Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2021

THÁNH GIUSE SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI VỚI TÌNH YÊU PHÓ THÁC

 

Có hai dạng người sống hiện tại : dạng sống kiểu hiện sinh buông thả, lười biếng, để dòng đời nổi trôi không đường hướng, không lý tưởng, không chuẩn bị, không xây dựng, nhưng tiêu cực, yếm thế, dựa dẫm, tầm gửi ; một dạng người khác cũng sống giây phút hiện tại, nhưng chủ động, tích cực, yêu đời, yêu người, nhiệt huyết, dấn thân, có lý tưởng, có động lực phấn đấu, giầu nghị lực và hy sinh, do tin tưởng, phó thác vào Thiên Chúa, và Lời Hứa của Ngài, đồng thời trông cậy vào ơn Chúa luôn đủ cho người tôi tớ trung tín sống ơn gọi và sứ vụ được trao.

  Thánh Giuse, người tôi tớ công chính của Thiên Chúa là người đã sống từng  giây phút hiện tại  với tình yêu tín thác đó.

1.    Một cuộc sống gia đình nhiều biến cố :

Chỉ riêng hai chương đầu của Tin Mừng Mátthêu cũng đủ cho chúng ta thấy đời làm chồng, làm cha của thánh Giuse không êm ả chút nào, điều mà nhiều người lầm tưởng, khi nghĩ Thánh Gia vì là gia đình thánh, nên không có vấn đề, cũng chẳng trải qua khốn khó, gian nan như các gia đình bình thường khác.       

Sự thật hoàn toàn khác, khi chính trong gia đình thánh ấy, bão tố không ngừng nổi lên tấn công dồn dập, bởi ngay từ buổi đấu, trước khi về chung sống, thánh Giuse đã hoang mang, đau khổ vì thấy Đức Maria  có thai, rồi bất ngờ phải về Bêlem do “lệnh kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ” (Lc 2,1) của hoàng đế Augúttô, khi vợ mình đến ngày sinh con, và vì không tìm được nhà trọ đã phải mượn chuồng chiên cừu làm chỗ sinh con, mượn máng cỏ làm nôi cho con nằm (x. Lc 2,12).

Tiếp đến là cuộc trốn chạy cơn điên và nỗi lo sợ bị mất ngôi của vua Hêrôđê khi biết Hài Nhi Giêsu, “vua dân Do Thái” vừa mới sinh ra ở Bêlem. Còn cảnh nào hãi hùng, lao đao hơn khi phải tức tốc, gấp rút đem Hài Nhi mới sinh và Mẹ Ngài vượt biên sang Ai Cập, bởi Hêrôđê ra lệnh tàn sát “tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận từ hai tuổi trở xuống” (Mt 2,16), và cảnh tượng giết lát trẻ em vô tội rất bi thương trên đã được ngôn sứ Giêrêmia loan báo : “Ở Rama, vẳng nghe tiếng khó của than rền rĩ : tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa” (Mt 2,18).

Cũng như các gia đình, thời nào có khó khăn của thời đó, và con cái ở mỗi độ tuổi đều mang đến những nỗi lo mới cho cha mẹ, như Đức Giêsu đã tự ý ở lại đền thờ Giêrusalem dịp trẩy lễ, mà cha mẹ chẳng hề hay biết, và “sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dậy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi” (Lc 2,46).

Chúng ta có thể mường tượng nỗi lo lắng “nát gan, đứt ruột” của Đức Maria và thánh Giuse trong những ngày lạc mất con. Thế mà, khi tìm được con, hai đấng  đã ngẩn ngơ, hụt hẫng, và chẳng hiểu gì khi nghe con trai trả lời : “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49). Vì “ông bà không hiểu lời Người vừa nói”, nên chỉ còn biết lặng lẽ “ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,50.51). Những điều ấy chính là nỗi đau của bậc làm cha mẹ, khi không còn hiểu được con cái…

Tóm lại, cuộc sống của Thánh Gia đã có nhiều biến cố làm dậy sóng, và chao đảo con thuyền gia đình. Tin Mừng không ghi thêm, nhưng không vì thế mà chúng ta nghĩ rằng Thánh Gia được yên trong những năm tháng Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng. Bằng chứng là khi Đức Giêsu trở về thăm quê nhà Nadarét, bà con đồng hương đã không niềm nở đón tiếp Ngài, nhưng khi nghe Ngài giảng dậy, “mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,28-30). Và chính Đức Giêsu đã  buồn rầu nói với đồng hương ngay trên quê hương của mình : “Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4,24).

2.     Thánh Giuse sống từng giây phút của hiện tại :

Tin Mừng Matthêu hé mở cho chúng ta : thánh Giuse không biết trước những biến cố xảy ra cho Thánh Gia, và tự ngài cũng không có nhiều dự án, kế hoạch cho tương lai. Bằng chứng là tất cả các biến cố đều chỉ được báo trước, và được chỉ dẫn cách giải quyết qua sứ thần Chúa hiện đến báo mộng. 

Nhìn lại những biến cố của đời thánh Giuse trong vai trò làm cha, làm chồng, chúng ta thấy tất cả đều vượt khỏi tầm kiểm sóat bình thường của con người, nghiã là không thể lập trình, tính toán trước bất cứ sự gì, như sự kiện Đức Maria có thai do quyền năng của Chúa Thánh Thần, khi hai ông bà chưa về chung sống. Làm sao thánh Giuse có thể nghĩ tình huống bi đát, ngặt nghèo, bế tắc như vậy có thể xẩy ra cho ngài và Đức Mẹ là người ngài hết lòng yêu mến, ngưỡng mộ, kính trọng? Cũng vì không ngờ, nhưng qúa bất ngờ, mà ngài đã phải nghĩ đến chọn lựa cuối cùng là bỏ Đức Mẹ và ra đi cách kín đáo, để giữ thanh danh và bảo đảm an toàn cho Đức Mẹ trước búa rìu của xã hội và Lề Luật (x. Mt 1,19). Và điều rất lạ là chỉ trong giấc ngủ, khi sứ thần hiện đến báo mộng, thánh Giuse mới biết sự thật và làm theo thánh ý Thiên Chúa.

Cũng như sự việc trốn sang Ai Cập, rồi trở về Nadarét từ Ai Cập sau khi vua Hêrôđê chết, tất cả đều không thể đoán trước, vì hoàn toàn vượt ngoài dự đoán, phỏng định, để lại một lần nữa, sứ thần Chúa đã hiện ra nói với thánh Giuse việc gì phải làm, nơi nào phải đến, thời điểm nào phải lên đường.

Khi đề cập đến cảnh tượng xẩy ra trong giấc mộng, gặp người này người nọ trong giấc mơ, chúng ta hiểu ngay đó là những chuyện khó tin, không có thực. Chẳng thế mà người ta vẫn chế diễu, châm chọc những người không thực tế, sống ảo là “người mơ giữa ban ngày”, và nhắc nhở, cảnh tỉnh đám trẻ ở tuổi mộng mơ : “Đời không đẹp như mơ”.

Nhưng ở đây, chúng ta thấy thánh Giuse đã hành động theo những gì nhận được từ sứ thần Chúa trong giấc mộng. Điều này nói lên tinh thần phó thác tuyệt đối ở Thiên Chúa của người tôi tớ trung tín chỉ biết làm theo lệnh ông chủ truyền. Người tôi tớ trung tín ấy không lười biếng, nhưng chăm chỉ sống từng giây phút hiện tại trong tinh thần sẵn sàng thực hiện điều ông chủ muốn, nghiã là lúc nào cũng hướng về ông chủ và hiện diện trước mặt ông chủ để không lỡ bất cứ công việc nào ông chủ trao, dù ở thời khắc nào. Người tôi tớ trung tín ấy cũng đặt mình ở hiện tại tròn đầy trước ông chủ, để không một giây biếng lười, môt phút lơ đãng vì nghĩ đến bản thân, mà không kịp làm tốt công việc ông chủ dậy, vào đúng thời điểm ông chủ muốn.

Vì thế, để có thể tỉnh thức nghe được tiếng của sứ thần trong giấc ngủ, và mau mắn thi hành lệnh của Thiên Chúa từ sứ thần, thánh Giuse đã luôn ở trong tình trạng sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa, bằng khắc khoải, thao thức, trông ngóng, đợi chờ Thánh Ý Chúa trong từng giây phút của hiện tại. Đó là một trái tim mở rộng, một trí khôn tỉnh táo, bén nhạy luôn hướng về Thiên Chúa, và chỉ với khối óc, con tim hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa của người công chính thuộc về Thiên Chúa, chúng ta mới có thể sống như thánh Giuse khi luôn sẵn sàng lắng nghe và ứng trực thực thi Thánh ý Chúa trong từng giây phút của thời gian  hiện tại.

Do đó, giữa kiểu sống tiêu cực, vô tâm, vô ý trước hiện tại và chọn lựa sống tích cực, với ý thức từng phút giây của hiện tại là hồng ân được ban, với ý chí luôn sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Chúa và làm theo ý muốn thánh thiện của Ngài là một vực thẳm  không thể vượt qua. Sự khác biệt rất lớn và quan trọng ấy cho phép chúng ta nhận ra ai là người trân qúy hiện tại và ai là người bỏ quên hiện tại ; ai là người xây dựng tương lai bằng sống hiện tại, và ai là người từ chối ngày mai khi phung phí, coi thường hiện tại, nhất là biết rõ ai là người sống niềm tin phó thác vào Thiên Chúa quan phòng, và ai là người lơ là, không quan tâm sống theo đường lối Thiên Chúa.

3.   Thánh Giuse sống hiện tại với  đức tin phó thác :      

    Sở dĩ thánh Giuse đã có thể  sống từng giây phút hiện tại cách tích cực, vì ngài  tin tưởng,  phó thác vào Thiên Chúa, Đấng ngài tôn thờ, yêu mến, và phụng sự.

