Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2018

KẺ TỐ CÁO (Chương IV)


Chương IV : TIN  ĐỒN,  MÔT  HÌNH THÁI CỦA XÉT ĐOÁN
    
   Tin đồn hay tiếng đồn xuất phát từ chữ Rumor, tiếng latinh, có nghiã là tiếng động rân ran, chạy khắp xa gần.Trước thế kỷ 18, người Âu châu không quan tâm đến tính khả tín của tin đồn, vì cho rằng nội dung tin đồn thường thay đổi: một tin đồn thực có thể biến thành tin đồn giả và ngược lại. Nhưng về sau, mãnh lực lan rộng và công phá của tin đồn ngày càng khủng khiếp, nhờ sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật truyền thông.Và tin đồn hầu như đã nắm giữ vai trò đáng kể hướng dẫn dư luận và thông tin đại chúng.

    Qủa thực, không mấy người trong chúng ta đã không có kinh nghiệm về tin đồn. Có những tin đồn nghe rất thích thú vì có lợi, nhưng cũng có những tin đồn nghe mà luống cuống, sợ hãi, thất kinh vì ảnh hưởng xấu đến thanh danh, gia đình, sự nghiệp. Tin đồn không có hộ khẩu, vì không ai biết tin đồn xuất phát từ đâu. Tin đồn  không có căn cước, lý lịch, vì không ai công khai  nhận mình là tác giả đã khai sinh ra tin đồn. Nhờ tính nặc danh, vô thừa nhận, vô gia cư, mà tin đồn dễ dàng lan tỏa, nhanh chóng lây nhiễm, phong phú chi tiết, công phá dữ dội. Nhờ tính "không pháp nhân", tin đồn được triệt để xử dụng để tung hỏa mù, thăm dò, xuyên tạc, đe dọa, tạo rối rắm, hoang mang, trấn áp tinh thần đối phương. Nhờ tính vô trách nhiệm, tin đồn tha hồ chống phá, thoải mái  xâm phạm, tự do làm tổn thương ngườI khác, mà không một quyền lực nào có thể xử lý.

      Tin đồn còn là chất liệu cho xét đoán, đồng thời là hành vi xét đoán, vì trong  mọi tin đồn đều đã gói sẵn một chọn lựa, một thái độ, một phán đoán, nếu không, tin đồn sẽ không còn là tin đồn, nhưng sẽ là tin thật, tin chính xác thông tin một cách khách quan về một sự việc, con người nào đó. Tin đồn ở cùng đơn vị với tin thất thiệt, nhưng ở sát tin sét đánh, tin động trời, vì hấu hết mục tiêu của tin đồn là gây chấn động toàn cầu để đánh gục, đốn hạ đối phương, hơn là xây dựng, bênh đỡ. Do đó, người ta cũng xếp những thư nặc danh, những tờ rơi tố cáo, vu khống, mạ lỵ người khác mà không ghi tên tác giả vào danh sách "những con tương cận" của tin đồn.      
     Hậu qủa của tin đồn thì vô cùng rộng lớn và tai hại, trong khi phần đông đều  đánh giá thấp tin đồn. Chưa kể với những lý luận bình dân, thô thiển như : Không có lửa làm sao có khói, đám đông đã bị tin đồn làm chao đảo và  đồng tình cvô điều kiện với những gì tin đồn đã dọn sẵn, như người lười  suy tư, làm biếng truy tìm luôn thụ động nghe theo vào những gì người khác tuyên truyền, nhồi sọ. Tin đồn thường có chủ đích làm mất uy tín, mất niềm tin, mất tình liên đới, nên gây xáo trộn, nghi ngờ, dè dặt, chia rẽ, cô lập, phủ nhận, loại trừ. 
    
     Để hiểu rõ bản chất của tin đồn hơn, ngườI viết đề nghị bạn đọc quan sát kết qủa nghiên cứu của một số nhà tâm lý Mỹ, đứng đầu là nhà tâm lý James Brandt năm 1947 về hiện tượng tin đồn :
 Nếu tin đồn được tung ra với 100 chi tiết, thì khi trở về người thứ nhất,  tin đồn sẽ chỉ còn 36. 
 
Sau một tuần, khi nhận lại tin đồn do mình tung ra, ngườI ta nhận thấy tin đồn đã được bổ xung, cắt xén, cường điệu hoặc giảm thiểu trong khoảng  từ 35 đến 42% so với tin đồn nguyên thủy. 
76%  chuyển tải tin đồn cho người chung quanh
39% khai thác, tận dụng tin đồn cho lợi ích cá nhân hoặc phe nhóm.
86% không quan tâm tìm hiểu nguồn gốc tin đồn.
79% đồng tình với tin đồn vì ích kỷ
90% thích ngóng tin đồn và 44% biến nội dung tin đồn thành sở hữu để tiện dùng khi cần thiết.
Hầu hết tin đồn đều mang nội dung tiêu cực và không mang lại hy vọng.
39% tin đồn nhằm tấn công bí mật cá nhân, gia đình, cấp lãnh đạo
17% tin đồn chĩa mũi súng vào xí nghiệp, tổ chức, cộng đồng.
5 % tin đồn có chủ đích thăm dò dư luận
39% tin đồn có ý tạo hoang mang, rối loạn, bất mãn.
17% tin đồn kéo dài trên sáu tháng.
80% kéo dài dưới hai tháng.
70% tác giả tin đồn là cá nhân.
20% tin đồn phát xuất từ một tập thể
  Nhìn vào kết qủa nghiên cứu, ta thấy:
Mức độ trung thực, đáng tin của tin đồn rất mong manh:
   Rất mong manh, vì ai cũng có thể là đồng tác giả của tin đồn, và có quyền thay hình đổi dạng tin đồn, nên tính xác thực của tin đồn không được đảm bảo. Tại sao  nói không được đảm bảo, mà không nói: tính xác thực của tin đồn không có. Thưa vì đôi khi tin đồn lại xẩy ra đúng, làm cho tin đồn trở thành tin xác thực và chính điều này làm cho tin đồn được nhiều người ngóng nghe và mãi được tồn tại trong xã hội loài người. Vì thế, cơn cám dỗ của tin đồn xem ra vẫn có khả thể trở thành cơn cám dỗ sau cùng của con người.
Liên quan đến tin đồn là số đông:

  Tuy miệng thì nói tin đồn không đáng tin, nhưng phần đông lại bị tin đồn ảnh hưởng. Thống kê cho thấy những người liên quan đến tin đồn, từ người tung ra tin đồn đến những người nghe ngóng, quan tâm, bóp méo, thêm thắt, đồng tình, tin tưởng, tận dụng, đầu tư tin đồn luôn chiếm đa số. Điều này nói lên ảnh hưởng không nhỏ của tin đồn trong sinh hoạt xã hội, đồng thời sức lan toả rộng rãi của tin đồn trong đời sống.

