Niềm Vui của Thánh Thần Tình Yêu làm tràn đầy trái tim trống vắng, non nớt, yếu đuối, hay hoảng hốt, lo sợ, nghi nan, thất vọng của chúng ta trước thử thách ; cầu nguyện để Niềm Vui từ Lời Hứa của Thiên Chúa hướng dẫn và nâng đỡ hành trình trông đợi của chúng ta ; cầu nguyện để trong mọi hoàn cảnh, đời chúng ta mãi là tiếng hát Tạ Ơn, bài ca Tán Tụng, thi thơ Ngợi Khen “Đấng Tòan Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn. Lòng thương xót Người trải qua từ đời nọ đến đời kia với những ai kính sợ Người” (Lc 1,49-50), trong Niềm Vui của Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

Xin Chúa ban cho mỗi người được từng ngày sống niềm vui của người môn đệ luôn tín thác trông đợi vào Lời Hứa được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ.

Jorathe Nắng Tím    

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

CHIÊU TRÒ CỦA XATAN


Khuynh hướng được coi là có ảnh hưởng mạnh và bao trùm thế giới vật chất, thực dụng ngày nay chính là khuynh hướng phủ nhận những thực tại siêu nhiên, thiêng liêng, vô hình như Thiên Chúa, ma qủy, thiên đàng, hoả ngục, mà hệ luận được chờ đón chính là : con người là thiên chúa của mình, thiên chúa là sản phẩm do con người làm ra. Vì lẽ đó, tội, phúc không còn là vấn đề làm con người phải băn khoăn, lo lắng, sợ hãi.

Khuynh hướng này lan tràn, len lỏi khắp nơi, không chỉ trong môi trường “thế gian”, mà ngay giữa hàng ngũ môn đệ Đức Giêsu cũng có những người ủng hộ khuynh hướng vô thần, duy vật chất rất nguy hiểm này.

Đây là chiêu rất độc, trò rất hiểm Xatan đang triệt để tận dụng để phá nát thế giới, triệt tiêu tình huynh đệ giữa con người, đẩy nhân loại xa khỏi vòng tay thương xót, nhân hậu của Thiên Chúa. Để thực hiện mục tiêu trên, Xatan sử dụng những kỹ thuật phù hợp với bản chất Gian Dối, Ganh ghét, Hận Thù, Bạo Lực, Hủy Diệt của chúng.

1.   Bạo Lực Hủy Hoại, Xatan áp dụng chiêu trò Vu Khống, Tố Cáo :  

Hành vi bạo lực kinh khủng, tàn bạo nhất của thời đại mới là Vu Khống, Tố Cáo người khác trên mạng xã hội để bôi nhọ danh dự, gây căng thẳng, bất hoà, tạo nghi ngờ, làm mất tin tưởng, phá hoại hiệp nhất, đạp đổ sự nghiệp của cá nhân cũng như của cộng đoàn.

Ở thời đại văn minh “kỹ thuật số”, đội quân bạo lực của Xatan không còn sử dụng những khí giới thô sơ, lỗi thời để tàn phá, giết chóc, nhưng dùng “bàn phím” của truyền thông để hồ đồ tố cáo, trân tráo vu oan, nhẫn tâm mạ lỵ như vũ khí cực kỳ tân kỳ, hiệu qủa. 

Kinh Thánh cho chúng ta biết Vu Khống, Tố Cáo là chiêu  trò đắc dụng của Xatan. Nó và bè lũ là những tay chuyên nghiệp tố cáo, vu oan ; là những tên “ngậm máu phun người” rất thiện nghệ, làm hại thanh danh, uy tín của người khác bằng tung tin giật gân, phao tin khủng khiếp, giật tin nóng bỏng để lôi kéo đám đông, khích động quần chúng, dụ dỗ người cả tin, nhẹ dạ vào chiến dịch mạ lỵ, đấu tố người khác một cách hồ đồ, bất công, phi nhân, tàn nhẫn.