Là người công chính, tức là người sống theo đường lối của Thiên Chúa, thánh Giuse đã học với các tổ phụ đức tin phó thác. Phó thác khi tin tưởng “chỉ có mình Chúa ban cho con được sống yên hàn”, và chỉ mình Ngài “lúc ngặt nghèo mới mở lối thoát cho con” (Tv 4,2.9) ; phó thác khi từng phút giây ngóng trông và đặt trọn hy vọng nơi  Chúa : “Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông…, bởi Chúa luôn một lòng từ ái, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa, tràn đầy” (Tv 129,6.7) ; phó thác “như trẻ thơ nép mình vào lòng mẹ, và trong con, hồn lặng lẽ an vui” (Tv 130,2) ; phó thác nên “ngay từ buổi sớm mai, xin cho con nghiệm thấy tình thương của Chúa, vì con vẫn tin cậy nơi Ngài. Xin dậy con đường lối phải theo, vì con nâng tâm hồn lên cùng Chúa” (Tv 142,8) ; và phó thác khi “ký thác mọi việc cho Đức Chúa”, vì “mọi việc Đức Chúa làm đều có cùng đích riêng” (Cn 16,3.4).

Là người tôi tớ trung tín, thánh Giuse đã sống niềm tin phó thác cách triệt để, nên mới có thể đón nhận một cách khiêm tốn và dũng cảm mọi thử thách trong từng giây phút hiện tại, trên từng cây số của hành trình ơn gọi làm người gìn giữ bảo vệ Đức Giêsu và Mẹ Ngài.

Như Ápraham đã tín thác tuyệt đối khi tiếng gọi ở hiện tại : “Hãy đem sát tế con trai duy nhất Ixaác” hoàn toàn mâu thuẫn với Lời Hứa ở tương lai : “Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ của một dân đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển”, thánh Giuse đã sống trọn vẹn và dũng cảm từng giây phút căng thẳng, cam go, nguy nan của hiện tại với một đức tin phó thác tuyệt đối ở Chúa quan phòng, Đấng đã hứa với người Ngài chọn : “Này Ta ở với ngươi ; ngươi đi bất cứ nơi nào, Ta sẽ giữ gìn ngươi… vì Ta sẽ không bỏ ngươi cho đến khi Ta hoàn thành điều ta đã phán với ngươi” (St 28,15). Và suốt đời thực thi sứ vụ Thiên Chúa trao phó, thánh Giuse đã vững dạ, an lòng trong niềm  phó thác, vì tin ở Lời Thiên Chúa : “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghiã của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay” (Is 54,10).   

Thực vậy, thánh Giuse đã không bỏ qua một giây phút hiện tại nào mà không hướng về Thiên Chúa để tìm kiếm và thực hiện Thánh Ý Ngài. Thánh Cả là  “người công chính” đích thực và gương mẫu với trái tim say mê Thiên Chúa, tâm hồn  tràn đầy Thiên Chúa, và cuộc đời khao khát tìm gặp Thiên Chúa.

Nguyện xin Ngài bầu cử cho chúng con đừng lãng phí thời gian hiện tại, nhưng noi gương Ngài sống trọn vẹn và dũng cảm từng giây phút hiện tại, dù thách đố có cam go, dù thử thách có se dạ thắt lòng, dù lòng người có tàn nhẫn phụ bạc, dù tình đời có “đổi trắng thay đen”, dù chuyện đời có thương đau, đắng đót, dù đường đời có nguy hiểm, trái ngang.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2021

LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3, Thường Niên, Năm B

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập “Chúa Nhật Lời Chúa” và chọn chúa nhật thứ ba thường niên là ngày toàn thể Giáo Hội đặc biệt cử hành, học hỏi, chia sẻ, và loan báo Lời Chúa, với mục đích nhắc nhở các tín hữu : Lời Chúa là nguồn Mạc Khải sống động, có tầm quan trọng như Thánh Thể mà Đức Giêsu đã ban cho Giáo Hội của Ngài. Chúa nhật thứ ba thường niên còn là khởi điểm của Tuần Lễ Cầu Nguyện cho sự Hiệp Nhất giữa những người  cùng tin vào Đức Giêsu Kitô.

Trước hết, Lời Thiên Chúa là Lời đem lại sự sống cho những người sắp phải chết hay đáng chết vì tội lỗi của mình, như Thiên Chúa đã tha tội chết cho dân thành Ninivê vì họ đã nghe Lời Ngài, như được kể lại trong sách ngôn sứ Giôna : Có Lời Đức Chúa phán với ông Giôna lần thứ hai rằng : “Hãy đứng dậy, đi đến Ninivê, thành phố lớn, và hô cho dân thành biết lời tuyên cáo Ta sẽ truyền cho ngươi. Ông Giôna đứng dậy và đi Ninivê, như lời Đức Chúa phán” (Gn 3,1-3). Ông Giôna bắt đầu vào thành, đi một ngày đường và công bố : “Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá đổ. Dân Ninivê tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ” (Gn 3,4-5). “Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại. Người hối tiếc về tai họa Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa” (Gn 3, 10). Và tai họa mà trước đó Thiên Chúa muốn giáng trên Ninivê chính là tất cả mọi người ở trong thành sẽ phải chết (x. Gn 3,9).

Tin Mừng Máccô cũng không ra ngoài mục đích của Lời Chúa, khi công bố chính Lời của Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa : Sau khi ông Gioan bị bắt, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói : “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14-15).

Trước khi cho biết việc con người phải làm để được cứu sống, Đức Giêsu đã  nghiêm khắc cảnh báo : “thời gian không còn dài, thời kỳ đã mãn”, thời điểm đã chín mùi vì Nước Trời, Vương Quốc của Thiên Chúa đã đến gần. Và liền sau đó, Ngài tuyên bố : “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).

Như thế cả Cựu Ước cũng như Tân Ước, từ miệng các ngôn sứ đến miệng Đức Giêsu, Lời Chúa mãi là Lời cứu độ, Lời ban sự sống, Lời giải thoát khỏi tội lỗi, án tử, và điều kiện để đón nhận Lời hằng sống, Lời cứu sống ấy chính là sám hối, trở về và tin vào Lời Thiên Chúa phán dậy.

Do đó sẽ không có sự sống, không được cứu sống, nếu từ chối sám hối và phủ nhận Tin Mừng là Lời của Thiên Chúa hằng sống.

Tin Mừng Máccô hôm nay còn cho chúng ta thấy cảnh Đức Giêsu gọi bốn môn đệ đầu tiên là hai anh em ông Anrê, Simon, và hai anh em ruột khác là Giacôbê và Gioan. Các vị là những cộng sự viên được Đức Giêsu chọn ở những ngày đầu của công cuộc Cứu Thế, để cùng Ngài loan báo Tin Mừng, rao giảng Lời Thiên Chúa.

Qủa thực, với Lời Chúa, chúng ta không chỉ được cứu thoát, mà còn được sống sự sống của chính Thiên Chúa, nhờ lắng nghe, đón nhận và thực thi Lời hằng sống của Ngài. Cũng với Lời Chúa, mọi hiểu lầm, tị hiềm, đố kỵ giữa những anh em cùng tin vào Đức Giêsu và Lời của Ngài sẽ hiệp nhất với nhau một ngày không xa, nếu mỗi người  Kitô hữu thực thi Lời Đức Giêsu năm xưa ở Galilê : “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2021

GƯƠNG THINH LẶNG CỦA THÁNH GIUSE

Hình ảnh ấn tượng của thánh gia ở Nadarét là cả ba Đấng đều ít nói, nhất là thánh Giuse, người gia trưởng hầu như luôn thinh lặng. Bằng chứng là không một lời nào của Thánh Cả đã được Tân Ước ghi lại.

Thật khác xa với gia đình hôm nay, ở thời đại tự do ngôn luận, nhân quyền, bình đẳng, khi cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em thi nhau nói, giành nhau nói, bịt miệng người khác lại để một mình nói, và ít khi có “người nói người nghe”, hay một người nói, nhiều người nghe, nhưng thường là “chẳng ai nói ai nghe”, vì ai cũng nói, mà không ai chịu thinh lặng lắng nghe nhau.

Người thời nay ham nói, vì nói là cách biểu hiện quyền thống lĩnh, cai trị ; nói để thiên hạ biết mình tiền nhiều, tài giỏi, kiến thức rộng, bằng cấp cao ; nói để hù dọa, lấn át, dụ dỗ, mua chuộc, tán tỉnh người khác ; nói để tự khẳng định mình và bành trướng ảnh hưởng, quyền lực… Nói chung, đây là thời đại của những con người chỉ nói, không biết thinh lặng.

Vì nói nhiều, và không biết thinh lặng để nghe người khác, và để người khác nói, mà gia đình  liên tục cãi cọ, xào xáo, bất hoà, đấu đá, bạo hành khi không ai chịu “nhường lời” để có thể “nhường nhịn”, và hậu qủa là gia đình từ tình trạng ồn ào, inh ỏi tranh nhau nói bỗng biến thành “trung tâm câm điếc”, không ai muốn nói, cũng chẳng ai muốn nghe, nhưng phải sống chung trong bầu khí lạnh lùng, nặng nề, tẻ nhạt.

Kinh Thánh nói về người ba hoa và người biết thinh lặng : “Kẻ nhiều lời sẽ bị chán ghét”, “kẻ ba hoa thì đáng khinh chê” (Hc 20,5.8), “Người khôn ngoan biết thinh lặng chờ dịp tốt”, “Người khôn ngoan nói ít cũng gây được thiện cảm, lời hoa mỹ của kẻ ngu đần chỉ là thứ đổ đi”, “Người ghét thói ba hoa sẽ tránh được sự dữ” (Hc 20, 7.13 ; 19,6), “Người năng nói năng lỗi, ai dè giữ lời nói mới là người khôn, “Giữ mồm giữ miệng là bảo toàn mạng sống, khua môi muá mép ắt sẽ phải thiệt thân (Cn 10,19 ; 13,3).