    Phần đông không kiểm chứng, truy tìm nguồn gốc của tin đồn :
    Không kiểm chứng do không thể kiểm chứng, vì tin đồn tự nó là vô gia cư, vô thừa nhận, nên rất khó truy tìm nguồn gốc, lý lịch và thẩm tra tính xác thực.Không kiểm chứng cũng vì lười biếng và a dua theo lời bàn, phán xét của đám đông, dư luận ; nhất là do tính ganh ghét sẵn có, và chủ trương "Mackeno = mặc kệ nó" tiềm tàng trong con người vốn ích kỷ hơn vị tha.

       Thực ra nguy hiểm của tin đồn không ở nội dung tin đồn, cho bằng ở tình trạng bị cuốn theo tin đồn và không kiểm chứng, truy tìm nguồn gốc và tính xác thực của tin đồn nơi những người đón nhận nó. Vì tin đồn tự nó là những đồn đãi vô tội vạ, những đồn thổi không  căn cứ, nền tảng, những đồn đoán không đếm xỉa gì đến hậu qủa tai hại sẽ gây ra, và hầu hết đều mang tính tiêu cực, nên tin đồn không thể được coi như những  thông tin đáng tin cậy, cao qúy, đáng trân trọng. Cái khó là người ta luôn có khuynh hướng nghe theo tin đồn và vội vàng kết án đối tượng bị tin đồn ỡ phong thần ữ. Không ít người đã là nạn nhân vô phúc của tin đồn, khi bị cấp trên, bề trên phê bình, xét đoán, xử phạt dựa theo nội dung của thư nặc danh, tin đồn, thư tố cáo dài hàng chục trang nhưng không ký tên người viết.

    Tin đồn không tha ai, nể nang ai :
    Tin đồn là một hình thức nặc danh được dùng để hạ đối thủ. Đó là phương cách hèn hạ mà  tiểu nhân thường dùng. Nó cũng  được gọi là ném đá dấu tay, khi mượn tin đồn, thư ngỏ không ký tên, thư nặc danh phỏng đoán hồ đồ, tưởng tượng ngây ngô để khích bác, châm chích, lăng mạ, vu khống, bôi bác người khác. Nó nhắm đủ đối tượng, từ chuyện riêng tư cá nhân, gia cảnh đến chuyện công ty, cộng đoàn, việc chung khu phố. Tất đều nằm trong tầm ngắm của tin đồn, và mọi người, mọi việc đều có thể bị nó tung hê, té tát, lột trần.

     Vì thế, chúng ta dễ bị sa lưới của tin đồn khi háo hức, nôn nao nghe ngóng, bình luận, thêm bớt, mà không hề nghĩ  có thể một ngày nào đó, chính mình sẽ bị đưa lên bàn mổ của tin đồn.
Tin đồn luôn là thủ đoạn và mưu mô của cá nhân hay tập thể tung tin đồn.

    Người ta không rảnh tung tin đồn, viết thư nặc danh, hay phát tán tờ rơi xuyên tạc, bôi bác cá nhân, tổ chức nào đó mà không tìm cho mình một mối lợi lớn. Chỉ cần suy nghĩ điều này, ta đã có thể nhận ra  cái tồi tệ của các phương tiện được dùng vào công tác tạo tin đồn. Tin đồn, vì thế, không thể mang tính nhân văn, tích cực, xây dựng, nhưng hầu như chỉ đáp ứng bản năng thấp hèn là kèn cựa, ganh ghét của con người. Rất ít tin đồn mang tính thăm dò (5%), nhưng hầu hết đều là mũi nhọn tấn công, đốn hạ.

   Tóm lại, tin đồn là tư tưởng sai lạc, nhận định sai lầm, quyết đoán sai trái về một người,  một tập thể, một việc mà mình không biết, hoặc không biết đủ, không biết rõ, không biết tường tận. Điều đáng trách và đáng loại trừ ở tin đồn là những sai lầm, sai lạc, sai trái ấy lại được quảng bá cho mọi người, tung lên thành cao trào quần chúng để tìm sự đồng tình, đồng loã, đồng phạm của đám đông.
      
    Vì thế, chủ trương cho tin đồn là một trò chơi vô thưởng vô phạt, không quan trọng và không ảnh hưởng nhiều là suy nghĩ ngây thơ và lạc quan qúa đáng ; bởi tin đồn trong thực tế đã làm cuống cuồng,  điên loạn, đảo lộn không biết bao nhiêu người, bao nhiêu  cộng đoàn xã hội. Tin đồn tuy như không tay không chân, nhưng điều khiển, hướng dẫn, can thiệp không ít vào những nhận định, quyết định của những người có quyền.Tin đồn xem ra không gươm không súng, nhưng  làm tổn thương không ít những người vô tội. 

   Tin đồn xem như rất hồn nhiên, khách quan, nhưng là tai ương, hiểm hoạ cho rất nhiều người không may lọt vào tim bão của nó. Vấn đề ở đây là làm thế nào để tin đồn không thống trị, lèo lái, điều khiển được  tim óc của ta và trong mọi chọn lựa, tin đồn không là nguồn thông tin, dữ liệu, cơ sở, chứng cứ, lý do được tận dụng để buộc tội người vô tội, lên án người vô can,  dập vùi người yếu đuối. Không kiên định lập trường trước tin đồn, người ta sẽ sập bẫy tin đồn một cách dễ dàng và một cách vô thức, tin đồn sẽ vô tình được đón nhận như  chủ nhân quyết định mọi nhận xét, phán đoán liên quan.
      
     Không ít những người thiện chí, có khả năng phục vụ xã hội đã phải chùn bước, bó tay, vì tin đồn vây hãm, chống phá. Không thiếu những công trình đành dở dang vì bão tố tin đồn và cuộc sống ngày càng bị đe dọa bởi những tin đồn từ thất thiệt đến thất kinh làm thất bát bao nhiêu cố gắng của cộng đồng xã hội. Thời đại thông tin mạng với nhiều thuận lợi và tiện nghi thay vì giúp con người xích lại gần nhau để cảm thông nhau hơn, đã trở thành phương tiện phục vụ những ý muốn thấp hèn của những người chỉ say mê chụp mũ, tố cáo người khác. Cứ thử lướt mạng một vài giờ, bạn sẽ thấy điều tôi chia sẻ là đúng, và điều chúng ta cần mơ ước lúc này, chính là một làn khí  trong lành, không bị tin đồn làm ô nhiễm, cho tâm hồn sảng khoái và bình an. 
Quý độc giả vui lòng đọc chương kế tiếp

IV CHÚNG TA KHÓ NHẬN RA THIÊN CHÚA QUA HÌNH HÀI CON NGƯỜI YẾU ĐUỐI




Kiếp người và đời làm người vốn nhiêu khê, phức tạp, có khi còn thê lương, khốn khổ đối với những  phận đời không may mắn. Trong thử thách, sóng gió, quẫn bách của cuộc đời, khi không còn biết bám víu vào ai, cậy dựa nơi nào thì người ta thường chạy đến Đấng thiêng liêng, với hy vọng được cứu chữa, giải thoát.


