Được tự do chọn lựa là hạnh phúc lớn của
con người, nên ai cũng mơ ước được tự do
chọn đời mình, lựa những người mình thương, những sự, những việc mình thích
trong suốt cuộc đời làm người. Nhưng dường
như hạnh phúc ấy không luôn dễ đạt được …
Không luôn dễ đạt, vì ngay khi vào đời làm
người, có ai đã được tự do chọn cho mình cha mẹ, anh chị em, nơi « chôn
nhau cắt rốn » ? Có ai đã
được tự do lựa cho mình dòng dõi, gia tộc, đất nước, quê hương ? Có ai đã được
tự chọn thời điểm chào đời, mầu da, tiếng nói, hoàn cảnh lịch sử khi lọt lòng mẹ ?
Trái lại, tất cả đã được người khác chọn thay, lựa giùm, mà không ai đã hỏi ý kiến, hay quan tâm đến quyền chọn lựa, đồng ý
của ta.
Rồi cuộc sống nổi trôi với những biến cố thăng
trầm đôi lúc làm chúng ta chạnh lòng xót
xa số kiếp, thân phận, gia cảnh của mình,
mà chẳng biết cùng ai trải lòng. Chẳng thế mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã chí lý viết nên vần
thơ nặng trĩu nỗi muộn phiền :
« Lũ chúng tôi đầu thai lầm
thế kỷ,
Cả một đời u uất nỗi truân
chuyên »
để
diễn tả tâm sự buồn , rất buồn của những con người không găp thời, không gặp vận
may, không thành công trong cuộc sống, nhưng long đong, ngược xuôi, vất vả để tồn tại.
Không được tự do chọn lựa cha mẹ, anh chị
em, gia thế, dân tộc, mầu da, tiếng nói đã đành, quyền tự do chọn lựa của chúng
ta còn bị giới hạn rất nhiều trước những biến cố bất ngờ, đột nhiên, không thể
tiên liệu, những sự kiện ngoài dự tính, vượt
khả năng, không thể phỏng đoán, tưởng tượng. Điển hình là thời cuộc bất
ngờ đổi thay làm sụp đổ, vỡ vụn toàn bộ ước mơ, kế hoạch và cả những gì đang có
trong tay, đang có quyền sở hữu. Và kinh khủng hơn cả là những tai ương hầu như không bao giờ dám nghĩ tới đã như cơn
lũ dữ dội quét sạch tất cả những gì có mặt.
Sau cùng là cái chết, như « dấu chấm hết » vô cùng tàn nhẫn sẽ không nể nang, sợ hãi bất
cứ người nào, nhưng lạnh lùng tước đọat tự do và mọi thứ quyền lựa chọn của mọi người.
Thưc
vậy, suy đi nghĩ lại mới thấy con người rất giới hạn, và tự do chọn lựa của con
người không lớn và mạnh như ước mơ, bởi
ngay khi được tự do chọn lựa, người ta vẫn
lấn cấn vì những giới hạn, vẫn mênh mang
lo sợ những trở ngại bất ngờ.
Thế nên nhà Phật nhìn đời là cõi vô thường,
bởi vô số giới hạn của đời người và trong
đời sống đã không cho phép con người
nắm chắc trong tay bất cứ sự gì, cũng không dám tin tưởng tuyệt đối vào ai, ngay cả chính
bản thân mình, bởi tất cả đều mang nhiều giới hạn, và vì giới hạn bao phủ, bủa
vây, mà dòng đời vô thường, bất định.
Giữa căng thẳng của cơn lốc xóay khao khát
tự do và vô vàn giới hạn, người ta có nhiều lựa chọn : hoặc bất lực buông
xuôi theo dòng đời vô thường, hoặc bất mãn vùng vẫy chống cưỡng, và rất ít người
đã nhận ra qua tự do chọn lựa và dòng đời nhiều giới hạn mầu nhiệm của con người,
mầu nhiệm của đời sống, mầu nhiệm của giới hạn.
Thực vậy, không ai không khao khát và tìm kiếm
quyền tự do chọn lựa và định đọat tất cả những gì liên quan đến hạnh phúc, nhưng
đồng thời không người nào cảm thấy hoàn
toàn hạnh phúc vì ngay khi có quyền tư
do chọn lựa những gì mình muốn, và những người mình yêu thương, người ta cũng
thoáng lo âu vì mơ hồ biết mình có giới hạn.
Để được giải thoát khỏi tình trạng lưng chừng,
không bao giờ thỏa mãn trên, chúng ta cần
biết một điều quan trọng, đó là tự do chọn
lựa của con người bị đặt vào hai điều kiện không thể thiếu, đó là phải « thuận
theo Thiên Mệnh, và hòa với Tha Nhân », bởi chỉ khi Thuận theo Trời, và Hoà với người khác đang cùng sống, chúng
ta mới khám phá ra mình là một hữu thể mầu
nhiệm, không chỉ có tự do, mà còn có nhiều
kho tàng bí ẩn, thiêng liêng, cao cả, qúy giá khác.
Thuận theo Thiên Mệnh không được hiểu là thụ
động chấp nhận một sắp đặt mang tính áp chế, hình phạt của Trời, nhưng là ý thức
về sự quan phòng đầy ắp yêu thương của một Đấng Thiêng Liêng, Chủ Tể của vũ trụ, muôn loài, và sự hiện diện của mỗi
người là qùa tặng tốt đẹp cho chính con người ấy và cho
cuộc đời, xuất phát từ tình thương của Đấng
Tạo Hoá rất tốt lành ấy.
Vì nhịp sống thường qúa vội vã, hấp tấp nên
trí khôn nhiều người không đủ thời gian suy nghĩ để nhận ra những kỳ công được tạo dựng trong vũ trụ với duy nhất một mục đích là phục vụ hạnh
phúc của con người, cũng như trái tim không còn đủ độ nhậy bén, vì nếp sống qúa
vật chất, thực dụng để có thể cảm nhận những nét đẹp tuyệt vời, những vẻ đẹp lộng
lẫy, những cảnh đẹp hoàn hảo trong thiên nhiên làm hồn người ngây ngất, lâng lâng.
Từ những cảm thức cần thiết và chính đáng ấy,
con người sẽ nhận ra Đấng Tạo Hóa không chống lại hay ghen tương, thù oán, trừng
phạt con người, nhưng đứng về phía con người bằng tình yêu quan tâm, bằng gìn giữ
quyền tự do chọn lựa hạnh phúc đích
thực của đời làm người, khi giúp con người vượt qua những giới hạn của kiếp người,
điển hình là đau khổ và sự chết mà nguyên nhân cũng như ý nghiã tích cực của những
thực tại không thể tránh khỏi này sẽ chỉ có
thể lý giải và hiểu được với tâm tình thuận theo Trời của mỗi người.
Tâm tình và thái độ thuận theo Trời ấy được định
hình và mô tả qua niềm tin : Trời là Đấng rất tốt lành đã tạo nên mọi lòai vô hình
và hữu hình, trong đó có con người một cách rất tốt đẹp, cho hạnh phúc viên mãn
của con người, và các thụ tạo Ngài đã dựng nên.
Bên cạnh điều kiện « Thuận theo Trời »
bằng tin vào tình thương và lòng tốt của
Trời, là điều kiện « Hoà với Người » trong cuộc sống, mà ý nghiã căn
bản là ý thức mình cần tình người của người khác, cần sống lòng nhân ái với người
khác, vì người khác bổ xung những giới hạn của ta, cũng như ta kiện toàn những
thiếu sót nơi người khác, và ta cùng người, người với ta vượt qua khó khăn, trở ngại trong cuọc sống. Với nghiã đó, đòi hỏi « Hoà với người »
sẽ không là việc làm tiêu cực mang tính chủ bại, nhưng là thái độ của người hiểu
rõ thế nào là tự do đích thực, khi khẳng
định chính xác : tự do là tự do với ai, tự do cho ai ; và chọn lựa là
chọn những gì tốt, lựa những gì đẹp trong tương quan và cho tương quan với người khác thêm phong phú, tốt
đẹp. Vì thế, chọn lựa sẽ không đơn độc, nhưng chọn lựa đòi tương quan ; chọn
lựa sẽ không độc đóan, độc tài, nhưng với ý thức và ý chí xây dựng hạnh phúc
chung của bản thân và đồng loại.
