Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

BẢO HIỂM TUYỆT VỜI!


BẢO HIỂM TUYỆT VỜI!
     Càng lớn, ta càng thấy đời sống thật vô thường. Vô thường là tình trạng không luôn bình thường, không như lẽ thường, không thưòng tình như thiết kế, quy định. Vì vô thường mà nhiều cái bình thường cứ tưởng phải tuần tự như tiến, nhưng bất ngờ diễn tiến ngược lại. Đúng là "xẩy nẩy cái ung", nghiã là hoàn toàn ra ngoài ý muốn. Vì vô thường mà nhiều tính toán đã không hoàn thành, hay nếu có, cũng không hoàn hảo, chính xác ; nhiều công trình chuẩn bị rất chu đáo ở đoạn đầu, nhưng rồi  cũng lạc cung, lỗi nhịp ở đoạn cuối. Cũng vì vô thường mà thường xuyên phải mếu máo, dở khóc dở cười, như ở thời vượt biên những năm 1978 -1980, có nhiều người ngậm ngùi hát cho thân phận của bạn bè, khi giật mình nhận ra người tù mới bước vào phòng giam chính là bạn mình : Mình nghĩ nó đi Tây, ai ngờ nó đi tù. Mình ngỡ nó qua Tây, ai ngờ nó vô đây! Tính một đường, ra một nẻo, riết rồi chẳng còn muốn tính, vì tính mãi cũng chẳng đi đến đâu, nên đành tự an ủi : “Mưu sự tại nhân,  thành sự tại thiên” và ngao ngán thở dài : Đời thật vô thường !
     Đức Giêsu biết đời vô thường. Ngài còn biết rõ những nghiệt ngã của lẽ vô thường, và thương chúng ta là nạn nhân của những vô thường nghiệt ngã ấy. Ngài còn biết chúng ta bồn chồn, lo âu, ăn không ngon ngủ không yên, hao tâm tổn trí vì những đổi thay liên tục trong cuộc sống. Những đổi thay bất thường không chỉ ở thiên nhiên vạn vật, nhưng còn nguy hiểm, khó lường, khó tránh  ngàn lần hơn do lòng người đổi trắng thay đen, do tương quan phức tạp, do xung đột lợi ích, nhất là do ganh ghét, ghen tuông.
     Dù cắt nghiã thế nào, thì đời người cũng vẫn vô thường và kinh nghiệm lo buồn vì quá khứ trót dở dang,  kinh nghiệm lo âu với hiện tại bồng bềnh nhiều thử thách, kinh nghiệm lo lắng trước tương lai  bấp bênh vẫn mãi nặng lòng.
       Và khi lòng đã nặng, thì tất cả đều trở nên nặng, rất nặng. Nhưng rất may cho chúng ta khi Thiên Chúa  yêu con người, đến với con người, và gồng gánh hết những gánh nặng của đời người. Lời Hứa của Thiên Chúa đã trở thành núi đá cho chúng ta náu thân, là ơn Cứu Độ, là Nguồn Sống và Bình An. Lời Thiên Chúa  hứa không chỉ là bảo Hiểm nhân thọ, nghiã là chỉ bảo kê  đến chết, nhưng là Bảo Hiểm Vĩnh Cửu, Đời Đời, bảo hiểm có giá trị cả đời này và đời sau.
1.    Bảo Hiểm  toàn diện, toàn phần và đời đời :   
     Bảo Hiểm của Thiên Chúa là bảo hiểm toàn diện, toàn phần, bao trùm tất cả và  trăm phần trăm gồm
 a. Bảo hiểm cơm ăn, áo mặc :
    Với Bảo hiểm này, “anh em không còn phải lo cho mạng sống : lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo cho thân thể : lấy gì mà mặc”. Người ta lo mua bảo hiểm là vì lo đủ thứ : lo đau bệnh, không tiền nằm nhà thương, mua thuốc ; lo tai nạn nghề nghiệp, mất sức lao động, không ai nuôi ; lo tuổi già yếu đuối, không người chăm sóc ; lo hoả hoạn, không nhà ở ; lo đụng xe, xe đụng, không tiền bồi thường ; lo chết bất tử, không tiền lo hậu sự. Vì lo mà phải mua bảo hiểm, nhưng bảo hiểm nào cũng có giới hạn và không công ty nào có thể bao trọn gói  và đáp ứng tất cả đòi hỏi, đợi chờ của khách hàng, thân chủ, dù luôn miệng qủang cáo : khách hàng là thượng đế !
      Biết chúng ta lo lắng trăm bề trước những vô thường trong sinh hoạt thường ngày, Đức Giêsu  trấn an và quảng cáo chuơng trình Bảo Hiểm của Ngài : “Hãy xem chim trời : chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho ; thế mà Cha trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng qúy hơn chúng sao?.. Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng.. : chuáng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy.Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn mai mất mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em .. Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì, uống gì, mặc gì đây? Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ ấy” (Mt 6,25-32).
b. Bảo hiểm rủi ro: 
    Với Bảo Hiểm của Thiên Chúa, “anh em  đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em”(Lc 10,19).
c. Bảo hiểm sinh mạng:
     Cũng chẳng ai có thể giết chết được sự sống  đích thực của anh em, vì có Thiên Chúa bảo kê : “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em nên sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý Thiên Chúa. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Ngài cũng đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10, 28-31).
   d. Bảo hiểm sự sống bất diệt:
 Chương trình bảo hiểm của Thiên Chúa còn qủa quyết : với Đức Giêsu, các thân chủ “sẽ không phải chết, mà dù có chết cũng sẽ được sống, vì Ềchính Thầy là sự sống và sự sống, nên ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26); mà nếu có phải chết trong cuộc sống thế gian tạm bợ này, thì cũng là chết với Đức Giêsu để được hiển trị đời đời với Ngài (2 Tm 2,11).  
2.    Bảo hiểm tuyệt đối  có  uy tín:
    Công ty bảo hiểm của Thiên Chúa, hay đúng hơn chính Thiên Chúa bảo hiểm thì không còn gì uy tín hơn, mà phải nói là tuyệt đối uy tín. Thường khi chọn bảo hiểm, người ta rất thận trọng so sánh chất lượng dịch vụ,  khả năng phục vụ, và mức độ uy tín. Nhiều công ty bảo hiểm, sau khi lấy tiền của khách hàng rồi, thì trân tráo trở mặt, không giữ lời hứa, không tôn trọng hợp đồng, không cư xử nhã nhặn, lịch sự. Nhiều người đến lúc  nguy biến khẩn báo công ty bảo hiểm đến can thiệp, mới vỡ lẽ công ty đã giải thể, bảng hiệu đã tháo gỡ, các số điện thoại để liên lạc đã bị cắt từ thưở nào; mà ngay cả với công ty có uy tín, khi hữu sự, để nhận lại những khoản tiền bồi thường như  khế ước quy định, cũng còn phải vượt qua muôn vàn nhiêu khê, rắc rối. Bảo hiểm của Thiên Chúa, vì chính Đức Giêsu bảo kê nên uy tín tuyệt đối:
a.    Tuyệt đối uy tín vì chính Đức Giêsu luôn có mặt mọi nơi, mọi lúc:
     “Thầy đây, chúng con đừng sợ!” (Ga 6, 20) là lời trấn an đêm ngày Đức Giêsu nói với mỗi người, được nhấn mạnh bằng qủa quyết : “Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20), nên sẽ không có vấn đề chúng ta bị bỏ rơi trong túng quẫn, bị lãng quên khi bệnh tật, bị hắt hủi lúc khổ đau, bị chối từ giờ sinh tử.
b.    Tuyệt đối uy tín vì Thiên Chúa là Đấng trung tín, không bao giờ lừa dối ai:   
     Điều quan trọng hàng đầu trong lời hứa, thề nguyền, khế ước, hợp đồng là lòng trung tín. Bảo hiểm la một hợp đồng của trung tín, đòi hai bên phải tuân giữ những điều khoản đã cùng chấp thuận và ký kết.Vì thế, khi lòng trung tín không có  hay không còn, dù là ở một bên, từ một phiá thì hợp đồng đều bị bức tử.
    Với hợp đồng có chữ ký của Thiên Chúa, chúng ta không phải lo ngại gì, vì ngay cả : “nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể chối bỏ chính mình” (2 Tm 2,13), bởi Thiên Chúa là Đấng luôn trung tín với Lời Hứa của Ngài.
3.    Bảo Hiểm An Toàn, Bình An
      Người ta mua bảo hiểm vì lo sợ: lo đói  khi mất việc, nên tìm mua bảo hiểm thất nghiệp;  sợ chết không ai chôn, nên phải mua bảo hiểm mai táng… Và càng lo sợ nhiều thứ, người ta càng sắm cho mình nhiều thứ bảo hiểm, như  vũ khí chống lại lo âu, như tường thành ngăn cản bước chân hung hãn của sợ hãi. Và một cách nào đó, chúng ta có thể nói : mua bảo hiểm là tìm kiếm bình an, đăng ký bảo hiểm là giữ mình trong  tình trạng an toàn.
     Qủa thực, bình an là hạnh phúc lớn nhất mà con người tìm kiếm. Cũng vì khao khát Bình An, mà người ta lo mua bảo hiểm ; cần được an toàn, mấy ai dám lơ là, không chuẩn bị những phương án đối phó bất trắc, rủi ro. Trong cuộc sống, bình an là dấu ấn của cuộc đời có phúc, và chết bình an là phần thưởng cao qúy của bậc đại nhân, đạo hạnh.
      Nhưng Bình An thì vô giá, và không ai có thể mua được bằng tiền hay bằng rất rất nhiều tiền. Sở dĩ Bình an vô giá, khó tìm, khó mua, vì Bình An đích thực, Bình An viên mãn không thuộc về con người, không là sản phẩm thuơng mại trao đổi giữa con người , nhưng thuộc quyền sở hữu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã khẳng định với các tông đồ : “Thầy ban Bình An của Thầy cho anh em, bình an mà thế gian không ban được” (Ga 14,27), nên  dù có cố gắng đến đâu, dịch vụ bảo hiểm có tốt cỡ nào, điều kiện hợp đồng có lợi bao nhiêu, thì con người cho đến cuối đời vẫn không hết lo hết sợ ..  
                                                          ***
      Lậy Đức Giêsu, Chuá biết chúng con sợ, sợ nhiều người, nhiều thứ, nhiều sự .! Càng sợ, chúng con càng nhốn nháo đi tìm công ty bảo hiểm, tìm ô dù các loại, tìm anh chị giang hồ “có số má” bảo kê. Nhưng rồi đâu cũng hoàn đó, lo vẫn lo, sợ vẫn sợ, có khi còn lo hơn gấp bội, sợ hơn gấp mấy lần, vì thêm gánh nặng từng qúy trả tiền bảo hiểm, hàng tháng đóng qũy đen giang hồ, cuối tuần nộp hụi chết bảo kê.
     Nay chúng con tìm về Chúa, và chọn Chúa làm Đấng Bảo Kê duy nhất của đời chúng con, vì chỉ một mình Chúa là Bình An thật, mà các thiên thần đã loan báo cho nhân loại trong đêm Giáng Sinh; chỉ một mình Chúa là Ơn Bình An viên mãn từ sự chết và Sống Lại, nên  chỉ “nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài”, là Thiên Chúa  Cứu Độ, chúng con mới được sống bình an và chết an bình.
   Ở ngoài vùng phủ sóng Yêu Thương và  Bảo Hiểm  Bình An tuyệt đối của Chúa, đời chúng con sẽ không chỉ vô thường, mà còn vô vọng, vô nghiã, vô phúc nữa, khi bước  chân không an toàn và cuộc sống không bình an.  
     Xin Chúa đón nhận chúng con làm khách hàng  của hãng Bảo Hiểm Tuyệt Vời, có Chúa bảo kê Tuyệt Đối, và đời chúng con chắc chắn sẽ vui lắm. Chúng con hứa  luôn tôn trọng ba điều khoản  do chính Đức Giêsu đề ra trong hợp đồng Bảo Hiểm Đời Đời, đó là:
- “Đừng xao xuyến, nhưng hãy tin vào Thiên Chúa” (Ga 14,1), “ngày mai cứ để ngày mai lo” (Mt 6,34)
- “Hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người  trước” (Mt 6,33),
- Và “Hãy mừng vui, vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20)
Thế là từ nay, chúng con chẳng lo sợ gì, vì đời đời có Chúa bảo kê !
Jorathe Nắng Tím
     