Vì thế, trong tâm thức tôn giáo, thiên chúa, thượng đế, đấng chí tôn phải là đấng toàn năng, có quyền trên tất cả, làm được mọi sự, giải quyết được mọi nhu cầu của con người. Và tín đồ của bất cứ tôn giáo nào cũng có cùng một điểm chung là khó chấp nhận thiên chúa của mình yếu hơn thiên chúa của người khác, thượng đế của đạo mình đuối hơn thượng đế của giáo phái láng giềng, đấng mình tôn thờ, cầu khẩn  thấp cơ hơn đấng trên bàn thờ của nhà hàng xóm. Đã xẩy ra nhiểu  cuộc chiến tranh tôn giáo ác liệt, đẫm máu trong lịch sử nhân loại, mà nguyên nhân là sự so sánh hơn thua, cao thấp giữa thiên chúa của  đạo này với đấng chí tôn của đạo kia.

Thế mà Thiên Chúa của Kitô giáo lại là một Thiên Chúa rất yếu đuối khi  nhập thế, nhập thể làm người yếu đuối. Duới hình hài em bé lúc sinh ta, rồi tội nhân chịu đóng đinh  chết tức tưởi, Đức Giêsu -Thiên Chúa của chúng ta, Thiên Chúa mà Phêrô đã tuyên xưng  (Mc 8,27-29), Thiên Chúa mà từ các tông đồ đến chúng ta và tiếp nối mãi đến tận thế không ngừng được rao giảng, làm chứng rất khó được nhận ra. Khó nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa vì :

1. Sự khôn ngoan của con người khác sự khôn ngoan của Thiên Chúa trong yếu đuối của Đức Giêsu

Dựa vào khôn ngoan của con người, cũng như luận lý của nhân loại thì Đức Giêsu không thể là Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa gì mà yếu qúa, nghèo qúa, bé nhỏ qúa, bất lực qúa, bình thường quá, đơn sơ đến không ngờ, giản dị đến không thể tưởng :
Không nhỏ là gì khi sinh ra làm em bé, nên chẳng ai biết mà đến thờ lậy, ngoài ba đạo sĩ từ phương xa được ngôi sao lạ dẫn đường (Mt 2,1-1-12) và đám chăn cừu nghèo được thiên thần báo tin. (Lc 2,1-20). Không yếu là gì khi phải chạy trốn Hêrôđê  làm người "tỵ nạn chính trị" bên Ai Cập (Mt 2,13-18). Không  bình thường là gì khi ẩn dật ba mươi năm ở thôn nghèo Nadarét với cha mẹ sống nghề đóng ghế, đóng bàn (Mt 2,19-23). Không lang bạt như người không nhà cửa là gì khi dong duổi đó đây cùng một nhóm môn đệ loan báo Tin Mừng. Không lang bang là gì khi gần gũi, thân mật với đám dân nghèo, người tội lỗi, kẻ tật bệnh bị đời khinh chê, nguyền rủa, xa lánh, cô lập (Mt 9,11). Không thất bại là gì khi bị môn đệ Giuđa đem bán, Phêrô chối bỏ. Không nhục nhằn là gì khi một mình vác thập giá, bị đóng đinh trần truồng. Không hết thời là gì khi khát cháy cổ mà không ai cho uống, không  mất số, mất cửa mà đến cha mình còn thinh lặng bỏ rơi (Mt 27).

Thật không còn con người nào yếu đuối hơn con người của Đức Giêsu, không thân phận người nào hẩm hiu hơn thân phận người của Đức Giêsu, không cuộc đời nào trôi nổi, long đong, bấp bênh hơn cuộc đời làm người của Đức Giêsu. Ba mươi ba năm đâu phải  nhiều, so với tuổi đời của bao người khác, nhưng vất vả, cơ cực, cay đắng, phũ phàng, tệ bạc đời Đức Giêsu thì chồng chất gấp nhiều lần  đời người khác.
        
Chính vì thế, không mấy ngưới đã nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa. vì Thiên Chúa đã chọn yếu đuối để làm người, chọn thập giá để cứu độ. Chọn lựa của Thiên Chúa thật sốc với con người, bởi nếu có quyền chọn, con người sẽ không chọn yếu đuối cho thiên chúa của mình ; nếu được quyền góp ý, con người sẽ ngăn cản thiên chúa của mình cứu độ bằng khổ hình, tử nạn; nếu được quyền tư vấn, con người sẽ khuyên  thiên chúa của mình chọn trực thăng, xa lộ, xe Lexus, Mercedes để đến với nhân loại, thay vì  lết từng bước nặng nề trên đường thánh giá ; nếu được quyền đề nghị, con người đã đề nghị thiên chúa của mình sai đoàn quân thiên thần từ trời "xử đẹp" đám Biệt Phái, Luật Sĩ và tất cả những người Do Thái đã âm mưu, tiếp tay giết thiên chúa của mình ; nếu có quyền biểu quyết, toàn thể người có đạo chắc chắn sẽ giơ tay, la ó chống lại chương trình cứu độ bê bết máu, nước mắt, và mồ hôi của Đức Giêsu ; nếu có quyền bỏ phiếu, đại đa số cử tri "đạo gốc, đạo giòng" sẽ bỏ phiếu trắng không ủng hộ phương án "dùng thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ" ; nếu có quyền lên tiếng, không ít người trong chúng ta sẽ xin Đức Giêsu nên suy nghĩ lại, và thay đổi đường lối cứu thế, như Phêrô đã ngỏ lời can ngăn ; nếu có quyền thay đổi tình thế, chắc chắn chúng ta sẽ lập trình đời làm người của thiên chúa chúng ta cách rất huy hoàng, hoành tráng làm lé mắt thiên hạ, làm mê mẩn người ngoại đạo, làm cạch mặt tín đồ các tôn giáo khác.

Con người  đương thời với Đức Giêsu cũng đã can ngăn, chống đối một Thiên Chúa  yếu đuối, thua cuộc, như Phêrô đã can ngăn, và như đám đông đã chống đối ; cũng đã lên tiếng  kiến nghị không đồng tính với đường lối "yếu đuối" của Đức Giêsu khi thấy Ngài hiền lành, khiêm nhường, nhẹ nhàng với người tội lỗi, và hay chạnh lòng  trước yếu đuối, khổ đau của những người bé nhỏ, bị bỏ rơi.  Những người đương thời này cũng đã thẳng thừng bác bỏ đường lối cứu thế  của Đức Giêsu, vì  Thiên Chúa của Ngài đã không  theo mẫu mã, "đơn đặt hàng" của họ, cũng không đi theo quy trình, ước tính, nhu cầu, đòi hỏi  của tôn giáo, dân tộc họ. Sự yếu đuối của Đức Giêsu vì thế đã trở nên "cớ vấp phạm cho nhiều người" như ông già đạo đức Simêon đã tiên báo về Ngài (Lc 2,34).

Thánh Phaolô đã đối đầu với nhiều người khi rao giảng Đức Giêsu yếu đuối, chịu đóng đinh, và ngài cũng bị ném đá, đánh đòn, tù ngục vì làm người ta sốc nặng khi loan truyền Chúa chịu chết. Loan truyền Thiên Chúa chịu chết là một điều không thể tưởng tượng  đối với người không có đức tin, là một xỉ nhục, trò đuà đối với bậc khoa bảng, học thức, là ngón phù phép làm mê hoặc ngưởi nhẹ dạ. Đó là bản án cho đến hôm nay người ta vẫn dùng để công kích Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người trong thân phận con người yếu đuối.
  