    Thánh Giuse là người công chính, mà người công chính thì khôn ngoan, và người khôn ngoan thì biết sống thinh lặng như Kinh Thánh dậy.

1.   Thánh Giuse thinh lặng để cầu nguyện, và nghe được tiếng Thiên Chúa :

Thiên Chúa không nói với con người nơi phố chợ ồn ào, huyên náo, nhưng nói trong thinh lặng, ở nơi yên ắng như đã nói với ngôn sứ Êlia được ghi lại trong sách Các Vua : Ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó. Có lời Đức Chúa phán với ông : “Êlia, ngươi làm gì ở đây?”… Rồi Người nói với ông : “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kià Đức Chúa đang đi qua”. Gió to bão lớn  xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu” (1 V 19,9.11-12), và trong tiếng gió hiu hiu, nhè nhẹ, Đức Chúa đã nói với ông.

Cựu Ước cũng kể lại cậu chuyện Thiên Chúa  gọi cậu bé Samuen giữa đêm khuya thanh tịch, khi Samuen đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa. Sau nhiều lần tưởng thầy cả Êli gọi, lần cuối cùng, Samuen nghe lời thầy Êli đã thưa với Thiên Chúa khi Ngài gọi tên cậu : “Lậy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe!” (1 S 3,10).

Như Êlia và Samuen đã nghe được tiếng Thiên Chúa ở nơi yên tĩnh, trong gió nhẹ hiu hiu, giữa đêm khuya đền thờ, thánh Giuse cũng đã nhận ra tiếng sứ thần Chúa nói với ngài : “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” giữa đêm khuya cầu nguyện, trong giấc ngủ chập chờn, vì thao thức tìm Thánh Ý Chúa, và với trái tim thinh lặng biết tỉnh thức, chăm chú lắng nghe tiếng Chúa, ngài cũng  đã kịp thời đưa Hài Nhi Giêsu và mẹ Người trốn sang Ai Cập, thoát khỏi gươm đao của Hêrôđê, khi sứ thần hiện ra báo mộng  (x. Mt 2,13-14).

Thực vậy, nếu không tỉnh thức trong thinh lặng cầu nguyện, chắc chắn thánh Giuse đã không nghe được tiếng sứ thần nói với ngài trong giấc ngủ, cũng như không thấy sứ thần hiện ra trong cơn mộng, nhưng nhờ đức tin của người công chính luôn hướng về Thiên Chúa, đức tin của người tôi tớ trung tín luôn tìm làm vui lòng ông chủ, thánh Giuse đã biết thinh lặng để cầu nguyện, thinh lặng để lắng nghe tiếng Chúa, thinh lặng để đón nhận Thánh Ý, khi ý thức “Thiên Chúa nói với trái tim con người, đưa con người vào sa mạc để cùng con người thổ lộ tâm tình (x. Hs 2,16).

Nhờ sống thinh lặng, thánh Giuse đã không bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào để được nghe Chúa nói, nhưng thao thức trong thinh lặng, đợi chờ trong thinh lặng Lời Thiên Chúa phán bảo, truyền dạy trong suốt cuộc đời làm bạn thanh sạch của Đức Mẹ, và cha nuôi của Đức Giêsu ở Nadarét.

2.   Thánh Giuse thinh lặng để yêu thương, phục vụ :        

 

Sứ mệnh của thánh Giuse là yêu thương, phục vụ và bảo vệ Chúa Giêsu và Đức Maria, mẹ Người. Sứ vụ ấy chính thức bắt đầu khi ngài nhận Đức Maria làm vợ và đưa về nhà mình, sau khi được sứ thần Chúa hiện đến báo mộng : “Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-21).  

Thực vậy, thánh Giuse đã thinh lặng trước sự việc khó khăn mà ngài không thể hiểu, cũng như tình cảnh bế tắc tưởng không thể vượt qua, khi thấy Đức Mẹ có thai, mặc dù hai người chưa về chung sống, không chỉ để đợi chờ Thánh Ý Chúa, để nhận được đáp số từ Thiên Chúa, có được phương án giải quyết của Thiên Chúa, mà còn thinh lặng vì yêu thương, và để yêu thương Đức Mẹ  khi không một lời tra vấn, hạch hỏi, nhưng tuyệt đối tôn trọng, âu yếm, tế nhị, dễ thương đối với  vợ mình. Và suốt đời sống gia đình, kể từ khi đưa Đức Mẹ về nhà cho đến giờ chết, thánh Giuse vẫn một lòng yêu mến với tình yêu sâu lắng của trái tim thinh lặng.

Ngài thinh lặng phục vụ Đức Mẹ trên đường về Bêlem, và những ngày mới sinh con ; ngài thinh lặng bảo vệ Đức Mẹ và Hài Nhi trên đường trốn tránh vua Hêrôđê ; ngài thinh lặng chia sẻ “lưỡi gươm sẽ đâm thấu lòng dạ” với Đức Mẹ ngày dâng con vào Đền Thờ ; và bằng thinh lặng, ngài an ủi Đức Mẹ trong những ngày lạc mất con ở Giêrusalem ; với thinh lặng ngài biểu lộ cùng với Đức Mẹ  lòng vâng phục chương trình của Thiên Chúa, mặc dù không hiểu gì, khi Đức Giêsu trả lời : “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49).

Thánh Giuse đã chọn thinh lặng, vì thinh lặng là ngôn ngữ tuyệt hảo của tình yêu, bởi có người nào đã một lần tha thiết yêu mà không cảm nghiệm sự bất lực của ngôn ngữ trước mầu nhiệm của tình yêu ; có người nào đã đắm đuối yêu, mà  không thấy mình mất hết khả năng diễn đạt bằng tiếng nói, ngôn từ trước cao vời khôn tả và sâu thẳm khôn lường của tình yêu ; có người nào đã da diết yêu, mà không nhận mình có nhiều giới hạn trước vô cùng và tuyệt đối của tình yêu, nên chỉ còn thinh lặng của trái tim, thinh lặng của tâm hồn mới nói lên được những rạo rực, xôn xao, náo nức của tình đầu, cũng như nỗi đau của mẹ dưới chân thập tự treo xác con, mới biểu lộ được khổ đau câm nín của “ơn cha, nghiã mẹ”, mới bật thành tiếng hát, lời ru  khối tình thiên thu, thần thánh.

Với thinh lặng của trái tim đầy ắp yêu thương, thánh Giuse đã bảo vệ an toàn sự sống của Thánh Gia, cũng như đem lại an bình, hạnh phúc cho đời sống gia đình Nadarét, khác với những gia đình thiếu dưỡng khí tình yêu vì không ai biết trân qúy, gìn giữ thinh lặng là điều kiện cho tình yêu  gia đình được lớn lên. 

Học với thánh Giuse thinh lặng cầu nguyện, để mọi nơi mọi lúc, trong mọi tình thế, hoàn cảnh, nhất là trong những lúc mây mù che phủ, giông tố dữ dội kéo về, mọi người trong gia đình biết dẹp bỏ thanh âm ồn ào, náo nhiệt của thế gian, cũng như tiếng nói oang oang nhưng vô nghiã của người đời, để lắng đọng tìm nghe tiếng Chúa, lắng nghe Thánh Ý Ngài.

Học với thánh Giuse thinh lặng yêu thương, để người làm chồng không ỷ quyền làm chủ, cậy thế gia trưởng lớn tiếng chửi rủa, xỉ vả vợ mình khi không hài lòng, vừa ý ; người làm vợ “không cả vú lấp miệng em” xối xả nguyền rủa, hồ đồ kết tội chồng mình, khi chưa rõ nội tình, chưa thấu đáo nguyên nhân, căn cớ ; người ở phận con cái không lao nhao đấu đá, tranh giành quyền này quyền nọ, nhưng tất cả biết thinh lặng để nhường  lời cho Chân Lý, dành tiếng nói cho Tình Yêu.

Học với thánh Giuse thinh lặng phục vụ, để gia đình không thiếu cơm ăn, áo mặc, nhưng ấm no hạnh phúc, ngập tràn niềm vui, khi mọi thành viên tận tụy hy sinh, dấn thân quên mình, quảng đại sẻ chia, vì tình yêu gia đình, mà không ai tỵ nạnh kể công, vênh vang tự hào công trạng.

Học với thánh Giuse biết thinh lặng trong đời sống hôn nhân nhiều thách đố, vì những khác biệt, để vợ chồng không hơn thua nhau từng “lời ăn tiếng nói”, như đám gà ganh nhau tiếng gáy, nhưng nhịn nhường, hoà giải bằng thinh lặng yêu thương, để Lời Chúa ngự giữa gia đình như ánh sáng hướng dẫn, sức mạnh đỡ nâng, nguồn sống, và bình an, hy vọng.

Jorathe Nắng Tím  


Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

THÁNH GIUSE, ĐẤNG BẢO VỆ SỰ SỐNG

 

Trong Tin Mừng, hai lần thánh Giuse bị đặt vào tình huống “khó khăn và khó xử” trước sự sống : một lần trước mầm sống khi Đức Maria có thai  Đức Giêsu do quyền phép Chúa Thánh Thần mà ngài không hề hay biết ; lần khác khi vua Hêrôđê tìm giết Hài Nhi Giêsu, sau khi gặp ba đạo sĩ  đến từ phương đôngn và biết Bêlem là nơi “vua dân Do Thái” mới ra đời.

Thánh Mátthêu kể lại : “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô : bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính, và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà đi cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kià sứ thần Chúa hiện đến báo mộngt cho ông rằng : “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,18-21).

