Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

MÁI ẤM



Có bay nhảy đến đâu trong trời rộng, “phiêu du lãng tử” cỡ nào trong đời sống, người ta cũng mơ và cần một mái ấm gia đình. 


Gọi là mái ấm, vì ở đó không có cái nóng thiêu đốt, đổ lửa, cũng không có cái lạnh buốt thấu xương. Mái ấm có độ ấm của da thịt người, có hơi ấm của tình người, có nồng ấm của hạnh phúc đời người, và chỉ ở trong mái ấm, ở dưới mái ấm, con người mới thực sự được lớn lên làm người một cách quân bình và toàn diện nhờ cái ấm áp kỳ diệu. 
Cũng vì “kỳ diệu của độ ấm”, mà mái ấm được gọi là “tổ uyên ương, tổ ấm hạnh phúc, nôi ấm yêu thương, bến bờ hy vọng”.
Nhưng mái ấm cùng lúc phải đối mặt với một thách đố rất lớn, đó là không thể đánh mất độ ấm kỳ diệu của mình, nếu không, mái ấm, tổ ấm lập tức biến thành hỏa ngục, lò lửa đốt cháy, thiêu rụi những người trong đó, hoặc khối băng sơn khổng lồ đổ ập lên, làm chết cứng mọi người. Đó là tình cảnh rực lửa ghen ghét, đố kỵ, gây hấn, hận thù giữa những người thân trong gia đình  là cảnh lạnh lùng trong lời nói, lạnh lẽo trong thái độ, lạnh tanh trong tình cảm, lạnh ngắt trong ánh mắt của những người tuy chung một nhà, nhưng lòng vạn dặm cách xa. 
Thực vậy, là người, ai cũng cần một mái ấm. Em bé chào đời, trưởng thành vào đời, già yếu lìa đời, tất cả đều cần, đều mơ ước, và tìm về mái ấm. 
Cần một mái ấm để được yêu thương, và yêu thương; cần một mái ấm để biết nhận và cho đi; cần một mái ấm để được nâng đỡ, chia sẻ và chia sẻ, nâng đỡ. Ở dưới mái ấm, ai cũng có quyền được yêu thương và có bổn phận yêu thương; ai cũng có quyền được giúp đỡ và có trách nhiệm giúp đỡ; ai cũng có quyền được làm phiền người khác và nghĩa vụ  để người khác làm phiền; ai cũng có quyền được an ủi khi khóc lóc sầu buồn, và bổn phận ủi an người khác khi họ sầu buồn khóc lóc; ai cũng có quyền được săn sóc, cưng chiều và nghĩa vụ săn sóc, cưng chiều. Chính nhờ những quyền lợi và bổn phận được tận tâm thực hiện cho nhau mà mái ấm không bao giờ mất đi hay  sút giảm độ ấm cần thiết cho hạnh phúc của mọi người, và mỗi người thuộc về mái ấm. 
Nếu bạn phải tha phương cầu thực, cầu học, hay cầu bất cứ cái gì khác, kể cả cầu thẻ xanh, quốc tịch, bạn cũng mong được về lại mái ấm gia đình, thăm lại mái nhà xưa, mái ấm cũ, tổ ấm năm nào ngày còn thơ bé. Và dù xa xôi, lâu lắm không về, lòng người viễn xứ vẫn mãi không nguôi ngoai nỗi nhớ mái nhà xưa, niềm thương tổ ấm cũ. Tất nhiên, người ta chỉ có thể nhớ mái ấm, thương tổ ấm, chứ không thể nhớ thương “mái nóng, mái lạnh” đã tàn nhẫn đốt cháy, làm tê cóng cuộc đời họ. 