Một lần nữa, chúng ta không lạ gì khi nhiều người bị sốc vì mầu nhiệm thập giá, hay nói cách khác, nổi điên nổi khùng vì mầu nhiệm yếu đuối của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.

Không chỉ những người chưa là Kitô hữu bị sốc, mà cả những người đã theo Đức Giêsu lâu năm, lâu đời cũng khó tránh được tình trạng thất thần này như hai môn đệ trên đường Emmau, hay như Tôma, người môn đệ từ giờ đầu đã đòi thọc  ngón tay vào dấu đinh, và bàn tay vào vết thương ở cạnh sườn Thầy mới tin Thầy mình là Thiên Chúa (Ga 20, 24-29). 
   
 Như thế, để nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, chúng ta phải cởi bỏ cái nhìn nhân loại, luận lý nhân loại, khôn ngoan  nhân loại để đi vào mầu nhiệm Thiên Chúa. Mầu nhiệm ấy là thánh ý Thiên Chúa muốn dùng chính yếu đuối của « con người yếu đuối » để cứu sống , giải thoát, làm cho con người trở nên mạnh mẽ trong ơn Ngài ; thánh ý ấy muốn mầu nhiệm Thiên Chúa  được mặc khải qua, và trong chính yếu đuối của con người, để con người không thể không tin rằng sức mạnh cứu độ, nguồn ơn cứu độ, hạnh phúc được sống đời đời mà con người nhận được là ở Thiên Chúa, do Thiên Chúa, từ Thiên Chúa, vì chỉ một mình Ngài mới nâng dậy được con người yếu đuối,  chỉ ơn Ngài mới vực dậy được những yếu đuối của phận người bằng Tình Yêu tuyệt đối, đời đời của Đấng là Tình Yêu đã tự nguyện trở nên yếu đuối giữa loài người yếu đuối.  

2.  Khó nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa vì Ngài tự đồng hoá mình với những người yếu đuối.
Trình thuật ngày chung thẩm trong Tin Mừng Mátthêu (Mt 25,31- 46) là một bức tranh  cực tả sự yếu đuối của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, ở đó, Thiên Chúa đã xuống thấp tận cùng, và tự đồng hoá mình với những người hèn hạ nhất, tự nhận mình là người yếu đuối nhất : tù đầy, bệnh tật, đói khát, trần truồng, bị bạc đãi, khinh miệt, khai trừ…Thiên Chúa không còn giữ lại bất cứ một hình ảnh huy hoàng, tuyệt vời nào của Thiên Chúa, nhưng mang lấy hình hài của những con người xấu số, kém may mắn, thất bại. Tự chọn thân phận kém cỏi nhất, phận số hẩm hiu nhất, hoàn cảnh bê bết nhất, Đức Giêsu đã không dễ được người đời nhận ra, vì dung mạo, dáng dấp qúa tầm thường, qúa bết bát là những dung mạo, dáng dấp, hình hài không ai muốn nhận cho mình, cũng không muốn thân quen,  giao lưu, liên hệ, vì chẳng được ích gì, có chăng chỉ là phiền toái, rắc rối, thiệt thòi.

Đó là lý do cả những người lành và người dữ, những người được chúc phúc cũng như bị nguyền ruả đều đã không nhận ra Thiên Chúa trong người đói khát, trần truồng, tù đầy, bệnh hoạn khi còn sống. Cả hai bên trái, bên phải của Thiên Chúa đều thưa lại với Ngài : "Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù mà đến hỏi han đâu?" (Mt 25,37-39 ).
   
Không nhận ra Thiên Chúa vì ai biết được Thiên Chúa đã tự đồng hoá mình với đám nghèo hèn, "khố rách áo ôm", hết ngồi tù lại vào khám quanh năm ? Không nhận ra Thiên Chúa, vì ai dám tin Thiên Chúa "là" những người bệnh Siđa, ung thư, bại liệt, mất trí, què quặt, mù loà ? Không nhận ra Thiên Chúa, vì ai bảo Thiên Chúa "là" đám du thử du thực, không nhà cửa, quê quán, việc làm ? Không nhận ra Thiên Chúa, vì làm sao có thể tưởng tượng được : Thiên Chúa "là" người bán vé số bò lê bò càng trên đường vì tật nguyền, là em bé nhem nhuốc đang ngấu nghiến củ khoai, là người mẹ "ăn xin" ẵm con nhỏ dưới cái nắng cháy da cháy thịt của buổi trưa Sàigòn?
 
Không dễ nhìn, không dễ thấy, không dễ nhận diện, vì người nghèo có mấy ai dễ nhìn bởi có bao giờ được tươm tất sạch sẽ ?  Người tù có ai dễ thấy, vì tường nhà tù cao, cổng nhà tù kín. Người đói rét, trần truồng, đau bệnh có ai dễ được nhận diện, vì hình hài tiều tụy, kinh sợ, đâu còn tươi trẻ, xinh đẹp, khả ái, phương phi.

Đó là mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, khi trở nên con người yếu đuối, bằng lột bỏ tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa của mình. Nhập thể không chỉ là hành vi xuống thế, mà còn là hành động tự lột bỏ, tự tháo gỡ, tự bôi xóa, tự làm cho mình nên trống rỗng, không còn gì. Chính mầu nhiệm này làm nên Kitô giáo, và cốt lõi của đạo công giáo là sống mầu nhiệm Thiên Chúa làm người trong tận cùng yếu đuối của con người, bằng hiện diện yêu thương, và phục vụ giữa những người bé nhỏ, yếu đuối nhất trong anh em. Thiên Chúa đã tự đồng hoá mình với những anh em bé nhỏ, yếu đuối, xấu số nhất, nên sẽ không còn không gian phân cách, lằn ranh phân ly, bảng hiệu phân biệt giữa Thiên Chúa và những con người yếu đuối, hèn mọn, bị bỏ rơi, bởi : "Mỗi lần các ngươi làm bất cứ việc gì cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40).

Tóm lại, yếu đuối là chọn lựa của Thiên Chúa, làm con người yếu đuối là phương án cứu thế, biến thân thành người yếu đuối là đường lối cứu độ. Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người đã không hành xử như thông lệ cuộc đời, theo thói đời quen thuộc, nhưng vượt xa tầm hiểu biết, suy đoán của con người. Vì thế, con người chỉ có thể gặp được Thiên Chúa khi đi vào chính mầu nhiệm của Ngài, mầu nhiệm Thiên Chúa làm người yếu đuối giữa những con  người yếu đuối, tội lụy.
Quý độc giả vui lòng đọc chương kế tiếp! 

