Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2018

Suy Niệm Tin Mừng CN 30: Mc 10, 46-52

 Trình thuật người mù thành Giêricô rất gần gũi hành trình đi tìm Thiên Chúa của mỗi người chúng ta. Đó là hành trình có nhiều giai đọan, nhiều chông gai, nhiều cản trở, nên đòi nhiều cố gắng, hy sinh, nhưng trước hết vẫn là lòng tín thác, trông cậy và trên hết vẫn là trái tim hay “chạnh lòng”  của Thiên Chúa giầu lòng xót thương.

1.    Lời cầu xin thương xót:
 Hành trình tìm gặp gỡ  Đức Giêsu của người hành khất  mù tên Bartimê bắt đầu bằng lời cầu : “ Xin thương xót  con !”
 Anh mù Bartimê chắc tiếng to và già hàm lắm, nên mới bị nhiều người quát tháo bảo im đi (Mc 10, 48), vì anh không mệt mỏi kêu gào : “Lậy Đức Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con ! ”. Tiếng kêu của anh đã làm nhiều người nhức óc, sốt ruột, khó chịu, bực bội. Họ bực anh làm át tiếng họ; họ khó chịu vì anh cắt ngang câu chuyện giữa họ và Đức Giêsu; họ sốt ruột vì cái giọng bi ai, thảm thiết, não nề của anh.  Nhưng hầu hết đều nhức óc, nhức đầu bởi tiếng kêu của anh mù này đã không can dự gì đến đời họ, khi họ mặc nhiên đồng ý với nhau: đã trót  mù rồi thì mù luôn đến chết cũng có sao đâu. Chẳng thế mà nhiều người đã  ngăn cản không cho anh đến gần Đức Giêsu đang khi anh rát họng nài xin lòng thương xót và quờ qụang, mò mẫm lại gần Đấng mà anh nghĩ sẽ chạnh lòng thương và cho anh được sáng mắt.
 Đường đến Thiên Chúa của ta có thể cũng đã bị ngăn cản cách này cách khác bởi nhiều người,  và cũng có thể chính ta đã quát tháo bảo im đi nhiều người đang tha thiết van xin lòng từ bi của Thiên Chúa. Nhưng bên cạnh những người quát tháo, nạt nộ, cấm cản ta đến với Chúa, khóc  với Chúa, kêu cầu Chúa, vẫn có những người đồng hành với ta trên đường tìm gặp Chúa đang thì thầm, nhắc nhở, động viên: “ Hãy vững lòng! Dậy đi! Ngài gọi anh đó ”(Mac 10, 49).
  Đám đông cùng đi có lòng tốt ấy chính là Giáo Hội, là đoàn thể những người cùng đi theo Đức Giêsu và làm chứng Đức Giêsu cho mọi người. Chúng ta hãy tin vào Giáo Hội, tin vào mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội để đừng bao giờ thất vọng nghĩ mình đơn  độc trên đường tìm gặp Chúa.

2.     Đáp trả của Thiên Chúa:
Đám đông hôm ấy đã đơn sơ nghĩ rằng: Đức Giêsu không chú ý, quan tâm gì đến tiếng kêu “xin thương xót” của người mù hành khất, và tất cả đã ngỡ ngàng khi “Ngài đứng lại và nói : “Gọi người ấy cho tôi! ” (Mc 10, 49). “Người ấy” tức người hành khất mù nãy giờ không ngớt kêu la : “Lậy Đức Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con! ”.
   Sự đáp trả của Thiên Chúa chính là gặp được chính Ngài là Nguồn Sống đích thực, Bình An viên mãn và ơn Cứu Độ đời đời. Người mù từ lâu khao khát được gặp Ngài, nay anh không chỉ được gặp, mà còn được chiêm ngưỡng dung  nhan thánh thiện, nhân từ của Ngài, khi Ngài mở mắt cho anh được thấy. Anh thấy Thiên Chúa trong Đức Giêsu và  hạnh phúc ngất ngây, khôn tả đã khiến anh “vất áo choàng một bên, nhẩy chồm dậy mà đến cùng Đức Giêsu” (Mc 10,54). 
   Như thế, Thiên Chúa luôn cần  thiện chí và cố gắng của chúng ta như bước  chân thứ nhất trên hành trình đến gặp Ngài. Người mù đã làm bước chân thứ nhất khi khao khát gặp Ngài biểu lộ qua tiếng kêu thống thiết : “Xin thương xót con ! ”. Anh đã kêu nhiều lần, rất nhiều lần, kêu to đến rát cổ, lạc giọng; kêu lớn đến độ làm phiền đám đông  và bị nhiều người đe loi, cấm cản. Nhưng khi bước chân thứ nhất của người mù hoàn thành, thì chính Đức Giêsu đi về phiá anh, bước tới tìm anh và lên tiếng gọi anh đến gần Ngài.
  Tuyệt vời thay hành trình của con người đi tìm Thiên Chúa bỗng chốc trở thành hành trình của Thiên Chúa đến với con người. Đức Giêsu đã tìm đến người mù khi bất ngờ đứng lại, gọi anh, nói với anh: “Con muốn Ta làm gì cho con ?” (Mc 10,51), rồi bảo anh : “Hãy đi, lòng tin của con đã cứu con” (Mc 10,52). Chỉ trong một vài phút ngắn ngủi, Ngài đã đi hết những bước chân dài còn lại trên hành trình của người mù đi gặp Ngài; chỉ một khoảnh khắc rất vắn vỏi Ngài đã làm thỏa mãn tất cả  ước mơ  và đáp trả trọn vẹn lời cầu xin của anh mù, khi cho anh được sáng mắt, được  thấy Ngài và được “theo Ngài  lên đường” (Mc 10,52).  
Qủa thực, Thiên Chúa không bỏ ngoài tai lời cầu xin của bất cứ ai, dù là những lời cầu xin đơn sơ, thô kệch,mộc mạc, kể cả nhức đầu, nhức óc, vì Ngài là Cha nhân hậu luôn thương xót con cái mình. Chân lý này cho phép chúng ta tín thác tuyệt đối ở Thiên Chúa khi cầu nguyện, dù lắm lúc tưởng  Chúa ngủ quên hay đã chết  thật rồi.
 Lậy Chúa, xin cho chúng con đức tin của anh Bartimê, người hành khất mù loà  thành Giêricô năm xưa, và giúp chúng con noi gương anh trên đường đi tìm Chúa, bởi ít nhiều chúng con đã cảm thấy thích giọng anh với điệp khúc cầu nguyện bất hủ : “ Lậy Chúa, xin thương xót con ! ”; thích cái lì của anh khi bất chấp đám đông “quát tháo bảo im đi” cứ kêu to hơn nữa;  thích phản ứng tràn đầy niềm vui phục sinh của anh khi “vất áo, nhảy chồm dậy mà đến với Đức Giêsu”; và điều chúng con thích nhất ở anh, chính là anh đã “theo Đức Giêsu lên đường”, sau khi được Ngài chữa lành đôi  mắt.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2018

Truyền giáo là Phục Vụ mọi người như tôi tớ!

Suy Niệm Tin Mừng CN 29 TNB, Chúa Nhật Truyền Giáo : Mc 10, 35 - 45
 Tin Mừng Chúa Nhật Truyền Giáo chia thành hai phần với nội dung hoàn toàn trái ngược : phần nhất từ câu 35 đến câu 41 là câu chuyện hai tông đồ Gioan và Giacôbê quấn quýt, bám chặt Đức Giêsu để chạy chức, chạy quyền với lời van xin tha thiết : "Xin cho chúng con được ngồi, một người bên hữu, một người bên tả trong vinh quang của Thầy", và phần hai từ câu 41 đến 45 với giáo huấn của Đức Giêsu : Ai muốn làm lớn thì hãy trở nên tôi tớ, vì "Con Người không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống mình làm giá chuộc tội thay cho nhiều người" (Mc 10,45).