Một hoàn cảnh rất khó khăn và khó xử đối với bất cứ người chồng nào trên thế gian này, khi vợ mình có thai, mặc dù hai người chưa một lần quan hệ. Còn khó khăn, khó xử hơn gấp bội, nếu vợ mình là người không chỉ “được tiếng đạo hạnh” mà đích thực là người đạo đức, tốt lành, chung thủy, “công dung ngôn hạnh” vẹn toàn như Đức Maria.

Trong thực tế, khi rơi vào hoàn cảnh trớ trêu trên, rất hiếm những người tình, người chồng đã có thể bình tĩnh tìm một giải pháp tốt đẹp cho bào thai và cho người mẹ, mà không làm tổn thương cả hai mẹ con. Trái lại, để đơn giản hoá vấn đề, hầu hết đã chọn giải pháp hủy bỏ bào thai, hoặc từ chối nhận làm vợ người đàn bà có thai với người khác mà giấu diếm mình.

Đây là hiện trạng của thời đại “sống thử” và thực dụng mà chúng ta đang sống, ở đó nhiều bạn trẻ nam nữ sống thử trước khi cưới, và tất nhiên, hậu qủa khó tránh trong thời gian sống thử là có thai, và “giải pháp đương nhiên” theo trình tự không dễ thay đổi và thoát ra, đó là phá thai, vứt bỏ mầm sống, hủy diệt sự sống mới được thành hình.

Sở dĩ phần đông bạn trẻ chọn giải pháp phá thai, vì họ bị bế tắc, mắc kẹt trước hoàn cảnh kinh tế, do áp lực gia đình, và  đòi hỏi của tương lai, nghề nghiệp, mà trong bấn loạn, hoảng hốt khi mầm sống do họ tạo ra vừa xuất hiện, họ chỉ thấy trước mắt một vùng đen đe dọa, một ngõ tối nguy hiểm, mà chỉ có thể thoát ra để tồn tại bằng xử lý không gớm tay, không xót dạ, đau lòng sự sống của một “con người”,  là “người con” của họ.    

Thánh Giuse cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, khó xử trước sự sống con người như nhiều người, nhưng giải pháp được ngài chọn không là giải pháp dễ dàng nhưng tàn nhẫn, nhanh chóng nhưng dã man, gọn nhẹ nhưng nặng nề độc ác, không phiền lụy ai nhưng cực kỳ phi nhân : phá thai, hủy bỏ mầm sống, tiêu diệt sự sống. Trái lại, ngài đã bình tĩnh, khôn ngoan, khiêm tốn, nhẫn nại đợi chờ một giải pháp cho sự sống con người từ Thiên Chúa.

Để có thể bình tĩnh trước cú sốc cực mạnh : vợ có thai mà chưa một lần quan hệ, thánh Giuse đã phải là Người Công Chính khi tuyệt đối tin tưởng rằng Thiên Chúa mới thực là Chủ Tể của sự sống, là Sự Sống, Đấng thông ban sự sống cho muôn loài, như Lời Thiên Chúa : “Ta chính là Ta, bên cạnh Ta chẳng có thần nào khác, Ta cầm quyền sinh tử” (Đnl 32,3), “Này, mạng sống nào cũng thuộc về Ta ; mạng sống của cha, cũng như mạng sống của con đều thuộc về Ta” (Ed 18,4), vì “Thiên Chúa là Đấng tạo thành vũ trụ và muôn loài… Người ban cho mọi loài sự sống, hơi thở và mọi sự” (Cv 17,24.25).

Chính vì tin tưởng Thiên Chúa làm chủ mọi sự sống, và mọi sự sống nằm trong chương trình của Ngài, nên dù chưa biết bào thai trong bụng vợ mình đến từ đâu, do người nào, thánh Giuse vẫn có thể bình tĩnh mà không giận dữ, ghen tức, nổi khùng, chửi mắng, xua đuổi, bạo hành như nhiều “đấng mày râu” khác, khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn như ngài.

Để có thể khôn ngoan tìm giải pháp xứng hợp trước một chuyện “không hề dám nghĩ tới”, đó là vợ có thai không phải với mình, thánh Giuse đích thực là Người Công Chính, như ông Gióp, cũng là người công chính trong thử thách, gian khổ vẫn “luôn giữ vững đường lối của mình”, và tin rằng “kẻ tay sạch lòng thanh sẽ được thêm sức mạnh” (G 17,9), nên dù có phải chịu thiệt thòi, người công chính vẫn không đăt điều cáo gian, hồ đồ lên án, đoán già đoán non theo cảm xúc nhất thời, bất nhất, nhưng “chính trực ghét lời dối trá” (Cn 13,5), và sống đời “chứng nhân ngay thật để cứu sống bao mạng người” (Cn 14,25). Bởi thánh Giuse có thể tố cáo vợ mình là người lăng loàn, và xã hội sẽ đồng tình với ngài, vì ngài ở thế mạnh, “kèo trên” do Đức Mẹ có thai “trước khi hai ông bà về chung sống”, nhưng đức khôn ngoan của người công chính đã dậy thánh Giuse tìm gặp Thiên Chúa và thân thưa, đối thoại với Ngài để nhận được từ Ngài giải pháp tốt nhất và đẹp lòng Ngài hơn cả (x. G 23,7). 

Tin Mừng Mátthêu vắn tắt ghi lại : “sứ thần Chúa hiện đến báo mộng” cho thánh Giuse trong giấc ngủ, mà không ghi thêm chi tiết : thánh Giuse đã suy nghĩ, cầu nguyện rất nhiều để nhận ra thánh ý Thiên Chúa. Vì thế mà giấc ngủ của ngài  chập chờn do tha thiết cầu nguyện, do liên lỷ bầy tỏ tâm sự và thỉnh ý Thiên Chúa, bởi người công chính được tràn đầy ơn khôn ngoan để nhận ra từ Thiên Chúa điều Thiên Chúa muốn.   

Để có thể khiêm tốn, nhẫn nại trước biến cố nghịch lòng, khi yên lặng nuốt nước mắt vào bên trong, nén nỗi buồn tận đáy sâu tâm hồn, mà không hạch hỏi, tra khảo, hay nói xa nói gần với giọng khiêu khích, khinh bỉ Đức Mẹ, thánh Giuse thực sự phải là Người Công Chính, vì chỉ người công chính mới dũng cảm đặt giá trị sự sống con người lên trên tất cả, vì sự sống thuộc quyền Thiên Chúa, sự sống là quà tặng qúy giá của Thiên Chúa, và chuyện sinh tử không thuộc quyền con người ; đàng khác, chỉ người công chính mới hiền lành và chạnh lòng xót thương, mới dám hy sinh mình vì người khác, mới rộng lượng bao dung, tha thứ và nỗ lực xây dựng tình thân, kiến tạo hoà bình với mọi người  (x. Mt 5,4.7.9).

Thánh Giuse đã khiêm tốn chiu đựng mọi cay đắng, thiệt thòi của một người chồng, vì ngài nhìn thấy rõ Thiên Chúa có mặt nơi sự sống đang lớn lên trong lòng Đức Mẹ, nhận ra trách nhiệm của người công chính trước sự sống, như Ápraham, cũng là  người công chính đã tin tưởng Thiên Chúa, “Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có” (Rm 4,17).        

Thực vậy, với tinh thần và thái độ bình tĩnh, khôn ngoan, khiêm tốn, nhẫn nại của người công chính, thánh Giuse đã thực hiện hoàn hảo thánh ý Thiên Chúa, bằng “làm như sứ thần Chúa dậy và đón vợ về nhà” (Mt 1,24), và sự sống của Ngôi Lời đã được tôn trọng, gìn giữ, bảo vệ an toàn.

Tiếp đến là trình thuật thứ hai của thánh Mátthêu về việc Hêrôđê tìm truy diệt Hài Nhi Giêsu: Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng : “Này ông dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” (Mt 2,13).   

Lần này thì thánh Giuse không “nhẫn nại” suy nghĩ, tìm thánh ý, vì thánh ý đã được sứ thần báo rõ, nên ngài tức tốc hành động, mau chóng thực hiện cuộc vuợt biên : “đang đêm đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập” (Mt 2,14). Đây là thái độ qủa cảm, quyết tâm bằng mọi giá bảo vệ sư sống con người, khi thánh Giuse đã mau mắn, bất chấp mọi nguy hiểm, đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu đi trốn, vì yêu mến, tôn trọng, trân qúy sự sống của những người mình yêu thương và có trách nhiệm. Tấm lòng và thái độ ấy, người ta chỉ gặp được ở người công chính, vì kẻ bất chính thì coi nhẹ, khinh thường, không ngại làm tổn thương sự sống của chính mình và của người khác.

Sở dĩ kẻ bất chính coi nhẹ sự sống, vì tiên thiên chúng đã coi thường Thiên Chúa, là nguyên ủy của mọi sự sống, là Đấng ban cho tất cả sự sống và gìn giữ sự sống. Vì khinh mạn Đấng tạo nên sự sống, nên kẻ bất chính không ngại ngùng đe dọa sự sống, không gớm tay vi phạm quyền sống, không tự hổ thẹn tiêu diệt sự sống dưới mọi hình thức và phương tiện, như Hêrôđê đã nhẫn tâm “sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi han cặn kẽ các nhà chiêm tinh”, để nắm chắc trăm phần trăm đã khử được Hài Nhi Giêsu, “Vua Ítraen” hầu ngăn ngừa hậu họa bị truất phế, lật đổ.

Tóm lại, hai trình thuật của Tin Mừng Matthêu 1,18-25, và 2,13-18, mà trong đó thánh Giuse là nhân vật quan trọng đã giữ trách nhiệm giải quyết vấn đề, đối phó  tình thế đều có đối tượng là sự sống con người, sự sống của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, và trong cả hai tình huống, thánh Giuse đã luôn xử lý như một người công chính của Thiên Chúa, khi đặt sự sống lên trên lợi ích, cảm xúc cá nhân vì ý thức sự sống thuộc về một mình Thiên Chúa, sự sống là giá trị cao cả, hồng ân qúy giá được Thiên Chúa ban cho con người.