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

TIN MỪNG BÉ NHỎ


                                            
TIN MỪNG BÉ NHỎ
    Nếu Đức Giêsu ở Việt Nam dịp tết Trung Thu, thì thế nào Ngài cũng đi rước đèn với thiếu nhi, vì Ngài rất yêu trẻ và không ngừng nói với mọi người : “Hãy để trẻ em  đến với Tôi,  đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng” (Mt 19, 13-15) ; và “nếu anh em không trở nên như trẻ  nhỏ, thì sẽ chẳng vào được Nước Trời” (Mt 18,3).
   Thời Đức Giêsu, trẻ em cũng như phụ nữ không được coi trọng như bây giờ. Chẳng thế mà Tin Mừng đã không kể đàn bà, con nít vào số những người được ăn bánh, trong những lần Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều (Mt 16, 38). Nhưng tâm thức của thời đại chúng ta hôm nay thì hoàn toàn khác, như ở các nước Âu Mỹ : trẻ em số một, phụ nữ số hai, chó số ba, đàn ông số bốn.
    Không có chỗ đứng ưu tiên trong xã hội, trẻ em phải làm việc rất sớm, ít được đến trường và đi đến đâu cũng bị người lớn mắng nhiếc, xua đuổi, như các môn đệ Đức Giêsu đã la rầy các em khi chúng kéo nhau đến để được Đức Giêsu đặt tay chúc lành (Mt 19,13).
    Qủa thực, Đức Giêsu rất yêu qúy trẻ nhỏ và không ngừng nhắc nhở mọi người phải trở nên giống như chúng. Ngài nhìn thấy ở trẻ nhỏ  những đức tính cần thiết để được nhận làm công dân Nước Trời. Ngài gặp ở trẻ nhỏ những điều kiện không thể thiếu để nhập tịch làm công dân của vương quốc Thiên Chúa. Chính vì thế, Đức Giêsu muốn tất cả mọi người “cải lão hoàn đồng”, trở lại làm trẻ thơ, nếu không sẽ chẳng vào được đất nước của Ngài (Mt 18,3) :  
1.   Trở nên như trẻ nhỏ là khiêm tốn  cần đến mọi người
   Ở đời ai cũng muốn làm lớn, muốn có quyền trên người khác, muốn nhiều thế lực để thực hiện hoài bão, ước mơ, chương trình của riêng mình. Đi tu hay ở ngoài đời, người ta đều bị cơn cám dỗ “làm lớn” này ám ảnh, bủa vây. Dưới nhiều bình phong, bằng nhiều lý lẽ, qua nhiều công đọan, với đủ mánh khóe, người ta tìm cho mình cơ hội làm lớn, làm to, như các môn đệ Đức Giêsu đã nhiều lần  tỵ nạnh, lườm nguýt nhau chỉ vì muốn mình là người lớn nhất trong Nước Trời (Mt 18,1), muốn mình ngồi bên phải, bên trái ngai vàng trong vương quốc của Thầy (x. Mt 20, 20-28). Và cho đến tận thế, cơn cám dỗ quyền lực ấy vẫn liên tục tiếp diễn trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội, vì lòng ganh ghét, háo danh, hám lợi luôn nằm phục ở cửa tâm hồn mỗi người.
   Chính ham muốn danh vọng thúc đẩy chúng ta tranh giành, đấu đá với người khác để  có chỗ đứng cao hơn người, có quyền sai phái người, có uy lực thưởng phạt người. Và vì có quyền, có thế, có uy lực, ta dễ kiêu căng, tự mãn, tự phụ  khi tự cho mình là tất cả, có tất cả, chẳng cần ai. 
       Đức Giêsu, trước những cãi cọ “được - thua, trên- dưới, cao -thấp, lớn- nhỏ” của các môn đệ đã trả lời : “Ai tự hạ và coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời” (Mt 18,4).
       Như thế, không ai còn thắc mắc người lớn nhất trong Nước Trời sẽ là những người trở nên như trẻ nhỏ. Và sở dĩ trẻ nhỏ nhất trở nên người lớn nhất, bé nhỏ nhất trở nên lớn lao nhất là vì tự hạ mình và coi mình không là tất cả, không có tất cả, nhưng cần mọi người.
    Đức Giêsu  chọn trẻ nhỏ làm mẫu người lớn nhất trong Nước Trời, vì trẻ nhỏ :
a.   Khiêm tốn, không coi mình là tất cả :
      Không coi mình là tất cả, vì trẻ nhỏ còn đi trên đường hình thành, nghiã là còn phải tập tành, học hỏi, thao dượt để  bước đi vững hơn, chạy nhẩy nhanh hơn, ăn uống điều độ hơn, nói năng sõi sàng hơn, quan sát chính xác hơn, học hành chăm chỉ hơn, suy nghĩ  hợp lý hơn, nhất là chọn lựa đúng đắn hơn. Trẻ nhỏ chưa là thanh niên, cũng chưa thành niên làm người lớn, nhưng mới chỉ là trẻ con : non người trẻ dạ ; vẫn là con trẻ : bé bỏng, yếu đuối, ngây thơ.Vì thế, trẻ nhỏ biết mình không là gì để dám đối mặt với đời, mà luôn cần cha mẹ, gia đình ủ ấp, chở che. Trẻ nhỏ  biết mình không là gì, nên không dám nghĩ sẽ tự  làm được  những điều mình muốn, nhưng khiêm tốn nhờ cậy mọi người để tồn tại. Thiếu sữa mẹ nuôi dưỡng, thiếu săn sóc, chăm nom, thiếu tình yêu bao bọc, trẻ nhỏ biết mình không thể hiện diện và phát triển trong thế giới loài người.
     Khi biết mình không là gì, trẻ nhỏ bầy tỏ sự tín thác nơi người chung quanh, gần nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Lòng tín thác là thái độ rất tự nhiên và hồn nhiên của trẻ nhỏ  đối với người khác, khi chúng đơn sơ tin tưởng, đơn sơ cầu cứu, đơn sơ đón nhận và cũng đơn sơ cho đi, bởi nhận thấy mình không là gì để phải mắc cở khi nài xin, phải mất mặt khi cầu cứu, phải mất thế khi phó thác, cậy nhờ.
     Khác người lớn với ý nghĩ mình đã lớn, và cám dỗ ỡ tôi phải làm lớn ữ, trẻ nhỏ vui với tuổi thơ bé nhỏ  và không mơ gì khác hơn là được mãi bé nhỏ trong vòng tay yêu thương của mẹ cha và mọi người. Hạnh phúc của em nhỏ là được ở bên mẹ, bên cha, gần gũi, xum vầy với anh chị, gia đình. Và chính vì bé nhỏ, chưa là gì, nên trẻ nhỏ  dễ dàng khiêm tốn nhận tất cả và  trao tặng tất cả, bởi với trẻ nhỏ : tất cả đều là hồng ân.
b.   Khiêm tốn, không coi mình có tất cả :
    Người  lớn thường tự mãn, khi coi mình có tất cả, nhất là khi nắm quyền trong tay, của cải dư đầy. Thái độ tự mãn biểu lộ ý nghĩ bất cần đời, bất cần người. Không cần ai, tôi cũng thành công ; không cần ai, tôi cũng làm được mọi sự ; không cần ai, tôi cũng sống.
    Trẻ nhỏ thì không. Chúng cần mọi người, nên thân thiện với mọi người, và để mọi người thân thiện. Cần mọi người, vì không coi mình sở hữu tất cả, nên trẻ nhỏ không ngại xin người khác cho mình những gì chúng chưa có, hay đang cần, nhưng đồng thời cũng cho mọi người những gì chúng có. Khiêm tốn vì thế luôn đi đôi với quảng đại như kiêu căng thường cặp đôi với hà tiện, bủn xỉn.