1.   Sống đạo là truyền giáo :
Truyền giáo là căn tính của Giáo Hội, nên không có Giáo Hội, nếu không có Truyền Giáo, vì căn tính và sứ vụ của Giáo Hội là : "Hãy đi khắp thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu thanh tẩy thì sẽ được cứu rỗi ..." (Mc 15,15-16).
Một cách cụ thể, truyền giáo là "loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến", điều mà mọi tín hữu đều long trọng xướng lên ở phút cao điểm của thánh lễ. Đây chính là lẽ sống, đường sống, và sinh hoạt của đời người Kitô hữu. Họ sống đạo khi loan truyền Đức Giêsu chịu đóng đinh, chết và sống lại. Họ trở thành người có Đạo một cách thiết thực, sống động và chính danh khi loan báo cho mọi người Thiên Chúa vì yêu thương con người đã làm người, chết cho con người và sống lại để con người được sống. Sống đạo và truyền đạo là một, vì chung một mục đích, chung một hoạt động. Vì thế sẽ không có tín hữu sống đạo mà không truyền giáo, cũng như không có nhà truyền giáo nào bị coi là không sống đạo. 
Từ chối bổn phận truyền giáo là không sống đạo ; phủ nhận trách nhiệm loan báo Đức Giêsu cho mọi người chung quanh là mặc nhiên chối đạo ; bỏ quên sứ mệnh "được sai đi" khi chịu bí tích thánh tẩy là đào ngũ, bởi loan báo Đức Giêsu, tuyên xưng Đức Giêsu, giới thiệu Đức Giêsu, dẫn người ta đến gặp Đức Giêsu, tạo điều kiện để Đức Giêsu ngự đến trong nhà người khác, chuẩn bị mảnh đất tâm hồn tha nhân để hạt giống Tin Mừng của Đức Giêsu được mọc lên tươi tốt là căn tính, điều kiện không thể thiếu để trở thành người có đạo, người sống đạo, người có Đức Giêsu.
Như thế, người Kitô hữu trước hết phải được sứ mệnh truyền giáo cuốn hút, bằng xác tín mãnh liệt : mình được sai đi qua bí tích Thánh tẩy. Có tin rằng mình được Thiên Chúa sai đi qua Giáo Hội, chúng ta mới tự tin và hăng hái lên đường truyền giáo. Sở dĩ nhiều người công giáo đã không tha thiết với sứ vụ truyền giáo là vì não trạng : truyền giáo là việc của các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chứ không phải việc của "con chiên, giáo dân". Chính não trạng này, cộng thêm não trạng  "giáo sĩ trị" đã làm hoang mang và chùn chân người giáo dân trong sứ vụ truyền giáo của mình.
Nhờ được sứ vụ truyền giáo cuốn hút, chúng ta sẽ nhận ra trách nhiệm của mình với thế giới, với mọi người chung quanh : trách nhiệm loan báo Tin Mừng để mọi người được hạnh phúc như chúng ta.
Chính trong trách nhiệm làm cho thế giới được hạnh phúc nhờ lãnh nhận Tin Mừng của Đức Giêsu, chúng ta nhận được niềm vui đích thực của Tin Mừng, niềm vui mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai đi theo Ngài để làm chứng Thiên Chúa yêu thương và cứu độ mọi người.

2.   Truyền giáo là Phục Vụ :
Có lẽ, anh chị cũng như tôi, chúng ta đã có lần suy nghĩ và tự hỏi : Vẫn biết truyền giáo là loan báo Đức Giêsu làm người, đã chết và sống lại ; truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người cho mọi người, mọi nơi, mọi thời, nhưng cụ thể, chúng ta bắt đầu truyền giáo từ đâu, từ công việc nào ?
Quả thực, câu hỏi rất quan trọng và ít nhiều đã làm chúng ta băn khoăn. Trong Tin Mừng của ngày Truyền Giáo hôm nay, Đức Giêsu trả lời chúng ta rất rõ ràng, chính xác : Truyền giáo là Phục Vụ mọi người như tôi tớ.
Hai tông đồ Giacôbê và Gioan đã năn nỉ hai chỗ quan trọng trong vương quốc của Đức Giêsu, và cả hai đã nhận được câu trả lời : "Các ngươi biết : các kẻ được coi là thủ lĩnh các dân tộc thì làm chúa trên họ, và những người làm lớn thì bắt người khác phục quyền mình. Nhưng các ngươi thì không như thế ! Ai muốn làm lớn trong các ngươi thì hãy hầu hạ các ngươi, và ai muốn làm đầu các ngươi thì hãy làm tôi tớ mọi người" (Mc 10,42-44).
Đức Giêsu đã không ngần ngại làm vỡ mộng "quan lớn" của hai tông đồ, bằng đưa ra một đường lối hoàn toàn trái ngược : phục vụ mọi người như đầy tớ. Làm môn đệ, tông đồ, chứng nhân, người được sai đi loan báo Tin Mừng của Ngài sẽ không cai trị ai, không bắt ai phục dịch, hầu hạ mình, càng không đàn áp, khống chế, bóc lột ai vì tư lợi, nhưng tự nguyện trở nên tôi tớ để phục vụ mọi người. Từ đây, tông đồ không còn nuôi giấc mộng bá quyền, cai trị, nhưng chỉ còn một thách đố trước mắt là qùy xuống rửa chân cho mọi người như tôi tớ ; nhà truyền giáo không còn lên đường với não trạng "kẻ cả, người trên" bố thí Tin Mừng, nhưng là loan báo Tin Mừng bằng phục vụ mọi người như người anh em hèn mọn ; người được chọn lãnh đạo trong Giáo Hội cũng không còn tơ vương làm vua làm chúa, nhưng biết mình được chọn để trở nên "đồng hình đồng dạng" với Đấng đến trong thế gian để "phục vụ chứ không phải để được phục vụ, đến để  hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhiều người".
Đức Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc truyền giáo : Phục Vụ ; đã chỉ cho chúng ta một phương án truyền giáo : Phục Vụ ; đã dậy chúng ta một bài học truyền giáo : Phục Vụ bằng quả quyết sứ mệnh của Ngài là Phục Vụ : "Con Người không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ" (Mc 10,45).
Không còn gì chính xác hơn lời qủa quyết này, vì nếu sứ vụ cuả Đức Giêsu, Đấng đến trong thế giới để loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa được thực hiện bằng Phục Vụ mọi người, bằng qùy xuống rửa chân môn đệ mình như đầy tớ, thì những người khác được Ngài sai đi tiếp nối sứ vụ loan báo Tin Mừng sẽ không thể làm khác, nghiã là không thể né tránh đòi hỏi Phục Vụ, không thể khước từ lời mời gọi Phục Vụ, không thể khấu trừ điều kiện Phục Vụ. Trái lại, không phục vụ sẽ không thể loan truyền Đức Giêsu chịu chết cho ai, không phục vụ sẽ không có cách tuyên xưng Đức Giêsu sống lại cho người nào, không phục vụ sẽ vô phương làm chứng Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người, chết cho con người vì yêu thương con người.
Phục Vụ từ nay không còn là việc làm có cũng được, không có cũng chẳng sao, nhưng là điều kiện mang tính quyết định thành bại trong đời sống đạo, cũng như trong công cuộc truyền giáo. Thiếu phục vụ, không ai tin lời chứng của chứng nhân ; không phục vụ, tiếng nói của nhà truyền giáo không thuyết phục ; bỏ quên phục vụ, dung mạo đích thực của Đức Giêsu sẽ không chỉ bị bóp méo, bôi nhọ, xấu xí, dị hợm, mà còn biến dạng thành kinh tởm, đe doạ, đáng ghét trên môi miệng người được sai đi.
Ước gì Lời Chúa đang mời gọi chúng ta lên đường truyền giáo bằng cúi xuống phục vụ mọi người như tôi tớ, loan báo Nước Thiên Chúa bằng qùy xuống rửa chân cho anh em như đầy tớ hèn mọn, giới thiệu Đức Giêsu là Tình Yêu thương xót và Tin Mừng Cứu Độ bằng hiến mạng sống cho hạnh phúc của anh em được thực hiện ngay hôm nay bằng một việc làm cụ thể : phục vụ một người gần nhất đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.
Jorathe Nắng Tím
 