Do đó, « Hoà với người » sẽ giúp
chúng ta rút ngắn những giới hạn, thu nhỏ những chướng ngại, bế tắc trong cuộc
sống, trên đường đời, và như thế những bước chân cùng người khác tiến về hạnh
phúc sẽ phấn khởi, rộn ràng trong an hoà, thư thái. Và như « thuận theo Trời »
hệ tại ở niềm tin vào lòng tốt của Trời, « hoà với người » cũng được
xây trên nền tảng lòng nhân ái, tình người khi mọi người nhận ra mình không thể
đơn độc tự do, đon thân chọn lựa vì chung
quanh là những lưc cản, giới hạn khjó có thể vượt qua một mình,
nếu không có tình nhân loại, lòng nhân ái, « tương thân tương trợ », đỡ nâng, tiếp sức .
Thực vậy, kết qủa trước mắt mà ai cũng thấy khi ta thuận
theo Trời và hoà với người, đó là ta sẽ không
sợ đời, không chán đời, không tìm
đường lẩn tránh đời người, người đời, nhưng chấp nhận cuộc đời, đón nhận đời làm người với niềm vui và hy vọng. Vui vì biết đời làm
người không là án phạt, hay kiếp sống tiên thiên bất hạnh , nhưng là mầu
nhiệm hạnh phúc, vì được ở trong tương
quan thiết thân và tốt đẹp với Trời là Đấng tạo dựng ; hy vọng vì làm người
là đồng hành với mọi người, đi chung với cộng đồng nhân loại trên hành trình hạnh
phúc, hạnh phúc đích danh đích thực được
góp nhặt, đan dệt, hình thành từ tương quan nhân ái, nhờ lòng tốt, với tình người
của mọi người chung quanh đang cùng sống, để từ nay không ai « làm người »
như làm lữ khách đơn độc, một mình sầu
buồn lủi thủi lê từng bước nặng nề, như tử tội với xiềng xích trên đường ra pháp
trường
Tóm lại,
không có tự do chọn lựa, con người xuống
cấp làm con vật, nhưng tự do chọn lựa không được hiểu như thao tác của một cỗ máy tự động, vô hồn, vô cảm, nhưng tự do của
con người mang tính huyền nhiệm vì là hình ảnh Thượng Đế, là dấu ấn của Trời nơi con người, cũng là khả năng chọn lựa như
dấu chỉ của con người là thụ tạo vượt trội hơn các thụ tạo khác, vì có xác và
hồn. Cũng chính giữa những giới hạn của thụ tạo như tình trạng vô thường, thực
tại khổ đau và sự chết, mà tự do chọn lựa của mỗi người cùng lúc có giá trị của mầu nhiệm, vì chạm tới Trời, và giá trị
thân phận, vì cần có nhau, như những con người có giới hạn đang cùng bước trên
hành trình về Vô Hạn.
Vì thế, những giới hạn của thân phận người
mà chúng ta đối mặt trong đời người không được coi là những yếu tố phá hoại tự
do chọn lựa. Trái lại, chính trên con đường tự do chọn lựa giữa những giới hạn của thân phận người, mà hạnh
phúc được làm người nẩy mầm, giá trị tự
do được trổ sinh hoa trái, khả năng chọn
lựa được phát triển, nhờ niềm vui được Trời thương, niềm vui được đặt trọn niềm tin vào lòng tốt của Thượng Đế. Cùng với niềm
vui của đức tin là niềm hy vọng sẽ đến đích của đời làm người, nhờ những bàn tay nhân ái của người chung quanh, và đôi vai nghiã tình của chính ta luôn sẵn sàng gánh vác những giới hạn của nhau,
mang lấy những, vô thường, bất trắc tuy
có làm tổn thương, sứt sát đôi chút, nhưng chắc chắn không bao giờ làm sút giảm giá
trị mầu nhiệm của tự do chọn lựa giữa những
giới hạn của đời làm người.
Ước gì
đời làm người của mỗi người chúng ta mãi đẹp trong mầu nhiệm của tự do chọn lựa giữ a những giới hạn, nhờ tin vào Trời yêu thương,
và thương người đời trong tim.
Tin
Mừng Máccô bắt đầu bằng bầu khí rộn ràng,
náo nức của “mọi
người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông Gioan. Họ thú tội,
và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan” (Mc 1,5). Bất ngờ xuất
hiện một nhân vật, người mà Gioan đã nhiều lần nói với dân chúng : “Có Đấng quyền thế
hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi
thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa
cho anh em trong Thánh Thần”
(Mc 1,7-8).
Đức
Giêsu xuất hiện trước dân chúng ở sông Giođan, nhưng không xuất hiện như vua,
hay như lãnh tụ Ítraen mà toàn dân từ hàng ngàn năm đã trông ngóng, đợi chờ,
nhưng xuất hiện như một người đã lắng nghe và đáp lại lời kêu gọi dọn đường cho Đấng Cứu Thếcủa Gioan, bằng xin “chịu phép rửa tỏ lòng
sám hối để được ơn tha tội”
(Mc 1,4).
Đức
Giêsu không tỏ mình cho đám đông như “Đấng
có quyền thế”,
mà Gioan đã giới thiệu, bằng long trọng đọc lời hiệu triệu, dõng dạc công bố hiến
chương, lớn tiếng trình bầy đường lối, cương lĩnh, nhưng kín đáo, âm thầm, giản
dị, nhẹ nhàng, đơn sơ như những người nhận mình “có tội” đangkhiêm tốn cúi đầu, dìm mình xuống nước để nhận
phép rửa thống hối từ tay Gioan.
Đức
Giêsu cũng không tỏ ra “khác
người”,
“thánh” hơn người,
nhưng bình thường như hằng trăm người bình thường khác đến thú tội và xin Gioan
ban phép rửa sám hối.
Nhưng
chính qua thái độ khiêm tốn và tâm tình sám hối của Ngài, mà Chúa Cha đã đích
thân giới thiệu Ngài một cách kỳ diệu, vượt những gì loài người có thể tưởng tượng,
như thánh sử Maccô đã ghi lại : “Vừa
lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ
câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng : “Con là Con yêu dấu
của Cha, Cha hài lòng về Con”
(Mc 1,10-11).
Đây
là buổi giới thiệu vô cùng quan trọng và ấn tượng, ở đó, Đức Giêsu đã được cả
Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cùng giới thiệu như Thiên Chúa làm người, Đấng
Thiên Chúa sai đến trong nhân loại :
Khởi
đầu là hiện tượng “các
tầng trời xé ra”
nói lên vinh quang và uy quyền Thiên Chúa của Đức Giêsu. Ngài là Thiên Chúa thật
được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngai toà của
Ngài ở trời cao, có vô số thiên binh tôn thờ, phụng sự.
Tiếp
đến là sự kiện “Thần
Khí như chim bồ câu ngự xuống trên Ngài”
biểu hiện Thần Khí của Thiên Chúa luôn ở với Ngài. Chính Thần Khí Thiên Chúa sẽ
“đẩy
Ngài vào hoang địa để chịu Xatan cám dỗ”
(x. Mc 1,12-13), và cũng là Thần Khí mà
ngôn sứ Isaia đã nói tới khi viết về Ngài : “Thần Khí Chúa ngự trên
tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo
hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người
mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một
năm hồng ân của Chúa”
(Lc 4,18-19).