    Biết mình không có tất cả, trẻ nhỏ cậy nhờ vào những gì người khác có và khiêm tốn đón nhận. Nhiều người lớn nhận sự giúp đỡ của người khác, nhưng không nhận với thái độ khiêm tốn của trẻ nhỏ. Để có thể nhận từ người khác những gì chúng ta cần với niềm vui, điều tiên quyết chúng ta phải có, đó là lòng khiêm tốn, bởi không khiêm tốn, chúng ta sẽ bực bội, khó chịu, và đặt mình trong tình trạng bất đắc dĩ phải nhận. Thái độ này không đem lại hạnh phúc cho người được nhận, nhưng đẩy họ vào vũng lầy của đối kháng, so bì, ghen ghét, phẫn nộ, mặc cảm tự ti.
      Vì thế, để đón nhận tất cả như hồng ân, chúng ta phải trở nên như trẻ nhỏ biết mình không là gì,  không có gì, nhưng cần tất cả ở mọi người, để  không mặc cảm khi nhận lãnh, không ghen tuông khi được cho, không tham lam, phẫn nộ  khi  chưa có. Và tất nhiên, Thiên Chúa, nguồn mọi hồng ân sẽ là nơi nương náu của những ai sống khiêm nhường như trẻ nhỏ.
       Thực vậy, khiêm tốn là đặc tính của trẻ nhỏ, và nhờ khiêm tốn, trẻ nhỏ nhận được tất cả : nhận được  cưu mang, giúp đỡ;  nhận được dìu dắt, đào tạo; nhận được yêu thương, nâng đỡ; nhận được tha thứ, ủi an. Khiêm tốn đem lại lòng tín thác và niềm hy vọng; khiêm tốn mở cửa lòng mình, đồng thời mở trái tim người cho một tương quan tốt đẹp được xây trên đá. Và quan trọng hơn cả, khiêm tốn luôn làm chạnh lòng Thiên Chúa và là chià khóa mở cửa Nước Trời, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng, yêu thương người khiêm nhường và chọn người bé nhỏ nhất là người lớn nhất trong Nước Trời (Mt 18, 4).
2.   Trở nên như trẻ nhỏ là trung thực trong mọi sự:
  Trẻ nhỏ được thương nhiều vì khiêm tốn, đơn sơ, nhưng cũng  được nhiều người thương, vì trẻ không biết nói dối, biạ chuyện, điêu ngoa. Gặp đứa bé “ba sạo”, chuyên nói dối, chúng ta cảm thấy bị xúc phạm nặng nề, vì đối với người lớn, tuổi thơ không được phép nói dối, trẻ nhỏ không được  gian ngoa, và không thể có chỗ cho gian trá, xảo quyệt trong trái tim thơ bé.
      Trẻ nhỏ nói dối là tai hoạ của xã hội; trẻ em đặt điều, buôn chuyện là điềm dữ cho tương lai, nên đã là trẻ thì không thể không hồn nhiên, không trung thực. Biết gì nói nấy, có sao nói vậy là việc làm của trẻ, nên ở đâu và thời nào, người ta đều tin vào tính trung thực của trẻ nhỏ, như chúng ta thường nói: “đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, vì trẻ không biết nói dối, thêu dệt, vẽ vời, thêm thắt, đặt chuyện để phỉnh lừa, gạt gẫm.
     Trung thực là đức tính quan trọng để trở thành người tử tế, đồng thời là điều kiện để làm con Thiên Chúa, vì “ai giả dối, điêu ngoa, người ấy thuộc về ma qủy”, bởi ma qủy là loài gian dối.  Ma qủy gian dối trong mọi sự, lừa đảo, gạt gẫm mọi người trong mọi tình huống, nên khi không trung thực, người ta chỉ có thể hoặc đã sập bẫy ma qủy, hoặc đang làm tay sai cho chúng.
     Đức Giêsu kêu gọi mọi người trở nên trẻ nhỏ, không chỉ trong tinh thần khiêm nhường, mà còn trong đòi hỏi phải trung thực: trung thực trong tư tưởng, lời nói, việc làm; trung thực với Thiên Chúa, với người khác và với chính mình. Người không trung thực sẽ biến thái thành người giả hình với đủ kích cỡ mặt nạ bên ngoài, để che dấu những sự thật bất ổn, bất chính bên trong.
       Đức Giêsu trong Tin Mừng lên án rất gắt gao những kẻ giả hình, vì người giả hình là người không còn khả năng đón nhận chân lý, khi từ chối đón nhận sự thật và để được sự thật giải phóng. Hơn thế nữa, Thiên Chúa là Đường, là Sự Thật, nên gian dối không ở  trong vùng ánh sáng của chân lý, và những tâm hồn không trung thực sẽ không thể đón nhận ánh sáng cứu độ của Ngài.   
     Chúng ta đang sống trong một xã hội tràn ngập gian dối và người nói dối thì ngày càng nhiều, không sao đếm nổi. Nói dối hôm nay không còn được coi là một điều xấu, tật xấu, nết xấu cần phải sửa đổi, nhưng nói dối nghiễm nhiên trở thành một bí quyết sống, bởi không nói dối sẽ không sống được, khi hầu như mọi người trong xã hội mặc nhiên chấp nhận sinh hoạt gian dối, sống gian dối, làm gian dối. Một xã hội không nói dối không sống được, không làm dối không có tiền, không lừa dối không đem về lợi nhuận, không giả dối không thành công, không gian dối không tạo được phe cánh. Giữa một xã hội không còn qúy trọng lòng trung thực, không còn đánh giá cao người nói thật như vừa kể, thì lời kêu gọi trở nên trẻ nhỏ để được vào Nước Trời của Đức Giêsu chẳng khác nào tiếng kêu lạc lõng trong sa mạc.    
3.   Trở nên như trẻ nhỏ là dễ thương, hiền lành :
      Ma qủy là chuyên viên của kiêu căng, xảo quyệt, ganh ghét và  hung bạo. Câu chuyện Cain giết em mình là Aben đã đi theo tiến trình này: Cain kiêu căng vì muốn mình là số một, nên ganh ghét Aben khi của lễ của Aben được Thiên Chúa khứng nhận.Vì ganh ghét, Cain lừa gạt Aben ra đồng, và hung bạo ra tay giết chết em mình (x. St 4, 1-8).
      Đây là tiến trình bình thường và quen thuộc của tội lỗi: khởi đi từ tính kiêu căng, con người sinh ra ganh ghét; vì ganh ghét nên phải tiêu diệt đối phương bằng bầy ra những chiêu lọc lừa hầu đưa đối phương vào bẫy.
     Đức Giêsu mời gọi mọi người tránh xa cạm bẫy của Satan bằng mặc lấy tinh thần của trẻ thơ là khiêm tốn, trung thực và hiền lành. Hiền lành là hoa trái của khiêm nhường và trung thực, bởi người kiêu căng khó có thể hiền hậu, nhu mì, vì tính kiêu căng thúc đẩy họ ngông nghênh, ngang tàng, phách lối, dữ tợn, hung bạo.Người kiêu căng, tự cao tự đại dễ coi trời bằng vung, nhìn người khác như củ khoai. Họ khó có thể hiền, vì kiêu căng đòi hung bạo; khó có thể lành, vì tự mãn thúc giục nhẫn tâm; khó có thể nhu mì, nhẫn nại vì háo thắng biến con người họ nên tàn bạo. 
      Trở nên như trẻ nhỏ vì thế còn đòi phải hiền lành, hiền hậu. Trở nên như trẻ nhỏ hiền lành để được gọi là người dễ thương; nên như trẻ nhỏ hiền hậu để được kể là người dễ mến, bởi  hung dữ, tàn bạo, độc ác, dữ dằn sẽ chẳng bao giờ được người khác mến,Thiên Chúa thương, và Nước Trời mở rộng đón tiếp.   
      Trung Thu năm nay thế nào cũng có Đức Giêsu ở giữa các em thiếu nhi đi rước đèn. Lấp lánh từ xa những ánh nến lung linh tuổi thơ khiêm tốn, trung thực, hiền lành, và văng vẳng tận trời xa tiếng hát bé thơ  trong xanh  lẫn trong tiếng cười trẻ thơ hồn nhiên, rộn rã.
      Và Thiên Chúa đang đi giữa tuổi thơ thiên đàng ! 
Jorathe Nắng Tím
     