Mừng Kính Thánh Luca


DUYÊN PHÚC
   Vào đời, ai cũng mong có nghề nghiệp vững chắc, việc làm tốt để bảo đảm cuộc sống, không phiền ai đã đành, mà còn gánh vác được gia đình, và người khác. Để thực hiện mục tiêu đó, người ta phải dầy công chuẩn bị. Có những nghề đòi thời gian dài như nghề y, cũng có những nghề tương đối dễ và thời gian học không qúa lâu. Tuy vậy, không hẳn học nghề nào sẽ làm nghề đó, vì nhiều lý do, nhất là khi hoàn cảnh kinh tế không thuận lợi, hoặc tình hình chính trị không cho phép,  nhiều người đã phải làm những nghề mình chưa từng học, có khi chưa từng nghe nói tới. Thế giới hôm nay với làn sóng tỵ nạn, di dân ngày càng dữ dội, công ăn việc làm đang là nan đề nhức nhối, khó giải quyết cho hầu hết các quốc gia, đẩy hàng triệu người vào cảnh bất đắc dĩ phải làm trái nghề, và một số khác đông gấp nhiều lần ở vào tình trạng thất nghiệp kinh niên, mãn tính.
    Qủa thực, được làm nghề mình học, được làm công việc mình đam mê và kỹ lưỡng chuẩn bị, người ta sẽ không rầu rĩ trên đường đến sở ; không căng thẳng, bực bội, chán ngán khi một ngày làm việc bắt đầu ; không lừng khừng, thụ động, tiêu cực mỗi sáng thứ hai đầu tuần ; sẽ không thiếu lửa nhiệt tình, thiếu tích cực sáng kiến, thiếu phấn khởi cộng tác vào công việc đang làm, nên ở đâu, thời nào và với bất cứ ai, được làm công việc mình chọn đều được coi là hạnh phúc rất lớn không thua gì hạnh phúc có một gia đình ấm êm, bởi việc làm không ổn thì mái ấm cũng  chẳng được yên.
  Ở đây, người viết muốn chia sẻ với bạn một khả thể tuyệt vời khác, một hạnh phúc lớn hơn chút nữa, đó là được làm công việc gần gũi với lý tưởng phục vụ tha nhân.
   Tất nhiên, công việc nào cũng tốt, cũng mang tính nhân văn, khi không vi phạm, làm tổn thương con người, nhưng đem lại lợi ích chính đáng. Tuy vậy, cũng có những công việc không mấy gần gũi với mục đích phục vụ nhân sinh như nghề tra tấn để khai thác can phạm, nghề lý hình chặt đầu, treo cổ, bắn chết, chích thuốc độc tử tội, hoặc tệ hơn nữa là nghề phá thai, lấy sự sống của đứa con ra khỏi cung lòng người mẹ.
   Công việc có duyên phúc mà người viết muốn đề cập cụ thể hôm nay là những công việc vừa kiếm được cơm gạo nuôi thân, vừa làm được từ thiện giúp người, như  nghề bác sĩ của thánh sử Luca mà Giáo Hội mừng kính ngày 18 tháng Mười hằng năm.
     Thánh Luca làm nghề chữa bệnh là nghề chăm lo sức khỏe thân xác, và “Lương Y như Từ Mẫu” là vinh dự nhân gian dành cho các thầy thuốc. Làm nghề này, người ta trước hết phải thích người khác, thích săn sóc người khác, thích giao lưu với người khác, bởi người không thích liên đới, nhưng chỉ muốn lầm lũi, khép kín, đơn độc  sẽ không thích hợp với nghề phải tiếp cận và chăm nom người khác trong tình trạng đau yếu, bệnh tật. Làm bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng là làm cho người bệnh được an tâm điều trị, an tâm vì biết mình được yêu thương và chữa trị. Thái độ thân thiện cởi mở của bác sĩ làm bệnh nhân an lòng ; lòng nhiệt thành tận tâm phục vụ của y sĩ giúp người bệnh lạc quan, hy vọng ; cung cách chia sẻ quan tâm và ân cần chăm sóc của y tá làm giảm cơn đau của bệnh tật, và nhẹ đi gánh nặng thể xác cũng như tinh thần của người đau ốm. 
    Duyên phúc của thánh Luca hệ tại ở việc vừa là bác sĩ vừa loan báo Tin Mừng, vừa chữa bệnh thân xác vừa chăm sóc sức khoẻ linh hồn. Cùng một lúc vừa có nghề để sinh sống, vừa có cơ hội thuận tiện làm việc tông đồ, thánh nhân cũng như bao nhiêu đồng nghiệp khắp nơi, mọi thời trong nghề y thực sự đã được chung hưởng duyên phúc không dễ có ở  nhiều ngành nghề  khác, tuy vẫn có thể làm từ thiện, tông đồ, nhưng cơ hội không thuận tiện bằng nghề y, nghề giáo dục, nghề  trực tiếp bảo vệ con người...
    Mừng lễ thánh Luca, chúng ta cũng mừng các bạn làm việc trong ngành y. Ước mong cái duyên nghề y không ngừng làm lớn cái phúc cứu người nơi các bạn, để duyên nghề nghiệp mãi mang lại cho đời dư đầy phúc đức của Từ Mẫu - Lương Y.
Jorathe Nắng Tím


Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2018

“Ngày Thế Giới Chống Nghèo Đói”