  Nhìn ra ngoài, năm chưa mới, Tết chưa đến, mà đường thành phố đã vắng tanh, vì ai nấy nôn nao bỏ thành thị, phố xá về quê, nơi có mái ấm gia đình, có ông có bà, có mẹ có cha, có anh có chị, có em có cháu vui vầy, ấm áp khôn tả.  Và không chỉ người xa quê tìm về mái ấm, cả người xa đất nước cũng lũ lượt tìm về quê làng xưa, mái ấm cũ. 
Ôi đẹp làm sao những mái ấm đơn sơ, nhưng sâu lắng tình gia đình; những mái ấm nghèo, nhưng giầu tình mẹ cha; những mái ấm xiêu vẹo nhưng kiên cường tình huynh đệ; những mái ấm nhỏ bé, nhưng bao la niềm hy vọng; những mái ấm cũ nát, nhưng luôn mới lòng trắc ẩn, xót thương; những mái ấm không sơn phết loè loẹt, nhưng tươi thắm niềm nhung nhớ; những mái ấm không lung linh ánh đèn mầu, nhưng rực sáng hào quang hy sinh, quên mình; những mái ấm không tường cao cửa kín, nhưng không nơi nào an toàn hơn cho đứa con hoang đàng, lỡ bước những mái ấm không nguy nga, hoành tráng, nhưng không đâu tốt hơn cho tâm hồn tan nát nghỉ ngơi; những mái ấm không đài các, xe xua, nhưng chẳng nơi nào trân quý, và ân cần săn sóc xác thân con rã rời, và đời con cơ nhỡ, tơi tả bằng ở đây. 
Năm mới Tết đến, xin mang đến Mái Ấm quê hương tôi những gì đẹp nhất, mới nhất. Xin đừng làm tăng nhiệt chia rẽ, hận thù, cũng đừng giảm nhiệt đến cóng lạnh trong các mái ấm gia đình trên đất nước tôi. Xin hãy trân quý, giữ gìn và xây dựng mái ấm gia đình, mái ấm quê hương bằng đem lại ấm no, ấm áp, ấm lòng cho mọi người dân Việt ngàn đời yêu dấu. 
Jorathe Nắng Tím


“LẠY CHA, nếu có thể được ...”

Đời con là những chuyến đi, có những chuyến đi vui, chuyến đi không vui, nhưng không chuyến đi nào đã thê thảm, não nề như chuyến đi với Chúa vào vườn Cây Dầu, như năm xưa Chúa đã đưa Phêrô, Gioan, Giacôbê đi riêng với Chúa để cùng Chúa toát mồ hôi máu trước giờ lên đường chịu chết làm lịch sử cứu độ. 
Đi với Chúa vào vườn Cây Dầu, con mới thấm thía nỗi đau cô đơn, cô độc khi bị bỏ rơi; nỗi khổ khi bị tẩy chay, cô lập; nỗi nhục khi bị quy tội, lên án; nỗi buồn khi lực bất tòng tâm, nỗi thất vọng khi ngày mai không một tia hy vọng. Nhưng có lẽ, thấm thía nhất trong con chính là nỗi tủi bị chính cha mẹ, người thân hắt hủi, tra vấn, nghi ngờ. 
 Đi với Chúa vào vườn Cây Dầu, con mới biết thế nào là giọt đắng đọng khô trong cổ họng cháy rát, khi sức tàn, trí khôn bấn loạn, tâm hồn xao xuyến hoang mang, tim gan xe thắt nghẹn ngào chỉ vì con quá khổ đau.
Đi với Chúa vào vườn Cây Dầu, con mới nghe rõ  được âm thanh xé nát lòng của lời cầu trong cơn thử thách cực kỳ cam go: “Lậy Cha, nếu có thể được …”
Đi với Chúa vào vườn Cây Dầu, con mới nếm được vị đắng của ly rượu Thương Xót, ly rượu mà ai chưa uống sẽ chẳng hiểu được thế nào là tình yêu xoá mình.
Đi với Chúa vào vườn Cây Dầu, con mới nhìn tận mắt dung mạo não nề, căng thẳng, nhưng quả cảm của Chúa, dung mạo mà con chưa một lần dám hình dung trước đó.