Sau
cùng là tếng Chúa Cha phán từ trời : “Con
là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11) khẳng định
tương quan Cha Con giữa Chúa Cha và Đức Giêsu, đồng thời bầy tỏ niềm hãnh diện
và hài lòng của Chúa Cha về Con Một của Ngài là Ngôi Lời nhập thể.
Thực
vậy, ở sông Giođan hôm ấy, khi Đức Giêsu vừa chịu phép rửa của Gioan, Chúa Cha
đã công khai và long trọng giới thiệu Con của Ngài là Đức Giêsu cho nhân loại,
đồng thời chính thứckhai mở công trình
loan báo Tin Mừng cứu rỗi của Thiên Chúa cho loài người bằng chính sự hiện diện
làm người sống động của Ngôi Lời Thiên Chúa giữa nhân loại.
Nếu
ở Bêlem, Ngôi Lời đã tỏ mình ra cho các mục đồng và ba đạo sĩ dưới hình hài trẻ
sơ sinh bé bỏng, yếu đuối, thì ở sông Giođan, chính Chúa Cha đã giới thiệu Con
Một của Ngài cho nhân loại : Ngài đã giới thiệu Con mình là Ngôi Hai Thiên
Chúa, Đấng Thiên Sai, và thật lạ lùng khi cả Ba Ngôi cùng có mặt trong buổi giới
thiệu hôm ấy.
Nhưng
sự kiện bất ngờ hơn cả, chính là Đức Giêsu đã đựợc Chúa Cha tán dương, khen ngợi,
vì Ngài đã tuyệt đối vâng phục Thánh Ý Chúa Cha khi xuống thế làm người để cứu
chuộc nhân loại.
Cũng
vậy, nếu thánh Phaolô sau này trong thư gửi giáo đoàn Philípphê đã viết : “Thiên Chúa đã
siêu tôn Người”,
tức Đức Giêsu, “và
tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe
danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái
qùy ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng “Đức Giêsu Kitô
là Chúa”
(Pl 2,9-11), vì Ngài đã “trút
bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần
thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên
cây thập tự”
(Pl 2,7-8), thì trước đó rất lâu, ở đây, bên bờ sông Giođan, Chúa Cha đã chính
thức suy tôn Ngài, khi lên tiếng “hài
lòng về Con Một yêu dấu của mình”
cũng vì sự khiêm hạ, vâng phục của Ngài khiẩn mình trong đám đông đến với Gioan xin “chịu phép rửa tỏ lòng
sám hối để được ơn tha tội”
(Mc 1,4) như một tội nhân.
Vâng
như Đức Giêsu, mỗi người Kitô hữu khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội cũng được tha tội,
được thánh hoá trong Chúa Thánh Thần, được chung phần thiên tính, khi trở nên
nghiã tử của Thiên Chúa. Và cũng như với Đức Giêsu, Chúa Cha sẽ nói với mỗi người :
“Con
là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con”, nếu chúng ta khiêm tốn,
vâng lời và thực thi Thánh Ý.
Mỗi
khi nhớ đến ông bà, cha mẹ và người thân đã qua đời, ta thường có thói quen nhìn
lên bầu trời đầy sao, và tưởng như các vị là những vì sao lấp lánh từ trên cao đang
nhìn xuống chở che và dõi từng bước ta đi.
Ý
nghĩ và tâm tình ấy không sai, vì chính Giavê Thiên Chúa cũng lấy các vì sao để
chỉ sự đông đúc của dân Ngài khi nói vớitổ phụ Ápraham, người được mệnh danh là Cha của những kẻ tin : “Ta sẽ thi ân giáng
phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nhiều như sao trên bầu trời…” (St 22,17). Và
trong tâm thức của nhiều người : ai sinh ra cũng có một vì sao hộ mệnh, và
khi chết sẽ trở về với vì sao đó.
Ở
đây, người viết không đi tìm lý giải vấn đề này, nhưng chỉ chia sẻ sứ mạng làm vì
sao dẫn đuờng của con người.
Thực
vậy, chúng ta không thể biết nhiều sự, nhiều người, nếu không có người hướng dẫn,
chỉ bảo. Đó chính là lý do ai cũng phải học hỏi, phải khiêm tốn đón nhận kiến
thức, kinh nghiệm của người khác, bất cứ người đó là ai, bởi một em bé cũng có
thể là thầy của ta, một người ít học cũng có thể là người hướng đạo, dẫn lối chỉ
đường cho ta trong nhiều hoàn cảnh, tình huống, nên tự mãn, tự phụ cho rằng mình
biết tất cả, mình nắm trọn vẹn chân lý là điều lố bịch, thái độ hợm hĩnh kiêu căng
của người ngu dốt, chẳng biết gì, và chưa hề khôn ngoan.
Ý
thức tất cả mọi người đều có thể dậy ta những điều hay lẽ phải ; bất cứ ai
cũng có thể cho ta những bài học chân thực qúy giá, và giúp ta thành nhân, thành
đạt, ta sẽ nhận ra chung quanh có rất nhiều vì sao dẫn lối ta đi, và chính ta cũng
mang sứ vụ làm sao sáng soi lối cho nhiều người trong cuộc sống.
Những
vì sao tiền nhân đáng kính đã góp công xây dựng thế giới ta đang sống; những vì
sao tổ tiên, ông bà đã chuẩn bị cho ta một chỗ đứng trong gia tộc, dòng dõi ;
những vì sao cha mẹ yêu thương đã cho ta vào đời làm người ; những vì sao
cô dì, chú bác, thân bằng quyến thuộc đãđồng hành, bảo bọc ta ; những vì sao vợ chồng, tình nhân, bạn hữu không
ngừng làm đời ta thêm đẹp bằng “ân
sâu nghiã nặng”.
Tất cả đang lấp lánh hoặc trên bầu trời cao, hoặc trong đáy mắt cảm thông, trìu
mến giữa đời thường.
Vì
thế, từng giây từng phút trong cuộc đời, ta luôn được các vì sao đồng hành. Đó
là những vì sao của người đã chết mà hằng đêm ta ngước mắt thương nhớ, hướng lòng
cầu nguyện. Bên cạnh là những vì sao đang cùng ta chung sống mà hằng ngày ta vừa
đón nhận vừa trao ban ánh sáng. Tất cả đều mơ ước chiếu sáng đời ta, khao khát
xua tan bóng đêm khỏi ta, bởi hạnh phúc duy nhất vàvĩ đại của các vì sao “hoặc trên bầu trời hoặc
giữa cuộc đời”
đều là soi lối, dẫn đường, dìu dắt những bước chân nhân loại đang lần mò tìm lối,
đang dò dẫm kiếm đuờng, đang hoang mang, chơi vơi, lo sợ vì lạc đường, mất hướng.
Thực
vậy, trên hành trình cuộc đời, chúng ta không thể bỏ quên những vì sao rất dễ
thương đã qua đời và những vì sao rất dễ yêu đang còn sống, bởi nhờ những vì
sao dễ thương, đáng yêu này mà chúng ta không lạc lối, lầm đường, không sa lưới,
sập bẫy, lọt hầm chông của thần dữ, kẻ thù.
Nhưng
vấn đề là chúng ta có đủ khiêm tốn để biết mình cần ánh sáng của những vì sao
trên cao và chung quanh, đồng thời đủ tinh tế, và sẵn sàng để nhận ra và thực
hiện thông điệp của những vì sao ấy hay không ?