    Suy Niệm Tin Mừng : Luca (11, 42 - 46)  
   Tin Mừng ngày thứ Tư 17 tháng 10 năm 2018 cũng là “Ngày Thế Giới Chống Nghèo Đói”, “Đức Giêsu khiển trách các người Pharisêu và các nhà thông luật : Khốn cho các người, hỡi các người Pharisêu ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ. Khốn cho các người, hỡi các người Pharisêu ! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng. Khốn cho các người! Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay”.
  “Một trong số các nhà thông luật lên tiếng: “Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa!” Đức Giêsu nói : “Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật ! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào” (Lc 11,42-46).
    Hai đối tượng bị Đức Giêsu chiếu tướng hôm nay là các người  Pharisêu và các luật sĩ trong Đạo Do Thái. Các ông Pharisêu thì bị chỉ trích vì không công bình và thiếu lòng yêu mến Thiên Chúa. Các thầy thông luật thì bị chê trách là chất gánh nặng trên vai người khác, còn mình thì ung dung, nhẹ nhõm, vô tư.
   Đức Giêsu đã can đảm vạch trần sự bất công trong xã hội lúc bấy giờ, sự bất công phần lớn phát sinh từ những lạm dụng của giai cấp lãnh đạo tôn giáo trong một xã hội mà tôn giáo hoàn toàn chi phối. Khi lên tiếng chỉ trích giai cấp lãnh đạo tôn giáo, Đức Giêsu đã chạm phải một thế lực cực kỳ bền vững và nguy hiểm : bền vững vì từ bao đời người ta vẫn giữ những lề lối mang đến những bất công nhưng luôn được coi như bất di bất dịch ; nguy hiểm vì một mình Ngài phải đương đầu, chịu trận trước cả một cơ chế, tổ chức khổng lồ, đầy quyền lực, chẳng khác nào “trứng chọi đá”. Bằng chứng là một thầy thông luật đã lập tức cảnh cáo Đức Giêsu với một giọng điệu rất đe doạ : “Ông nói như vậy là làm nhục cả chúng tôi nữa” (Lc 11,45).
   Qủa thực, tuy không đi vào chi tiết hậu qủa của bất công, nhưng Đức Giêsu đã vẽ lên bức tranh sinh động của xã hội tôn giáo thời Ngài : có một giai cấp thống trị ăn không ngồi rồi và thụ hưởng kết qủa mồ hôi nước mắt của đám dân nghèo, vô danh ; có một thiểu số chỉ phe phẩy ra vẻ người quan trọng để vinh thân phì gia, lợi dụng lòng tốt, hoặc sự ngu dốt của đa số quần chúng ; có một số ít không làm gì, không “đổ mồ hôi sôi nước mắt”, nhưng hưởng hết lợi nhuận của đám đông. Tóm lại, có một xã hội rất bất công, ở đó, một thiểu số đã chất trên vai đa số những gánh nặng không thể gánh nổi, còn nhóm người ít ỏi ấy dù một ngón tay cũng không động vào.
  Xã hội ngày xưa thế nào thì xã hội ngày nay cũng thế, nếu có khác thì khác về kỹ thuật bóc lột, kỹ năng khai thác bất công. Cũng thế, nếu ở thời Đức Giêsu, những người thống trị đã gây ra bất công mà hậu qủa là nhiều người đã vì họ rơi vào cảnh vất vả mà không đủ ăn, nhọc nhằn mà không đủ mặc, cơ cực mà không đủ sống, thì hôm nay, không ít người đã phải mang phận nghèo, chịu cảnh khổ, sống đời lầm than, “khố rách áo ôm”, “sống vô gia cư, chết không địa táng” cũng vì vô số bất công do một số ít người trục lợi bất công. Thống kê mới nhất của Liên Hiệp Quốc phải làm chúng ta bàng hoàng khi 90% sản lượng thế giới nằm trong tay 7% là những người giầu. Vì thế, sẽ chẳng bao giờ hết người nghèo, và đến tận thế, người nghèo khổ vẫn nhan nhản, đầy dẫy chung quanh ta, bởi bao giờ bất công không còn, bao giờ con người không còn bất công chất trên vai người khác những gánh nặng không thể gánh được, còn mình thì ung dung, tự tại, hưởng thụ thì thế giới mới hết người nghèo, thế giới mới bỏ được “Ngày Thế Giới Chống Nghèo Đói”.
    Vâng, bất công là nguyên nhân gây ra nghèo đói, nhưng nguyên nhân  gây ra bất công lại chính là thiếu lòng yêu mến Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã khiển trách những người Pharisêu : “xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa” (Lc 11,42), bởi thiếu lòng yêu mến Thiên Chúa, con người sẽ chỉ yêu chính mình, và khi chỉ yêu chính mình, không ai sẽ không tìm đáp ứng mọi nhu cầu của mình, thoả mãn mọi đòi hỏi của mình, và để thực hiện điều này, người ta không thể tránh khỏi tham vọng bất chính là thống trị kẻ khác, áp đặt bất công trên người khác. Thiếu lòng yêu mến Thiên Chúa, người ta sẽ không còn đích tới nào khác ngoài “cái tôi”, không còn đối tượng nào lớn hơn “cái tôi”, cũng không còn lý tưởng nào khác ngoài “cái tôi”. Và từ “cái tôi”, đủ thứ tội sẽ phát sinh, mà một trong tội lớn thường phạm để thoả mãn “cái tôi”, chính là biến người khác thành phương tiện phục vụ mình, bắt tha nhân làm nô lệ của mình, và trong mọi trường hợp, người ta đều bất công với anh em mình. Thiếu lòng yêu mến Thiên Chúa, người ta sẽ không tránh khỏi bất công, vì khi đó lãnh đạo sẽ không còn là lãnh đạo phục vụ, nhưng lãnh đạo biến thành thống trị để được phục vụ, bởi trong bất cứ một tổ chức xã hội đạo, đời nào đều phải có người lãnh đạo và người được lãnh đạo, có giai cấp lãnh đạo và hàng ngũ những người được lãnh đạo. Chính vì phải có lãnh đạo, mà người lãnh đạo khi không có tình yêu Thiên Chúa để có thể yêu  thương và phục vụ những người thuộc quyền lãnh đạo của mình, sẽ mau chóng biến thành lãnh chúa thống trị hà khắc vì thiếu yêu thương, và biến thái thành bạo chúa bóc lột bất công vì thiếu quên mình phục vụ.  
      Trong “Ngày Thế Giới Chống Nghèo Đói”, chúng ta hồi tưởng những bất công chúng ta đã áp đặt cách này cách khác trên anh em, và xin Chúa cho chúng ta hiểu thấu đáo mức độ trầm trọng của bất công, bởi túng bấn của anh em đang tố cáo những bất công của chúng ta ; nỗi nhục nhằn vì nghèo của anh em đang lên án trái tim vô cảm, băng giá, không yêu mến Thiên Chúa của chúng ta ; tháng ngày vất vưởng, trôi giạt vì đói của anh em đang lật tẩy nếp sống giả hình, ích kỷ, hưởng thụ của chúng ta ; thân phận làm người ăn xin vì đói giữa thế giới ăn nhậu phung phí đang đặt chúng ta trước câu hỏi mang tính vận mệnh : Anh em nghèo đói của ngươi đâu ? Tương tự câu hỏi mà Thiên Chúa Giavê đã đặt ra với Cain sau khi Cain giết chết Abel:  “Em ngươi đâu ?” (St 4,9).   
    Jorathe Nắng Tím


Thứ Tư, 10 tháng 10, 2018

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 28 TNB ( Mc 10, 17-30)