Một năm sắp qua, và lời cầu nguyện của con với Chúa trong vườn Cây Dầu cũng vẫn thế, vẫn điệp khúc quen thuộc: “Lậy Cha, nếu có thể được ...” của trái tim hao mòn, se thắt. 
Nhưng đêm nay Giao Thừa, trong rạo rực, nôn nao của vạn vật và loài người đang Vượt Qua từ cũ  sang mới, con chợt giật mình nhớ lời Chúa thì thầm bên tai khi con ở với Chúa.
Chúa đã chẳng bảo con chọn một mình Chúa đó sao ? Và nếu chỉ chọn một mình Chúa, con đâu có thể bỏ Chúa đi một mình trên đường lên núi Sọ. 

Chúa đã chẳng bảo con : “Cha ở đâu, thì con cũng ở đó với Cha”. Không lẽ con bỏ Chúa một mình tơi tả trước toà án Philatô ? 
    Chúa đã chẳng mời con cộng tác trong công trình cứu thế giới, và con đã trả lời: “Này con đây !” Không lẽ công trình đang dang dở, đang cần bàn tay con, thì con lại rút lui, hủy hợp đồng ? 
Chúa đã chẳng ngỏ ý xin con quảng đại không chỉ góp công góp của, nhưng góp xương góp máu, góp luôn cả uy tín, danh dự, tính mạng, để muôn người được sống và sống dồi dào, và con đã vui vẻ “Xin vâng”. Không lẽ hôm nay con rút lời, khép lại cửa lòng ? 
Chúa đã chẳng kêu gọi và con đã đáp lời chấp nhận trở thành của lễ hy sinh, để chuộc tội người khác. Không lẽ củi, lửa đã dọn, mà lễ vật là con lại biệt tăm, mất dạng ? 
Chúa đã chẳng chọn con làm bạn tri âm tri kỷ, và chia sẻ với con giấc mơ cứu thế sao ? Không lẽ đến giờ lãnh sứ vụ và lên đường thì con lại do dự, nhụt chí ? 
Cũng trong thinh lặng của đêm nay, trước ngưỡng cửa của năm mới, con nhận ra điều Chúa muốn nói với con :  “Hãy theo Cha !” Và đừng quan tâm gì đến những gì ngoài Cha, bởi Cha đủ sức làm thỏa lòng con, vì Cha là Thiên Chúa. Cha có thể làm tất cả mọi sự như Cha muốn. Con còn tìm kiếm, đợi chờ sức mạnh nào nữa, ngoài Cha ?  
Sẽ chẳng có ai, hay quyền lực nào làm hại được con, vì bàn tay Cha luôn đặt trên vai con và hướng dẫn con. 
Tất cả những gì là con, thuộc về con đều thuộc về Cha, và Cha làm cho tất cả tan biến trong tình yêu của Cha, để không một vết tích nào của con mà không mang thương tích lòng Thương Xót của Cha, vì Cha muốn chọn con làm dung mạo của Cha, cũng như Chúa Cha đã chọn Cha làm dung mạo lòng Thương Xót của Ngài. 
Cha đã chọn riêng con đi với Cha vào vườn Cây Dầu, vì cha tín nhiệm con, yêu con hơn nhiều người khác. Và càng yêu con, Cha càng muốn con nên giống Cha trong lòng thương xót, mà thương xót thì sao tránh khỏi xót xa, nặng lòng ? 
Cha cũng có kế hoạch riêng của Cha trên đời con, kế hoạch mà con chỉ biết hết khi mọi sự đã hoàn tất, như ngày nào năm xưa giờ phút Cha giang tay chịu đóng đinh trên thập giá, đâu có ai, kể cả các môn đệ thân tín đã hiểu được giá trị của ơn cứu độ và thấy được vinh quang của ngày phục sinh. Hãy tin ở Cha, và ở lại trong tình thương của Cha, vì Cha đã yêu con trước và là Đấng kêu gọi, tuyển chọn con cho Cha. 