Với ý thức và lòng tôn trọng sự sống con người, thánh Giuse đã tìm ra giải pháp cho những hoàn cảnh khó khăn, đáp số cho những nan đề khó giải bằng đi tìm Thánh Ý Thiên Chúa qua tâm tình và thái độ bình tĩnh, khôn ngoan, khiêm tốn, nhẫn nại, và khi đã nhận ra Thánh Ý thì dứt khoát, mau mắn, quyết tâm và dũng cảm thực hiện, vì với thánh Giuse, người công chính, sự sống con người phải luôn được trân qúy, gìn giữ, bảo vệ bằng mọi giá, bởi đó là dấu ấn của Thiên Chúa hằng sống, biểu chứng của Tình Yêu tạo dựng, và là vinh quang của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài.

Noi gương thánh Giuse, Đấng yêu mến và bảo vệ sự sống, chúng ta tập sống mỗi ngày tinh thần và thái độ của người công chính để trong mọi hoàn cảnh, tình huống, dù khó khăn, bi đát, bế tắc đến đâu cũng không coi thường, chối bỏ sự sống con người, dù sự sống ấy còn bé nhỏ trong lòng mẹ, đồng thời dũng cảm hành động để không quyền lực bất chính, phi nhân nào làm tổn thương sự sống, vi phạm quyền sống của con người.

Ước gì gương bảo vệ sự sống của thánh Giuse, người công chính, mang lại cho chúng ta nghị lực để phấn đấu chống lại lối sống ích kỷ, thực dụng, hưởng thụ của thời đại để không một con người nào, dù còn là thai nhi bị cưỡng đoạt, cướp đi sự sống là hồng ân vô cùng qúy giá của Thiên Chúa hằng sống ban cho nhân loại.

Jorathe Nắng Tím      

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

MỘT VÀI CHIA SẺ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG TRA HỎI MA QỦY VỀ NHỮNG SỰ THẬT CỦA THIÊN CHÚA VÀ CON NGƯỜI HIỆN NAY

Ở Việt Nam hôm nay, hiện tượng bị qủy ám, và những màn trừ qủy, trong đó, “người trừ qủy” hỏi qủy điều này điều nọ, hoặc nhân danh Thiên Chúa bắt qủy trả lời những câu hỏi liên quan đến giáo lý đức tin, Giáo Hội và đời sống của những Đấng Bậc có trách nhiệm lớn trong Giáo Hội được phát tán rộng rãi trên mạng xã hội ngày càng nhiều, lôi kéo quần chúng hiếu kỳ, làm hoang mang, sợ hãi nhiều người, đem lại  hậu qủa nguy hại cho đức tin của người tín hữu.

Những điều được gọi là “sự thật” của qủy, do qủy nói ra qua miệng của người bị qủy nhập, mà một số người liều lĩnh qủa quyết  là “mạc khải mới” của Thiên Chúa, “Sách Sự Thật” hay “Sứ điệp từ trời” mà nội dung toàn là những luận điệu công kích giáo lý đức tin, phỉ báng  Đức Thánh Cha, hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ của những người say sưa khai thác “Sự Thật của ma qủy”, điển hình là youtube  mang tựa đề : Phần 18 : “TẤT CẢ NHỮNG NHÀ THỜ ĐANG HỢP NHẤT VỚI GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, ĐỀU THUỘC VỀ GIÁO HỘI CỦA SATAN” với  dòng chú thích : “Tướng qủy Luxiphe buộc phải làm chứng sự thật”, và cảnh tra hỏi chị Phạm Thị Hằng, người bị qủy nhập từ nhiều năm ở Bùi Chu đang làm xôn xao dư luận, gây nhiều tranh cãi, và làm nhiều người tín hữu rơi vào tình trạng hoang mang, nghi ngờ tính khả tín của những sự thật đức tin được  Giáo Hội giảng dậy, giáo huấn.   

Theo những người “tin vào sự thật từ miệng ma qủy” này, thì đây mới là những “sự thật” mà ma qủy thừa lệnh Thiên Chúa nói với loài người, bởi đã đến thời cuối, thời mà các ngôn sứ giả mọc lên như nấm ngay giữa lòng, và ở tận chóp bu phẩm trật của Giáo Hội ; thời đại dầy đặc những “phản Kitô”, điển hình là Đức Giáo Hoàng đương vị Phanxicô, nên sự thật của Thiên Chúa không còn được gìn giữ nguyên vẹn, nhưng bị bóp méo, làm sai lạc bởi chính những người có trách nhiệm lớn trong Giáo Hội.

Với họ, đã đến thời của qủy vương, nên không còn sự thật trong Giáo Hội công giáo, vì những chứng nhân sự thật, những đấng bậc trong Giáo Hội được ký thác sự thật đã thoái hóa, hư hỏng đến mức nguy hiểm cho công cuộc cứu thế của Đức Giêsu. Vì thế, Thiên Chúa có chương trình quét sạch đám ngôn sứ giả, phản Kitô đang lũng đọan Giáo Hội, bằng truất phế họ, và dùng ma qủy để cảnh báo loài người, cho phép Luxiphe nói thay Giáo Hội những sự thật của Thiên Chúa, bởi trong Giáo Hội của Ngài không còn những ngôn sứ dám nói lên và dám chết cho sự thật.

Thực tế, đó là những “sự thật” chống lại sự thật của Giáo Hội, những “sự thật” đặt lại tính khả tín của những sự thật mà Đức Giêsu đã mạc khải cho Giáo Hội và Giáo Hội vẫn  bảo toàn nguyên vẹn dòng dã hai mươi mốt thế kỷ.

Họ dựa vào những lời của người bị qủy ám để lên án Giáo Hội đã xúc phạm bí tích Thánh Thể khi cho phép rước lễ bằng tay, xỉ nhục Đức Mẹ khi Giáo Hoàng từ chối công bố tín điều Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, đồng loã với Satan khi biến thánh lễ thành lễ hội. Tắt một lời, họ tìm đủ mọi cách thế, cơ hội để tấn công Giáo Hội, mà cách thế hữu hiệu nhất theo họ chính là loan báo những “sự thật mới” về Thiên Chúa, về Giáo Hội, về con người do chính ma qủy nói ra, và đó chính là mối ưu tư mà người viết xin được chia sẻ với qúy Bạn :

1.   Ma qủy có sự thật không?

Vì ma qủy đang được một số người, trong đó có cả Kitô hữu gán cho vinh dự nói nhiều sự thật, vinh dự mà chính chúng cũng chẳng bao giờ ngờ có ngày nhận được, nên chúng ta cần đặt câu hỏi : Ma qủy có sự thật không?

Kinh Thánh khẳng định bản chất của ma qủy là Gian Dối, và Rắn là hình ảnh của Xatan “là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra” (St 3,1). Vì bản chất là Gian Dối, nên sự thật không có ở chúng, cũng như “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8) nên ở Ngài không có hận thù ; là Sự Thật, ở Ngài không có lầm lạc, dối trá ; là Sự Sống nên sự chết không có mặt nơi Ngài (x. Ga 14,6).

Là Gian Dối vì bản chất Gian Dối, ma qủy có những hoạt động gian dối theo bản chất gian dối của chúng : gian dối nên là đứa tố cáo mọi người (x. Dcr 3,1), là  “kẻ tố cáo” ngày đêm tố cáo loài người trước tòa Thiên Chúa  (x. Kh 12,10), như đã tố cáo Gióp với Thiên Chúa rằng : “Ngài cứ thử giơ tay đánh vào xương vào thịt nó xem, chắc chắn là nó sẽ nguyền rủa Ngài thẳng mặt” (G 2,5), mặc dù ông là đầy tớ trung tín và kiên vững của Ngài, “một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác” (G 2,3) ; là Gian Dối, Xatan chuyên phỉnh gạt con người, như đã  phỉnh gạt Evà : “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,4-5), điều mà thánh Phaolô đã cảnh báo tín hữu Côrinthô : đừng để “bị Xatan phỉnh gạt, vì chúng ta không lạ gì ý đồ của nó” (2 Cr 2,11), bởi “Lạ gì đâu! Vì chính Xatan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính” (2 Cr 11,14), cũng như kẻ gian dối đội lốt người trung thực nói sự thật, như ma qủy và những người  theo chúng vẫn làm.

Và một cách dứt khóat, không khoan nhượng, Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa đã khẳng định, như Ngài đã trả lời những người Do Thái năm xưa : Ma qủy, “ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối. Còn tôi, chính vì tôi nói sư thật, nên các ông không tin tôi” (Ga 8,44-45).  

Như thế, ma qủy không có sự thật, vì bản tính của chúng là Gian dối, cha đẻ của gian dối, nên gán bất cứ sự thật nào cho ma qủy là chúng ta đang làm một việc rất ngớ ngẩn, lố bịch, và hoàn toàn vô lý.

2.   Thiên Chúa có cần đến ma qủy để nói với chúng ta những sự thật về Ngài và về con người không?

Có người tuy công nhận ma qủy là tên Gian Dối, Xảo Quyệt, Lừa Đảo, Phỉnh Gạt, nhưng lại nhận chúng được Thiên Chúa dùng để nói với con người sự thật Thiên Chúa muốn nói. Đó là hiện tượng chúng ta đang thấy hiện nay, khi người ta thi nhau hỏi qủy về Thiên Chúa, hỏi qủy về những sự thật người ta muốn biết về Giáo Hội của Đức Giêsu, hỏi qủy để biết ngày nào sẽ là ngày tận thế, hỏi qủy để biết người thân vừa qua đời được lên thiêng đàng hay xuống hoả ngục, hỏi qủy để biết trúng mánh làm ăn hay thua lỗ, khánh kiệt, hỏi qủy để biết những sự thật cá nhân của người này người nọ; lại có người hỏi qủy về tính khả tín, xác thực của các tín điều đức tin. Họ làm như ma qủy biết hết mọi sự và là kẻ giữ kho tàng chân lý của Thiên Chúa và loài người, ngôn sứ, phát ngôn viên được Thiên Chúa xử dụng, mà để biết những sự thật đó, họ chỉ cần làm vài động tác, dùng vài công thức tra hỏi là lập tức toại nguyện.