            

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2018

Suy Niệm TIN MỪNG Chuá Nhật 22 TNB : Mc 7,1-23


      Tin Mừng Máccô cho chúng ta thấy Đức Giêsu là người thầy luôn bênh vực môn đệ của mình khi các ông không làm theo những  gì Luật Môsê quy định. Ngài đã làm như thế không phải một lần, nhưng rất nhiều lần. Vì thế mâu thuẫn giữa Ngài và các Biệt Phái, Kinh Sư  Do Thái ngày càng căng thẳng.

     Các ông Biệt Phái và Kinh Sư là giai cấp lãnh đạo, được trọng vọng trong xã hội tôn giáo Do Thái, và tất nhiên họ phải bảo vệ Luật Môsê một cách triệt để, nếu không nói là cực đoan, vì chỉ có Luật Môsê mới đảm bảo hữu hiệu vị thế và lợi thế của họ. Chính vì thế, bất cứ ai vi phạm Luật Môsê đều bị họ lên án, không kể gì Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai.

     Thực ra Đức Giêsu không chủ trương, cũng không kích động các tông đồ chống lại Luật Môsê và Truyền Thống của cha ông; trái lại Ngài công nhận và tuân giữ. Nhưng Ngài muốn đặt lại cho xã hội tôn giáo lúc bấy giờ, cũng như cho các ông Biệt Phái, Kinh Sư Do Thái  ý nghiã, mục đích của Truyền Thống, Lề Luật :

1. Truyền Thống, Lề Luật phải phục vụ hạnh phúc của con người:
    Điểm thiết yếu Đức Giêsu đặt ra cho các ông Biệt Phái, Luật Sĩ là mục đích của Truyền Thống, Lề Luật. Nếu Truyền Thống, Lề Luật không đem lại hạnh phúc cho con người, không làm cho con người được sống xứng danh con người, không tạo điều kiện để nhân phẩm được bảo vệ và phát triển, không xây dựng đời sống con người ngày càng trở nên tốt đẹp, thoải mái hơn, nhất là không phát huy tình huynh đệ, tương trợ giữa người với người thì Truyền Thống, Lề Luật ấy không đáng được tồn tại, gìn giữ.

      Có rất nhiều Truyền Thống, Lề Luật không góp phần xây dựng đời sống con người, không tạo điều kiện cho cuộc đời đáng sống hơn, nhưng  nghiền nát, xóa bỏ con người và làm cuộc sống trở nên ngột ngạt, nặng nề. Dưới áp lực này, con người và hạnh phúc của con người không còn là mục tiêu phục vụ của Truyền Thống, nhưng Truyền Thống là ông chủ khắc nghiệt của con người, mà mọi ý muốn của ông chủ khó tính phải được  đầy tớ là con người thoả mãn, đáp ứng chính xác, trọn vẹn, từng chi tiết. Cuộc sống làm người và hạnh phúc của xã hội loài người không còn là đích điểm của Lề Luật, nhưng Lề Luật truy sát, khống chế xã hội và biến những con người sống trong xã hội đó thành những tù nhân bất hạnh.

   Chủ nghiã vị luật, nghiã là chủ nghiã thượng tôn Lề Luật, thần tượng Lề Luật, coi Lề Luật là chân lý tuyệt đối, uy lực tuyệt đối, phán quyết tuyệt đối và cho Lề Luật  quyền  sinh sát trên con người là chủ nghiã cực kỳ phi nhân, vì hoàn toàn loại bỏ con người, phủ nhận chỗ đứng không thể thay thế, hoán nhượng của con người, và sẵn sàng nhẫn tâm khước từ hạnh phúc của con người để mù quáng phục vụ  một hệ thống Lề Luật, một cơ chế Truyền Thống  lạnh lùng, vô cảm, xa rời nhu cầu và khắc khoải đích thực của con người.

     Con người ở trong cơ cấu vị luật, cơ chế suy tôn Truyền Thống ấy sẽ chỉ còn là những thân phận nô lệ của Lề Luật, tôi đòi của Truyền Thống, bởi chủ nghiã và khuynh hướng vị luật cực đoan, mù quáng này thường nhân danh con người để củng cố Lề Luật, Truyền Thống, khi con người vừa được  gọi tên, tuyên dương là công chính, đạo đức theo tiêu chuẩn đánh giá của Truyền Thống, Lề Luật, vừa bị Truyền Thống, Lề Luật phủ nhận, quật ngã, chà đạp.