      

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Hãy RA KHƠI



Hãy RA KHƠI 
Giữa dòng đời, bên dòng người, trên dòng sinh mệnh, có người gọi anh chị và tôi “Hãy Ra Khơi”!
Người ấy tên Giêsu, quê Nadarét.
Gọi chúng ta Ra Khơi, Ngài mời chúng ta đi theo Ngài, ở với Ngài, vì không bao giờ Ngài bỏ chúng ta Ra Khơi một mình, mà thiếu Ngài trên thuyền.
RA KHƠI với Đức Giêsu trước hết là RA KHỎI những gì mình gắn bó, ham muốn, thèm thuồng, tìm kiếm :  Cái Tôi danh- lợi- thú. Ra Khơi như thế là ra khỏi mình, ra khỏi đời mình, ra khỏi không gian tù túng của mình, ra khỏi nhà mình, ra khỏi khu xóm mình, ra khỏi những thành kiến, định kiến, thiên kiến của mình, nhất là ra khỏi pháo đài ích kỷ, trục lợi, hưởng thụ của mình để đến với người khác.
Ra Khơi với Đức Giêsu còn là ra khỏi vũng lầy kiêu căng, hố sâu tự mãn, hang động giả hình để thả đời mình nhẹ trôi trong đại dương Lòng Thương Xót.
RA KHƠI  với  Đức Giêsu là RA XA tận chân trời góc biển, ra xa đến vùng ngoại biên tít tắp, không bờ bến, ở đó chỉ có thể  tìm “an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu”[1], bởi ở vùng xa nước độc, hoang sơ, mọi rợ này, sẽ chẳng có ai hiểu được mình để có thể yêu mến, ủi an.
RA KHƠI với Đức Giêsu là RA SÂU tận thăm thẳm hiểm nguy, đe dọa, ở đó chỉ còn một mầu đen rùng rợn của nước và cơn giận khủng khiếp của sóng dữ bạc đầu.
RA KHƠI với  Đức Giêsu là RA ĐI đến một nơi không biết trước, nên không chuẩn bị, định hình, tính toán được gì. Ra đi như thế không khác gì “đường đi không đến”, bởi nào có biết sẽ đi đâu, ngoài đi theo một Con Người.
Như thế, Ra Khơi không dễ chút nào, vì phải từ bỏ rất nhiều; không hấp dẫn chút nào, vì phải thiệt thòi không ít; không ngon lành chút nào, vì thường phải ngậm đắng nuốt cay, nên Ra Khơi đòi nhiều hy sinh, đòi hy sinh nhiều. Nhưng đứng trước hy sinh quên mình, hy sinh bỏ mình, hy sinh mất mình, hy sinh thiệt mạng,  là người, hỏi ai không run sợ?
Không sợ sao được khi phải bỏ quên địa vị, danh dự, uy tín để  Ra Khơi làm đầy tớ, nô bộc cho anh em mình, vì  “Tôi đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mt 20,28). Không sợ sao được khi phải từ bỏ quyền lực, thế lực, uy lực, kể cả vũ lực để Ra Khơi “vâng phục và vâng phục cho đến chết” (Pl 2, 8). Không sợ sao được khi phải tự đánh mất mình, tự thí mạng sống mình để Ra Khơi cho người khác “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).Không sợ sao được khi phải giã từ tháng ngày ăn chơi, buông thả để lặng lẽ, bé nhỏ Ra Khơi “vác thánh giá mình” và thánh giá  người khác.
Vì thế, mời gọi chúng ta Ra Khơi, Đức Giêsu cũng kêu gọi chúng ta “Đừng Sợ”, bởi Ngài biết tất cả chúng ta đều sợ hy sinh, đều do dự, ngao ngán, run rẩy trước mất mát, thiệt thòi. Và để chúng ta đừng sợ, Ngài luôn có mặt trên con thuyền Ra Khơi và khẳng định : “Thầy đây, chúng con đừng sợ!” (Mt 14, 27), và “Thầy ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Ra Khơi như thế chính là cuộc Vượt Qua không ngơi nghỉ: vượt qua cái tôi khép kín, ích kỷ để đến với tha nhân; vượt qua ganh ghét, hận thù để tìm về yêu thương, tha thứ; vượt qua cuộc sống vô thường, tạm bợ, hữu hạn, để vào đời sống vĩnh hằng, vô hạn; vượt qua tội lỗi đến với ân sủng; vượt qua đất nô lệ đi vào đất Thiên Chúa hứa; vượt qua tự nhiên  đến với siêu nhiên; vượt qua thế giới hữu hình đến với thế giới vô hình; và đích điểm của cuộc Vượt Qua - Ra Khơi là được gặp chính Thiên Chúa, Hạnh Phúc của mọi hạnh phúc, Nguồn Vui của mọi niềm vui, Nguồn Sống của mọi sự sống.
Qủa thực, Ra Khơi vất vả và nguy hiểm, vì đòi Ra Khỏi, Ra Xa, Ra Sâu, Ra Đi, và đòi Vượt Qua không ngơi nghỉ, không sợ hãi. Nhưng lạ lùng thay! Không ít người đã theo Đức Giêsu  ra  khơi, vì “Ngài nhẹ như giọt sương đem yêu thương đến với trần đời, và ngọt như nắng mới gieo thắm tươi lên từng ngày tháng”[2]; không ít con tim đã căng buồm ra khơi với Đức Giêsu, vì “Ngài đẹp như mùa xuân trời hồng ân ngát xanh tuyệt vời, toả ngàn nơi sắc hương tràn đầy”[3]; không ít bàn chân đã mạo hiểm ra khơi với Đức Giêsu, vì “Ngài về trao niềm vui cho đôi môi tiếng hát rộn ràng, buông ánh sáng xóa tan đêm dài mờ tối”[4]; không ít cuộc đời đã liều lĩnh bồng bềnh ra khơi với Đức Giêsu, vì “Ngài là biển khơi chẳng cạn vơi xót thương mặn nồng”[5]. Và như không ít những người đã theo Đức Giêsu ra khơi, chúng ta cũng có đủ lý do để lên đường ra khơi với Ngài.Vấn đề là chúng ta có nhận ra mênh mông của tình Ngài qua bao la của đại dương, khôn lường của ơn Ngài qua thăm thẳm của đáy sâu biển cả, tuyệt đối của lòng Ngài xót thương qua tít tắp cao vời của trời xanh khôn ví ? 
Vâng, chính Đức Giêsu đã mời gọi chúng ta Ra Khơi với Ngài, như đã kêu gọi các tông đồ bên biển hồ Galilê năm xưa :  “Hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người” (Mt 4, 19), “Hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới” (Lc 5,4), “Hãy cùng Tôi qua bờ bên kia” (Mc 4,35), Hãy cùng tôi căng buồm Ra Khơi.
Được Đức Giêsu kêu gọi Ra Khơi với Ngài, anh chị và tôi sẽ bỏ mọi sự mà theo Ngài như Simôn, Anrê, Giacôbê và Gioan (Mt 4, 18-22; Lc 5,11) hay sẽ ngần ngại, do dự, xin phép về suy nghĩ, hoặc “buồn rầu bỏ đi”, như người thanh niên giầu có, nhiều của cải trong Tin Mừng ( x. Mt 19,16-22)? 
 Jorathe Nắng Tím