Tin
Mừng Mátthêu cho chúng ta một mẫu gương lý tưởng trước các vì sao. Đó là ba đạo
sĩ đã theo vì sao lạ dẫn đuờng đến Bêlem. Tuy là những người thông thái, khôn
ngoan, các vị vẫn khiêm tốn ngước mắt chiêm ngưỡng và mau mắn dõi theo ngôi sao
lạ dẫn đến Bêlem để bái lậy Đấng Cứu Thế vừa mới sinh ra (x. Mt 2,1-12). Ngôi
sao lạ ấy đã xuất hiện và dẫn các vị đến Giêrusalem, nhưng cũng tại đây, ngôi
sao ấy biến mất cho đến khi các vị gặp vua Hêrôđê xong thì “ngôi sao họ đã
thấy ở phương Đông mới lại xuất hiện và tiếp tục dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài
Nhi ở”
(Mt 2,9).
Đi
theo ánh sao, chúng ta cũng sẽ được vui mừng như ba đạo sĩ đã “mừng rỡ vô cùng
khi trông thấy ngôi sao”
(Mt 2,10), bởi sao sáng sẽ đưa chúng ta ra khỏi bóng tối gian dối, chia rẽ, hận
thù, bạo lực, và dẫn chúng ta vào đuờng ngay nẻo chính, đến gặp Thiên Chúa là “Đuờng, Sự thật và
Sự Sống”,
hạnh phúc chúng ta hằng mong đợi trên hành trình cuộc đời khó tránh khỏi bóng tối, mây mù
Năm
2020 qủa thực là một năm nhiều giông bão cho toàn thế giới vì đại dich Covid
19, mà hậu qủa tai hạicòn tiếp tục kéo
dài không biết đến bao giờ. Riêng giáo phận Đà Lạt, ngoài cơn bão Covid còn gánh
thêm cơn giông khác cũng không kém mất mát nặng nề. Đó là hiện tượng “Nhà Chúa Cha” ở Bảo Lộc.
Mất
mát vì một linh mục bị treo chén, một giáo dân bị vạ cấm chế ; mất mát vì
sự hiệp nhất trong giáo phận bị rạn nứt khi nhiều phe nhóm đối kháng, nhiều
quan điểm đối nghịch, nhiều ý kiến trái chiều, nhiều phát biểu phủ nhận, kình
chống, lên án nhau.
Một
bầu khí u ám như mây mù những sáng sớm Đà Lạt khi các mạng xã hội thi nhau bàn
tán xôn xao với đủ cung bậc ủng hộ, đả phá, công kích, bênh vực, mà cả Toà Giám
Mục Đà lạt với Đức Cha Đaminh Nguyễn văn Mạnh và “Nhà Chúa Cha Bảo Lộc” với cha Nguyễn
Chu Truyền, chị Thiên Thương đều là nạn nhân, đối tượng rất đáng mến, nhưng cũng
rất đáng thương.
Thôi
thì đủ luận cứ, chứng cớ, qủa quyết, kết luận : đúng sai. Cả phe chống cũng
như phe ủng hộ Đức Cha hay cha Truyền, chị Thươngđều cương quyết khẳng định mình và gay gắt lên án đối phương : người thì bảo Đức
Cha sai, độc đoán, độc tài, kiêu căng, “giáo
sĩ trị”,
coi thường giáo dân, ngoan cố trước ý muốn của Chúa Cha ; người thì nói chị
Thương, cha Truyền mất trí, lạc đạo, bất tuân phục, phản bội, phá họai Hội Thánh…
Cũng có những bài viết dài phân tích cặn kẽ tùy theo quan điểm như đề cao sự vâng
phục trong Giáo Hội, phân tích vai trò của Giám Mục, làm nổi bậtđoàn sủng, “cường điệu” sự xuất hiện của
qủy vương trong thời đại mới và sự can thiệp trực tiếp của Chúa Cha.
Tóm
lại, chúng ta đang đứng trước nguy cơ một cuộc ly giáo, và sự hình thành có hệ
thống một giáo phái mới tách biệt khỏi Công Giáo. Chia sẻ nỗi buồn và lo âu của
Đức Cha Đaminh, cũng như lo âu và nỗi buồn của cha Truyền, chị Thương, người viết
xin được trải lòng với tư cách một người con, một người anh em, một chi thể
trong Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô là Giáo Hội của Ngài về hai điểm mà người viết
cho là then chốt hơn cả đã tạo nên nhiều lấn cấn, sai lạc. Đó là sự khác biệt
giữa Thần Khí của Thiên Chúa và các thần khí khác, sự khác biệt giữa Đoàn Sủng
và Mạc Khải trong giáo lý đức tin.
1.Thần Khí của Chúa và
các thần khí khác:
a.Các thần khí không thuộc
Thiên Chúa :
Tin
Mừng luôn nhắc nhở và nhấn mạnh sự khác biệt giữa Thần Khí của Thiên Chúa, Thần
Khí của Đức Giêsu Kitô và các thần khí khác như thần khí của con người, thần khí
của thế gian, thần khí của ma qủy.
Sách Samuen kể :
·Sau khi
ông Samuen qua đời... “Người
Philitinh tập hợp lại và đến đóng trai ở Sunêm… Vua Saun thấy trại của người
Philitinh thì sợ và tim ông đập mạnh. Ông thỉnh ý Đức Chúa, nhưng Đức Chúa
không trả lời, dù bằng giấc mộng, bằng thẻ urim, hay qua trung gian ngôn sứ.
Vua Saun bảo triều thần : Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng, để ta thỉnh ý
bà ấy”.
Triều thần nói với vua : Thưa có một bà đồng bóng ở Ênđo” (1 S 28,4-7).
Đây
là trường hợp nghe theo thần khí của con người, mà không phải Thần Khí của
Thiên Chúa.
Tin Mừng Máccô ghi lại :
·“Đức Giêsu và các
môn đệ sang tới bờ bên kia Biển Hồ, vùng đất của dân Ghêrasa. Người vừa ra khỏi
thuyền, thì từ đám mồ mả, có một kẻ bị thần ô uế ám liền ra đón Người. Anh này
thường sống trong đám mồ mả, và không ai có thể trói anh ta lại được, dầu phải
dùng cả đến xiềng xích”
(Mc 5,1-3). Một hôm khác, một người trong đám đông thưa với Đức Giêsu : “Thưa Thầy, tôi đã
đem con trai lại cùng Thầy ; cháu bị qủy câm ám. Bất cứ ở đâu, hễ qủy nhập
vào là vật cháu xuống. Cháu sùi bọt mép, nghiến răng, cùng đờ người ra” (Mc 9,17-18).
Đây
là trường hợp thần khí của ma qủy ám nhập làm khổ con người.
Thánh
Gioan Tông Đồ khẳng định có những thần khí không chỉ khác Thần Khí của Thiên Chúa,
mà còn chống lại Thần Khí của Đức Kitô : “Anh em thân mến, anh em
đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi
Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4,1).
b.Thần Khí của Thiên
Chúa :
Kinh
Thánh xác định rất rõ Thần Khí của Thiên Chúa trên công trình của Ngài vànhững người Ngài chọn :
·“Lúc khởi đầu,
Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối
bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1,1)
·Pharaô, vua Ai Cập, sau khi nghe ông Giuse,
con của tổ phụ Giacóp cắt nghiã giấc chiêm bao của mình đã nói với triều thần :
“Chúng
ta tìm đâu được một người như người này, một người có Thần Khí Thiên Chúa ?
Và Pharaô nói với ông Giuse : Sau khi Thiên Chúa đã cho ông biết tất cả những
điều ấy, không ai thông minh và khôn ngoan như ông. Ông sẽ là tể tướng triều đình
của ta...” (St 41,38-40).
·Sách
Xuất Hành ghi lại : “Đức
Chúa phán với ông Môsê : Ngươi hãy coi : Ta đã gọi đích danh Bơxanên
con của Uri, con của Khua, thuộc chi tộc Giuđa. Ta sẽ ban cho nó dồi dào Thần
Khí của Thiên Chúa, để nó thành người khéo léo, giỏi giang và lành nghề mà làm
mọi công việc…”
(Xh 31,1-3).