Vâng, lậy Chúa, sớm mai, trong thánh lễ đầu năm, con sẽ cùng anh em dâng Chúa phần sau lời cầu nguyện của Chúa với Chúa Cha, cũng là sứ mệnh Chúa muốn con thực hiện suốt đời làm người Kitô hữu : 
“Xin cho Ý Cha được thể hiện, chứ không phải ý con”. 
Jorathe Nắng Tím


Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH CHO MUÔN DÂN

Đức Giêsu, Thiên Chúa giáng sinh không chỉ là biến cố vui mừng cho thánh gia và những người quen biết, gần gũi như các mục đồng, nhưng còn là hạnh phúc cho cả nhân loại, cho mọi người tận chân trời góc biển xa xôi. Hôm nay, với các nhà chiêm tinh từ rất xa đến Bêlem bái lậy Hài Nhi, Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người, chúng ta nhận ra mầu nhiệm nhập thể không chỉ dành cho một nhóm người, một giai cấp, một thành phần, hay một địa phương, dân tộc nào đó, nhưng cho tất cả mọi người, không trừ ai, bởi Đức Giêsu là Mục Tử của cả nhân loại, Ánh Sáng của muôn dân.
 Cựu Ước đã loan báo Đức Giêsu bằng diễn tả cảnh huy hàng của Giêrusalem, "khi ánh sáng của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi… Khi chư dân từ khắp nơi sẽ đi về ánh sáng của ngươi, vua chúa huớng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước... Tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi" (Is 60,1-4).
 Thánh Phaolô thì xác tín kế hoạch ân sủng Thiên Chúa ủy thác cho mình: "Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa" ( Ep ,6). Đây là "mầu nhiệm đã được giữ kín từ muôn thưở" (Ep 3,9), và giờ đây mới được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Ánh sáng muôn dân.
   Ánh Sáng muôn dân đã chiếu đến các dân tộc, điển hình là ba nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhận ra và đến Belêm kính thờ.
   Trình thuật giáng sinh trong Tin Mừng Mátthêu đã làm nổi bật mầu nhiệm Chúa tỏ mình cho muôn dân, và sứ vụ loan báo Tin Mừng cho toàn thể nhân loại, bằng cách đối chiếu thái độ giữa hai cặp đôi đối nghịch: Đức Giêsu, vua dân Do Thái và vua Hêrođê, cũng như các thượng tế - kinh sư Do Thái và các nhà chiêm tinh đến từ phương Đông.
  Thánh Mátthêu đã cho thấy rất rõ Đức Giêsu, vua dân Do Thái đã sinh ra rồi, mà Hêrôđê, nhà vua đương vị vẫn không biết gì cho đến lúc ba nhà chiêm tinh đến hỏi: "Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông", Herôđê mới choàng tỉnh, kinh ngạc, bối rối.
 Vì sao của Đức Giêsu xuất hiện tận phương xa nói lên lãnh thổ vương quốc của Ngài không bị giới hạn ở phần đất Do Thái, nhưng bao trùm khắp nơi, và chiếu soi cho mọi người. Sở dĩ Hêrôđê đã không thấy đuợc vì sao Đức Giêsu, vì ông tự cho mình là Sao, nên không chấp nhận Sao nào khác, nhất là Sao ấy lại sáng hơn mình, cao hơn mình. Ông cũng không bao giờ nghĩ trên lãnh thổ của mình lại có thể xuất hiện một vị vua khác, một vị vua vừa mới sinh ra.