Tin mừng chúa nhật 28 đặc biệt đề cập đến chuyện tiền của và những khó khăn không chỉ đối với người muốn hiến thân đi theo Đức Giêsu làm môn đệ của ngài, mà còn khó cả với mọi người đi tìm hạnh phúc đời sau.
Qủa thực, không ai dám coi thường tiền của, vì tiền của giữ một vai trò chiến lược cho sự “sống còn”, chiếm một chỗ đứng quan trọng trong sinh hoạt đời sống. Ở bất cứ thời đại nào, và bất cứ nơi nào, của cải cũng là một vấn đề lớn của con người.
 Là vấn đề lớn, vì không tiền, không giải quyết được nhiều việc cần giải quyết : từ việc sinh con đẻ cái đến việc tống táng ma chay, cả một đời người, không lúc nào vắng bóng đồng tiền và ai cũng phải công nhận : không tiền thì hầu như tất cả đều là số không. Được trọng vọng, qúy mến vì có tiền ; bị khinh miệt, ruồng rẫy, bỏ rơi vì không tiền. Có tiền thì xa cũng thành gần, lạ cũng thành thân, dốt cũng thành giỏi, hèn cũng thành sang, ma giáo cũng thành chân thật, xấu xí cũng thành xinh đẹp, tồi tệ cũng thành tuyệt vời, tầm thường cũng thành phi thường, siêu sao. Có tiền không thiếu bạn hữu xum xuê, nườm nượp xếp hàng thăm hỏi ; thế quyền, thần quyền vị nể, vấn an, nhưng khi sa cơ thất thế, khánh kiệt, không tiền, thì một mình một bóng cô liêu, tủi buồn, hiu quạnh.
Chính vì kinh nghiệm về sức mạnh của đồng tiền, mà không ai bảo ai, tất cả đều muốn có tiền, cần tiền, ham tiền, tìm kiếm tiền, và lệ thuộc tiền. Đứa trẻ tuy chưa nhận diện chính xác đồng tiền, nhưng đã biết tiền rất quan trọng, vì thấy cha mẹ vất vả kiếm tiền, chửi mắng, dằn vặt, đay nghiến nhau vì tiền, khóc lóc, bấn loạn vì những ngày không tiền và dành rất nhiều thời gian cho những lo lắng, lo âu, lo sợ, lo nghĩ, lo liệu vì đồng tiền. Cứ thế lớn lên, em bé cũng đi vào vòng xoay của tiền bạc và như cha mẹ, em cũng sẽ dành phần lớn qũy thời gian sống để lo sao có tiền, có tiền rồi thì lo mất tiền, dù biết rất rõ sẽ có một ngày chẳng còn gì khi phải bỏ cuộc đời ra đi.
 Cũng chính vì mãnh lực khủng khiếp, sức chi phối qúa lớn, tầm ảnh hưởng qúa sâu, qúa rộng của đồng tiền, mà người ta không mấy khi thoát khỏi tầm kiểm soát của đồng tiền, nghiã là, người ta cứ tưởng mình đã vượt lên trên tiền bạc, không còn bị tiền của khống chế, nhưng thực ra tiền đã thống lãnh, làm chủ từ lúc nào, và người ta đã vâng phục tiền bạc một cách vô thức từ tư tưởng, lời nói đến việc làm. Tư tưởng thì không thể không đặt tiền bạc ở mức rất cao trên thang giá trị, để rồi chọn lựa cũng từ đó bị hướng chiều về tiền bạc. Lời nói thì vô tình, vô ý luôn đứng về phiá người giầu với đủ ngôn từ biện minh rất thuyết phục, và việc làm tất nhiên bị tiền của điều khiển tinh vi, chặt chẽ. Rồi cũng có lúc bất ngờ hồi tâm, phản tỉnh, nhưng tức khắc bị tiền của dìm ý thức xuống thật sâu, chìm ngỉm với trăm ngàn lý lẽ bào chữa cho chỗ đứng của tiền bạc, để ngượng ngùng vá víu một lương tâm đã rách bươm vì lỡ làm tôi mọi của cải.
Hơn ai hết, Đức Giêsu hiểu sức mạnh dữ dội, khôn lường của tiền của, nên nhiều lần cảnh giác các môn đệ của Ngài về nguy cơ bỏ Thiên Chúa để đi theo tiền của, và không ngại đặt tiền của ngang hàng Thiên Chúa : “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này, mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6, 24).
  Tin mừng hôm nay lại một lần nữa cho chúng ta thấy cơn cám dỗ cực mạnh của tiền của. Cám dỗ đã không thể vượt qua với người thanh niên được coi là giữ đạo hoàn hảo, nhưng vì giầu có đã không thể đi theo Đức Giêsu, nên đành “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi” (Mc 6, 22).
 Bỏ đi tức là không đi theo, không ở lại, không chung sống. Bỏ đi tức là không còn, không có nữa, không hiện diện, không đồng hành, không chung bước bên nhau. Người thanh niên giữ đạo thật hoàn hảo, nhưng không có Chúa ; nghĩ mình đi đúng đường, nhưng lại bỏ Đức Giêsu, Đấng là Đường đích thực đưa đến Thiên Chúa Cha ; tự tin mình hoàn hảo, giữ trọn mọi giới răn, nhưng giới răn duy nhất quan trọng anh lại bỏ, đó là yêu chính Đức Giêsu, Dung Mạo đích thực của Thiên Chúa ; ảo tưởng sự thánh thiện của mình khi dài dòng kể lể lý lịch, công nghiệp giữ đạo tuyệt hảo của mình, nhưng lại bỏ Đức Giêsu, Đấng là Sự Sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính vì thế anh thanh niên đã không vui, và mãi mãi không vui, vì anh đã không chọn đi theo Đức Giêsu là Hạnh Phúc và Nguồn Vui bất tận, nhưng thay vào đó, anh đã chọn tiền của như gia nghiệp không thể rời xa. Thánh sử Máccô đã ghi rõ thái độ buồn rầu, tiu nghỉu của anh thanh niên khi bỏ Đức Giêsu mà đi. Ghi nhận rất tinh tế này cho chúng ta biết thêm một điều, đó là tiền của không mang lại niềm vui đích thực, vật chất không mang lại bình an đích thực cho người chọn nó làm ông chủ, coi nó là gia nghiệp, lý tưởng của đời mình. Và cuộc sống thực tế quanh ta cũng làm chứng điều này, khi bao nhiêu người đã thất kinh bát đảo, ăn không ngon, ngủ không yên, lao tâm tổn lực vì tiền của, và cái kết buồn nhiều hơn vui của đa số người giầu suốt đời sống đời nô lệ của cải, tiền bạc.
 Như đã thưa với bạn : Đức Giêsu không chỉ nhắc nhở : khó có thể đi theo Chúa, chọn Chúa nếu không biết buông bỏ tiền của, vì tiền của rất nặng nề, cồng kềnh, khó gỡ, khó quên, khó xa, khó thoát, mà còn cảnh báo chúng ta tiền của còn là chướng ngại rất lớn trên đường về Nước Trời của mỗi người.
Ở đây, chúng ta không đi vào vấn đề chú giải chữ “Kim”, vì người viết đã phân tích hầu qúy bạn rồi, chúng ta chỉ ghi nhận với nhau tính khó khăn của người giầu trên đường tìm kiếm hạnh phúc đời đời. Cho dù Đức Giêsu có khôi hài đến độ so sánh giữa con lạc đà với lỗ kim khâu, một so sánh hầu như không thể so sánh, nếu không nói là khôi hài, hoặc hiểu chữ “Kim” là cửa nhỏ mang tên cửa Kim, bên cạnh cửa chính vào thành Giêsrusalem, thì nội dung sứ điệp của Ngài vẫn là : người giầu khó vào Nước Trời (Mc 10, 25).
Khó vào Nước Trời, hay khó đi theo làm môn đệ của Đức Giêsu, tiền của dưới mắt Đức Giêsu thực sự là một chướng ngại rất lớn trên đường đi theo Chúa và hành trình tìm kiếm Nước Trời, nên dù chúng ta không muốn nghe, Đức Gêsu cũng vẫn lên tiếng cảnh tỉnh, nhắc nhở.
Tuy thế, một điều an ủi rất lớn cho chúng ta là “tiền của không lớn hơn Thiên Chúa”, bởi nó chỉ có thể trong khả năng mê hoặc, khống chế  loài người, nếu loài người không tỉnh táo để biết quản lý, làm chủ nó. Ngoài ra nó không làm được gì khác, trong khi “Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được” (Mc 6, 27). “Có thể được” với Thiên Chúa, khi Ngài làm cho tâm hồn người giầu vẫn một lòng yêu mến, phụng sự Ngài ; “có thể được” với Thiên Chúa khi Ngài ban cho trái tim người “nhiều tiền lắm của” biết nhận ra tình trạng nghèo khó, đáng thương của mình trước Thiên Chúa ; “có thể được” với Thiên Chúa, khi gìn giữ tấm lòng thương xót của người giầu trước nhu  cầu của những người đói rách chung quanh ; “có thể được” với Thiên Chúa khi ban cho con tim đại gia tình yêu quảng đại để san sẻ, chia sớt với những người cùng khốn ; “có thể được” với Thiên Chúa, khi chúc phúc cho những gia đình sống trong nhung lụa như gia đình Giakêu ơn cứu độ, để đức công bình và ơn Bình An của Ngài ngập tràn thế giới. 
 Thứ tư tới là “Ngày Thế Giới Chống Nghèo Đói”, chúng ta không chỉ cầu ngyện cho người nghèo đói, mà còn cầu nguyện cho người giầu có, cho các đại gia, để bàn tay người giầu chạm được bàn tay người nghèo, để con tim đại gia và trái tim kẻ bần hàn cùng chung nhịp đập và niềm xác tín của Tin Mừng : Trong chia sẻ, chúng ta có Thiên Chúa, vì tất cả là Hồng Ân. 
Jorathe Nắng Tím    


Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

SỢ VÀ TIN!

Suy Niệm Tin Mừng chúa nhật 27 - Đức Mẹ Mân Côi : Lc 1, 26-3

Mỗi lần đọc đọan Tin Mừng thiên sứ Gabriel truyền tin cho Đức Mẹ, tôi lại có dịp chiêm ngưỡng và khám phá những nét đẹp mới, và luôn kỳ diệu trong đức tin của Đức Maria. Lần này thì tôi thấy Đức Mẹ sợ và tin.