Ngôn sứ Dacaria đã khởi đầu thị kiến thứ bốn : “Người lại cho tôi thấy thượng tế Giêsua đang đứng trước mặt thần sứ của Đức Chúa ; còn Xatan đứng bên phải ông để tố cáo ông” (Dcr 3,1); thánh Gioan trong sách Khải Huyền đã viết về  tên tố cáo, tức Xatan bị Thiên Chúa trừng phạt : “Và tôi nghe có tiếng hô to trên trời : “Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ, giờ đay biểu dương uy lực với vương quyền, và Đức Kitô của Người giờ đây cũng biểu dương quyền bính, vì kẻ tố cáo anh em của ta, ngày đêm tố cáo họ trước toà Thiên Chúa, nay bị tống ra ngoài” (Kh 12,10).

Như thế, Xatan và bè lũ không bao giờ ngưng tố cáo chúng ta với người khác để vùi giập, chà đạp, nghiền nát cuộc đời chúng ta. Chúng còn “ngày đêm tố cáo chúng ta trước toà Chúa”. Vì thế, tất cả ý muốn cũng như hành vi tố cáo người khác, vu khống tha nhân đều xuất phát từ Xatan, được Xatan giúp lập trình, lên kế hoạch, được Xatan hướng dẫn, kích hoạt, ủng hộ, khuyến khích, cung cấp  phương tiện. Cũng chính vì thủ đọan và hành động tố cáo anh em thuộc về Xatan, nên những ai làm công việc gian ác, bẩn thỉu này đều là những kẻ thuộc về Thần Dữ, là cánh tay nối dài của ma qủy, là khí cụ đắc dụng của Xatan.     

Xatan còn là đứa khiêu khích, gây xáo trộn, khi sành sỏi trong nghề “thổi lửa”, là nghề thổi phồng, làm lớn chuyện, “bé xé ra to”, diễn dịch với ác tâm, tà ý, nên qua cửa miệng của Xatan thì chuyện nhỏ, nhẹ tênh cũng thành nặng nề, to lớn ; chuyện không đáng cũng biến thành nguyên nhân “gây hậu qủa nghiêm trọng” ; chút xíu lỗi lầm cũng trở thành “ngàn cân trọng tội”.    

Xatan còn là “thầy dùi” của bạo lực, khi đẩy đưa, lèo lái người khác vào khó khăn, nguy hiểm, như nó đã làm với ông Gióp, với mục đích “hành hạ ông” (G 2,7) : Sau những lời bênh vực Gióp của Đức Chúa, Xatan thưa lại với Đức Chúa : “Da đổi da! Tất cả những gì người ta có, người ta đều sẵn sàng cho đi để cứu mạng sống mình. Ngài cứ thử giơ tay đánh vào xương vào thịt nó xem, chắc chắn là nó sẽ nguyền rủa Ngài thẳng mặt!” (G 2,4-5).

Và cho đến tận thế, Xatan vẫn mãi xử dụng những chiêu trò quen thuộc, nhưng ngày càng tinh vi có sức tàn phá kinh khủng, theo làn sóng duy vật chất, thực dụng.

2.    cha đẻ của Gian Dối, Xảo Quyệt, Xatan  tận dụng đòn phép dụ dỗ, mê hoặc, lừa đảo con người :

Thánh Gioan khẳng định trong sách Khải Huyền : “Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma qủy hay Xatan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ” (Kh 12,9).

Xatan không trừ ai, không nể nang ai, nhưng lừa đảo, mê hoặc toàn thể nhân loại. Vì thế, không ai, dù ở địa vị, phẩm hàm nào dám tự hào mình đứng vững trước những chiêu trò dụ dỗ, mua chuộc, lừa phỉnh của Xatan, bởi nó có đủ ngón nghề kinh dị để thiên hạ bị lọt lưới, sa bẫy mê hoặc, như thánh Phaolô đã ra lo sợ khi viết cho giáo đoàn Thêxalônica : “Tôi đã sai người đi hỏi cho biết lòng tin của anh em ra sao, sợ rằng tên cám dỗ đã cám dỗ anh em, và công lao khó nhọc của chúng tôi trở nên vô ích” (1 Tx 3,5).