   Đức Giêsu chống lại chủ nghiã vị luật này, vì con người bị xúc phạm, nhân phẩm bị tổn thương, hạnh phúc bị chối bỏ. Với Ngài, con người là quan trọng hơn hết dưới mắt Thiên Chúa, và Lề Luật, Truyền Thống, tuy cần thiết nhưng phải nhắm đến hạnh phúc của con người:

   Sau khi chữa lành một người bất toại đã ba mươi tám năm bên hồ nước tại Bétdatha, “hôm đó là ngày sabát, người Do Thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh” : “Hôm nay la ngày sabát, anh không được phép vác chõng!” Nhưng anh đáp: “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : Anh hãy vác chõng mà đi”!.. “Do đó, người Do Thái chống đối Đức Giêsu, vì Người hay chữa bệnh ngày sabát” (Ga 5, 9-10.16).

   Luật  Môsê quy định cả đến vác chõng về nhà, sau khi được chữa lành cũng không được làm trong ngày sabát. Tinh thần vị luật quá đáng khi nghiêm cấm làm việc trong ngày sabát đã bị Đức Giêsu chống lại khi Ngài qủa quyết : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17)  trước đám đông người Do Thái đang phẫn nộ lên án Ngài vì Ngài đã chữa bệnh này sabát, trái với  Lề Luật.

   Đức Giêsu cũng cho những người Do Thái thời đó hiểu rằng : việc tốt lành, thiện hảo là điều Thiên Chúa mong ước con người thực hiện cho nhau, nên Luật ngày sabát không thể ngăn cấm  những việc làm bác ái, tương trợ , khi Ngài đặt cho họ câu hỏi: “Ngày sabát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi”? (Mc 3, 4), khi Ngài chữa người bị bại tay trong ngày sabát.

   Nhưng rõ nét hơn là khi Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua một cánh đồng lúa. 

“Dọc đường, các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. Người Pharisiêu thấy vậy, mới nói với Đức Giêsu: Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm trong ngày sabát!” (Mt 12,1-2). Sau khi trưng dẫn cho  người Pharisiêu câu chuyện vua Đavít đã cho phép các thuộc hạ vì đói được ăn bánh đã cung tiến Thiên Chúa, bánh mà chỉ các tư tế mới được ăn và là điều Lề Luật nghiêm cấm, Đức Giêsu đã khẳng định : “Con người làm chủ ngày sabát” (Mt 12,8), chứ không phải ngày sabát làm chủ con người. Điều đó có nghiã Lề Luật được làm nên để phục vụ con người, để con người được sống trong trật tự, an bình, hạnh phúc, chứ không để  khống chế, áp đảo, giam hãm, hủy diệt con người.



      Tóm lại, Đức Giêsu không chủ trương hủy bỏ Lề Luật, nhưng Lề Luật, Truyền Thống chỉ có giá trị khi phục vụ con người, giúp con người sống tốt, sống đẹp, sống hạnh phúc. Lề Luật là phương tiện để con người trưởng thành trong đức ái, huynh đệ.  Lề Luật cần cho xã hội, với điều kiện Lề Luật không vi phạm, làm tổn thuơng con người trong xã hội ấy. Vì thế, Lề Luật phải luôn giữ được tính nhân văn, để luôn luôn có thể khéo léo uyển chuyển trong những trường hợp cần thiết hầu giữ được ý nghiã, mục đích của Lề Luật là phục vụ con người, thăng tiến đời sống con người và  mưu cầu hạnh phúc đích thực cho con người.

2.Tinh thần vị Truyền Thống, Lề Luật có thể làm phân liệt nhân cách :
     Khi dùng lời của ngôn sứ Isaia để nói với những người Pharisiêu: “Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô  ích, vì giáo lý chúng giảng dậy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mc 7,6-7) , Đức Giêsu đã nói lên nguy cơ phân liệt nhân cách, nói cách khác,nguy cơ giả hình ngay tự bản thân  của người sống tinh thần vị luật cách mù quáng, cực đoan.

   Thực vậy, một khi quá đóng khung vào hệ thống rườm rà, trói buộc và mang tính trình diễn hời hợt bên ngoài của Truyền Thống, Lề Luật, người ta sẽ dễ dàng và mau chóng bỏ quên những gì chân thực từ trái tim, những sự thật  đáng trân trọng của tâm hồn, những rung cảm trung thực của tấm lòng, những tốt đẹp  khó tìm thấy của tim óc. Bị cuốn hút vào chủ nghiã duy Lề Luật, người ta sẽ chỉ chăm chú soi từng nét chữ trong Lề Luật, cẩn thận giữ từng dấu phẩy của quy tắc, nghiêm khắc với từng chi tiết vụn vặt, cỏn con của Truyền Thống, mà quên đi chính con người của mình và anh em. Tình trạng phân liệt giữa bên ngoài và bên trong, giữa hành động và ý nghĩ, giữa đòi hỏi của Lề Luật và thao thức vi tha thầm kín làm nên mâu thuẫn nội tại rất căng thẳng. Để làm dịu căng thẳng của mâu thuẫn nội tại này, người ta bắt buộc phải giả dối, sống nhiều mặt, và đó là hiện tượng giả hình mà Đức Giêsu đã nhiều lần lên án (x. Mt 23).

    Cũng vì giả hình mà môi miệng bai bải yêu mến Chúa, lải nhải các điều răn, nhưng tâm hồn thì trống vắng, trái tim thì lạnh nhạt.Cũng vì giả hình mà bên ngoài thì cung kính lễ nghi, nhưng bên trong thì thờ ơ, chai đá. Cũng vì giả hình mà chu chắm tuân giữ truyền thống, nhưng lại “khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa” (Mc 7,9).Chính Đức Giêsu đã công khai lên tiếng : “Như thế là các ông lấy truyền thống các ông đã  truyền lại cho nhau mà hủy bỏ lờI Thiên Chúa” (Mc 7, 13).

    Thực vậy, Đức Giêsu đã mặc khải cho chúng ta: điều làm chúng ta bất hạnh, và ngăn cản chúng ta hiến thân cho nhau, chính là chúng ta sống giả dối và giả hình là thứ giả dối đã đi vào chiều sâu của bản ngã. Chính Đức Giêsu đã muốn xua đuổi vi trùng giả hình này ra khỏi đời sống chúng ta khi Ngài phân tích sự thật bên trong và bên ngoài của con người:

- Bên ngoài là vùng của những gì được biểu lộ, trình diễn; cũng là vùng của mặt nạ, những mặt nạ mà chúng ta muốn đeo cho mình, những hình ảnh mà chúng ta mơ ước và tự phóng các hình ảnh lý tưởng ấy qua lời nói, việc làm của chúng ta.
- Bên trong là vùng của sự thật, vùng của chính hiệu, chính gốc, vùng ở đó con người thật của chúng ta được xuất hiện “nguyên con” trước mặt Thiên Chúa, là nơi hạt giống Lời Thiên Chúa được gieo vãi. Bên trong còn là nơi của những quyết định, chọn lựa. Nhưng bên trong cũng là sào huyệt của ganh ghét, hận thù, ích kỷ, tham vọng thống trị, ham muốn sở hữu : “Vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác tang, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7, 20-23).

  Vâng, mâu thuẫn giữa bên ngoài và bên trong, giữa sự thật chúng ta là và những điều chúng ta mơ ước, giữa những gì chúng ta có và những điều chúng ta khát khao và tự khoác lên mình là sự thật không thể chối cãi.Vì thế, giả hình là cám dỗ nặng nề và liên lỷ của mỗi người, vì ai cũng cần một dáng vẻ ăn khách, một nhân thân hấp dẫn, một quá khứ thành tích, một hiện tại vinh quang, một tương lai hứa hẹn để sống được với đời nhiều tranh giành, đấu đá. Chúng ta cũng dễ rơi vào giả hình, vì thường xuyên chúng ta cũng cần giả hình với chính mình, khi mình chẳng có gì để có thể tự tuyên dương, tự biện minh, tự bào chữa. Đó là thảm cảnh rất bi đát của đời sống con người, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể giải phóng chúng ta ra khỏi.