  Thái độ hốt hoảng sợ hãi, rồi phẫn nộ, giận dữ khi hạ lệnh giết hết các trẻ thơ dưới hai tuổi ở Bêlem và toàn vùng lân cận là phản ứng tự nhiên của một kẻ say quyền đang đầy thế lực. Thái độ ấy cũng nói lên tính hẹp hòi, ích kỷ của tâm hồn, và cái nhìn thiển cận. Vì hẹp hòi, thiển cận, ích kỷ, Hêrôđê đã không thể đón nhận vì sao của Đức Giêsu, Vua vũ trụ. 
 Cũng như vua Hêrôđê, các thượng tế và kinh sư Do Thái không nhận ra vì sao lạ, đã được ghi trong sách các ngôn sứ mà các ông thuộc nằm lòng: "Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi mà vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen, dân Ta sẽ ra đời" (Mt 2,6). Khác với các ông thựơng tế và kinh sư, ba nhà chiêm tinh đã nhận ra và dõi theo ánh sao lạ. Họ đã đến tận Bêlem và được gặp Vua các vua, Thiên Chúa làm người.
   Việc Chúa tỏ mình cho muôn dân qua sự kiện các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhận ra ánh sao của Hài Nhi vừa sinh ra ở Bêlem là dấu chỉ của mầu nhiệm Thiên Chúa đến trong thế giới để cứu độ mọi người, như thánh Phaolô đã qủa quyết: "Thiên Chúa đã hành động như thế theo quyết định Nguời đã có từ muôn thưở, và đã thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô và nhờ tin vào Người, chúng ta đuợc mạnh dạn và tin tưởng đến gần Thiên Chúa " (Ep 3,11-12).
  Đến gần Thiên Chúa, như các nhà chiêm tinh đã bất chấp nguy hiểm của đường xa, nguy hiểm bị Hêrôđê theo dõi, đe dọa. Con đường Thiên Chúa đến với muôn dân cũng không kém phần khó khăn, và là con đường khó: khó vì thế gian cấm cách, cản trở, như Hêrôđê đã tìm cách không cho các nhà chiêm tinh mau chóng đến Bêlem; khó vì thế gian không muốn biết và không muốn cho bất cứ ai biết Thiên Chúa ở đâu như các kinh sư và thượng tế; khó vì não trạng ích kỷ, cục bộ, kỳ thị; khó vì lòng ganh ghét, không muốn ai hơn mình; khó vì tâm địa nhỏ nhen, không muốn cho  ai được gặp Chúa trứơc mình hay với mình.
  Những thái độ tiêu cực trên có thể là thái độ thường có trong đời sống của chúng ta, những người Kitô hữu: thái độ không mấy thân thiện với anh chị em ngoài Kitô giáo, thái độ kẻ cả, coi thường anh em các tôn giáo bạn, thái độ thiếu huynh đệ, hợp tác, thái độ không tương kính, tôn trọng những giá trị nơi các tôn giáo khác.
 Ghìm mình trong mầu nhiệm Đức Giêsu là ánh sáng muôn dân, Đấng chăn dắt tòan thể nhân loại, chúng ta xin Chúa một tâm hồn rộng mở để nhìn thấy ánh sáng của Chúa trên mọi nước, mọi dân tộc, ánh sáng muốn chiếu soi hết mọi người, không trừ ai; ơn cứu độ muốn đến với mọi tâm hồn, không phân biệt, kỳ thị.
  Ước gì ánh sáng Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người đến đuợc với muôn dân và muôn dân được trở thành con dân trong Vương Quốc Yêu Thương, Bình An của Ngài.
 Jorathe Nắng Tím

ĐÂY LÀ CON YÊU DẤU CỦA CHA !

   Lần đầu tiên, một cách công khai, Chúa Cha đã tỏ tình yêu sâu thẳm và bao la với Đức Giêsu, Con yêu qúy của mình, khi "trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay Cha đã sinh ra con" (Lc 3,21-22), khi Đức Giêsu cùng đám đông "chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện".