Trong
Tân Ước, Thần Khí của Thiên Chúa ngự xuốngvà quyền năng của Đấng Tối Caorợp
bóng trên Đức Maria trong buổi Truyền Tin thụ thai Ngôi Lời nhập thể (x. Lc
1,35). Khi chịu phép rửa của Gioan bên bờ sông Giođan, “Đức Giêsu được Thần Khí
Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người” (Mt
3,16) ; Ngài còn “được
Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu cám dỗ” (Mt
4,1).
Và
các Tông Đồ trong nhiều thư mục vụ đã không ngừng cho chúng ta thấy đâu là Thần
Khí của Thiên Chúa, và cách nào để nhận ra Thần Khí đến từ Ngài:
Thánh
Phaolô, tông đồ dân ngoại dậy chúng ta : “Những ai sống theo tính
xác thịt thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt ; còn những ai sống
theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt
là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. Thật vậy, hướng đi
của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không
phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được” (Rm 8,5-7).
“Qủa vậy, phàm ai
được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa”, và một khi đã
là con cái Thiên Chúa, chúng ta không còn là nô lệ và phải sợ hãi như xưa, nhưng
“Thần
Khí làm cho anh em nên nghiã tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : Ápba !
Cha ơi! ”
(Rm 8,14-15).
Thánh
Phêrô, tông đồ trưởng thì nhắc nhở : Người tín hữu là “những người được
Thiên Chúa Cha biết trước và kén chọn, những người được Thần Khí thánh hoá
để vâng phục Đức Giêsu Kitô và được máu Người tưới rảy” (1P 1,2). Điều
này muốn nói lên sự vâng phục Đức Giêsu Kitô là dấu chỉ sự hiện diện của Thần
Khí Thiên Chúa.
Một
cách chính xác hơn, thánh Phaolô qủa quyết : người có Thần Khí của Thiên
Chúa thì kết hiệp mật thiết với Ngài (x.1 Cr 6,17), và “mầu
nhiệm Đức Kitô” tức “trong
Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với
người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”
(Ep 3,6) sẽ chỉ được Thiên Chúa dùng Thần Khí của Ngài, “mà
mặc khải cho các Tông Đồ và ngôn sứ của Người”
(Ep 3,5).
Như
thế, để “thấu
hiểu các mãnh lực thần thiêng” (Kn 7,20), tức các thần khí không thuộc về
Thiên Chúa, chúng ta cần có “ơn
phân định thần khí” (1Cr 12,10), vì có rất nhiều thần khí xuất phát từ xác
thịt, từ thế gian, từ ma qủy, bởi “thần
khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu, thì không bởi Thiên Chúa ; đó là thần
khí của tên phản Kitô”
(1 Ga 4,3), cũng như thần khí nào không phục tùng lề luật của Thiên Chúa, không
đón nhận mặc khải từ các Tông Đồ và Ngôn Sứ đều sẽ không được nhận là thần khí đến
từ Thiên Chúa.
2.Đoàn Sủng và Mặc Khải :
a. Đoàn Sủng là ơn được ban để phục vụ cộng
đoàn :
Giữa
Đoàn Sủng và Mặc Khải có sự khác biệt rất quan trọng mà nhiều người hay lầm lẫn.
Chính vì thế mà nhiều khúc mắc, lấn cấn cứ ngày càng chồng chất, đan chéo nhau.
Sách Xuất Hành ghi lại lời Thiên Chúa Giavê nói
với Môsê : “Chính
ngươi sẽ bảo những thợ giỏi, đã được Ta ban tràn đầy tài năng khôn khéo, may áo
tế cho Aharon, để ông được thánh hiến, mà thi hành chức tư tế phục vụ Ta” (Xh 28,3). Thiên
Chúa ban đặc sủng cho những người thợ này để họ phục vụ cộng đoàn,khi may áo tế
cho ông Aharon. Vì thế, đặc sủng được gọi là đoàn sủng, bởi mục đích là lợi ích
chung của cộng đoàn, mà không vì lơi ích riêng tư, cá nhân.
Thánh
Phaolô đã viết rất rõ về ân huệ và sứ vụ
tông đồ của mình : “Tôi
là Phaolô, tôi tớ của Đức Kitô Giêsu ; tôi được ơn gọi làm tông đồ, và dành
riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa”
(Rm 1,1), và “nhờ
Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, để làm cho hết thảy các
dân ngoại vâng phục Tin Mừng, hầu danh Người được rạng rỡ” (Rm 1,5).
Thánh
nhân còn cắt nghiã cặn kẽ trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô : “Có nhiều đặc sủng
khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ
có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm
mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích
chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dậy, người thì đuợc
Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bầy. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng
tin ; kẻ thì cũng được Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa
bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri ; kẻ
thì được ơn phân định thần trí ; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ ;
kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy
làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của
Người”
(1 Cr 12, 4-11).
“Như thế, không có
gì ngăn cách, chia rẽ chúng ta khi mỗi người nhận được đặc sủng từ Thần Khí Thiên
Chúa để phục vụ cộng đoàn, vì chúng ta là thân thể Đức Kitô và mỗi người là một
bộ phận. Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ,
thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dậy, rồi đến những người được ơn làm
phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để
nói các thứ tiếng lạ”
(1 Cr 12,27-28).
Ở
đây, chúng ta nhận thấy : ơn làm Tông Đồ được xếp vào hàng thứ nhất, bởi các
Tông Đồ là những người được Đức Giêsu chọn và trên nền tảng Tông Đồ, Ngài đã xây
dựng Giáo Hội của Ngài. Kế vị các Tông Đồ là các Giám Mục bản quyền. Như các thánh Tông Đồ, các ngài là rường cột của Giáo Hội, được trao phó sứ vụ chăn
dắt đoàn chiên với quyền quản trị, thánh hoá, nên chính các ngài có trách nhiệm
bảo đảm mục đích phục vụ lợi ích chung của các đoàn sủngnhận được từ Thần Khí Thiên Chúa trong Giáo Hội.
Nói cách khác, Giám Mục có nhiệm vụ duy trì và phát huy sự hiệp thông, hiệp nhất
trong Giáo Hội, mà không để những đặc sủng nhận được biến thành cớ gây mâu thuẫn,
xung đột, đối kháng, chia rẽ trong hàng ngũ dân Chúa, thay vì xây dựng thân thể
mầu nhiệm Đức Giêsu là Giáo Hội, như thánh Phaolô đã nhấn mạnh : “Anh em cũng vậy :
vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân
huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh”
(1 Cr 14,12).
Như
thế, khi các đoàn sủng không nhằm mục đích xây dựng Hội Thánh, mà cụ thể là xây
dựng tình hiệp thông, hiệp nhất thì các ơn đó không còn được coi là đặc sủng, đoàn
sủng, vì không hội đủ điều kiện “phục
vụ cộng đoàn”.
Thực tế là khi người nhận đoàn sủnglàm
theo ý riêng, dù là thiện ý, mà từ chối đặt
mình dưới sự quản trị, hướng dẫn của Giám Mục bản quyền để việc thực thi đoàn sủng
của người ấy đem lại lợi ích chung cho Giáo Hội, như mục đích của đoàn sủng, thì
hậu qủa không thể tránh khỏi là gây hoang mang, bất an, bất ổn trong Giáo Hội dắt
đến tình trạng đố kỵ, chia rẽ, làm lợi cho ma qủy. Đó là lý do trong lịch sử Giáo
Hội đã không thiếu những người được Chúa ban đoàn sủng, nhưng khi được Đấng Bản
Quyền yêu cầu ngưng sử dụng đoàn sủng để làm phép lạ, chữa bệnh, trừ qủy hay nói
tiên tri, vì lợi ích chung của Giáo Hội, thì hầu hết các vị đều vâng phục quyền
tông đồ của Giám Mục bản quyền, bởi mục đích tự thân của đoàn sủng là phục vụ cộng
đoàn dân Chúa, chứ không phục vụ ý muốn cá nhân hay lợi ích bản thân. Đàng khác,
sự vâng phục để gìn giữ sự hiệp nhất của Giáo Hội được đánh giá là Của Lễ đẹp lòng
Thiên Chúa hơn tất cả.