      Thiên Chúa giải phóng chúng ta khỏi tình trạng phân liệt vì giả hình, khi chúng ta nhận ra: sẽ không có sự thật toàn diện, bao lâu con người không lắng nghe Thiên Chúa hằng sống và chân thực; sẽ không có tình yêu đích thực, bao lâu tình yêu của chúng ta không gắn kết vào  chính Chúa là nguồn Tình Yêu; sẽ không có đời sống chính hiệu, nguyên gốc Tự Do, bao lâu chúng ta không để Thiên Chúa hành động và dẫn dắt định mệnh đời chúng ta. Được dựng nên cho Thiên Chúa, chúng ta không thể hạnh phúc nếu không thuộc về Ngài, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới làm cho chúng ta thực sự tự do, khi giao hoà trong chúng ta nhũng gì bên ngoài với những gì bên trong, những gì được trình ra bề ngoài và những gì được giữ kín ở trong.Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể lấy khỏi chúng ta những mặt nạ mà không làm chúng ta thất vọng; cũng chỉ một mình Ngài mới có thể chữa lành căn bệnh  ảo tưởng, giả hình trong chúng ta và làm cho chúng ta trở nên những tạo vật mới có đủ khả năng và nhiệt huyết để yêu mến. Chính Ngài đã vạch cho chúng ta con đường, tuy hẹp, nhưng là con đường chân thật dẫn đến Hạnh Phúc thật (x. Mt 5,1-12).
     Để kết luận, chúng ta cần lưu ý sự cần thiết của Truyền Thống, Lề Luật, nhưng đồng thời cũng cẩn trọng trước cám dỗ của chủ nghiã vị Truyền Thống, vị Lề Luật, nghiã là chỉ biết Lề Luật, chỉ tôn thờ Lề Luật,  mà không quan tâm đến con người và ích lợi nhân sinh cũng như thiêng liêng của con người. Vì Lề Luật có thể trở thành nguyên nhân của tình trạng giả hình, phân liệt nhân cách, nhất là miệng ca tụng Chúa, nhưng lòng thì xa Chúa ngàn dặm.
      Xin Chúa cho chúng ta ý thức chúng ta được gọi vào đời để “yêu mến và phụng sự Chúa trong mọi người”, nên con người trong tất cả chọn lựa phải được yêu mến vì chúng ta yêu mến Thiên Chúa .Thế nên, cho dù là Lề Luật nào đi nữa, chúng ta cũng không thể bỏ quên hay làm tổn thương con người, là hình ảnh sống động của Thiên Chúa yêu thương.
Jorathe Nắng Tím

Bài Tin Mừng và Các Bài Đọc Chúa Nhật XXII, TNB quý Độc Giả có thể tham khảo tại đây : https://www.tonggiaophanhanoi.org/phung-vu/13990-chua-nhat-xxii-thuong-nien-nam-b.html

ĐÔI MĂT VÀ TRÁI TIM CỦA MẸ


ĐÔI MĂT VÀ TRÁI TIM CỦA MẸ
(Mừng kính thánh Monica và Augustinô)
   Mẹ tôi qua đời đã lâu, nhưng tôi vẫn không quên được ánh mắt Mẹ nhìn tôi chiều hôm ấy, cái buổi chiều mà nỗi buồn tàn phá của nó vẫn theo tôi ám ảnh.
 Tôi nhớ chiều hôm ấy Mẹ nhìn tôi, không nói, không thở dài thất vọng, không trách móc cằn nhằn, không gắt gỏng bực bội, không bức xúc sốt ruột. Mẹ chỉ nhìn, lặng lẽ nhìn với ánh mắt rất nhẹ, rất êm, rất hiền, rất lành, như âu yếm mơn trớn, vỗ về  thân xác hầu như đã bại liệt của đứa con ngông ngênh ngạo mạn vừa gục ngã, rũ rượi, tang thương.
  Chiều hôm ấy là buổi chiều tôi đã rơi tự do xuống tận đáy sâu tuyêt vọng. Tuyệt vọng đến đơ cứng môi mắt tê dại, chân tay co quắp, không còn sức  rên rỉ, nguyền rủa, chửi bới.
 Ở đáy sâu thất bại, tôi thấy mình thực sự trơ trụi, trần truồng vì không còn gì : lý tưởng, lẽ sống, công danh sự nghiệp, tương lai, bè bạn, môn sinh và một giây tình nhân đủ loại, đủ cỡ... Một thời giáo sư đại học là một thời hào hoa, hãnh tiến ; tháng năm nghiên cứu triết học là những ngày có môn sinh tiền hô hậu ủng, và chung quanh đã chẳng mấy người trạc tuổi, cùng trang lứa đã có thể thành đạt như tôi.
                                                                     ****** 
  Thoáng chốc mà đã hơn bốn mươi năm! Hôm nay nhớ Mẹ, tôi nhớ ánh mắt Thiên Chúa của Mẹ buổi chiều tuyệt vọng ấy, ánh mắt đã nhìn tôi từ trên cao. Nhìn từ trên cao, rất cao nên đôi mắt ấy thấy rất rõ, rất đầy đủ : thấy rõ những yếu đuối, tội lụy của cuộc đời thành công nhưng trác táng, hoang đàng, ngạo ngược ; thấy đủ và tường tận từng ngóc ngách mánh khóe đáng kinh tởm của đời tôi trụy lạc. Đôi mắt nhìn từ trên cao nên rất sáng. Đôi mắt chiếu sáng từ cao nên chẳng có gì đã tránh né, lấp liếm, che đậy được. Nhưng lạ thay, mắt sáng của Mẹ vẫn hiền, ánh sáng mắt Mẹ vẫn êm, vẫn dịu dàng, và chưa bao giờ làm mắt tôi chói, hay làm tôi mù loà !
 Hôm nay thì tôi hiểu rồi, chiều buồn năm ấy, mắt mẹ đã không hề và không thể  rực lửa nghi ngờ, hằn học, trừng phạt, lên án vì mắt mẹ bao la một biển tình dung thứ ; mắt mẹ đã không dò xét, tra khảo, đe dọa vì mắt Mẹ dạt dào đại dương xót thương ; mắt mẹ đã không xuyên tạc, tuyên án, buộc tội vì suối lệ yêu thương đã dàn dụa, đong đầy đôi  mắt Mẹ.
  Nước mắt mặn hôm ấy đã làm mắt mẹ mờ, nên Mẹ chỉ còn biết xót xa con. Nước mắt nồng làm mắt Mẹ cay ngày ấy đã làm Mẹ say tình con.
   Ôi những giọt lệ yêu thương cầu xin ơn trở về cho con đã làm cay mờ mắt Mẹ ngày ấy mà con không hề biết! Giòng nước mắt dài như  đời Mẹ đã hờ hững, lạnh lùng, thản nhiên, vô tình đến tàn nhẫn cuốn  trọn đời Mẹ đau khổ vào đời con tội lụy, để hồi sinh con, mà con nào có hay! Chỉ đến hôm nay, khi đã trở về, con mới hiểu chính phép lạ của tình yêu Mẹ hiền đã sinh lại đời con vô phúc, như giọt nước  xa nguồn được Mẹ chuộc lại, cho trôi về  đại dương ơn phúc của lòng Mẹ. 
 Ngoài đôi mắt, Mẹ còn có trái tim của Thiên Chúa, trái tim luôn cẩn thận cất dấu, bao che những thiếu sót, lỗi lầm, tội ác của con, mà chưa môt lần hé răng tố cáo. Trái tim bênh vực, bầu chữa. Trái tim êm ái, ngọt ngào có sức chữa lành mọi vết thương. Mẹ có trái tim của Thiên Chúa, nên không căng thẳng, cường điệu hay trầm trọng bất cứ lỡ làng, hụt hẫng, qụy ngã nào của con, nhưng ân cần an ủi, động viên, và vô điều kiện trở nên nơi nương náu, bờ vai cho con dựa. 
                                                      *****
 Trên đây là tâm tình viết thay con trai Augustinô gửi  Mẹ Monica, người mẹ có đôi mắt và trái tim Thiên Chúa . Cặp đôi Mẹ - Con thánh này không người Công Giáo nào đã không biết và yêu mến. Người mẹ thánh đã biến đổi con trai tội lỗi của mình thành thánh : thánh Giám Mục - Tiến Sĩ Hội Thánh. Augustinô, con người một thời  phá đời, quậy đời: thông minh nhưng kiêu  ngạo, nghiã  hiệp nhưng  phóng túng , say mê tìm chân lý nhưng tự cao, tự phụ. Vì thế, đã  không có gì  biến đổi được Augustinô, ngoài người mẹ có đôi mắt nhân hậu và trái tim thương xót, bao dung của Thiên Chúa.
  Với ánh mắt nhân hậu, bà Mẹ thánh thiện Monica đã làm rực sáng tình phụ tử  của Thiên Chúa nơi đứa con hoang đàng ; bằng trái tim bao dung, hiền mẫu, bà đã thay máu ô nhiễm trong tim con bằng dòng máu tinh tuyền,  cứu độ của Đấng là Tình Yêu Thương Xót , bởi chỉ có đôi mắt mang ánh sáng Thiên Chúa của người mẹ, chỉ có trái tim mang sự sống Thiên Chúa của tình mẹ mới  biến đổi những trái tim vô cảm, chai đá thành những trái tim bằng thịt biết chạnh lòng, biến những con mắt trợn trừng đe doạ, rực lửa hận thù, ngầu đục mưu mô trở nên những đôi mắt trẻ thơ, ngây thơ, sáng ngời ơn Cứu Độ.
  Mừng lễ “hai Mẹ Con thánh” của Giáo Hội “Monica và Augustinô”, chúng ta cùng cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta những người mẹ, là dung mạo Thiên Chúa yêu thương và hiện thân sống động của Lòng Thương Xót.
 Xin cho mẹ hiền mãi là Đôi Mắt của Thiên Chúa từ cao dõi bước con đi, và là Trái Tim Thiên Chúa cho con nương thân, ẩn náu bình an.
Jorathe Nắng Tím