    Đức Giêsu đã được Chúa Cha sủng ái, trước hết vì Ngài khiêm nhường. Vì khiêm nhường, Đức Giêsu đã cùng đám đông xin chịu phép rửa bởi tay Gioan, người anh họ của Ngài. Người này cũng rất khiêm tốn, chân thực khi trả lời với đám đông đang muốn suy tôn ông là Đấng Thiên Sai, vì từ lâu họ đã nóng lòng trông ngóng : "Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa" (Lc 3,16).
   Chịu phép rửa bằng nước từ tay Gioan, Đức Giêsu đã tỏ rõ nhân tính của Ngài cho mọi người: Ngài là con người thật, dù thiên tính vẫn đồng thời tồn tại. Nhân tính ấy cho phép Ngài trở nên "giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Pl 2,7), làm người như chúng ta, trừ tội lỗi, để không có gì ở nơi con người, mà Thiên Chúa đã không trở nên, cảm nghiệm, gánh vác, chia sẻ.
     Và một trong hạnh phúc lớn nhất của con người, hạnh phúc mà con người đã đánh mất vì tội nguyên tổ, đó là hạnh phúc và vinh dự được làm con Thiên Chúa. Chịu phép rửa bên sông Giôđan ngày ấy, Đức Giêsu đã đến với Gioan như con người, giống bao con người khác đang tuôn đến xin chịu phép rửa, để sám hối, ăn năn với niềm hy vọng rất lớn được Thiên Chúa thứ tha, trả lại hạnh phúc làm Con đã mất.
    Và sự lạ xẩy ra khi trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu, với tiếng phán từ trời: "Đây là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra con" đã là chứng cớ hùng hồn: từ nay, nhờ Đức Giêsu, với Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, tòan thể nhân loại được Chúa Cha sinh lại, để được làm con của Thiên Chúa nhờ phép rửa trong Thánh Thần và lửa.
     Từ sự lạ này, Thiên Chúa muốn nói với chúng ta:
      1. Đức Giêsu đã đến làm người, như con người để con người được giao hoà với Chúa Cha, và được trả quyền làm Con Thiên Chúa
    Không phải chờ đến giờ chết trên Thánh Giá, Đức Giêsu mới giao hoà nhân loại với Cha Ngài, nhưng ngay từ giây phút đầu nhập thể, nhập thế, Đức Giêsu đã khởi sự công trình giao hoà ấy. Với phép rửa ở sông Giôđan, Chúa Cha đã tỏ ra cho mọi người biết: Đức Giêsu là Con Người - Thiên Chúa, Đấng đến để giao hoà con người với Thiên Chúa, và chỉ một mình Ngài làm đẹp lòng Chúa Cha, và nhờ có Ngài, nhân loại mới được Chúa Cha trả lại ơn làm con Thiên Chúa, như thánh Phaolô đã qủa quyết với Titô, môn đệ của mình : "Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, và ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với mọi người" khi Đức Giêsu, "Thiên Chúa vĩ đại và Đấng Cứu Độ xuất hiện trong vinh quang" ( x. Tt 2,11-13).
     Qủa thực, đám đông hốm ấy cùng Đức Giêsu chịu phép rửa bên bờ sông Giôđan đã được nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu, khi trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống trên Ngài, và tiếng Chúa Cha ấu yếm : "Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người" (Mt 3,17). Thánh Gioan Tông Đồ đã ghi lại cặn kẽ trong Tin Mừng lời chứng của Gioan Tẩy Giả: "Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ítraen, tôi đến làm phép rửa trong nước... Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn" (Ga 1,31-34).
   Thực vậy, Thiên Chúa đã tỏ vinh quang ấy cho đám đông để họ nhận ra Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu độ nhân loại, và một kỷ nguyên mới được mở ra nhờ Ngài: Con người được Thiên Chúa cứu độ và được tái sinh làm con Thiên Chúa. Và tiếng phán của Chúa Cha từ trời về Đức Giêsu: "Đây là Con yêu dấu của Ta" cũng là lời Chúa Cha nói với mỗi người chúng ta, nếu chúng ta đi theo và vâng phục Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.