Khi lừa đảo ai, Xatan bóp méo sự thật, tô vẽ những chuyện huyền hoặc nhưng hấp dẫn để lừa phỉnh. Và để người ta tin là sự thật những điều nó nói, việc nó làm, Xatan mặc cho gian dối y phục “chân lý”, tạo cho xảo quyệt vỏ bọc “thật” hơn cả sự thật, tốt đẹp hơn cả điều thiện hảo, như dùng vỏ bọc đức tin để gieo rắc tà thuyết ; vỏ bọc nhân ái để chia rẽ, tiêu diệt ; vỏ bọc hiền lành để cắn xé, tàn sát ;  vỏ bọc khiêm tốn để đàn áp, thống trị ; vỏ bọc vâng phục để phản bội, phản phúc ; vỏ bọc thiên thần để cưỡng bách, hãm hại, như khẳng định của thánh tông đồ dân ngoại : “Điều tôi làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để những kẻ muốn có cơ hội tự phụ là những người ngang hàng với chúng tôi, không còn cơ hội đó nữa. Vì những kẻ đó là tông đồ giả, là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Đức Kitô. Lạ gì đâu! Vì chính Xatan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính” (2 Cr 11,12-15).   

Tuy biết những gì dối trá đều thuộc ma qủy, nhưng dối trá lại tràn ngập trong mọi sinh hoạt cuộc sống. Người ta lừa gạt, bịp bợm, tráo trở, đổi trắng thay đen, ăn không nói có, ngụy trang sự kiện, dàn dựng hiện trường, ngụy tạo chứng cớ cách thản nhiên đến đáng sợ. Mà không chỉ người thế gian lừa nhau, cả người có đạo cũng trắng trợn, nhẫn tâm gạt gẫm, bán đứng, làm khổ nhau.

3.   Là Ganh Ghét, Xatan lợi dụng cái tôi ích kỷ để gây chia rẽ, bất hòa :

Sở dĩ có ghen ghét, ganh tỵ, chia rẽ, bất hoà vì ai cũng cho cái tôi của mình vĩ đại, không thể thay thế, nên coi thường đồng nghiệp, đánh giá thấp cấp trên, vô ơn với người thi ân, chê bai không căn cớ mọi người, phê bình vô trách nhiệm mọi việc ; vì tôn sùng “cái tôi” như trung tâm của vũ trụ, nên những người này thường lên mặt kiêu căng, dù không biết gì cả, lại mắc bệnh ham tranh luận, đấu lý, dù kém cỏi  mọi mặt, non nớt trong mọi phương diện.

Do sở trường của họ là ganh tỵ, nên tâm hồn họ lúc nào cũng sôi sục lửa ghen ghét, vì không chịu được người khác đẹp hơn mình, giỏi hơn mình, thành công hơn mình, hạnh phúc hơn mình, đạo đức hơn mình. Khả năng trổi vượt của họ là nghĩ xấu, nói xấu người khác, và làm cho bầu khí của bất cứ nơi nào họ có mặt ngày càng trở nên tồi tệ, bế tắc, vì sức tàn phá của lòng dạ kiêu căng, phán đoán lệch lạc, tính bất chấp sư thật, và thói suy diễn tiêu cực, bất công, và độc ác, mọi sự, mọi việc của họ.

Khi làm việc với ai, hay phụ trách công tác trong cộng đoàn, người kiêu căng vì thần tượng “cái tôi” của mình, nên mải mê tìm sơ hở của người khác để chia rẽ nội bộ, kéo bè kéo đảng nhằm phục vụ tham vọng làm chủ, làm thầy, làm tướng, làm lãnh tụ. Họ là người  không thể làm việc với ai, bởi chỉ muốn một mình quyết định, một mình được trân trọng, một mình được đánh bóng, tuyên dương ; họ cũng không chia sẻ thành qủa của công việc với ai, vì với họ “tất cả thành công là nhờ họ, do một tay họ làm nên” còn thất bại là do thiếu sót, sai lầm, tội lỗi của người khác ; đặc biệt họ là người vô ơn, phản phúc, vì kiêu căng nghĩ rằng đời họ do chính họ làm nên, mà chẳng cần đến bàn tay của bất cứ người nào khác.