Chúng
ta cũng nên biếtma qủy là “tên Cám Dỗ, đứa
Chia rẽ”,
tiếng latinh là Diabolus, trái ngược với Symbolus là hiệp nhất, nối kết, và công
việc chính của chúng là “tách
rời ra, kéo xa ra”,
khi tách con người rời xa Thiên Chúa, kéo con người ra xa nhau, như đã tách Ađam,
Evà rời xa Thiên Chúa, kéo Cain xa khỏi Aben, và tiếp tục cho đến tận thế bằng
mọi thủ đoạn, mưu kế tách đoàn chiên ra khỏi chủ chăn, gây hỗn loạn, chia rẽ giữa
đoàn chiên, và kéo Giáo Hội xa khỏi Đức Giêsu là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm. Do
đó, thành qủa lớn mà ma qủy đạt được quanh biến cố trừ qủy ở nhà Chúa Cha là sự
cắt đứt hiệp thông,chia rẽ trong Giáo Hội, một sự thật đáng buồn mà không ai
trong chúng ta có thể phủ nhận.
b.Mạc Khải
Khác
với Đoàn Sủng, Mạc Khải là việc Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc
khải chính mình và tỏ cho mọi người biết thánh ý Ngài (x Ep 1,9). Nhờ đó, loài
người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh
Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18 ; 2P 1,4).
Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình
(x ; Cl 1,15 ; 1 Tm 1,17) ngỏ lời với loài người như bạn hữu. Ngài đối
thoại với họ để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài. Công cuộc mạc khải này
được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Nên các
việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ, củng cố giáo lý và những
điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói thì công bố các việc làm và khai
sáng các mầu nhiệm chứa đựng trong đó. Nhờ mạc khải này, chân lý thâm sâu về
Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng
trung gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn thể mạc khải (Chương I, số 2, Hiến
Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa – Dei Verbum, bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý
Đức Tin, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2005).
Qua
trích dẫn trên, chúng ta thấy : kho tàng mạc khải gồm Thánh Kinh (Cựu Ước,
Tân Ước) và Thánh Truyền, ở đó “chân
lý về Thiên Chúa được sáng tỏ nơi Đức Kitô », Đấng Trung Gian giữa Thiên
Chúa và con người, Đấng Cứu Độ duy nhất, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Cũng chính ở
Ngài, toàn thể mạc khải đã đạt đến độ viên mãn, và toàn bộ kho tàng mạc khải này
được trao cho Giáo Hội gìn giữ, bảo toàn như thánh Phaolô đã viết cho môn đệ
Timôthê : “Giáo
lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong
chúng ta”
(2 Tm 1,14), vì “Giáo
Hội là dấu chỉ của bí tích cứu rỗi”,
là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.
Vì
đã đạt đến độ viên mãn ở Đức Kitô nên toàn thể Mạc Khải chỉ có thể tìm thấy nơi
Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, mà không ở Chúa Cha, vì Đức Kitô là Ngôi Lời
của Chúa Cha, Đấng Chúa Cha sai đến để thực thi thánh ý của Ngài. Do đó, chúng
ta không thể thay đổi, hay thêm bớt vào kho tàng Mạc Khải bằng những mạc khải mới
trực tiếp từ Chúa Cha, vì Chúa Cha tín nhiệm Chúa Con, bởi Ba Ngôi Thiên Chúa là
một, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Ai
tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi ;
ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi… Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra,
nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên
bố gì. Và tôi biết : mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì
tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi” (Ga 12,44-45 ;
49-50).
Qủa
thực, nếu cho rằng bây giờ là thời đại của Chúa Cha, và chính Chúa Cha trực tiếp
mạc khải, thì Tin Mừng của Đức Giêsu sẽ có nguy cơ bị thay đổi, vì người ta sẽ
phải hiểu rằng thời kỳ cứu chuộc của Đức Giêsu, cũng như thời đạicủa Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội của Đức Giêsu
không còn nữa, nhưng chấm dứt để nhường chỗ cho thời đại mới của Chúa Cha, với
những mạc khải mới từ Chúa Cha.
Như
thế, cả Ba Ngôi Thiên Chúa đã thứ tự thay phiên nhau cứu độ, mạc khải, và duy
chỉ một việc Chúa Cha can thiệp vào mạc khảiđã được viên mãn trong Đức Giêsu đã đủ làm đảo lộn tất cả giáo lý của Đức
Giêsu, và tín điều nhập thể cứu chuộc theo ý Chúa Cha của Đức Giêsu không còn nền
tảng để đứng vững.
Một
vấn đề hệ trọng khác, đó là Mạc Khải và Giáo Hội không thể tách rời nhau, vì Giáo
Hội có nhiệm vụ trung thành tuân giữ và gìn giữ nguyên vẹn chân lý đức tin, bởi
“Mạc
Khải trong Kinh Thánh hay trong Thánh Truyền đều được truyền lại trọn vẹn nhờ sự
kế vị hợp pháp các Giám Mục và nhất là nhờ sự quan tâm của chính Giám Mục Rôma.
Nhờ Thánh Thần Chân Lý, Mạc Khải ấy được gìn giữ cách cẩn trọng và trình bầy cách
trung thực. Để có thể khảo sát đứng đắn và trình bầy cách thích hợp Mạc Khải này,
Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục làm việc cẩn thận bằng phương tiện thích hợp, tùy
theo nhiệm vụ và tầm quan trọng của sự việc ; nhưng các ngài không nhận được
một Mạc Khải công khai mới nào thêm vào kho tàng thần khải của đức tin” (Hiến Chế Tín Lý
về Giáo Hội - Lumen Gentium, số 25, bản dịch việt ngữ của Giáo Hoàng Học Viện
Piô X).
Theo
Hiến Chế này, không một Mạc Khải công khai mới nào được thêm vào kho tàng thần
khải của đức tin, nên hiện tượng Chúa Cha công khai mạc khải cho một cá nhân sẽ
phải được coi là điều không thể chấp nhận theo giáo lý Mạc Khải của Hội Thánh.
Một
nguy cơ khác nữa sẽ đến, đó là từ những mạc khải mang tính sinh hoạt đời sống
như chữa bệnh, cách xử lý tình huống cũng như những khúc mắc trong tương quan,
mà hiện nay Chúa Cha đang thực hiện với chị Thương ở “Nhà Chúa Cha” không lâu sẽ là
những mạc khải đụng chạm đến giáo lý đức tin, vì Chúa Cha luôn sẵn sàng trả lời
bất cứ câu hỏi nào của chị đặt ra. Điều đó cho phép chúng ta mường tượng một ngày
nào đó chị Thương hỏi Chúa Cha về những tín điều buộc người công giáo phải tin
trong Kinh Tin Kính, và nếu “chẳng
may”
Chúa Cha phủ nhận hay không dứt khoát khẳng định một hay nhiều tín điều nào đó,
thì thử hỏi sự hoang mang, bấn loạn ở nhiều người công giáo mà giáo lý đức tin
không đủ vững sẽ lớn lao như thế nào?