2. Đức Giêsu tái sinh chúng ta trong phép rửa của Thánh Thần để chúng ta thi hành sứ vụ của Con Cái Thiên Chúa:
    Đây là điều Gioan Tẩy Giả đã khẳng định: "Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa" ( Lc 3, 16).
    Phép rửa trong Thánh Thần và lửa là phép rửa của Thiên Chúa, do chính Thiên Chúa tác động và hành động, với lòng yêu mến, khao khát đuợc trở nên con cái Thiên Chúa của con người. Phép rửa ấy ban cho chúng ta ơn làm Con, nghiã là cho chúng ta chung quyền làm Con Thiên Chúa của Đức Giêsu, chung phần gia nghiệp của người con được thừa kế là Đức Giêsu.
Và ở trong Đức Giêsu, với Đức Giêsu, nhờ phép rửa, chúng ta được mời gọi thực hiện ba sứ vụ, tùy theo mức độ đòi hỏi của các chức vụ khác nhau như  Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo Dân:
a.  Sứ vụ Tư Tế :
    Do đòi hỏi hiệp thông với Thiên Chúa, vì tất cả là chi thể của cùng một Thân Thể là Đức Giêsu, người tín hữu được thuộc về Đức Giêsu cách trọn vẹn, đồng thời có nhiệm vụ mời gọi mọi người tham dự vào sự hiệp thông ấy.
     Chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa trước hết qua Hy Lễ Tạ Ơn được cử hành bởi Đức Giêsu để dâng lên Chúa Cha toàn thể cuộc sống nhân loại, với "bánh, rượu và lao công của con người", để tất cả trở nên "của lễ ca tụng , tôn vinh danh Chúa, và mưu ích cho chúng ta và toàn thể Hội Thánh". Bên cạnh là đời sống cầu nguyện, đời sống bí tích, cùng với tất cả vui buồn của cuộc sống, để ở đâu và lúc nào, chúng ta cũng gắn bó, kết hiệp với Đức Giêsu, bằng biến đời ta thành của lễ nối dài, liên tục với Hiến Lễ của toàn thể Hội Thánh.
b. Sứ vụ làm vua:
   Đức Giêsu là Vua vũ trụ vì Ngài là Thiên Chúa. Làm người, Ngài cũng sinh ra trong dòng tộc vua Đavít. Với phép rửa, người Kitô hữu được tháp nhập với Đức Giêsu, nên chia sẻ vinh dự cũng như sứ vụ làm vua của Ngài. Nhưng sứ vụ làm vua ấy không giống như quan niệm bình thường của con người.
      Trước hết, sứ vụ làm vua, hay sứ vụ vương giả đòi hỏi chúng ta luôn nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, nhìn vào người chung quanh chúng ta đang sống với,  để có được tinh thần phục vụ của Đức Giêsu, khi tin vào con người, tin vào cuộc đời, và hết lòng yêu mến, hiến thân phục vụ, như Đức Giêsu, Đấng là Vua muôn vua, nhưng đến như người tôi tớ phục vụ mọi người.
    Phục vụ con người, phục vụ cuộc đời là mục đích của sứ vụ làm vua của Đức Giêsu. Do đó, sứ vụ làm vua do phép rửa mang lại không là lý chứng cắt nghiã, chống lưng cho thái độ hống hách, quan quyền, trịch thượng, thao túng quyền bính, lạm dụng chức vụ để đàn áp, bóc lột, phủ nhận quyền làm người, khước từ quyền làm con Chúa của người khác; càng không là lý do dựa vào chức quyền được trao để xây dựng địa vị, danh phận của mình, và sử dụng những người thấp cổ bé miệng,"không tiếng nói" như phương tiện, hay những con cờ trên bàn cờ ích kỷ, mưu tìm ích lợi riêng tư.