Thực vậy, Xatan khai thác triệt để “cái tôi” kiêu căng của mỗi người để phá hoại bình an của gia đình nhân loại, bởi nó biết : “cái tôi” là cái dễ làm cho con người ganh ghét, hận thù, xa cách nhau nhất. “Cái tôi” cũng là cái có mặt ở mọi nơi, trong mọi hàng ngũ, ngay cả hàng ngũ những người loan báo Tin Mừng, như thánh Phaolô viết : “Có những kẻ rao giảng về Đức Kitô vì lòng ganh tỵ và tranh chấp” (Pl 1,15), nên chỉ cần khơi dậy lòng kiêu căng, khiêu khích tính háo thắng, ngạo mạn của “cái tôi” là lập tức Xatan có ngay một chiến trường đẫm máu con người.

Vì “hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ…” là những việc do tính xác thịt gây ra (x. Gl 5,20,21), mà “cái tôi kiêu căng” là điển hình, nên Đức Giêsu đã đòi hỏi những người muốn đi theo Ngài “phải từ bỏ mình”, tức từ bỏ “cái tôi” kiêu căng, thống trị”, “cái tôi” tham vọng, ích kỷ, “cái tôi” trịch thượng, hống hách, vô ơn, bởi “những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê”, để “chúng ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ganh tỵ nhau” (Gl 5,24.26) hầu làm cho “hoa trái của Thần Khí là : bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5;22-23) được rực rỡ, xum xuê.   

4.   Là Diệt Vong, Chết Chóc, Xatan sử dụng kế độc làm con người tuyệt vọng : 

Kế độc của Xatan là lấy đi niềm hy vọng ở con người, bởi một khi không còn hy vọng, con người không thể sống, vì không còn nghị lực để vượt qua những khó khăn, gian truân, thử thách của cuộc sống, nhờ hy vọng vào Đấng đã hứa ban Hạnh Phúc và Sự Sống đời đời trong vương quốc yêu thương, bình an của Ngài.

Qủa thực, Xatan sử dụng kế độc tước đọat hy vọng của con người, bằng gieo nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và Lòng Thương Xót vô cùng của Ngài, bởi đánh mất niềm hy vọng vào Thiên Chúa thương yêu, người ta sẽ tự đánh mất mình, khi đánh mất lý do sống, ý nghiã  sống, tương lai mai hậu của sự sống, đồng thời không còn khả năng bảo đảm nhân phẩm, nhân vị, vì hành trình nhân loại hoàn toàn rơi vào bế tắc, vô nghiã, khi không còn Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng  những con người sống, Đấng trân qúy, gìn giữ, bảo vệ sự sống và hứa ban cho con người sự sống của chính Ngài.

Thánh tông đồ trưởng Phêrô đã xác quyết : Đức Giêsu chính là iềm hy vọng của chúng ta (x. 1P 3,15), như lời thánh vịnh : “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lậy Chúa, như chúng con hằng hy vọng ở Ngài” (Tv 32,22), vì “Thiên Chúa là nguồn hy vọng”, và chúng ta được tràn trề hy vọng, “nhờ quyền năng của Thánh Thần” (x. Rm 15,13), niềm hy vọng mà thánh Phaolô đã giải thích : “Chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải hy vọng. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là hy vọng nữa : vì ai lại hy vọng điều mình đã thấy rồi? Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8,24-25).

Qủa thực, không đặt hy vọng vào Chúa và Lời Hứa của Ngài, chúng ta không thể đi tới đích Sự Sống, Bình An, Hạnh Phúc đời đời Chúa hứa ban, như Phêrô đã chối Chúa vì không hy vọng vào Lời Hứa “ngày thứ ba Người sẽ sống lại” (Lc 18,33), nhưng rất may mắn Phêrô đã không rơi vào tuyệt vọng, vì “ngay lúc ông còn đang chối thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông : “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần”. Và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61-62).

Đó là nưc mắt của Hy Vọng, khi Phêrô bắt gặp cái nhìn âu yếm, bao dung  của Thầy ; nước mắt của hy vọng được khoan hồng, tha thứ mà ông tìm lại được ở đôi mắt nhân hậu, thương xót của Thầy ; nước mắt của lòng trông cậy vào lượng hải hà khoan nhân của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ  không bao giờ từ bỏ, xua đuổi ai.