[1] KINH HÒA BÌNH, Thánh Phanxicô Assisi
[2] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu
[3] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu
[4] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu
[5] BÀI CA LỬA CHÁY, Thông Vi Vu

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

MARIA, MẸ ĐẦY ƠN PHÚC !


Vâng từ nay muôn đời sẽ khen Mẹ là người đầy ơn phúc, như Mẹ đã khiêm tốn đón nhận diễm phúc này trong kinh Magnificat của Mẹ ngày nào : 
   “ Linh hồn con ngợi khen Chúa, và lòng trí con vui mừng trong Chúa , Đấng Cứu Độ con. Vì Chúa đã thương đến phận thấp hèn tôi tớ Chúa. Vì vậy từ nay muôn đời sẽ khen con diễm phúc”.
1. Mẹ diễm phúc vì Mẹ được Thiên Chúa sủng ái yêu thương.
Thiên Chúa yêu thương mới làm cho Mẹ trở thành người nữ đầy ơn phúc hơn hết mọi phụ nữ. Thiên Chúa thương Mẹ không phải vì Mẹ có sắc đẹp  “chim sa cá lặn”, nhưng thương Mẹ vì Mẹ hiền lành, nhu mì, khiêm tốn, và luôn nhận mình là phận nữ tỳ hèn mọn. Mẹ không kiêu ngạo như Luciphe muốn bằng Thiên Chúa, cũng không tà lanh, muốn biết mọi sự Thiên Chúa biết như Evà, càng không lấn lướt, loi choi tìm kiếm quyền cao chức trọng,  hay gian xảo, chua ngoa đấu đá tranh giành chỗ đứng, chỗ ngồi. Mẹ hiền nên được Chúa thương, Mẹ khiêm nhường, nên Chúa yêu mẹ, vì Thiên Chúa chỉ yêu thương được những ai khiêm tốn, hiền lành và chống lại kẻ kiêu căng, hung dữ.
Tuy Mẹ hiền, nhưng không ù lì ; khiêm tốn  nhưng không căng thẳng, trầm trọng, khó gần. Khác với họ, Mẹ hiền nhưng Mẹ vui ;  khiêm tốn nhưng lạc quan, tràn đầy hy vọng. Bằng chứng là ngay lời kinh khởi sự, Mẹ đã  khấp khởi vui mừng, hớn hở hoan ca, tưng bừng trào dâng cảm xúc (Lc 1,46-48).
Mẹ vui mừng khôn tả, vì tâm hồn Mẹ tràn đầy hạnh phúc, nguồn hạnh phúc đặc biệt không dành cho kẻ kiêu căng, ngạo mạn coi thường Thiên Chúa và vô ơn với Ngài, nhưng chỉ dành cho những ai bé nhỏ, nhận ra Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ họ ; chỉ tràn ngập những con tim hèn mọn, thiếu thốn luôn trông cậy vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Đấng Cứu Độ giầu lòng xót thương. 
Mẹ vui mừng khôn xiết, vì nhận ra Thiên Chúa luôn đoái thương những kẻ cô thân, yếu thế, nghèo khó, tội lụy, và nhận mình là nữ tỳ hèn mọn, đứng trong hàng ngũ những kẻ bé mọn, Mẹ đã khấp khởi hát to : “Đấng Toàn Năng đã làm cho con biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh chí tôn”!. Danh Chúa chí thánh vì Người là Đấng giầu lòng xót thương luôn thương xót những thân phận yếu duối, hèn mọn. Thiên Chúa thật là Đấng Chí Tôn, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, “chậm bất bình và rất đỗi khoan dung” (Lc 1,48-49).
Mẹ vui sướng, hân hoan, vì nhận ra Thiên Chúa luôn bênh vực, nâng đỡ những ai kính sợ Ngài và đường lối muôn đời không thay đổi của Ngài vẫn mãi : “giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng ; hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiê nhường. Kẻ đói khó, Chúa ban của đầy dư, người giầu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1, 50-53). 
Qủa thực, “Mẹ là người nữ có phúc lạ hơn mọi người nữ”, vì hơn tất cả mọi người, Mẹ đã nhận ra chân lý rất quan trọng ngay  ngaỳ Truyền Tin , đó là Thiên Chúa luôn yêu thương kẻ hiền lành, khiêm tốn, và tất cả những ai muốn thuộc về Ngài, được Ngài yêu thương đều phải khiêm tốn, hiền lành, như Đức Giêsu, Con Mẹ sẽ dậy các môn đệ và những ai muốn đi theo : “Anh em hãy hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng”.
2. Mẹ diễm phúc vì Mẹ tin vào Lời Thiên Chúa hứa :
 Tin khó, vì tin là tin vào một điều gì đó chỉ xẩy ra ở tương lai, tin vào một người mình chưa thấy, chưa tự tay sờ được. Nói cách khác, không ai cần tin một người, một việc, một sự kiện họ đã thấy, đã nghe, đã sờ mó, cảm nhận được, nên tin là tin vào Lời Hứa, và Lời hứa sẽ chỉ thực hiện ở  ngày mai, ở tương lai xa hay gần. Vì thế, Đức Tin luôn đi với Lời Hứa, Lời Thiên Chúa hứa.
   Jorathe Nắng Tím