Thường thì người ta sợ khi đứng trước một sự kiện mà người ta không biết rõ, nhưng chắc chắn sẽ đến. Người ta càng sợ khi biến cố "chắc chắn sẽ phải đến" có khả năng đe dọa sự sống còn và hạnh phúc của mình, chẳng hạn biến cố sẽ phải chết. 
Người ta cũng sợ những hậu qủa tất yếu do việc làm xấu, như tên sát nhân sợ khi bị công an truy nã, kẻ lừa đảo sợ khi bị các nạn nhân săn lùng. Bên cạnh những nỗi sợ ấy, còn nỗi sợ những việc xẩy ra ngoài sức tưởng tượng, vượt tầm suy nghĩ, ước đóan, tiên liệu của mình.
Hôm ấy, khi sứ thần lên tiếng chào, Đức Maria cũng đã sợ. Bằng chứng là sứ thần đã phải lập tức trấn an : "Maria, đừng sợ!" (Lc 1,30). Đức Maria sợ là phải, vì bất ngờ và trong một khoảnh khắc rất ngắn, Mẹ phải đối diện với nhiều vấn đề và phải trả lời ngay lập tức đề nghị của Thiên Chúa được  sứ thần trình bày.
Mẹ đã sợ trước bất ngờ được chào là người nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa sủng ái đặc biệt, trong khi chưa bao giờ Mẹ dám nghĩ mình là người xứng đáng, mà chỉ dám nhận mình là nữ tỳ hèn mọn, bất xứng. Mẹ sợ vì bất ngờ được đề nghị làm mẹ Đấng Cứu Thế, trong khi Mẹ chẳng muốn làm mẹ ai, vì ao ước sống đời đồng trinh. Mẹ sợ vì bất ngờ sẽ thụ thai mà không biết đến đàn ông. Mẹ sợ vì bất ngờ sẽ phải làm mẹ vua, trong khi chỉ là cô thôn nữ bé nhỏ, vô danh của làng Nazareth chẳng có gì đặc biệt và không mấy người lưu ý tới.
Chính vì sợ mà Đức Maria đã xao xuyến thưa lại với sứ thần : "Việc ấy xẩy ra thế nào được?" (Lc 1,34).
Qủa thực, tất cả mọi đề nghị của sứ thần đều bất khả thi, bất khả thể đối với Mẹ, vì không đề nghị nào đã là ước mơ, dự phóng, hay ước tính trong tim óc của Mẹ ; không một mảy may trong những lời của thiên sứ đã nằm trong ý nghĩ của Mẹ ; không một công việc nào do sứ thần mời cộng tác đã nằm trong tầm tay của Mẹ. Mẹ sợ và hoảng hốt là điều dễ hiểu, và tự nhiên đối với con người, và Mẹ là con người trăm phần trăm. Là người nên biết sợ trước những bất ngờ vượt tầm, vượt sức. Là người nên phải sợ trước những đột xuất không thể cam, không thể gánh, không thể thực hiện. Là người nên có lý để sợ trước những đột ngột đến từ cõi trên, thuộc về thượng giới. Và ngoài những bất ngờ vừa kể làm sợ, Đức Maria còn sợ chính sứ thần, vì sứ thần không là người, nên có thể là ma hay oan hồn nào đó hiện về quấy nhiễu.       
Chúng ta có khuynh hướng thần thánh hoá Đức Mẹ một cách vô tội vạ, nên dễ quên Đức Mẹ là con người như mọi con người khác. Là người như mọi người, Mẹ cũng vui, buồn, lo lắng, sợ hãi như chúng ta, chỉ khác chúng ta ở niềm tin. Mẹ tin khi vui, mẹ tin lúc buồn, Mẹ tin trong hạnh phúc, Mẹ tin giữa thử thách, khổ đau và Mẹ tin trong xao xuyến, lo sợ.
Thực vậy, Đức Maria sợ như mọi người, nhưng Mẹ sợ và tin, tin ngay trong nỗi sợ. Vì thế, Mẹ không còn sợ, vì đã tin. Đức Tin của Mẹ lấn át lo sợ, bao trùm lo âu, giải giới lo lắng. Tất cả những lo sợ trước đức tin chỉ còn lại như áng mây vắt vẻo, mong manh dưới cơn nắng chói chan của mặt trời. Mây vẫn có đó, nhưng nắng làm mây không còn dầy đặc, nặng nề, xám đen, đe doạ.
Nhưng làm sao Đức Maria đã có thể tin trong lo sợ, tin sứ thần không phải là ma, tin những lời đề nghị của sứ thần là ý Thiên Chúa, tin mình thụ thai bởi quyền phép Thánh Thần, tin mình là con nhưng làm mẹ Thiên Chúa, tin con mình cưu mang và hạ sinh sẽ là Con Đấng Tối Cao và Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngôi báu Đavít, tổ phụ Ngài. Trước mắt con người và trong suy đoán của con người, tất cả đều viển vông, hão huyền, không thực, nên tin không dễ, vì không dễ tin.
Đức Maria sở dĩ đã tin được những  "bất khả thể, không có thể" từ miệng sứ thần là vì Mẹ đã được chuẩn bị và tự chuẩn bị ngay khi còn thơ bé, trên gối mẹ Anna để hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Sự sẵn sàng của Mẹ là điều kiện cho tiếng Xin Vâng  của đức tin qủa cảm. Được chuẩn bị và tự chuẩn bị để thuộc về Thiên Chúa như nữ tỳ bé mọn, và tuyệt đối vâng phục, Đức Maria đã cho phép những đề nghị không thể thực hiện bởi con người, thì nay được thực hiện bởi Thiên Chúa nơi con người Mẹ. Đức Maria đã là người duy nhất toàn tâm toàn ý cộng tác với Thiên Chúa để Ngài thực hiện những điều kỳ diệu cho con người, nhưng với con người. Sự sẵn sàng của con người duy nhất xứng đáng là Đức Maria đã thay đổi toàn bộ cục diện của nhân loại, nhờ mầu nhiệm Nhập Thể được đề nghị bởi sứ thần và được Mẹ vui lòng chấp nhận trong ngày Truyền Tin.
Để sẵn sàng và mau mắn đáp trả đề nghị của thiên sứ, Đức Maria đã sống tâm tình của người con trong gia đình Thiên Chúa từ thuở thơ ấu. Nhờ thế, Mẹ nắm bắt được chương trình cứu độ đã được Thiên Chúa hứa từ ngàn xưa và được chuẩn bị qua bao thế hệ. Nhờ nằm lòng lời các ngôn sứ, thông suốt Kinh Thánh và lịch sử dân Chúa, Mẹ đã hiểu ngay ý muốn của Thiên Chúa trên Mẹ trong ngày truyền tin. Nhờ suy gẫm trong lòng Lời Hứa sẽ xuất hiện một Trinh Nữ và Trinh Nữ ấy sẽ đạp giập đầu Rắn Độc Satan, nên Mẹ hiểu ngay thời đại cứu thế đã đến, giờ Thiên Chúa xuống thế làm người đã điểm và Lời Hứa từ ngàn xưa sắp được thực hiện,  nhưng chỉ riêng một điều đã làm Mẹ sợ : Trinh Nữ ấy không là ai khác, nhưng là Mẹ.
Vâng, đức tin của Đức Maria phải sâu sắc, qủa cảm lắm, mới có thể nhanh chóng đáp lại lời đề nghị của sứ thần. Đức tin ấy cũng kiên cường, gan góc lắm mới có thể liều lĩnh, không do dự Xin Vâng. Nhưng để có được đức tin qủa cảm, kiên cường, sâu sắc, Đức Maria đã từng ngày sống niềm khát khao tìm kiếm thánh ý, từng giây phút ngụp lặn trong Lời Chúa, cả cuộc đời chìm đắm trong tình yêu và hy vọng của Thiên Chúa Cứu Độ.
Khi cho Đức Mẹ biết : bà Êlisabét, chị họ của Mẹ đã mang thai được sáu tháng ở tuổi già, cái tuổi mà không ai tin là còn có thể thụ thai, sứ thần không có ý dựa vào đó mà dụ Đức Mẹ tin, nhưng chỉ có ý cùng Đức Mẹ xác tín : Thiên Chúa mà Mẹ vâng phục, yêu mến, tín thác là Đấng làm được tất cả mọi sự, bởi không có gì là không thể đối với Ngài.
Phần chúng ta, trước nhiều nỗi sợ, trong cơn gian nan, chúng ta rất siêng năng chạy đến với Chúa, nhưng gian nan qua rồi, và lo sợ không còn, ta mau chóng chểnh mảng tìm kiếm Chúa. Vì thế, đức tin của ta không có nền tảng vì không cắm rễ sâu trong hiệp thông, hiệp nhất với Chúa, và đức tin ấy chỉ đủ để kêu Trời khi sợ, cầu Trời khi lo, lậy Trời khi đường đời bế tắc, và xin Trời khi bí kế, thất vọng.   
Chiêm ngắm Mẹ là con người và là nữ tỳ hèn mọn nên biết sợ của Thiên Chúa, chúng con cũng tôn vinh Mẹ là Nữ Vương của những kẻ tin, Mẹ các tín hữu. Xin dạy chúng con biết tin để thắng vượt mọi lo sợ, dù là sợ đau khổ, sợ bị bỏ rơi, sợ chết ; dù là lo ăn, lo mặc, lo hiện tại, lo tương lai, bởi nhờ Tin, chúng con bình an, vui sống như Mẹ vì có Chúa trong cuộc đời ; vì Tin, chúng con lên đường loan báo Tin Mừng  bằng yêu thương, phục vụ như Mẹ đã đon đả đi lên miền núi thăm chị họ Êlisabét và ở lại giúp đỡ bà, nhất là xin dạy chúng con biết thao thức cho "Danh Chúa cả sáng", ước mơ "Nước Chúa hiển trị", chăm chú lắng nghe, và  chăm chỉ học hỏi Lời Hằng Sống. Có như thế, chúng con mới không sợ trước mọi nỗi sợ, không lo giữa biển đời đầy lắng lo,  nhưng tín thác và bình an đi theo Chúa và thực hiện thánh ý Ngài.
Jorathe Nắng Tím    