Khác với Giuđa, cũng là môn đệ, nhưng đã mất hy vọng vào Thầy mình, khi “Xatan đã nhập vào ông” (Lc 22,3), và gieo vào lòng ông “ý định nộp Đức Giêsu” (Ga 13,2). “Hắn đi nói chuyện với các thượng tế và lãnh binh Đền Thờ về cách thức nộp Người cho họ. Họ rất mừng và đồng ý cho hắn tiền. Hắn ưng thuận và tìm dịp để nộp Đức Giêsu cho họ, lúc không có dám đông” (Lc 22,4-6).

Giuđa là môn đệ trong Nhóm Mười Hai, là người ở bên cạnh Đức Giêsu và được Ngài thương yêu, dậy dỗ, nhưng ma qủy vẫn thành công khi lấy đi niềm hy vọng của ông ở Đức Giêsu, và đẩy ông đến tuyệt vọng, khi “ra đi thắt cổ” (Mt 27,5).

Thực vậy, Xatan ở giữa loài người (x. Kh 2,13). “Nó rảo quanh cõi đất và lang thang khắp đó đây” (G 2,2), để cám dỗ loài người làm điều xấu xa, đồi bại hầu đi đến diệt vong (x. 1 Tx 3,5), để “cản trở” chúng ta làm điều tốt lành, thánh thiện và đi theo đường lối của Thiên Chúa (x. 1Tx 2,18), để làm cho tâm trí con người trở nên tối tăm, không còn nhận được ánh sáng sự thật của Thiên Chúa.

Xatan còn “đội lốt thiên thần sáng láng” (2 Cr 11,14) để đánh lừa chúng ta, vì Xatan có sức mạnh của nó, sức mạnh do bản tính “thiên thần” thiêng liêng, mà Thiên Chúa đã không lấy lại khi đuổi chúng ra khỏi thiên đàng, vì Ngài tôn trọng mọi thụ tạo Ngài đã dựng nên, như thánh Phaolô đã cắt nghiã : “Còn việc tên gian ác xuất hiện là do tác động của Xatan, có kèm theo đủ thứ phép mầu, dấu lạ, điềm thiêng, và đủ mọi mưu gian chước dối, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã không đón nhận lòng yêu mến chân lý, để được cứu độ” (2 Tx 2,9-10).    

Qủa thực Xatan lắm chiêu trò, ma qủy nhiều mưu thâm chước độc, thế gian nhiều cạm bẫy nguy hiểm, và cuộc chiến với Xatan là cuộc chiến có thật, cuộc chiến rất cam go, đòi phải có ơn Chúa và nhiều cố gắng, hy sinh, như Đức Giêsu đã nói : “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Mt 26,41), hay  “loài qủy này chỉ trị được bằng ăn chay, cầu nguyện (Mt 17,21). Nhưng  chiến thắng luôn thuộc về Thiên Chúa và những kẻ trung thành biết đặt hy vọng vào Ngài, vì “Thiên Chúa là nguồn bình an, chẳng bao lâu nữa sẽ đè bẹp Xatan, bắt nó phải ở dưới chân anh em” (Rm 16,20), cho dù có “hết một ngàn năm ấy, Xatan sẽ được thả ra khỏi hoả ngục. Nó sẽ ra đi mê hoặc các nước ở khắp bốn phương thiên hạ là Gốc và Magốc, và tập hợp chúng lại để giao chiến ; số chúng nhiều như cát biển. Chúng tiến lên lan tràn khắp mặt đất, bao vây doanh trại dân thánh và Thành Đô được Thiên Chúa yêu chuộng. Nhưng có lửa từ trời rơi xuống thiêu hủy chúng. Ma qủy, tên mê hoặc chúng, bị quăng vào hố lửa và diêm sinh, ở đó đã có Con Thú và tên ngôn sứ giả, và chúng sẽ bị làm khổ ngày đêm đời đời kiếp kiếp” (Kh 20,7-10).

Xin Chúa cho chúng ta ơn bình an và ánh sáng của Ngài, để không rơi vào cạm bẫy nguy hiểm và những chiêu trò ác độc làm hại linh hồn chúng ta của Xatan và bè lũ.

Jorathe Nắng Tím