Qủa thực, khi cho rằng Thiên Chúa dùng ma qủy để nói với con người về những sự thật Ngài muốn là xúc phạm đến chính Đức Giêsu, vì Ngài là Ngôi Lời của Thiên Chúa, là Lời của Chúa Cha nói với nhân loại,  Đấng được Chúa Cha sai đến trong thế gian, ở giữa loài người để nói cho mọi người sự thật thuộc về Thiên Chúa, và sự thật của con người, và Ngài không chỉ nói với con người “những gì Chúa Cha truyền cho Ngài nói”, “nói đúng như Chúa Cha đã nói với Ngài” (x. Ga 12,49-50), nhưng hơn thế nữa, chính Ngài là “Đường, Sự Thật và Sự Sống”, Đường dẫn về Thiên Chúa, Sự Thật, Sự Sống của Thiên Chúa, và sứ vụ của Ngài là làm chứng Sự Thật của Thiên Chúa, như Ngài đã tuyên bố trước mặt quan Philatô : “Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phiá sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Vì thế, ngoài Đức Giêsu, không có sự thật của Thiên Chúa, cũng không có sự thật của con người, vì Ngài là Thiên Chúa làm người, Ngôi Lời của Thiên Chúa cắm lều cư ngụ giữa nhân loại. Cũng chính vì là Sự Thật của Thiên Chúa ở giữa con người, nên chỉ một mình Ngài là sự thật, nắm giữ sự thật, nói sự thật, mạc khải sự thật, mà không cần đến ma qủy, như nhiều người lầm tưởng.

Bằng chứng là trong Tin Mừng, khi Đức Giêsu trừ qủy, đuổi qủy ra khỏi những người bị chúng ám nhập, thì chúng chỉ dám kêu lên “Hỡi con Thiên Chúa!” (Mt 8,29), “Lậy ông Giêsu, con Thiên Chúa Tối Cao” (Mc 5,7), hoặc “Đấng Thánh của Thiên Chúa!” (Mc 1,24), rồi than thở, nài xin Ngài  đại loại như: “Chuyện chúng tôi can dự gì đến ông ? Chưa đến lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?” (Mt 8,29), “Tôi van ông đừng hành hạ tôi!” (Mc 5,7), “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia” (Mt 8,31), mà qủy không nói bất cứ sự thật nào thuộc về Thiên Chúa, bởi một lý do rất đơn giản : chúng không có sự thật, vì bản chất là gian dối, xảo quyệt, điêu ngoa.

Cũng có lần Đức Giêsu hỏi tên qủy như Tin Mừng Máccô kể : Người hỏi tên nó : “Tên ngươi là gì?” Nó thưa : “Tên tôi là đạo binh, vì chúng tôi đông lắm” (Mc 5,9), nhưng tuyệt nhiên không bao giờ hỏi chúng về điều gì khác, trái lại, Ngài nghiêm khắc truyền cho chúng “Câm đi!”, khi bắt chúng lập tức ra khỏi người chúng đã nhập vào (Mc 1,25-26).

Như thế, Đức Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ chọn lựa dứt khoát của Ngài là không liên đới, không tương quan với ma qủy, bằng ra lệnh cho chúng chứ không đối thoại với chúng, bằng bắt chúng quy phục khi trưng dẫn Lời Thiên Chúa, chứ không trao đổi, giao lưu, thương thảo  với chúng. Tin Mừng Luca  với tường thuật những ngày Đức Giêsu vào hoang địa và ở đó Ngài bị ma qủy cám dỗ đã làm nổi bật thái độ cứng rắn của Đức Giêsu đối với Xatan. Cứng rắn khi mỗi lần  qủy cám dỗ, thách thức Ngài, thì Ngài lập tức cắt đứt đối thoại, bằng “đốp chát”, khóa miệng nó lại bằng Lời của Thiên Chúa được trích từ Kinh Thánh (x. Lc 4,1-12), chứ không như Evà dã dại dột để Xatan dụ dỗ vào “câu chuyện đường mật”, để rồi hoàn toàn làm theo đề nghị của nó lúc nào không hay, bởi điều ma qủy tìm thực hiện cho bằng được là đẩy đưa con người vào đối thoại với chúng, vì chúng biết rất rõ bất cứ ai ngây thơ trò chuyện với chúng đều sẽ rơi vào tay chúng, sẽ sập bẫy chúng, sẽ bị chúng bủa vây, và biến thành cánh tay nối dài của chúng,  phản nghịch Thiên Chúa và phá họai công trnìh cứu chuộc của Ngài.           

Thực vậy, nếu Đức Giêsu trong Tin Mừng đã cứng rắn không trao đổi, hỏi han, trò chuyện với ma qủy, thì cớ sao chúng ta, những người Kitô hữu đã tuyên xưng từ bỏ ma qủy và những việc chúng làm khi chịu phép Rửa Tội lại giao du, quan hệ thân thiết với ma qủy khi tín nhiệm hỏi han, tham khảo, tham vấn, tìm kiếm, trông ngóng sự thật từ cửa miệng đường mật, gian dối, xảo quyệt, phỉnh gạt, lừa đảo, nhất là “quyết sinh quyết tử” chống lại Thiên Chúa là Sự Thật vĩnh cửu của chúng?

Chúng ta cũng đừng quên có lần Đức Giêsu đã nặng lời với tông đồ Phêrô : “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 17,23), khi Phêrô tỏ ra lo lắng cho Đức Giêsu về cuộc khổ nạn và “xin Thiên Chúa đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 17,22). Qủa thực, mới chỉ “can ngăn vì thương và lo cho Thầy” thôi, mà Phêrô đã bị Đức Giêsu đuổi xa khỏi mặt Ngài, huống hồ “đi lại, làm thân” với ma qủy khi nghe và tin lời chúng nói, thì hỏi Đức Giêsu sẽ nặng lời với chúng ta đến mức nào?   

Không chỉ xúc phạm  Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa, người tin là sự thật  những lời ma qủy nói còn phạm đến Chúa Thánh Thần, là “Thần Khí sự thật” (Ga 14,17), Đấng được Chúa Cha sai đến để hướng dẫn, bảo trợ Giáo Hội trong sứ vụ gìn giữ vẹn toàn kho tàng Sự Thật của Đức Giêsu, như chính Đức Giêsu đã nói với Nhóm Mười Hai  : “Lời của anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy. Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dậy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói vói anh em” (Ga 14,24-26). Như thế, những sự thật của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã mặc khải luôn được  bảo tồn, gìn giữ trong Giáo Hội, vì Giáo Hội có Chúa Thánh Thần hướng dẫn, phù trợ cho đến ngày Đức Giêsu trở lại trong vinh quang.     

Sau cùng, Tin Mừng cho chúng ta thấy ma qủy còn là kẻ phá họai sự thật, khi lấy đi Lời  sự thật của Thiên Chúa được gieo trong tâm hồn nhiều người (x. Mc 4,15), là kẻ thù chống lại sự thật khi “mọi người đang ngủ thì lén gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa” (x.Mt 13,24-30), bởi ma qủy chính là kẻ thù không đội trời chung của Sự Thật là Thiên Chúa, nên chúng quyết tiêu diệt cho bằng được sự thật và tìm mọi cách hãm hại các chứng nhân sự thật, vì chúng là cha đẻ của Gian Dối, kẻ bóp méo, tráo đổi, lấp liếm sự thật, nhưng cũng là đứa sợ hãi, xa lánh, trốn tránh sự thật.   

Vì những lý do đã được cặn kẽ trình bầy trong Tin Mừng trên, chúng ta khẳng định mà không do dự : Thiên Chúa không cần đến ma qủy là cha đẻ của Gian Dối để nói với con người những sự thật thuộc về Thiên Chúa và của con người, đồng thời long trọng tuyên xưng : Đức Giêsu chính là Sự Thật đời đời của Thiên Chúa, và mọi chân lý thuộc về Thiên Chúa và con người đã được chính Ngài mạc khải cho nhân loại, và được Chúa Thánh Thần tiếp tục nhắc lại cho Giáo Hội là tập thể  có phẩm trật gồm những người tin vào Đức Giêsu.  

3.   Tại sao ma qủy tìm mọi cách tiêu diệt sự thật bằng tấn công Giáo Hội?

Như chúng ta biết, ma qủy là dối trá, nên bất cứ sự gì phát xuất từ chúng đều là dối trá. Vì là dối trá, ma qủy tự thân là đối thủ của sự thật, và hoạt động của chúng là gieo rắc gian dối, hồ đồ, làm ly tan, chia rẽ mọi người, đưa đến bạo lực, chết chóc, và đối tượng lợi hại nhất mà chúng cần triệt hạ bằng những độc chiêu gian dối, chính là Giáo Hội  đã được Đức Giêsu thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ.

Độc chiêu ma qủy triệt để khai thác là tấn công sự thật bằng chia rẽ Đức Giêsu khỏi Giáo Hội của Ngài, triệt phá kho tàng chân lý đức tin bằng chặt đứt Đức Giêsu là Đầu rời khỏi Giáo Hội của Ngài là thân, bởi Đức Giêsu đã yêu thương, tín nhiệm Giáo Hội là Hiền Thê của Ngài, khi trao cho Giáo Hội sứ mạng gìn giữ trọn vẹn kho tàng chân lý đức tin, bảo toàn tất cả sự thật đã được Ngài mạc khải cho nhân loại, với quyền cai quản, giáo huấn, thánh hoá.