        
       

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018

TẢN MẠN VỀ THÁNH GIOAN TẨY GỈA VÀ GIÁM MỤC

    Mỗi lần mừng lễ thánh Gioan Tẩy Giả, tôi lại chạnh lòng thuơng ngài. Sắp đến ngày Ngài chịu chém cổ, tôi lại thấy lòng mình se thắt hơn.
Tôi chạnh lòng thương ngài, vì các thánh khác thì ai cũng được tuyên phong và có triều thiên, phẩm hàm, ngai toà chính xác như thánh tông đồ, thánh giám mục, thánh tiến sĩ, thánh tử đạo, thánh hiển tu, thánh anh hài .., nhưng ngài thì ở ngoài những phạm trù, hàng ngũ trọng vọng nhưng quen thuộc, biên chế đó. Ngài chỉ được  mang cái tên “Gioan, Người Làm Phép Rửa”, cái tên thiên hạ đặt cho khi thấy ngài rửa tội xám hối cho đám đông người Do Thái bên bờ sông Giorđan. Vậy mà cái tên ấy, ngay lập tức đã bị chính ngài giản lược, xì hơi, tháo bỏ ngòi nổ ngay : “Tôi đây chỉ làm phép Rửa trong nước thôi, nhưng có một vị đang ở giưã các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1, 26-27).   
Tôi chạnh lòng mến phục ngài, vì ngài không chộp giựt cơ hội, nắm bắt cao trào, lợi dụng đám đông, mê hoặc quần chúng cho thế lực và vinh quang của riêng mình, mặc dù ở thời điểm đó, ngài được xem như  siêu sao, trúng thời như diều gặp gió. Được hỏi : Ông là ai ? Ngài tuyên bố thẳng thắn : “Tôi không là Đức Kitô, không là Êlia, cũng không là ngôn sứ” (Ga 1,19-20). Từ bỏ đến thế là cùng, khi  thanh thản và qủa quyết : Không là Đấng Cứu Thế mà thiên hạ đang  trông ngóng, không là Êlia mà cả dân Do Thái ngưỡng mộ, cũng không là ngôn sứ , người của Thiên Chúa sai đến nói với dân.Không là ai trong số những nhân vật quan trọng và được tuyệt đối trọng vọng này  thì là ai? Vì ngoài những đấng bậc  này, chẳng còn ai để dân có đạo Do Thái phải kính sợ, tôn sùng. 
 Tôi chạnh lòng ngưỡng mộ ngài, vì ngài khiêm tốn nhận mình là "tiếng người hô trong hoang địa" : “Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi” (Ga 1,23).  Eo ơi, ghê quá, vì một mình đi trong hoang địa : cô đơn và nguy hiểm! Uổng công lắm, vì tiếng người chứ đâu phải tiếng sấm sét hay tiếng gấu cọp đâu mà mong có người nghe giữa sa mạc? Dễ bị coi là ảo tưởng, mát giây, chạm điện, tưng tửng lắm vì Đức Chúa nào lại cần con người dọn đường, mà có dọn thì cũng chỉ dọn dẹp  đại lộ, xa lộ, hay cao tốc thôi, chứ  Đức Chúa nào lại xuống sâu dưới thung lũng, vượt  núi đồi hiểm trở, trèo dốc đá cheo leo, bì bõm lội đầm lầy? (Lc 3,5).
Tôi chạnh lòng trân qúy ngài, vì ngài không giữ lại cho mình những môn đệ mà ngài đã dầy công đào tạo, vì cứ thói thường : sư phụ nào cũng muốn có môn sinh ở gần để có người lắng nghe, ở bên để có người sai bảo, kề cận đêm ngày để có người hầu hạ, thực hiện ý muốn, chương trình của mình. Nhưng Gioan thì khác, ngài đã vui vẻ giới thiệu và chuyển giao tất cả môn đệ của mình cho Đức Giêsu, và can đảm nhìn họ quay gót bỏ ông để đi theo Đức Giêsu (Ga 1,35-37).
    Và tôi chạnh lòng cảm thương ngài khi nghe Hêrôđê  truyền  đem đầu của ngài từ trại giam lên cho mẹ con bà Hêrôđia : “Số là vua Hêrôđê đã sai người đi bắt ông Gioan và xiềng ông trong ngục. Lý do là vì vua đã lấy bà Hêrôđia, vợ của anh là Philípphê, mà ông Gioan lại bảo : Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài”! Bà Hêrôđia căm thù ông Gioan và muốn giết ông, nhưng không được...(Mc 6,17-19).
   Một ngày thuận tiện đến : nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hêrôđê mở tiệc thiết đãi bá quan văn võ … Con gái bà Hêrôđia nhảy múa làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái : “Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con”. Vua lại còn thề : “Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được”. Cô gái đi ra hỏi mẹ : “Con nên xin gì đây?” Mẹ cô nói : “Đầu Gioan Tẩy Giả”. Lập tức cô trở vào đến bên vua mà xin rằng : “Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gioan Tẩy Giả, đặt trên mâm”. Nhà vua buồn lắm, nhưng đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với cô. Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gioan tới. Thị vệ đi, chặt đầu ông ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ (Mc 6,17-28).
   Gioan chết vì sự thật, vì dám nói  sự thật, dám đem mạng sống mình để làm chứng và bảo vệ sự thật, nên phải mất đầu, thiệt mạng, bởi số phận của người nói thật, nhân chứng của sự thật ở đâu và thời nào cũng đều hẩm hiu, thê lương giống nhau. Gioan đã bị chém đầu vì yếu đuối của vua Hêrôđê  trước đàn bà. Thế mới biết đàn ông rất khó đứng vững trước đàn bà, một khi đàn bà đã quyết tâm giăng bẫy, ngay cả trước đó đã ý thức nguy hiểm của cạm bẫy, và lượng định mức độ cực kỳ lợi hại của phụ nữ, kể cả dồn hết  quyết tâm và kiên định không để bị sập bẫy như vua Hêrôđê  không chỉ biết  rõ : “Gioan là người công chính thánh thiện, mà còn sợ ông và muốn che chở ông nữa” (Mc 6,20). 
             * **
Sáng nay, đang khi viết về thánh Gioan Tẩy Giả, tôi chợt nhớ bài giảng của Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Giám Mục Mỹ Tho trong thánh lễ mừng ngân khánh Giám Mục của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn. Theo ngài, Giám Mục, qua con người của Đức Hồng Y Gioan Baotixita, là người vun trồng sự hiệp nhất và bảo đảm tương quan hài hoà. Để thực hiện đòi hỏi ấy, Giám Mục là  người nhìn từ trên cao, để có thể nhìn xa, nhìn rộng, nhìn bao qúat. Giám Mục còn phải có lòng bao dung và điềm tĩnh để có thể đón nhận những khác biệt, vượt qua những khác biệt và hoá giải những khác biệt, bởi tổ chức, cộng đồng càng lớn, khác biệt, xung đột càng nhiều.
 Giám Mục nói về Giám Mục thì còn gì phải thêm bớt?  Đắc ý với Đức Cha Phêrô, tôi cũng thú vị với ý nghĩ lạc đề của mình, và  liều lĩnh viết ra đây :
 Gioan Tẩy Giả đã khởi sự sứ vụ “Người Làm Phép Rửa” của mình vào một hoàn cảnh, ở đó người ta qúa say mê ngưỡng mộ, và cuồng nhiệt  thần tượng ông. Đám đông đã tự động, tự phát, đồng tình gán cho ông những danh hiệu cao qúy, huy hoàng mà ông không có : Đấng Cứu Thế,  Êlia, Ngôn Sứ ; Giám Mục ở ngày tấn phong cũng được vô số người chúc tụng và được đám đông biến thành siêu sao với đủ mầu sắc huyền thoại, mặc dù các ngài không muốn, không tìm, cũng chẳng hề hay biết, nhưng dư luận thì cứ  tha hồ luận dư ra, và huyền thoại cứ thi nhau tung hứng mà tăng cấp hão huyền..Thật tội nghiệp !
   Gioan Tẩy Giả là người của quần chúng, đứng trên cao, trước mặt nhiều người nên không thể không công khai lý lịch, và đám đông đã “gay gắt” hạch hỏi ông đến cùng, mặc dù ông đã trả lời đến ba lần : tôi không phải là người này, người kia ; Giám Mục cũng là đối tượng bị chiếu tướng bởi  nhiều người, vì trách nhiệm lãnh đạo, sờ sờ trước mắt nhân dân, sừng sững “đứng mũi chịu sào”, nên trăm bề khổ sở với đủ thứ thắc mắc linh tinh, ý kiến ý cò được đặt ra bởi đủ thứ người : thương - ghét, phò- chống,  xa- gần, có mặt - vắng mặt, thân hữu - đối phương.
Tẩy Giả  nói sự thật, nên bị bắt giam ; không đầu hàng sự ác nên bị chém đầu ; Giám mục cũng thế thôi, tuy không bị chém đầu đổ máu, nhưng cũng chết lên chết xuống, lên bờ xuống ruộng và  ngậm đắng nuốt cay đủ kiểu, đủ điều. Và cuối đời sứ vụ, cũng như Gioan Tẩy Giả  một mình tức tưởi bị chém trong ngục, hầu hết Giám Mục đều  chung một kết cục: ra đi lặng lẽ cô đơn. Viết đến đây, với lòng yêu mến sâu xa, con xin được tưởng nhớ  Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ, Đức Cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống và Đức Tổng Phaolô Bùi Văn Đọc là những Giám Mục đã góp phần lớn làm nên đời con.
  Vâng, nếu với thánh Gioan Tẩy Giả, tôi đã chạnh lòng thương, chạnh lòng mến phục, chạnh lòng ngưỡng mộ, trân qúy, thì thái độ tôi cần phải trang bị hôm nay, cũng là thái độ tôi đề nghị các anh em tôi hôm nay nên có, đó là biết chạnh lòng tôn trọng và chạnh lòng cảm thông với các Đức Giám Mục của chúng ta.
 Thiết tưởng với hai thái độ căn bản này, chúng ta đã làm được  bước chân thứ nhất, là bước chân luôn khó trên hành trình cùng xây dựng Hiệp Nhất và Hài Hoà  trong cộng đồng dân Chúa luôn luôn nhiều khác biệt nhưng phong phú tuyệt vời.
 Mừng thánh Gioan Tẩy Giả, xin Ngài là  “tiếng hô trong hoang địa” cho chúng con tinh thần “Thiên Chúa phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” để có thể hiệp thông cùng với Đấng Bản Quyền là các Giám Mục giới thiệu Đức Giêsu, “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa  tội trần gian” cho thế giới hôm nay (Ga 1,29).
Jorathe Nắng Tím