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

Cãi Lộn

Có lần người viết đã chia sẻ với bạn : một gia đình mà tất cả các thành viên đều nhận mình sai là một gia đình bình an, hạnh phúc ; trái lại, một gia đình mà các thành viên đều cho mình đúng chắc chắn là một gia đình bất an, bất ổn vì thường xuyên cãi lộn.

Có bạn không đồng ý với nghịch lý này và đặt vấn đề : tại sao cả nhà ai cũng đúng mà hậu qủa lại là cãi lộn, trong khi nhà khác, chẳng ai nhận mình đúng, chỉ nhận mình sai, mà lại ấm êm, không ai tranh cãi, mắng mỏ ai ?

Dễ hiểu thôi bạn ạ, vì ai cũng đúng, nên không ai chịu nhận mình sai, trong khi hiện trường chứng mình có điểm sai, nên phải có một hoặc nhiều người không đúng. Cũng vì cố chấp cho mình đúng, người khác sai, mà người đúng cố cãi cho “ra lẽ” cái đúng của mình, và người sai cũng cố tranh giành cho bằng được cái đúng mình không có. Thế là cãi lộn tưng bừng, khí thế ! Và đúng là cãi lộn, khi lộn xộn đúng sai, khi lẫn lộn sai đúng trong lời qua tiếng lại, và vì không ai chịu nhận mình không đúng, nên cãi lộn khó dừng, không thể ngưng cho đến khi tất cả bị xáo trộn, lộn nhào : xáo trộn bình an, lộn nhào thứ vị, khi giận dữ đến hồi cao trào sẽ chẳng ngại gọi nhau bằng mày tao, và nóng nẩy không còn được kiểm soát sẽ mù quáng xử nhau bằng bạo lực.

Sở dĩ tình trạng xấu ấy sẽ dẫn đến rất xấu, vì không có người nhận mình sai để  khiêm tốn nhận lỗi, xin lỗi, hầu mở ra con đường cần thiết cứu nguy tình thế bất ổn, bất hoà của gia đình, như “con đường máu” luôn là con đường phải có trong chiến trận, khi tất cả đã bế tắc, và không còn hy vọng chống trả, chiến đấu. Trong thực tế, nguyên nhân thứ nhất gây ra cảnh đổ vỡ của các gia đình, chính là bình an bị bế tắc, hạnh phúc không có đường ra, khi các thành viên của gia đình đều quyết tử cố thủ đến cùng “cái đúng” của mình, mà không nhân nhượng, nhịn nhường bằng khiêm tốn nhận mình có thể đã sai. 
   
 Ngược lại là sinh hoạt của một gia đình, mà ở đó ai cũng sẵn sàng và vui vẻ nhận mình không đúng, hoặc không hoàn toàn đúng, để giữ hoà khí và bình an của cả nhà. Gia đình này trước bất cứ sự kiện, biến cố hay hoàn cảnh nào đều chỉ tập trung vào một mục tiêu chung là bình an hạnh phúc của nhau. Vì thế, sẽ không có ai “đằng đằng sát khí” hay “sừng cồ” cho mình đúng, trái lại, tất cả đều chia sẻ trách nhiệm chung, chia sẻ hậu qủa chung, chia sẻ gánh nặng chung, chia sẻ thất bại chung bằng nhận mình có sai ít nhiều, sai phần nọ phần kia, sai chỗ này chỗ khác. Nhờ thế bình an không bị ngộp thở, tình yêu, và lòng tương kính không bị bức tử, bởi có nhiều lối ra để không bế tắc, nhờ nhiều người nhận mình không đúng : nhiều cửa vào để đón nắng ấm, khí lành nhờ ai cũng biết nhận lỗi, xin lỗi nhau, như lời tỏ tình có sức giải toả mọi khó khăn, hàn gắn mọi rạn nứt, xây dựng hạnh phúc, bình an.

 Xóm làng Việt Nam, tuy có gần gũi, tương trợ, nhưng cãi lộn trong nhà, ngoài xóm vẫn còn nhiều và được coi là chuyện bình thường, chuyện “nhỏ như con thỏ”. Chính vì coi cãi lộn là chuyện  bình thường và nhỏ, mà hầu như không ai quan tâm đến việc xây dựng một xã hội bình an trong nhà, ngoài ngõ, không còn cảnh chửi bới thô tục, thậm chí lột quần cởi áo, vỗ chỗ này, khoe chỗ nọ trên thân thể mình, như minh họa cho chính xác và thấm thía những lời chửi rủa rất hạ đẳng, thiếu văn hoá đang xối xả tuôn trào. Cũng vì xem chuyện cãi lộn như chuyện bình thường để giải quyết những lấn cấn, bất đồng, mâu thuẫn thường ngày giữa người này người nọ, nhà này nhà kia, mà vô tình xã hội đã dung dưỡng một cách tích cực bạo lực, bởi không chỉ súng đạn, dao búa mới là bạo lực, nhưng chính ngôn từ là bạo lực nguy hiểm nhất, bởi hầu như tất cả các bạo lực khác đều bị kích động, châm ngòi bởi bạo lực ngôn từ. Kinh nghiệm cho thấy, hai con gà đá nhau tới chết cũng chỉ vì tiếng gáy, và người ta hăng máu chém nhau đứt đầu, mất tay cũng chỉ vì “lời qua tiếng lại”, khích bác, thách thức, nhục mạ nhau. Người viết đã vô phúc chứng kiến cảnh hai thanh niên dùng vỏ bia đâm nát mặt nhau trong một quán ăn ở Sàigòn, sau mấy phút cãi lộn, vì một lý do “lãng xẹc, chẳng đâu vào đâu”.