Đứng trước Giáo Hội là  thành trì chân lý đức tin được Đức Giêsu bảo vệ, ma qủy thừa hiểu rằng bao lâu Giáo Hội và Đức Giêsu còn hiệp nhất, bao lâu Giáo Hội và Đức Giêsu còn như thân gắn liền với đầu, bao lâu người tín hữu còn gắn bó, hiệp thông với Đức Giêsu trong Giáo Hội của Ngài như cành nho hiệp thông, hiệp nhất với cây nho (x. Ga 15,1-8), thì bấy lâu chúng hoàn toàn bó tay không thể phá vỡ được kho báu chân lý đức tin, không thể đập phá kho tàng sự thật được Thiên Chúa mạc khải, và không “có cửa” lẻn vào gieo cỏ lùng gian dối giữa ruộng lúa sự thật của Thiên Chúa.

Cũng vì biết rõ Giáo Hội và Đức Giêsu là một, và bất khả phân ly, mà Xatan lồng lộn, điên cuồng vận dụng mọi lực lượng để triệt hạ, chống phá. Chúng chống phá Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô, Đấng là Sự Thật bằng chia rẽ các tín hữu khi gieo hoang mang, nghi nan, ngờ vực về giáo lý đức tin ; xúi giục giáo dân phê bình, hạch hỏi, bắt bẻ với ác ý giáo huấn của Giáo Hội ; phô bầy, xuyên tạc những thiếu sót, khuyết điểm của các đấng bậc có trách nhiệm trong Giáo Hội để hạ uy tín, làm mất danh dự, và từ đó đi đến những kết luận hồ đồ về tính khả tín của chân lý đức tin được các vị rao giảng, và làm cho nhiều người coi thường, chối bỏ quyền giáo huấn của các vị đã được Đức Giêsu tín nhiệm trao phó.

Vì thế, ma qủy vận dụng mọi khả năng và tận dụng mọi “mưu thâm chước độc” tấn công Giáo Hội, để không ai còn tin vào sứ mệnh gìn giữ vẹn toàn kho tàng chân lý đức tin của Giáo Hội ; làm mọi cách để không ai tin Giáo Hội nắm giữ sự thật của Thiên Chúa ; làm đủ kiểu để mọi người đi tìm sự thật của Thiên Chúa và con người ở nơi khác, mà không tìm ở Giáo Hội ; dùng mọi chiêu trò để người ta đi từ nghi ngờ tính trung thực đến lên án những thủ đoạn lừa đảo của những người có trách nhiệm trong Giáo Hội, bởi ma qủy biết chỉ khi nào thực hiện được những công việc đen tối, mờ ám này, chúng  mới hy vọng đánh gục  tập thể những người tin vào Đức Giêsu.

Tắt một lời, vì Đức Giêsu chỉ giao cho Giáo Hội được xây trên tảng đá tông đồ Phêrô quyền gìn giữ vẹn toàn sự thật Ngài mạc khải, nên ma qủy phải đánh phá Giáo Hội, hầu tiêu diệt sự thật, hạ gục nhân chứng sư thật, để thực hiện ý đồ biến thế giới  loài người thành vương quốc của Gian Dối, thành hoả ngục, biến lòng người thành “lòng lang dạ thú” chất đầy dối trá, xảo quyệt, ganh ghét, bạo lực. 

Vâng, là người Kitô hữu, là chi thể của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, nơi Đức Kitô ký thác kho tàng chân lý mạc khải của Ngài, chúng ta không thể tự cho phép mình tìm kiếm và đón nhận “những cái gọi là sự thật từ ma qủy”, bởi ma qủy tự bản chất là Gian Dối, Điêu Ngoa, Xảo Trá, nên chúng không nói được sự thật, vì không là sự thật, không có sự thật. Đàng khác, sự thật là kẻ thù của chúng sẽ tiêu diệt chúng, xoá tên chúng, nếu sự thật đến nơi chúng ở, có mặt nơi chúng sống, như ánh sáng không sống chung ở cùng, nhưng đẩy lui bóng tối, vì  Sự Thật là Thiên Chúa.

Do đó, nếu từ miệng ma qủy, có những điều thoạt nghe tưởng như sự thật, “nghe như đúng rồi”, thì đó chỉ là những vỏ bọc sự thật có dáng vẻ tốt đẹp, chân thực, nhưng bên trong, bản chất chỉ là phỉnh lừa, dối trá, lừa đảo, ngụy tạo nhằm chia rẽ, đố kỵ, gây thù oán, hận thù, tang thương, chết chóc, nên việc đầu tiên người Kitô hữu chúng ta phải làm là không gian díu, giao du, đi lại, hỏi han, tin theo ma qủy, dù lời chúng nói, việc chúng làm nhiều lúc còn hay hơn sự thật, đẹp hơn công trình của Thiên Chúa, và đem lại “thiện ích” cho con người vượt xa lòng mong đợi, bởi ma qủy là loài thụ tạo thần thiêng, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, nên làm được vô số “điềm thiêng, dấu lạ” hớp hồn, làm mê mệt những ai nhẹ dạ tin theo chúng. Tiếp đến là hoàn toàn tin tưởng ở Giáo Hội và vâng phục huấn quyền, vì Đức Giêsu đã không lập nhiều giáo hội trên nhiều tảng đá, nhưng chỉ lập duy nhất một Giáo Hội trên một tảng đá tông đồ Phêrô và hứa bảo vệ, gìn giữ Giáo Hội này : “Anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực hoả ngục sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Và để đảm bảo thành công tuyệt đối, và có được tâm hồn bình an trong Chúa, chúng ta hãy : “chống lại ma qủy và đến gần Thiên Chúa” như lời khuyên qúy báu của thánh Giacôbê Tông Đồ : Hãy chống lại ma qủy, chúng sẽ chạy xa anh em. Hãy đến gần Thiên Chúa, Người sẽ đến gần anh em (Gc 4,7).

Cám ơn qúy Bạn đã kiên nhẫn đọc hoặc lắng nghe những chia sẻ phát xuất từ tấm lòng của người anh em cùng một Cha trên trời, thuộc về cùng một gia đình Giáo Hội, mà mục đích là đồng hành yêu thương, đồng hành nâng đỡ, đồng hành củng cố đức tin của nhau trên hành trình đi theo Đức Kitô, Đấng là “Đường, Sự Thật, Sự Sống”, Tình Yêu, Lẽ Sống, Phần Thưởng và Gia Nghiệp đời đời của tất cả chúng ta.

Jorathe Nắng Tím.          


Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2, Thường Niên, Năm B



Khởi đầu Mùa Thường Niên, các bài đọc phụng vụ xoay quanh chủ đề “Đức Giêsu kêu gọi những cộng sự viên đầu tiên”, là các Tông Đồ tương lai của Ngài.

Như những người đứng đầu các tổ chức, đoàn thể cần có bên mình những cộng sự viên thân tín, trung thành và đắc lực để khởi động chương trình, thực hiện đường hướng, khai triển chủ trương, tiến hành kế hoạch, Đức Giêsu cũng cần và đã tìm cho mình một nhóm cộng sự viên để cùng Ngài loan báo Nước Thiên Chúa, rao giảng Tin Mừng cứu độ, như sứ vụ được Chúa Cha trao phó.

Theo Tin Mừng Gioan của chúa nhật này thì Đức Giêsu đã không trực tiếp gọi  hai anh em ngư phủ có tên Anrê và Simon và hai anh em ruột khác là Giacôbê và Gioan cũng làm nghề đánh cá, khi “Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê” (Mc 1,16), nhưng Gioan Tiền Hô đã giới thiệu Đức Giêsu cho hai anh em Anrê và Simon vốn là môn đệ của ông, khi ông đang đứng với họ, và “thấy Đức Giêsu đi ngang qua” (Ga 1,35-36).  

Điều rất ấn tượng ở đây là thọat nghe Gioan giới thiệu “Đây là Chiên Thiên Chúa”, hai ông Anrê và Simon đã không do dự, ngần ngại, nhưng “liền đi theo Đức Giêsu” (Ga 1,37). Và khi Đức Giêsu quay lại thấy hai ông lẽo đẽo đi theo mình, thì hỏi : “Các anh tìm gì thế?” Họ đáp : “Thưa Rápbi (nghiã là thưa Thầy), Thầy ở đâu? ”. Người bảo họ : “Đến mà xem!. Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” (Ga 1,38-39).

Qủa thực, thánh sử Gioan vừa kể cho chúng ta nghe câu chuyện  gặp gỡ của một tình yêu thuộc dạng “sấm sét” giữa Đức Giêsu và hai anh em ông Anrê, Simon, và tình yêu sấm sét ấy đã  không khác những “tiếng sét ái tình” thi thoảng xẩy ra trong đời thường làm hai người nam nữ chỉ mới thoạt nhìn, thoáng gặp đã “say nắng, phải lòng”, yêu nhau đắm đuối cuồng nhiệt.  

Là tình yêu sấm sét, bởi chỉ thoáng thấy Đức Giêsu đi ngang qua, hai ông Anrê, Simon đã náo nức, nôn nao muốn đi theo Ngài ngay, như lời đề nghị của Gioan Tiền Hô, và không chờ thầy mình dứt lời giới thiệu về Đức Giêsu, hai ông đã khấp khởi nhanh chóng rời bỏ Gioan đi theo Đức Giêsu, dù Ngài chưa biểu lộ đồng tình, đồng ý. Bằng chứng là khi “quay lại, Đức Giêsu mới thấy các ông đi theo mình” (Ga 1,38), và hỏi : “Các anh tìm gì thế?”