   

    


LOAN BÁO TIN MỪNG VÀ SỐNG TIN MỪNG ĐƯỢC LOAN BÁO


LOAN  BÁO  TIN MỪNG VÀ SỐNG TIN MỪNG  ĐƯỢC LOAN  BÁO
   “Loan báo Tin Mừng là quyền và bổn phận  mà không ai có thể từ chối”
     Đó là lời Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI  tuyên bố tại Vatican ngày 17 tháng 5 năm 2008
Tin Mừng của Đức Giêsu là một phần của Tân Ước gồm bốn cuốn được viết bởi các thánh  Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan  kể về  Đức Giêsu Kitô.
       Trong tiếng Hy Lạp, loan báo Tin Mừng có nghiã  “làm cho ai đó được biết một tin vui”, và  cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đã dùng để  chỉ việc loan báo cho mọi người  tin vui :  Đức Giêsu Kitô  đã sống lại từ cõi chết.
     Các tín hữu tiên khởi đã không coi việc loan báo Tin Mừng Đức Kitô đã sống lại như công tác tuyên truyền về một giáo thuyết phải học thuôc lòng,  hoặc mời mọc người khác nghiền ngẫm, suy tư về  nội dung một tác phẩm dậy sự khôn ngoan như các triết gia thời đó, nhưng trước hết và trên hết, loan báo Tin Mừng là làm chứng về một biến đổi nội tâm nơi mỗi người nhờ sự phục sinh của Đức Kitô, và qua sự phục sinh của Ngài, toàn thể nhân loại sẽ được sống lại.
     Tin Mừng  vẽ lại chân dung của Đức Giêsu, Đấng đã gặp rất nhiều người và với ai Ngài cũng tỏ lòng kính trọng, yêu thương, trìu mến. Đáng chú ý hơn cả là thái độ khiêm nhường, hạ thấp mình xuống ngang hàng những người yếu đuối, hèn mọn  nhất, để không một ai bị bỏ rơi, lãng quên dưới ánh mắt nhân hậu của Thiên Chúa. Đức Giêsu còn ở với con người trong chính sự chết, để mỗi người nhờ ở với Ngài được đi vào  hiệp thông với Thiên Chúa Cha.Vì thế, ngay từ buổi đầu của Giáo Hội, các tín hữu đã loan báo Tin Mừng  trong niềm vui của những người được đón nhận và tháp nhập trong Thiên Chúa, với niềm xác tín : “Thiên Chúa làm người để con người được làm Thiên Chúa”.
       Từ  ý nghiã thần học này, loan báo Tin Mừng không chỉ là nói với người khác về Đức Giêsu, nhưng còn là giúp mọi người nhận ra giá trị của họ dưới mắt Thiên Chúa, và chuyển tải đến từng người lời của ngôn sứ Isaia: “Ta đã gọi con bằng chính tên con: con là của riêng Ta... Vì trước mắt Ta, con thật qúy giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương” (Is 43,1.4), để rồi khởi đi từ buổi sáng phục sinh rực rỡ ấy, chúng ta biết Thiên Chúa đã không ngần ngại trao ban tất cả để không bao giờ chúng ta có thể quên “mỗi người là tất cả của Thiên Chúa, mỗi người là giá trị không thể hoán nhượng đối với Thiên Chúa”. 
       Sở dĩ con người được là giá trị tuyệt vời dưới mắt Thiên Chúa, vì con người có tự do, và tự do này phải được tôn trọng.Vì thế, loan báo Tin Mừng không thể trở thành một công tác nhồi sọ, tẩy não, nhưng là lời mời  hiệp thông  với Đức Giêsu, bởi sau khi sống lại, Đức Giêsu Kitô đã giao hoà, nối kết, hiệp nhất tất cả nhân loại trong Thiên Chúa. Được mời gọi hiệp thông với chính Thiên Chúa, việc loan báo Tin Mừng phải được bắt đầu bằng sự gắn bó thiết thân của mỗi người với Đức Giêsu, như thánh Phaolô đã viết : “Anh em đã mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27).Vì thế, bằng chính đời sống, chứ không chỉ bằng lời nói, chúng ta làm chứng  Đức Kitô phục sinh, Đấng biến đổi chúng ta “nhờ được thông phần  những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết”  (Pl 3,10-11). Chính nhờ niềm tin và niềm vui được yêu thương và hiệp thông trong Đức Kitô của chúng ta, mà Đức Kitô được trở nên “đáng tin cậy, đáng yêu mến” dưới mắt những ai chưa nghe biết về Ngài. 
      Sau hết, loan báo Tin Mừng đòi chúng ta đặt trọn tin tưởng ở Chúa Thánh Thần, “Đấng sẽ dậy anh em biết những điều phải nói” (Lc 12, 12).
       Vài nét chính yếu về sứ vụ loan báo Tin Mừng vừa chia sẻ trên phần nào đã cho chúng ta thấy nội dung, ý nghiã, mục đích, và phương cách của việc loan báo Tin vui Đức Kitô đã sống lại. Trong  phần dưới này, chúng ta sẽ cùng nhau mở rộng, triển khai: 
1. Loan Báo Tin Mừng là Loan Báo chính Đức Giêsu.
   Mục đích của việc loan báo Tin Mừng là Đức Giêsu, đối tượng của Tin Mừng là Đức Giêsu, nên toàn bộ nội dung của Tin Mừng cũng là chính Đức Giêsu. Tin mừng không loan báo gì ngoài Đức Giêsu, không nhắm đến ai ngoài Đức Giêsu, không tìm kiếm người nào ngoài Đức Giêsu. Đức Giêsu là duy  nhất của Tin Mừng. Từ Đức Giêsu và chung quanh Đức Giêsu, mọi sự, mọi việc, mọi người được khởi đi và tập trung, quy chiếu.
a. Loan báo lý lịch của Đức Giêsu:
     Trước hết Tin Mừng loan báo nguồn gốc, lý lịch của Đức Giêsu: Thiên Chúa làm người.
“Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành” (Kinh Tin Kính);  Ngài ngự bên hữu Đức Chúa Cha vì là Con Đức Chúa Cha (Cv 9,20) như “Đức Chúa đã phán cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân Con; Vậy tòan thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2,34-36).
      Là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, nhưng “vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ Trời xuống thế” (Kinh Tin Kính).
     Như thế, lý lịch chính xác của Đức Giêsu mà Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng chính là Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Trong tất cả các thánh lễ, sau khi Truyền Phép, chúng ta cùng chủ tế và toàn thể Hội Thánh long trọng tuyên xưng : “Lậy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến!”.
       Loan truyền Đức Giêsu chịu chết là loan báo Đức Giêsu là con người, vì chỉ con người mới phải chết, Thiên Chúa không chết bao giờ, vì Ngài là nguồn sự sống, đồng thời tuyên xưng Đức Giêsu sống lại là tuyên tín Đức Giêsu là Thiên Chúa. Đó là nội dung đức tin của Phêrô đã tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16), mà suốt đời người Kitô hữu không ngừng loan báo và tuyên xưng, như căn tính, sứ vụ và ơn cứu rỗi của họ, bởi “thật chính đáng, công bình và sinh ơn cứu độ cho  phần rỗi chúng ta” (Kinh Tiền Tụng).
b.  Loan báo cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu.     
     Cuộc đời của Đức Giêsu là cuộc đời vâng phục thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài đến trong thế gian để yêu thương và cứu độ. Tất cả những gì Ngài làm, trong bất cứ hoàn cảnh nào đều làm theo ý Thiên Chúa Cha: “Lậy Cha, xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha mọi đàng” (Lc 22, 42). Thánh ý Chúa Cha là lẽ sống, lý do có mặt của Đức Giêsu trên trần gian này, ngoài ra không còn một lý do hiện hữu nào khác, chính Đức Giêsu đã khẳng định trước đám đông người Do Thái đang khi họ xầm xì thắc mắc về nguồn gốc và sứ mệnh của Ngài: “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi, mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Nguời đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy và tin tôi, thì sẽ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,38-40). Và Đức  Giêsu đã thực hiện trọn vẹn thánh ý của Cha Ngài với lòng vâng phục tuyệt đối cho đến chết và chết trên thập giá (Pl 2,8).