Chắc
chắn sẽ rất lớn lao, vì viễn cảnh ly giáo đang lấp ló, giáo phái mới đang thai
nghén, hình thành, bởi ngay bây giờ đã nhen nhúm nhiều chủ trương trái ngược với
giáo lý công giáo, khởi đi từ cách mạc khải hoàn toàn không phù hợp với đức tin
tông truyền, khi cho rằng Chúa Cha đã chọn một người và trực tiếp mạc khải bằng
đẩy tay người ấy viết lên điều mình muốn, một điều chưa từng có trong lịch sử các
tôn giáo, vì ngay cả “đại
tiên tri”
Môhamét của Hồi Giáo, dù tự hào được Đức Alla mạc khải, nhưng cũng chỉ được mạc
khải qua trung gian tổng lãnh thiên thần Gabrien, chứ không ai đã được chính Chúa
Cha trực tiếp trả lời từng câu hỏi, dù là những câu hỏi thuộc phạm vi sinh hoạt
đời sống thường ngày.
Hy
vọng hiệp nhất còn mong manh hơn, khi hiện tượng “thai thánh”, nghiã là phụ nữ
không “quan
hệ”
với người nam mà vẫn có thai đã trở thành một vấn đềkhó có thể chấp nhận được, khôngchỉ trong phạm vi giáo lý đức tin, mà còn ở quy
luật tự nhiên, bởi trong Kinh Thánh, ngoài Đức Maria là người trinh nữ duy nhất
đã có thai Đức Giêsu do quyền phép Chúa Thánh Thần, không một người thứ hai đã được
sinh ra ngoài quan hệ nam nữ, vì đó là luật tự nhiên. Thực vậy, Thiên Chúa chỉ
can thiệp cho vợ chồng son sẻ hay đã luống tuổi, như trường hợp vợ chồng Ápraham
- Xara đã sinh Ixaác, dù mang tiếng son sẻ, hay vợ chồng Dacaria - Êlisabét đã
sinh Gioan Tiền Hô ở tuổi già.
Đó
là chưa nói đến mục đích của việc “thai
thánh”,
bởi Thiên Chúa không thể phá bỏ luật tự nhiên do chính Ngài thiết lập khi cho một
số phụ nữkhông quan hệ với nam nhân do được
đặt tay cầu nguyện đã có thai và sinh con mà không nhắm một mục đích cứu rỗi nào.
Qủa
thực, chỉ nguyên một sự kiện “thai
thánh”
thôi đã chạm đến mầu nhiệm thụ thai do quyền phép Chúa Thánh Thần của Đức Maria
trong nhiệm cuộc Nhập Thể, người mà Thiên Chúa đã gìn giữ cách đặc biệt và chọn
làm Mẹ Thiên Chúa do quyền phép của mình khi cho “một trinh nữ thụ thai và
sinh con trai”.
Tóm
lại, là người công giáo, là con cái trong gia đình Giáo Hội, là chi thể trong
Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô, chúng ta không có lý do thờ ơ, bàng quan, hờ hững,
vô cảm trước những gì đang xẩy ra trong giáo phận Đà Lạt, bởi “không có chia rẽ
trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau,
thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng
vui chung”
(1 Cr 12,25-26).
Vì
thế, chúng ta có bổn phận chia sẻ nỗi đau của toàn thể Giáo Hội, nỗi lo của Đức
Cha Đaminh, Đấng Bản Quyền, nỗi khổ của qúy cha, qúy anh chị ở “Nhà Chúa Cha Bảo
Lộc”
bằng cầu xin cho mọi người tìm về và sống Đức Mến, bởi chỉ với Đức Mến, chúng
ta mới nhận ra mình và nhận ra nhau, để khiêm tốn hoà giải, và qủa cảm tìm về hiệp
nhất với nhau trong Chúa bởi “Đức
Mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,
không làm đều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù,
không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức Mến tha
thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,4-7), và
trong Đức Mến, chúng ta yêu thương nhau, để “Thiên Chúa ở lại trong
chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta được nên hoàn hảo” (1 Ga 4,10).
Với
niềm tin tưởng “Đức
Mến không bao giờ mất được”
(1Cr 13,8), chúng con xin ký thác tất cả cho Chúa và nhờ đức tin của Giáo Hội,
chúng con xin Chúa đừng để chúng con mất nhau, cũng đừng để ai trong trong chúng
con mất Chúa, xa khỏiGiáo Hội là mái ấm
hạnh phúc, quê hương đời đời, nhà của Thiên Chúa giữa nhân loại.
Đến
một nơi chưa một lần đến, gặp một người chưa một lần gặp, ta phải tự giới thiệu,
nếu không được ai đó đã quen biết trước giới thiệu ta cho những người xa lạ, lần
đầu tiên gặp gỡ.
Ngôi
Lời của Thiên Chúa đã tỏ mình cho nhân loại bằng cả hai cách : được người
khác giới thiệu và tự giới thiệu :
Được
người khác giới thiệu, khi Ngôi Lời được Chúa Cha dùng hẳn một dân tộc được tuyển
chọn làÍtraen để giới thiệu, và trao cho lịch sử của dân tộc này một sứ vụ rất
quan trọng, là chuẩn bị công trình Nhập Thế, Nhập Thể để cứu chuộc của Ngôi Lời
Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô.
Thực
vậy, bên cạnh sứ vụ làm chứng giữa các dân tộc chân lý Thiên Chúa Giavê là
Thiên Chúa duy nhất, dòng dõi của tổ phụ Ápraham còn mang một trọng trách khác
nữa là loan báo từ hàng ngàn năm trước, qua các ngôn sứ là những người được
Thiên Chúa chọn trong dân để báo trước Đấng Thiên Sai sẽ đến để cứu chuộc loài
người, mà hình ảnh về Ngài đã được mô tả nhưsau “trong sách ngôn sứ Isaia : Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa
đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã
sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được
sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”
(Lc 4,17-19).
Và
khi thời gian đã đến, Ngôi Lời được Gioan, người anh họ được Thiên Chúa tuyển
chọn làm Tiền Hô giới thiệucho mọi người
“như có lời chép trong sách ngôn sứ
Isaia rằng : Có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường
cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi
núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải
san cho phẳng. Rồi hết mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3,4-6).
Gioan
đã vừa giới thiệu Đức Giêsu, vừa tự giới thiệu mình : “Tôi là tiếng người
hô trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi” (Ga 1,23), “Có
Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép
cho Người. Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép
rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1,7-8). Ấn tượng hơn cả là một hôm kia, khi
ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, thìliền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.
Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng : Có người đến sau tôi,
nhưng trổi vượt hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1,29-30).
Không
chỉ được giới thiệu, Ngôi Lời còn tự giới thiệu mình dọc suốt Tin Mừng, đặc biệt
trong đêm Giáng Sinh, Ngài tự giới thiệu mìnhdưới hình hài “một trẻ thơ sơ sinh bọc tã, nằm rong máng cỏ”, như sứ thần
Chúa đã nói với các mục đồng khi hiện ra báo cho họ tin mừng Giáng Sinh : “Anh
em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc
tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12).
Khi
tỏ mình cho các mục đồng, Thiên Chúa làm người đãtự giới thiệu mình là con người nghèo khó, bé
nhỏ như trẻ sơ sinh mong manh, yếu đuối. Đồng thời tự giới thiệu mình là lương
thực nuôi sống mọi người khi nằm trong máng để cỏ cho chiên lừa ăn, nhất là đã
sinh ra ở một làng cótên Bêlem, nghiã
là “Nhà của cơm bánh”, ở đó sẽ chẳng còn ai phải đói khát, thiếu ăn.