Là tiếng sét ái tình, hai ông đã không trả lời câu hỏi của Đức Giêsu, nhưng đáp lại bằng đặt cho Ngài một câu hỏi  khác chỉ dành cho người đã yêu, đang yêu : “Thầy ở đâu? ”, bởi các ông đâu cần tìm gì hay tìm ai nữa, vì đã được gặp Đức Giêsu, đối tượng lý tưởng của tình yêu, Đấng chỉ trong một giây ngắn ngủi đã chiếm trọn trái tim và cuộc đời các ông.

Không trả lời thẳng câu hỏi của Đức Giêsu là cách tỏ tình trực tiếp, tế nhị, và sâu sắc của hai ông với Ngài, bởi chỉ những người yêu nhau da diết, nồng nàn mới hỏi thăm, tìm đến “nơi ăn chốn ở” của nhau, vì nhớ nhau, và để được ở với nhau, chung nhau một đời sống. Và tình yêu sấm sét ấy đã được Đức Giêsu ân tình, qủang đại và cởi mở đáp lại khi trìu mến bảo hai ông : “Đến mà xem!”.

Như hai anh em Anrê và Simon là những tông đồ đầu tiên được tình yêu Đức Giêsu chiếm hữu và thúc đẩy ngay phút đầu gặp gỡ, chúng ta cũng sẽ được Đức Giêsu quay lại nhìn và hỏi han, mời gọi, nếu chúng ta thành tâm và kiên nhẫn đi tìm Ngài, vì Ngài không bỏ quên, từ chối ai, cũng không dửng dưng lạnh lùng trước bất cứ người nào ngỏ lời yêu mến và muốn đi theo Ngài.

Như hai anh em Anrê, Simon đã gặp được Đức Giêsu, Lẽ Sống và Gia Nghiệp đời mình, vì nghe lời Gioan Tiền Hô, chúng ta cũng cần những người khôn ngoan hướng dẫn, dìu dắt, giới thiệu, bởi Thiên Chúa cần con người để cứu độ con người, và muốn mọi người biết đồng hành với nhau trên hành trình đi tìm Ngài.

Và như Gioan Tiền Hô đã không giữ cho mình hai môn đệ Anrê, Simon, nhưng vui vẻ giới thiệu Đức Giêsu cho các môn đệ của mình, và sẵn lòng để họ bỏ mình đi theo Ngài, đúng vai trò Tiền Hô, và sứ vụ “dọn đường, chuẩn bị cho Thiên Chúa đến”, với ý thức và tâm nguyện : “Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1,30), “tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,27), và như thế, “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,30), chúng ta cũng cần biết từ bỏ mình, quên mình, xóa mình cho vinh danh Chúa.

Xin Chúa cho chúng ta tình yêu nồng nàn như tình yêu “sấm sét” của hai tông đồ Anrê, Simon, và lòng khiêm tốn sâu thẳm của Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế, bởi chỉ với tình yêu cháy bỏng, quyết liệt và trái tim khiêm nhường, chúng ta mới được Chúa biến đổi để  trở thành những cộng sự viên trung tín, và đắc lực của Đức Giêsu trên cánh đồng truyền giáo.  

Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

HẠNH PHÚC VỚI AI ?

Làm người ai cũng mơ ước hạnh phúc, và cuộc đời mỗi người là hành trình đi tìm hạnh phúc, bởi con người được sinh ra để hạnh phúc, mặc dù cuộc đời không luôn đẹp như mơ, và đời người không mấy ai tránh khỏi ba chìm, bảy nổi, chín long đong.

Chính vì không ngừng khao khát hạnh phúc và miệt mài đi tìm hạnh phúc, nên ai cũng cảm nhận thế nào là hạnh phúc, mà không cần định nghiã dài dòng, không cần biện phân rành rọt, cũng chẳng cần chú giải thuyết minh nhiều giờ về hạnh phúc, cũng như bất cứ người nào : trẻ hay già, giầu hay nghèo, bình dân học vụ hay khoa bảng trí thức, da trắng hay da mầu, có đạo hay vô thần…, tất cả đều biết  hạnh phúc là giá trị lớn lao, kho tàng qúy báu, và lý tưởng tuyệt vời của đời làm người.

Tuy tất cả đều cảm nhận, và ý thức về hạnh phúc, nhưng không phải ai cũng tìm kiếm hạnh phúc giống ai, người nào cũng xây dưng hạnh phúc với cùng một cách thức, đi tìm hạnh phúc trên cùng một con đường, bởi có người chọn chuyện ăn uống là hạnh phúc ; có người cho quyền hành, vinh quang, danh vọng là hạnh phúc ; lại có người lấy tiền bạc, của cải là hạnh phúc lớn hơn mọi hạnh phúc khác. Cách chung, người ta ước mơ đối tượng vật chất là hạnh phúc phải đạt, và nghĩ rằng khi đạt được đối tượng vật chất ấy, người ta sẽ không còn thêm được gì vào hạnh phúc vốn đã mơ ước và thường tự mãn cho rằng đích thị đây là hạnh phúc viên mãn, tròn đầy và trường tồn mà bấy lâu đã dầy công, vất vả đi tìm.

Nhưng thực tế cho thấy các đối tượng vật chất khi đạt đuợc đã không luôn là hạnh phúc, vì nhiều người rất giầu nhưng bất hạnh, rất quyền lực nhưng vô phúc, có mọi sự nhưng tuyệt vọng, và bằng chứng là không ít người giầu kếch sù, danh vọng, quyền lực, ảnh hưởng phủ kín cuộc đời, thế mà vẫn chán đời, chán sống, tự đi tìm cái chết để chấm dứt đời làm người được coi như không hạnh phúc.

Sở dĩ có tình trạng bất hạnh dù đạt được đối tượng vật chất đó là vì hạnh phúc  đích thực không hệ tại ở tình trạng sở hữu những đối tượng vật chất, như nhiều người lầm tưởng ; hạnh phúc không nhất thiết được thành hình do nhiều quyền lắm của, hay do thế lực đầy mình, vinh quang tỏa sáng, nhưng hạnh phúc được thai nghén, lớn lên, sinh sôi nẩy nở và tồn tại vĩnh cửu do ý thức và ý muốn chia sẻ hạnh phúc với người chung quanh.

Nói cách khác, hạnh phúc không còn là có gì, chiếm hữu được gì, nhưng là hạnh phúc với ai, hạnh phúc với người nào, như hạnh phúc của một bữa ăn không do thịt ngon, canh ngọt cho bằng ta vui vì được cùng mâm, đồng bàn với người ta thương, thương ta ; hạnh phúc của một chuyến đi chơi xa không do khách sạn sang trọng, phong cảnh hữu tình cho bằng sự có mặt của người đồng hành làm ta vui vẻ, sảng khoái, bình an.

Vì thế, tuy không phủ nhận sự đóng góp của yếu tố vật chất vào hạnh phúc, nhưng điều quan trọng, yếu tố quyết định  để có hạnh phúc tròn đầy và bền lâu chính là người mà ta chia sẻ hạnh phúc với, cũng là người chia sẻ hạnh phúc với ta. Điển hình là khi được ở với người ta muốn chia sẻ niềm vui, sinh hoạt bên người ta muốn đem lại hoan lạc, thì cả ta và người ấy đều chung hưởng niềm hạnh phúc ; hay đi với người ta thương và thương ta, niềm vui sẽ nhân đôi, và hạnh phúc tăng lên gấp bội, vì căn tính của hạnh phúc không là sở hữu thật nhiều, nhưng là chia sẻ thương yêu. Bởi thế, khi yêu thương được chia sẻ, chính là lúc hạnh phúc nẩy mầm, lớn lên.

Qủa thế, tình yêu mới đem lại hạnh phúc thật, vì sống không tình yêu,  sinh hoạt không vì và với những người mình yêu, chúng ta không bao giờ tìm gặp hạnh phúc như lòng mong ước, như khát vọng  nóng bỏng tiềm tàng tận đáy sâu tâm hồn mỗi người.

Nhưng không luôn dễ được ở với người mình yêu và yêu mình, được sinh hoạt bên cạnh người mình hiểu và hiểu mình, được sống với người mình muốn chia sẻ hạnh phúc và họ cũng ước mong chia sẻ hạnh phúc với mình, bởi bất cứ ai cũng bị cản trở bởi hàng rào ích kỷ, chỉ muốn mình hạnh phúc, mà không muốn chia sẻ hạnh phúc với người, chỉ vun vén hạnh phúc cho mình, mà bỏ quên hạnh phúc của người ; mỗi người còn bị bao vây, giam hãm bởi bức tường cái tôi, nên hạnh phúc vẫn mãi là kho tàng qúy giá và hiếm hoi trong cuộc sống ; hạnh phúc vẫn còn là lý tưởng mà từng ngày trong cuộc đời phải cố gắng vượt qua vô số chướng ngại để vươn tới ; là thách đố không bao giờ được tự hào đã đủ, đã đạt đích, bởi hạnh phúc là đường dài của đời người, mà trên đó, từng giây phút bất cứ ai cũng bị đặt trước thử thách rất cam go, và gay cấn, đó là bỏ con người để chọn vật chất, từ chối chia sẻ hạnh phúc với con người, để một mình ích kỷ hưởng thụ, phủ nhận căn tính hạnh phúc là yêu thương, chia sẻ hạnh phúc với người khác, để tự phê chuẩn quyền chiếm hữu và ích kỷ một mình hưởng thụ hạnh phúc.

Ước gì ngay từ bây giờ, chúng ta tập sống hạnh phúc bằng ý thức rằng không ai có thể đơn độc hạnh phúc, nhưng hạnh phúc là hạnh phúc với ai, vì căn tính của hạnh phúc là tình yêu luôn đòi được chia sẻ.

Jorathe Nắng Tím