       Qủa thực, không còn gì rõ hơn, và không ai có thể  xuyên tạc, bẻ cong lẽ sống của Đức Giêsu khi xuống thế làm người, sống như con người. Cũng từ lẽ sống đó, Đức Giêsu thi hành sứ vụ của Đấng Cứu Thế mà ngôn sứ Isaia đã  báo trước: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghẻo hèn.Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Sứ vụ cứu thế đó đã được  Đức Giêsu thể hiện qua nếp sống gần gũi, thái độ ân cần cởi mở, thân thiện với mọi người, không loại trừ  ai. Sứ mệnh cứu thế còn được thực hiện qua các phép lạ chữa nhiều người bệnh tật, cho người chết sống lại, xua đuổi tà thần khỏi những người bị chúng khống chế, cho người chết sống lại, “kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng”  (Mc 1,15) và nhất là ban lòng Thương Xót và  Bình An của Ngài cho tất cả những ai đến với Ngài (x. Lc 15; Ga 8,1-11; 14,27).   
2. Tin Mừng đến từ Thiên Chúa Ba Ngôi.  
     Tin Mừng mà Đức Giêsu loan báo không là sản phẩm của con người, nhưng xuất phát từ chính Ba Ngôi Thiên Chúa, nói cách khác, đó là Tin Mừng của Thiên Chúa Ba Ngôi : Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa  lên khỏi nước, thì các tầng trời mở ra và Người thấy Thần Khí Thiên Chúa như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Con” (Mc 1,9-11).
     Cảnh tượng kỳ diệu trên muốn làm chứng  Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai Thiên Chúa và Tin Mừng của Ngài loan báo cho nhân loại chính là Tin Mừng của cả Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần:
       Tầng trời mở ra là dấu chỉ Thiên Chúa Cha  đến với con người và nói với con người qua Đức Giêsu, Con Một của Ngài.Thiên Chúa không tự giam mình trong tủ kính, pháo đài, nhưng mở ra, mặc khải, đến gần, ở với để nói với, lắng nghe, đón tiếp, yêu thương, cứu độ con người, vì Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa say mê con người và không muốn bất cứ ai lạc mất Ngài, bởi tất cả mọi người đều đã được sinh ra cho Thiên Chúa.
      Thần Khí Thiên Chúa dưới hình chim bồ câu ngự xuống là hình ảnh Chúa Thánh Thần. Ngài là dây liên kết, hiệp thông vì Ngài là Tình Yêu của Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con. Nơi Ngài có  Bình An, Trong Trắng và  Êm Ái - Dịu Ngọt  của  Ba Ngôi Thiên Chúa.
    Tiếng phán từ trời:  “Con là Con yêu dấu của Ta” biểu lộ tình yêu và hiệp thông tuyệt đối giữa Chúa Cha và Chúa Con.
     Vì thế, Tin Mừng của Đức Giêsu là Tin Mừng của Chúa Cha, và cũng là Tin Mừng của Chúa Thánh Thần. Suốt cuộc đời và xuyên suốt sứ vụ của Đức Giêsu ở trần gian, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần luôn  có mặt và cùng hoạt động với Ngài.
3.  Tất cả mọi người được mời gọi đón nhận Tin Mừng và lên đường loan báo Tin Mừng. 
     Tin Mừng là Tin Mừng của Thiên Chúa gửi đến toàn thể nhân loại, cho tất cả mọi người, không trừ ai, tuyệt đối không khoanh vùng, hay thiết lập biên cương, áp đặt ranh giới đối với bất cứ sắc dân, văn hoá, trình độ, giai cấp, lãnh thổ nào.Vì là Tin Mừng của Thiên Chúa cho loài người để cứu độ loài người, nên quyền đón nhận Tin Mừng, quyền hưởng ơn cứu độ nhờ tin vào Tin Mừng là quyền bất khả xâm phạm của mọi người và mỗi người. Đó là nhân quyền, quyền căn bản của con người,  vì con người được sinh ra từ Tình Yêu  Thiên Chúa nên có quyền  hưởng hạnh phúc từ Tin Mừng “được Thiên Chúa yêu thương”.
     Vì thế, Tin Mừng đã được Đức Giêsu rao giảng không chỉ cho Ítraen, mà còn cho các vùng dân ngoại, không thuộc  Ítraen. Và điều kỳ diệu là ngoài những tông đồ (Lc 9,12), môn đệ  (Lc 10,9) được sai đi, Ngài sai cả những người ngoại đạo đi loan báo Tin Mừng giữa anh em của họ. Điều này có thể làm chúng ta bỡ ngỡ, vì qủa thực, không ít người trong chúng ta  chung một ý nghĩ : chỉ có hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ và Tu Sĩ mới có quyền và có khả năng loan báo Tin Mừng, còn những người khác, việc loan báo Tin Mừng chỉ là thứ yếu, phụ thuộc, lệ thuộc và rất dễ bị người khác lên án: lấn sân, lộn chuồng, lạc vào vùng cấm địa. Một vài đoạn Tin Mừng sau đây làm chứng điều này: Đức Giêsu với người đàn bà xứ Samari (Ga 4, 7-30):
       Người đàn bà này là dân thuộc vùng thù nghịch với Ítraen, nên khi Đức Giêsu xin chị chút nước uống, chị ta đã sững sờ, hoảng hốt nói: “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao ? Qủa thế, người Do Thái không được phép giao thiệp với người Samari” (Ga 4,9). Sau chuyện dài tâm sự về cuộc đời đã qua với nhiều người chồng, chị được Đức Giêsu cảm hóa bằng ân huệ của chính Tin Mừng là Ngài, khi nói với chị : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”, “Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô” mà chị đi tìm, nay chị đã được gặp (Ga 4,25-26). Và chị là một trong những người ngoài Do Thái đã được gặp gỡ Đức Giêsu là Tin Mừng của Thiên Chúa. 
      Nhưng điều làm chúng ta không khỏi ngạc nhiên, và sung sướng khi người đàn bà Samari đã trở thành người loan báo Tin Mừng, sau khi đón nhận Tin Mừng: “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người đàn bà làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm” (Ga 4, 39). Đức Giêsu đã ở lại trong thành này hai ngày và "số người tin vào lời Đức Giêsu còn đông hơn nữa" (Ga 4,41).
      Người đàn bà ngoại đạo xứ Canaan (Mt 15,21-28):
      Bà là người ngoại đạo đã đến năn nỉ Đức Giêsu dủ lòng thương xót chữa con gái bà bị qủy ám. Dù bị thử thách, khi Đức Giêsu xem ra như không muốn cứu giúp con bà, nhưng bà vẫn cứ nhẫn nại kêu xin, và Đức Giêsu đã công khai khen ngợi lòng tin của bà : “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy" (Mt 15, 28). Lời khen của Đức Giêsu đã nói lên sự chân thành đón nhận Tin Mừng của người đàn bà ngoại giáo.Bà đã tin, tức “đã nhận Đức Giêsu là Cứu Chúa của bà và thực sự Chúa đã cứu con gái bà khỏi bệnh” (Mt 15,28). Con đường từ nhà bà đến gặp Đức Giêsu là con đường lãnh nhận Tin Mừng, và con dường trở lại nhà từ điểm gặp gỡ  Đức Giêsu sau khi được Ngài cho biết : “Bà cứ về đi, qủy đã xuất khỏi con gái bà rồi” (Mc 7,29) đã là con đường loan báo Tin Mừng, loan truyền Đức Kitô, Đấng Cứu Thế của bà.
      Đón nhận Tin Mừng vì thế luôn bao hàm  sứ mệnh loan báo Tin Mừng, bởi bất cứ ai chân thành và lương thiện sẽ không thể không kể cho người khác nghe những gì họ đã thấy, đã nghe, đã nhận được từ Đấng đã yêu thương và cứu giúp mình.  Đó cũng là nghiã vụ của một lương tâm lành mạnh và trưởng thành. Người bị qủy ám ( Mc 5,1-20).