Thượng Toạ Pháp Hoà khi được hỏi : “Thưa Thầy, con có được phép cãi lộn không?” Thượng Tọa dí dỏm trả lời : “Đã biết” lộn “rồi sao còn cãi ?”

Thánh Phaolô thì khuyên tín hữu Corintô “thà chịu bất công, thà chịu thiệt thòi” còn hơn cãi lộn, kiện cáo nhau, bởi “nguyên việc cãi cọ, kiện cáo nhau đã là một thất bại rồi” (1 Cr 6,7). 

   Ở đây, chúng ta cùng tìm xem đâu là nguyên nhân chính đưa đến cãi lộn :

1. Ghen tương và tranh chấp hơn thua :
Thánh Giacôbê đã khẳng định : “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ xấu xa” (Gb 3,16).

2. Chiều theo tính xác thịt :
 Nghiã là hành xử theo tính khí tự nhiên, mà không để tinh thần siêu nhiên điều khiển, như tức ai là “phang” họ ngay, ghét ai là chửi bới, dập vùi họ liền mà không để tinh thần bao dung, yêu thương của Chúa soi dẫn, như Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Côrintô : “Bao lâu giữa anh em có sự ghen tương và cãi cọ, thi anh em chẳng phải là những con người sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm sao ?” (1Cr 3,3).

3. Kiêu căng, tự mãn :
Đây là nguyên nhân chính gây ra cãi lộn, mà sách Châm Ngôn đã khuyến cáo : “Tự mãn, kiêu căng chỉ gây ra cãi cọ ; nghe lời khuyên nhủ thì sẽ được khôn ngoan” (Cn 13,10). Người hay cãi lộn là người tự phụ cho mình đúng, tự mãn cho mình hoàn hảo, tự kiêu coi mình biết hết mọi sự và làm đúng mọi việc. Khác với người khiêm nhường, họ luôn tìm khôn ngoan trong ý thức mình có giới hạn, nhiều khiếm khuyết, cần được chỉ dẫn, trau dồi, học hỏi.
 
Tưởng cũng nên sắm sẵn mấy chià khóa giúp chúng ta dằn cơn giận để không rơi vào tình trạng cãi lộn, khi lớn tiếng vạch tội và công khai chửi rủa, lên án anh em mình :

3.1 Tập biết thông cảm bằng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.
Với thời gian tìm đặt mình vào hoàn cảnh của người mà ta đang muốn cãi lộn, ta sẽ tự hạ nhiệt phẫn nộ và nhớ lại Lời Kinh Thánh : “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nẩy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại hãy đối xử tốt với nhau...” (Ep 4,31-32).

3.2  Làm chứng lòng thương xót :
Cao điểm của lòng thương xót là tha thứ cho người có lỗi với mình và không trừng phạt họ như họ đáng bị trừng phạt, nhưng học với Thiên Chúa là “Đấng nhân hậu từ bi, chậm giận, lại giầu tình thương và lòng thành tín” (Tv 86,15).

3.3 Tha thứ và quên đi :
Chúng ta có thể tha thứ, nhưng khó có thể quên lỗi lầm của người được tha thứ. Sự phân biệt rành rẽ giữa tha thứ và quên đi này đã đánh lừa chúng ta và cho chúng ta cảm tưởng đã cao thượng tha thứ, để che dấu một tình trạng rất tồi tệ mới là tiếp tục nuôi hận thù, căm phẫn một cách kín đáo, vì không muốn quên. Bởi thế, không thể thứ tha mà không quên đi, bởi khi còn cố giữ trong tim, ghim trong đầu lỗi lầm của ai đó, thì hành vi tha thứ không thể thực hiện, vì Thiên Chúa muốn chúng ta không chỉ tha thứ cho anh em, mà còn phải nài xin Ngài tẩy rửa trái tim chúng ta, để không một hận thù, hờn oán nào, dù nhỏ đến đâu có thể tồn tại. Thánh Phaolô nhắc nhớ các tín hữu Do Thái : “Đừng để rễ đắng nẩy mầm trong tâm hồn, vì sẽ sinh xáo trộn, bất an”, nhưng hãy bứng hết rễ tỵ hiềm, bất hoà để được hưởng lời chúc phúc. (Dt 12,15).

3.4 Tương đối hoá và không trầm trọng vấn đề :
Hầu hết những cuộc cãi lộn đều do những chuyện rất nhỏ và vô căn cứ như : “Tôi  nghe người ta bảo : bà nói tôi thế này thế nọ ; có phải ông mới nói xấu tôi với ông X, bà Y không ? Sao cô nói sau lưng tôi ?”. Do đó, không nên tuyệt đối hóa và trầm trọng hoá bất cứ một vấn đề nào nếu mới chỉ nghe người ta nói, nghe người ta đồn, nghe người ta nói lại, mà chưa gặp gỡ, trao đổi, giải trình với đối tượng, một cách bình tĩnh và với tinh thần tôn trọng nhau và tôn trọng chân lý.
 
3.5 Không phải chỉ có điều xấu :
Tuy vô ơn hầu như thuộc bản tính của con người, nhưng không nên vì một lần quên ơn, mà cắt đứt tình nghiã đã nhiều năm được nuôi lớn. Cũng vậy, một lầm lỗi nhất thời của một người không thể quyết định toàn thể nhân cách và cuộc đời của người ấy. Ở mỗi nguời, ngay cả người bị xã hội liệt vào thành phần bất hảo cũng có những điểm tốt có thể không lộ ra, hoặc còn tiềm tàng ẩn dấu, nên thái độ quyết đoán qúa cứng rắn và vội vã là điều chúng ta cần tránh để không rơi vào bất hoà, cãi cọ vô ích.

3.6 Có đáng phải cãi lộn không ?
Chìa khoá sau cùng là tự hỏi: “Có đáng phải cãi lộn mới giải quyết được mâu thuẫn này không ? Có đáng phải xỉa xói, mạ lỵ, vì chuyện nhỏ không đáng đó không ?”

 Câu hỏi tuy ngắn, nhưng có khả năng ngăn được chuỗi dài hậu qủa không bao giờ tốt đẹp của cãi lộn.

Ước mơ của tôi cũng như của bạn là không còn phải thấy những cảnh cãi lộn nghe mà rùng mình, xem mà sợ hãi, nhan nhản xẩy ra đó đây. Đất nước chúng ta ở vùng nhiệt đới, nóng quanh năm, nên dân ta cũng dễ nóng nẩy, nổi sùng, sinh sự : chỉ hơi một chút là cãi nhau, sơ xẩy một tí là cãi lộn ; có khi chỉ vô ý nhìn thôi cũng đã đủ gây ra đấu khẩu, xô xát ngay ngã tư, đèn xanh đèn đỏ.

 Là người Kitô hữu, người của bình an, chúng ta không được cãi lộn, vì không chỉ “đã biết lộn rồi sao còn cãi” như câu trả lời khôi hài nhưng đầy ý nghiã của Thượng Tọa Pháp Hoà, mà hơn thế nữa, bất cứ cuộc cãi lộn lớn nhỏ nào cũng gây lộn xộn trong tâm hồn, lộn xộn cho gia đình, lộn xộn ngoài xã hội, bởi bản chất của cãi lộn là tội lỗi, như thánh tông đồ dân ngoại đã qủa quyết : “Anh em nổi nóng ? Chớ phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4,26). Chúa Giêsu cũng khuyến cáo những ai muốn theo Ngài : “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình”. (Mt 5,23-24).

Chúng ta cầu nguyện cho nhau đừng bao giờ cãi lộn, nhưng được trở thành khí cụ và người gieo Bình An, với lời Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô Assisi mà Giáo Hội sắp mừng kính:


“Lậy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lậy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ Bình An của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm ; để con đem tin kính vào nơi nghi an, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng ; để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.
 Lậy Chúa, xin hãy dậy con : tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.
Ôi Thần Linh Thánh Ái ! Xin mở rộng lòng con. Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn An Bình”.

Jorathe Nắng Tím