Thiên
Chúa làm người ấy còn tự giới thiệu mình qua những tặng vật của ba đạo sĩ theo
ngôi sao lạ đến từ phương xa (x. Mt 2,11) : với vàng, Ngài tự giới thiệu
mình là vua với quyền “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ
nghèo hèn…, bảo toàn quyền lợi dân cùng khổ, ra tay cứu độ kẻ khó nghèo, đập
tan lũ cường hào ác bá… Triều đại Người, đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh
trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 71,2.4.7) ; với “nhũ hương”,
Ngôi Lời tỏ mình cho muôn dân Ngài là Đức Chúa, vì chỉ Đức Chúa mới được xông hương thờ lậy, và được chúc tụng, như “muôn
vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen rằng : “Vinh danh
Thiên Chúa trên trời” trong đêm Giáng Sinh (Lc 2,13-14), “vì vinh quang của Đức
Chúa như bình minh chiếu tỏa” trên “bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp
chư dân” (Is 60,1-2) ; sau cùng, với “mộc dược”, Ngôi Hai Thiên Chúa tự tỏ
mình với muôn dân Ngài là con người thật, vì Ngài cũng chết và được tẩm liệm bằng
mộc dược như mọi người.
Tóm
lại, Đức Giêsu đã tỏ mình qua mầu nhiệm Giáng Sinh : Ngài là Con Người thật,
như thánh Gioan tông đồ đã qủa quyết : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và
cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh
quang mà Chúa Cha ban cho Người” (Ga 1,14), và chân lý ấy được thánh Phaolô,
tông đồ dân ngoại củng cố mạnh mẽ khi viết cho giáo đoàn Philípphê : “Đức
Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị
ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân
nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).
Cùng
một lúc, Ngôi Lời Thiên Chúa cũng tỏ mình là Đức Chúa, Đấng Cứu Tinh, Đấng đến
để cứu chuộc nhân loại, như lời trấn an các mục đồng của sứ thần : “Anh em
đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho
toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua
Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2,10-11). Ngài là Thiên Chúa thật, Thiên
Chúa của Vinh Quang trên trời, và Thiên
Chúa của Bình An cho hết mọi người thiện tâm dưới thế.
Với
mỗi người, Thiên Chúa còn tỏ mình là người Cha nhân hậu, Mục Tử nhân lành, người
Bạn Đường nhân ái luôn có mặt, đồng hành để yêu thương, ủi an, bênh đỡ, cứu chữa,
làm cho “sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), như con cái được thừa hưởng gia nghiệp,
như bạn hữu tri âm tri kỷ biết mọi việc của chủ mình, và như đoàn chiên được âu
yếm chăm sóc, nâng niu.
Nếu
hỏi em bé : Giáng Sinh là gì? Em sẽ trả lời : Giáng Sinh là qùa Noel
mà em ước mơ. Cũng thế, với người Kitô hữu, Đức Giêsu là quà tặng tuyệt vời của
Chúa Cha ban cho nhân loại, qùa tặng mang lại ơn cứu rỗi, quà tặng đem đến sự sống
đời đời, qùa tặng ban lại vinh dự làm con Thiên Chúa.
Nhưng
quà tặng mà Chúa Cha ban cho nhân loại không như món quà vật chất em bé nhận được
từ ba mẹ trong đêm Giáng Sinh, mà là quà tặng “một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho
chúng ta” ; quà tặng “Ngôi Lời Thiên Chúa đã mặc lấy xác phàm và ở giữa loài
người”, quà tặng “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”, quà tặng “Đường, Sự
Thật, Sự Sống”, qùa tặng Tình Yêu và ơn Bình An của Thiên Chúa.
Như
thế, quà tặng Giáng Sinh từ Chúa Cha mang một giá trị vô cùng toàn năng, tuyệt đối
thánh thiện, nhưng đồng thời gần sát con người yếu đuối, bên cạnh con người tội
lụy, cận kề con người cơ cùng, thiếu thốn, vì là chính Thiên Chúa từ trời cao
xuống thế chia sẻ thân phận người với con người. Và Thiên Chúa muốn chúng ta đón
nhận qùa tặng “Thiên Chúa làm người” trong chính thân phận con người, hoàn cảnh
cụ thể của đời người, với tất cả thao thức, ưu tư, khắc khoải, lo âu, hy vọng,
suớng vui, sầu khổ, thành công, thất bại, vinh quang, bạc bẽo, cả cái chết là đe
dọa hãi hùng, kinh sợ của kiếp làm người.
Quà
tặng “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, “Thiên Chúa làm người và cắm lều giữa nhân
loại” không là món qùa chỉ mang tính biểu thị một tình cảm, diễn tả một tâm tình,
nhưng là môt “con người ở với”, một Thiên Chúa đi cùng, một “con người Thiên Chúa”
chia sẻ, gánh vác, đỡ nâng, đổi mới ; một “Thiên Chúa làm người” để xót thương,
bao dung, cứu chuộc, thánh hoá, ban sự sống đời đời và hạnh phúc vĩnh cửu. Tóm lại, qùa tặng là chínhĐức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, với thiên tính
và nhân tính ; chính Ngôi Lời của Thiên Chúa xuống thế làm người vì thương
yêu con người tội lỗi.
Do
đó, qùa tặng chỉ có ý nghiã khi con người sống sự sống của Thiên Chúatừng giây từng phút của đời mình ; quà tặng chỉ mang giá
trị “thần tính”, khi con người để Thiên Chúa thánh hoá “nhân tính” của mình. Và
để thực hiện điều này, Hài Nhi Giêsu ở Bêlem đã mời gọi chúng ta sống mầu nhiệm
Giáng Sinh của Ngài không chỉ một ngày, một đêm, hay một mùa trong năm, nhưng sống
mọi ngày, sống mỗi ngày, sống từng ngày, sống liên lỷ ngày này qua ngày khác
trong suốt cuộc đời.
Sống
mầu nhiệm Giáng Sinh mỗi ngày là xác tín ơn gọi “tìm kiếm vinh danh Chúa bằng mưu
tìm bình an, hạnh phúc cho đồng loại”, khi chọn Đức Giêsu làm Lẽ Sống, Cùng Đích
và Gia Nghiệp, khi tin Ngài là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ rất khoan nhân, giầu lòng
thương xót, và tuyệt đối tín thác ở Ngài ; là từ bỏ bớt “cái tôi”, xóa bớt
“cái mình” để có thể chấp nhận những cái khác của “người khác”; là biết dùng
đôi mắt để quan tâm đến người chung quanh trong cơ hàn, túng quẫn ; làtận dụng đôi bàn tay để lau khô nước mắt trẻ
thơ vô tội đang mếu máo nức nở vì mất cha, lạc mẹ ; là nỗ lực xây dựng nền
hoà bình thế giới bằng đẩy lùi chiến tranh, giập tắt lửa hận thù, xây dựng một
cộng đồng nhân loại công bằng, nhân ái ; là chia sẻ những gì mình có, mình
là chongười anh em sa cơ thất thế ;
là cảm thông và giải quyết những vấn đề “khó nói” của người chị em lỡ bước, lầm
đuờng ; là qủang đại quên đi những tổn thương, xúc phạm, và mau mắn thắp sáng
ngọn nến hy vọng trong những trái tim tan nát, sầu buồn ; là bịt miệng những
thị phi, vu khống và lên tiếng, mở lời làm rạng rỡ đức yêu thương, tình huynh đệ ;
là ân cần mời người ăn xin vào nhà dùng bữa và mở rộng tấm lòng nhân hậu, bao
dung đối với người phản phúc, vô ơn và kẻ thù.
Có
như thế, Giáng Sinh mới có ý nghiã “sinh nhật của Ngôi Lời” giữa thế giới loài
người, “ngày sinh của Đấng Cứu Thế” trong lòng mỗi người, và “ngày thiên đàng
chớm nở ngay dưới thế” trước mắt chúng ta. Nếu không, lễ Giáng Sinh sẽ chỉ còn
là một lễ hội không mang ơn Bình An của Thiên Chúa từ trời cao xuống cho người
Chúa thương, vì người được Chúa thương là người biết trân qúy và sống “Đức Giêsu,
Thiên Chúa làm người” là quà tặng vô giá, vì tuyệt đối, vô cùng Chúa Cha đã ban
cho nhân loại vì yêu thương.