      Trong câu chuyện chữa người bị qủy ám ở vùng Ghêrasa, cũng thuộc vùng đất dân ngoại, Đức Giêsu đã minh nhiên bảo anh phải loan báo Tin Mừng, nghiã là trở về kể lại cho gia đình của anh biết mọi điều Ngài đã làm cho anh: “Khi Người xuống thuyền, thì kẻ trước kia đã bị qủy ám đã nài xin cho được ở với Người, nhưng Người không cho phép, Người bảo: Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào”. Anh ta ra đi và bắt đầu rao truyền trong miền Thập Tỉnh tất cả những gì Đức Giêsu đã làm cho anh. Ai nấy đều kinh ngạc. (Mc 5,18-20).
       Thật không ai ngờ Đức Giêsu đã sai cả những người ngoại đạo đi loan báo Tin Mừng và họ đã loan báo hữu hiệu, bằng cớ là nguiời đàn bà xứ Samari đã làm xôn xao cả làng, đến nỗi dân làng đã năn nỉ Đức Giêsu ở lại với họ; còn người bị qủa ám này thì tự nguyện đi làm nhà truyền giáo loan báo Tin Mừng khắp miền Thập Tỉnh và nhiều người biết đến những điều kỳ diệu Thiên Chúa đang làm cho họ.
     Ở đây, chúng ta còn được Đức Giêsu chính thức dạy cho biết loan báo Tin Mừng là gì, để không ai còn hồ nghi hay phải  tìm kiếm ở đâu hay với ai khác nội dung của bài sai: Hãy đi và “thuật lại mọi điều Thiên Chúa làm cho anh và Người đã thương anh thế nào” (Mc 5, 19) .Ôi thật dễ thương bài sai tràn đầy hồng ân của Tình Yêu Thiên  Chúa, và hạnh phúc biết bao cho những môi miệng và cuộc đời  say mê loan báo việc kỳ diệu Chúa làm và kể lại  tình thương bao la của Ngài.
      Với một vài đoạn Tin Mừng tiêu biểu trong số rất nhiều đọan Tin Mừng khác, chúng ta có thể nhận ra quyền được loan báo Tin Mừng và sứ vụ loan báo Tin Mừng không dành cho riêng ai, nhưng là quyền lợi và nghiã vụ của tất cả mọi người, kể cả những người ngoại đạo, vì trong mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa, họ cũng được thừa hưởng quyền làm Con , bởi họ được sinh ra từ Thiên Chúa và quy hướng một cách tự nhiên về Ngài, khi Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người khả năng biết rằng có Thiên Chúa và khả năngphân biệt tốt - xấu, lành - dữ.
4.  Trên đường loan báo Tin Mừng:
a.   Chúng ta không cô đơn:   
      Trước hết, trên đường loan báo Tin Mừng, chúng ta có Đức Giêsu đồng hành và chúng ta được ở với Ngài (Ga 1,39), ăn với Ngài khi Ngài hoá bánh ra nhiều (Mc 6, 39-42), uống với Ngài ở tiệc cưới Cana (Ga 2,1-11), nghỉ ngơi với Ngài như Ngài đã bảo các tông đồ: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31), học với Ngài, được Ngài ủi an, nâng đỡ khi thất vọng, buồn chán “vì tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và kiêm nhường.Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.Vì ách của tôi êm ái và gánh của tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). Trên đường Emmau, hai môn đệ đã chẳng còn thiết đến sự gì, sau khi Thầy bị đóng đinh, chôn trong mồ, nhưng chính lúc ê chề thảm hại chính là lúc “Đức Giêsu tiến đến gần và đi với họ” (Lc 24,15).Ngài còn ở lại ăn tối với hai môn đệ khi “trời đã xế chiều và ngày đã tàn”, xế chiều như hồn người tông đồ hoang phế tuyệt vọng, và tàn như  ngày tàn của cơ đồ Cứu Thế (x. Lc 24,13-35), để rồi sau khi nhận ra Đức Giêsu “khi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”  (Lc 24,30),  “họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông : Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon.Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xẩy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24,33-35).
        Đi theo Đức Giêsu, ở với Đức Giêsu, loan báo Tin Mừng như Đức Giêsu, người môn đệ cũng sẵn sàng chịu đau khổ và chết với Đức Giêsu vì đường Tin Mừng là đường Thánh Giá, và lời chứng hùng hồn nhất của Tình Yêu là chết cho người mình yêu.Thánh Phaolô đã thâm tín về sự sẵn sàng của người tông đồ với niềm hân hoan phó thác  trên hành trình theo Đức Giêsu: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người”  (2Tm 2,11-12) 
     Người loan báo Tin Mừng vì thế  không cô đơn vì có Đức Giêsu trên suốt hành trình, mà còn có anh em cùng lên đường, chia sẻ,  tương thân tương trợ, như hình ảnh Nhóm Mười Một tụ họp, quây quần kể cho nhau nghe việc mình đã nhận ra Đức Giêsu phục sinh.
b. Chúng ta không lạc hậu, lỗi thời   
 Nhiều người cho rằng loan báo Tin Mừng là việc làm hết sức  lỗi thời, vì Tin Mừng chỉ là những câu chuyện về một con người đã chết từ hơn hai ngàn năm nay, và những sự kiện của hai ngàn năm trước hẳn đã không còn hợp với thời đại, không đáp ứng những thao thức, băn khoăn, đòi hỏi của thế giới hôm nay. Nhưng với chúng ta, những người Kitô hữu thì Tin Mừng không bao giờ là Tin Mừng của quá khứ, Tin Mừng cổ hủ, lạc hậu,  nhưng luôn là Tin Mừng của hôm nay cho những người đang sống, vì “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi mãi đến muôn đời” (Dt 13,8); vì  Tin Mừng vẫn mãi là Tin Mừng đến từ Thiên Chúa Ba Ngôi cho toàn thể nhân loại mọi nơi, mọi thời cho đến tận thế. Đàng khác, chính “Đức Giêsu là Thiên Chúa hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Người tồn tại mãi mãi. Do đó, Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy Người hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7, 24-25).  
Bên cạnh đó, những giá trị của Tin Mừng thì bất biến như Tình Yêu thương xót, Tình Yêu quên mình, Tình Yêu phục vụ, cũng như đòi hỏi của Tin Mừng thì luôn cần thiết cho mọi người của mọi thời đại, vì chạm đến chính trái tim của mỗi người để trái tim con người được hoà giải với trái tim của Thiên Chúa. (x. 2 Cr 5, 20).
 Người loan báo Tin Mừng vì thế không là người kể chuyện cổ tích, hoang đường, hay nói những chuyện vu vơ, mây gió xa rời thực tế sống, nhưng họ là những người hạnh phúc vì được chính “Tình Yêu Đức Kitô thúc bách” (2 Cr 5,14), để “trở nên mọi sự cho mọi người” (1 Cr 9,22),  khi đi theo và sống chết với Đức Giêsu cho sứ vụ Loan Báo Tin Mừng : Thiên Chúa yêu thương và cứu độ mọi người (1Ga 4, 9; 1Tm 2,4).
Để kết thúc bài chia sẻ, tưởng không gì ấn tượng và thôi thúc chúng ta hơn là lời trần tình “trở nên tất cả cho mọi người” để Tin Mừng được loan báo của thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại: "Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài  luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Kitô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã  trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để  cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng" (1Cr 9, 19-23).
        Và như thế, “thật vô phúc cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!”  (1Cr 9,16)
Jorathe Nắng Tím