   Làm vua trong ý nghiã và đòi hỏi của phép rửa là mang lấy trách nhiệm, và tìm mọi cách cùng với mọi nguời làm cho nhân loại được hạnh phúc hơn, thế giới được tốt đẹp hơn, bằng khiêm tốn phục vụ quên mình, trong tinh thần của Đức Giêsu: "Anh em biết: vua chúa các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20,25-28).
   Làm vua như thế, chính là phục vụ vương quốc của Lòng Thương Xót; là tìm kiếm sự công chính, bình an cho mọi người, với tinh thần dấn thân, quên mình vì người khác.
c. Sứ vụ ngôn sứ:
   Ngôn sứ là người nói điều Thiên Chúa muốn nói, người loan báo sứ điệp của Thiên Chúa, người làm chứng chân lý thuộc về Thiên Chúa. Ngôn sứ bằng lời nói, việc làm, và đời sống của mình loan báo Tin Mừng và làm chứng Tin Mừng. Vì thế, công việc của ngôn sứ không dễ dàng, nhưng là một thách đố: thách đố của thế gian không muốn nghe Lời Thiên Chúa; thách đố của lòng người ngày càng chai đá, vô cảm; thách đố của cuộc sống không ngừng lôi kéo con người xa khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa; thách đố của chính lòng mình, vì nhu cầu vật chất, ngăn cản ta lên đường loan báo và làm chứng một Thiên Chúa thiêng liêng, vô hình, ở xa tít thăm thẳm.
    Sứ vụ ngôn sứ còn đòi phải nhậy bén với các dấu chỉ của thời đại, nhậy bén với "hơi thở của Chúa Thánh Thần", để không vô tình giập tắt ơn của Ngài, làm chết sức sống của Ngài trong các tâm hồn. Trái lại, với ơn của ngôn sứ, người chịu phép rửa sẽ mau mắn đáp lại tiếng nói tuy mãnh liệt nhưng thường âm thầm, kín đáo, khó nhận ra của Thánh Thần, để Tin Mừng được loan báo và đến với mọi người.
   Tóm lại, với phép rửa, chúng ta nhận từ Đức Giêsu ba sứ vụ quan trọng, do được tháp nhập vào Thân Thể mầu nhiệm. Ba sứ vụ Tư tế, Vương Giả, Ngôn Sứ tương xứng với ba đòi hỏi: Hiệp Thông, Phục Vụ và Làm Chứng. Hiệp Thông đòi tế lễ, Phục Vụ là bổn phận của vua, và Ngôn Sứ là người phải loan báo và làm chứng.
3. Kết quả cuả phép rửa là chúng ta được mặc lấy Đức Giêsu, nghiã là được đổi mới trong Thánh Thần:
    Thánh Phaolô dùng sự chết để nói về tình trạng trước khi được mặc lấy Đức Giêsu: "Anh em đã chết vì những sa ngã và tội lỗi của anh em. Xưa kia, anh em đã sống trong đó, theo trào lưu của thế gian, theo tên thủ lãnh nắm giữ quyền lực trên không trung, tên ác tần hiện đang hoạt động trên những kẻ không vâng phục. Tất cả chúng tôi xưa kia cũng thuộc hạng người đó, khi chúng tôi buông theo các đam mê của tính xác thịt, thi hành những ước muốn của tính xác thịt và của trí khôn" (Ep 2,1-3), nhưng nay "chúng ta được sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ !" (Ep 2,5). "Vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện" (Tt 2,14).
    Ước gì tất cả mọi  Kitô hữu, nhờ phép rửa được ơn Chúa Thánh Thần đổi mới từng ngày, hầu chu toàn sứ vụ của người có Đức Kitô trong cuộc đời, người mang Đức Kitô cho thế giới, người làm chứng Đức Kitô cho muôn dân. Và như thế, suốt đời làm người Kitô hữu, chúng ta luôn được Chúa Cha thương yêu và không ngừng nhắn gửi: "Con là con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về con !".
Jorathe Nắng Tím